SỬ DỤNG MASK THANH QUẢN
(K 5)
Bác sNguyễn Anh Tuấn
4. PLMA
Được Brain AJ cải tiến đưa vào sử dụng từ năm 2000. PLMA ba
điểm khác biệt lớn nhất so với cLMA
- Đảm bảo thông khí điều khiển tốt hơn
- Khnăng tránh được hít sặc phổi
- Có khả năng chẩn đoán được vị trí đúng của PLMA
Figure 6: PLMA
1.7.1 Cấu tạo
PLMA cuff mm, sâu và lớn n so với cLMA. Cuff của PLMA hai
phần “bụng(ventra cuff) và phần “lưng(dorsal cuff). Khi bơm hơi áp lực phần
cuff lưng sẽ làm cho phần cuff bụng áp chặt xung quanh thanh môn.
PLMA thêm một nhánh dẫn (Drain Tube) chạt từ đầu xa của ống đi qua
lòng mask và chạy song song với ống thở. Nhánh DT gắn chặt với ống thở bới một
bộ phận chống cắn
Khi đặt đúng vị trí thì đầu xa của ống dẫn (DT) sẽ nằm ngay ở đầu trên thực
quản được bao quanh bằng phần nhẫn hầu (crycopharyngeous) trong khi phần
chảo của mask sẽ nằm dưới đường thở vì thế cho phép thông thương cả hai đường
hô hấp và tiêu hóa ra ngoài. Với cấu tạo đặc biệt này PLMA đãlập được đường
thkhỏi đường tiêu hóa. thế PLMA còn được coi như một thanh quản nhân
tạo” (artificial larynx)
1.7.2 Lựa chọn cỡ
- Lựa chọn cũng giống như trong cLMA. Gần đây một số nghiên cứu cho
thấy cỡ số 5 cho nam và s4 cho nữ tạo áp lực kín tốt n khi thông khí điều
khiển
- Cỡ 1½ - 2 ½ dùng cho trẻ em và không có phần cuff “lưng”
- PLMA dụng cụ sử dụng nhiều lần. Khuyến o của nhà sản xuất là có
thsử dụng đến 40 lần tiệt trùng. Tuy nhiên thực tế thể sử dụng nhiều lần hơn
thế. Không phải tất cả c chất protein thể làm sạch bằng cách thông thường.
Điều này làm dấy lên mối lo ngại về hiện tượng nhiễm trùng chéo.
Tuy nhiên cho đến nay chưa thông báo nào vlây nhiễm chéo khi sử
dụng LMA đã được tiệt trùng. Gần đây nghiên cứu vviệc sdụng kỹ thuật
làm sạch bằng thuốc m (potassium permanganate) thể giảm được tới 90%
proteine tồn trên cLMA. Kỹ thuật này cũng thể đạt kết quả khi làm sạch
PLMA Các dụng c cung cấp kèm theo PLMA dụng cụ đặt ( insertion tool) và
dụng cụ xẹp cuff ( cuff-deflator)
1.7.3 Kỹ thuật đặt
- Có nghiên cứu cho thấy độ sâu của mê cần thiết để đặt PLMA tăng hơn so
với đặt cLMA
- Có ba kỹ thuật đặt
+ Bằng tay: đơn giản, cho kết qucao ngay cả người mới sử dụng
+ Bằng dụng cụ
+ Đặt qua nòng dẫn: đặt trước sonde dạ dày hoặc ống nhựa mềm (Gum
elastic bougie -GEB) vào thực quản, sau đó luồn ống PLMA vào qua nhánh
DT.Kthuật này cho kết quả chắc chắn cao nhất, tránh được hiện tượng gập ng.
Ththuật này xâm hại nhiều hơn hai kỹ thuật trên nên hay ng trong trường hợp
các phương pháp trên đã thất bại hoặc trong trường hợp đặt NKQ khó
- Nòng ống của PLMA gia cố thêm vòng xoắn kim loại giống như
fLMA.
Sức cản lòng ống tăng 20% so với cLMA, lòng mask sâu và không có thanh
chắn cho phép quan sát thanh quản qua ống soi mềm dễ dàng
- Một số test thử để xác định vị trí đúng của PLM
+ Không có hiện tượng hở khi thông khí dưới áp lực 20 cmH2O,
+ Đường biểu diễn EtCO2 hình vng:
+ Test bong bóng: đmột chút gel vào đầu ống DT và thông khí với áp lực
20cmH2O skhông thấy hơi xì ra. Nếu hiện tượng xì thì do đầu mask chưa đi
vào đúng chỗ vì thế khí vào đường thở sẽ xì ngược qua nhánh DT
+ Không thấy quá 1/3 phần chống cắn nằmbên ngoài
+ n ngực không thấy gel di chuyển ra ngoài. Nếu thì gợi ý đầu ống DT
nằm trong thanh môn. Khả năng tắc nghẽn đường thở có thể xảy ra
+ Phình nhhai bên mặt trước cổ khi bơmi vào cuff
+ Đặt sonde ddày qua nhánh DT ddàng: Đây test quan trọng nhất cho
phép xác định vtrí đúng của PLMA và cũng điểm khác biệt nhất của PLMA
với các LMA khác