TÊN ĐỀ TÀI:
VÀI SUY NGHĨ V VIỆC
S DNG TƯ LIỆU TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
Ở MỘT SỐ BÀI HỌC
I- ĐẶT VẤN ĐỀ:
Nhng năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu quan
trng nhằm từngc nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy tính chủ động
sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, đổi mới phải phù hp với đặc điểm của
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pp tự học, kh năng làm việc
theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động
đến tình cm, đem lại niềm vui, hứng t học tập cho học sinh. Để đổi mới
phương pháp dạy học có hiệu qu, học sinh và giáo viên không thể chỉ bằng
lòng với những gì có sẵn trong sách giáo khoa hoặc tài liệu hướng dẫn giảng
dạy. Việc tìm tòi, nghiên cu, sử dụng các tư liệu trong dạy hc nói chung
và Ngn i riêng là điều vô cùng cần thiết.
II-GII QUYẾT VẤN ĐỀ:
1- CƠ SỞ LÍ LUẬN:
th nói, ct lõi của đổi mới dy và học là hướng tới hoạt động học
tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Thầy giáo không phi là
người nhồi nhét kiến thức cho học sinh mà là người hướng dẫn, tổ chc học
sinh lĩnh hội tri thức bằng con đường tự học. Hành trình chiếm lĩnh tri thức
của học sinh bao giờ cũng bắt đầu từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng. Tư liệu dạy học có th được xem như là một trong những phương
tiện dạy học thiết thực nhất để tác động đến trực quan của học sinh, tạo tiền
đề cho các em nắm bắt được những vấn đề sâu rộng hơn và những đơn vị
kiến thức trừu tượng của bài học.
2- CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Nhng năm gần đây, việc học sinh không tha thiết, thậm chí còn quay
lưng lại đối với môn Ngữ văn trong nhà trường THPT là một thực trạng
đáng bào động. Thực tế dạy học cho thấy: việc đổi mới phương pháp dạy
học chỉ mới dừng lại ở chủ trương, ở khẩu hiệu hào chứ chưa thc sự đi
vào thc tiễn một cách sâu sát. Thỉnh thoảng vẫn có những giáo viên nỗ lực
tìm con đường đi sao cho tiết dạy của mình đạt hiệu quả cao nhất. Nhưng s
đó không phải là nhiều. Đa phần họ bằng lòng với những gì đã có sẵn trong
sách giáo khoa. Song trên thực tế, không phải bất cbài học nào trong sách
giáo khoa cũng được t chức theo trình thợp lí. . Hơn nữa, không phải tất
cả các ngữ liệu sách giáo khoa nêu ra đều phù hp với mọi đối tượng học
sinh. Thiết nghĩ, để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Văn, giáo viên
học sinh cần phải chú trọng nhiều hơn nữa đến việc sử dụng tư liệu trong
các gi học, to không khí sôi nổi, sinh động, gây hng tvà hiệu quả tối
đa trong giờ học. Sau đây tôi xin trình bày nhng suy nghĩ của mình về việc
sử dụng tư liệu trong dạy học Ngữ văn.
3- NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1/ Cách hiu về tư liệu dạy học và phân loại:
a- Nên hiểu như thế nào v tư liu dạy học?
- Những thứ vt chất con người sử dụng trong một lĩnh vực hoạt động
nht định nào đó (nói khái quát).
- Tài liệu s dng cho việc nghiên cứu, giảng dạy (nói khái quát).
Như vậy, tư liệu dạy học được hiểu là tài liệu sử dụng trong dạy học của
giáo viên và học sinh.
b- Tư liệu dạy học có thể tồn tạicác dạng khác nhau, song có thể
thấy 2 loi phổ biến nhất thường được dùng trong các gi dạy học Ng
văn là:
- liệu tồn tại dưới dạng hình ảnh.
- liệu tồn tại dưới dạng ngôn từ.
2/ Mt số vấn đề cần lưu ý khi sử dụng tư liệu:
- Phù hợp với nội dung bài dạy.
- Minh họa, khắc sâu kiến thức bài dy.
- S dụng với mức độ thích hợp, vừa phải, tránh lm dụng.
- Có những câu hỏi hướng dẫn học sinh phát hiện và khai thác tư liệu
một cách hợp lý, trong một số trường hp có th biến liệu thành ng
liu.
- Chú ý đến thời điểm ra đời, nguồn gốc, xuất xứ và tính chun xác của
liệu.
- Không quá k hoặc quá xa l với đối tượng học sinh.
3/ Vai trò ca học sinh:
Vai trò ch động của học sinh không ch th hiện những lần g tay
phát biểu xây dựng bài trong các tiết học mà khâu chun bị ở nhà cũng rất
quan trọng. Không nên quan nim rằng chỉ cần soạn bài theo các câu hi
hướng dẫn trong sách giáo khoa là đủ. Sự tìmi chính là bước đầu giúp các
em tnghiên cứu, phát hiện để đi đến cảm, hiểu một tác phm văn chương.
Vic tự giác sưu tầm tư liệu một mặt tránh được lối soạn bài qua loa chiếu
lệ, mặt khác tạo điều kiện cho các em tiếp cận bài học với tâm thế thoải mái,
ch động. Học sinh cần tuân thủ chặt chẽ nhiệm vụ sưu tầm tư liệu chuẩn bị
cho bài học dưới sự hướng dn của giáo viên. Thông thường, tư liệu phục vụ
cho bài học là nhng hình ảnh minh họa hoặc các bài viết trên báo chí, sách
vở, trên mạng internet ... Học sinh thể độc lập sưu tầm hoặc làm việc theo
nhóm. Trên thực tế, ở một số bài dạy, nếu học sinh chuẩn bị tốt khâu này thì
tiết học s có hiệu quả đáng k.
Ví d : Bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chng HIV/S (lớp
12), học sinh có thể sưu tầm các tư liệu sau đây:
- Hình ảnh những bệnh nhân nhim HIV/S.
- Hình ảnh về những hoạt động t thin của cộng đồng cùng chung tay
xoa du nỗi đau HIV/S.
- Những con số báo động về tốc độ lây lan của căn bệnh thế kỷ trên toàn
cầu.
- Những bài viết bàn v tính cấp thiết của việc ngăn chặn, đẩy lùi căn
bệnh đáng s này ...
Tương tự như thế, trước khi dạy bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, giáo
viên cũng có thể gợi ý để các em sưu tầm những hình ảnh tiêu biểu cho bản
sắc văn hóa dân tộc như : L hội (chọi gà, đâm trâu, đua thuyền, Hội Lim,
Hi Gióng..) ; trang phục (áo dài, áo tứ thân...) ; phong tục (cúng tất niên,
đón giao thừa, chúc Tết ...)... Những hình ảnh đó không chỉ minh họa trực
tiếp cho nội dung bài dạy mà còn tạo nên ssinh động, phong phú của tiết
học, để lại những ấn tượng rõ nét v văn hóa dân tộc trong nhận thức của
học sinh.
4/ Vai trò ca giáo viên :
Theo quan nim đổi mới, học sinh là ch th sáng tạo trong các giờ học.
Nhưng kng thể phủ nhận vai trò định hướng, tổ chức của go viên. Giáo
viên không chỉ có nhim vụ khích lệ, động viên học sinh sưu tầm mà còn
biết cách tổ chc hợp lý để học sinh tiếp cận và giải mã tư liệu y, phục vụ
thiết thực cho nội dung bài học.
Cách x liệu đóng một vai trò quan trọng đối với giáo viên trong
tiến trình t chức bài dạy. Vi những liu học sinh sưu tm được, nên
tạo điều kiện đhọc sinh trình bày trước lớp. Hoặc nếu điều kiện trên lớp
không cho phép, giáo viên cũng nên dành một khoảng thời gian nhất định để
xem xét, đánh giá về trách nhiệm và ý thức chun bị i của các em. Có như
vậy mới khích lệ được tinh thần các em ở những lần tiếp theo.
Trong nhiều trường hợp, việc t tìm tòi tư liệu và biến thành ngữ liệu
để phục v cho bài giảng đã giúp giáo viên thành công. Bởi vì v nguyên
tắc, chiếm lĩnh tri thức từ khai thác ngữ liệu là mt quy trình khoa học ;
song trên thc tế, không phải bất c bài học nào trong SGK cũng cung cấp
sẵn nhng ngữ liệu cần thiết, nhất là các bài về Tiếng Việt. Lúc ấy, việc tìm
tòi tư liệu trở thành nhim vụ bắt buộc và vấn đề cụ thể được đặt ra : phi xử
lý như thế nào để tư liệu đưc sử dụng như các ngữ liệu.
Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy rằng: để chuyển hóa từ tư
liệu sưu tầm được thành ngữ liệu phục vụ cho việc khắc sâu kiến thức, giáo
viên cần tốn nhiều ng sức và nhất thiết phải có s đầu tư. Nguồn tư liệu có
thly từ vốn kiến thức, kinh nghiệm giáo viên tích lũy đưc hoặc từ các
dụ ở sách giáo khoa cũ. Cần c ý đến việc t chc hệ thống câu hỏi đi từ xa
đến gn; từ phát hiện đến phân tích, đối chiếu; từ bao quát đến cụ thể ...
Thiết nghĩ, những việc làm như thế vừa là điều kiện thuận lợi cho giáo viên
ch động nắm vững các đơn vị kiến thức bài hc, vừa mang lại hiệu quả
thiết thực cho việc sưu tầm tài liệu của giáo viên.
4- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU :
T thực tế giảng dạy, bn thân tôi nhận thấy rằng: sự đầu tư cho i
giảng của giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu
qu gi hc. Những tiết học mà giáo viên có đầu tư tìm tòi, b sung tư liệu,
học sinh học tập với thái độ hào hng, sôi nổi hơn. Mặt khác, học sinh cũng
rất nhiệt tình, o hức và tự giác trong việc sưu tầm tư liệu phục v cho tiết
học. Qua kiểm tra đánh giá, điều tôi rất phẩn khởi là đa số các em đều hiểu
bài tại lớp. Có kỹ năng vận dụng thành thạo lý thuyết vào thực hành. Tình
trạng một s em lơ là, uể oải hoặc thiếu hứng thú đã được khắc phục trong
các tiết học như vậy.
III- KẾT LUẬN :
Nhng điều tôi đã trình bày cũng có thể là không h xa lạ, mới mẻ với
các thy cô. đây, tôi chỉ nêu ra những kinh nghiệm cá nhân mà mình đã
từng vận dụng. Cũng như bất kỳ thầy cô giáo nào, tôi cũng luôn luôn mong
muốn được lên lp trong một không khí học tập đầy hào hứng, sôi nổi, s
cộng tác đồng bộ giữa thầy và trò. Vì lẽ đó, tôi thưng trăn trở và tìm hướng
giảng dạy thích hợp ở một số bài học, trong đó đặc bit chú ý đến khâu tìm
tòi, b sung và xử lý tư liệu. Chắc chắn, để đt hiệu quả như ý, bản thân tôi
còn phải n lực rất nhiều. Tôi rất mong c đồng nghiệp cùng góp thêm kinh
nghim để tôi học hỏi, vận dụng vào quá trình giảng dạy của mình nhằm đạt
kết quả tốt hơn trong việc nâng cao trình độ của học sinh.
IV- KIẾN NGH:
- Nhà trường cần tổ chức thường xuyên các lớp tập hun, bồi dưỡng để
giup học sinh thành thạo các kỹ năng sử dụng máy vi tính, chủ động ứng
dụng công nghệ thông tin vào vic học.
- Các thầy cô go bộ môn văn nên khích lệ, tạo điều kiện cho học sinh
tìm tòi, sưu tầm nhiều tư liệu có liên quan để làm phong phú bài học.
- Giáo viên đứng lớp phi nỗ lc tìm tòi, nghiên cứu, cập nhật thông tin
trên các phương tiện thông tin đi chúng ... để làm phong phú kiến thức bài
dạy.
PHẦN PH LỤC :
Nhng điều tôi đã trình bày trên tuy được đúc kết từ thực tiễn giảng
dạy của bản thân, song còn thiên về lý thuyết. Sau đây tôi xin minh họa
những điều tôi đã áp dng bằng mt tiết dạy cụ thể:
Tên bài dy: PHONG CÁCH NGÔN NG NGHỆ THUT
I- MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT:
1. Kiến thức
Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật : (với nghĩa chuyên môn) ngôn ngữ dùng
trong tác phm văn cơng, không chỉ có chức năng thông tin mà quan
trng hơn là có chức năng thẩm mĩ. Ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm ngôn ng
trong các tác phm tự sự, trữ tình và tác phẩm sân khấu.
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có ba đặc trưng cơ bản : tính hình tưng,
tính truyền cảm, tính cá th hóa.
2. Kĩ năng
Nhận diện, cảm thụ và phân tích ngôn ngữ nghệ thuật : các biện pháp nghệ
thuật và hiệu quả ngh thuật của chúng.
c đầu sử dụng ngôn ngữ để đạt được hiệu quả nghệ thuật khi nói, nhất
là viết : so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ,ợng trưng,...