intTypePromotion=1

Sự hình thành và tăng trưởng của rễ bất định từ nuôi cấy in vitro của cây đương quy nhật bản (Angelica Acutiloba Kitagawa)

Chia sẻ: Trinhthamhodang Trinhthamhodang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:11

0
34
lượt xem
1
download

Sự hình thành và tăng trưởng của rễ bất định từ nuôi cấy in vitro của cây đương quy nhật bản (Angelica Acutiloba Kitagawa)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cây Đương quy nhật bản (ĐQNB) là cây thuốc quí, đầu vị trong nhiều bài thuốc cổ truyền, với dược tính chủ yếu đến từ bộ rễ. Trong nghiên cứu này, sự hình thành và tăng trưởng rễ của cây ĐQNB in vitro đã được thực hiện trong điều kiện tối với nhiệt độ phòng nuôi 24 ± 2oC, độ ẩm tương đối 65 ± 5%. Phiến lá ở ba vị trí khác nhau của chồi in vitro được nuôi cấy trên môi trường khoáng MS kết hợp với vitamin Morel hay khoáng và vitamin Gamborg’s B5. Tỷ lệ mẫu tạo rễ đạt 100% cũng như khối lượng tươi của rễ (132,7 mg/mẫu) lớn nhất khi phiến lá ở vị trí thứ hai tính từ chồi ngọn được nuôi cấy trên môi trường Gamborg’s B5. Khi phiến lá được nuôi cấy trên môi trường Gamborg’s B5 có bổ sung các cytokinin bao gồm BA, Kin hoặc TDZ ở các nồng độ 0,1; 0,5 hay 1 mg/l, tỷ lệ mẫu tạo rễ, số rễ/mẫu, khối lượng tươi của rễ cũng như tỷ lệ khối lượng tươi rễ/khối lượng tươi mẫu lớn nhất ở nồng độ 0,1 mg/l BA. Trong môi trường lỏng gồm khoáng MS, vitamin Morel, và bổ sung IBA ở các nồng độ 0,2; 0,5 hay 1 mg/l, rễ bất định của cây ĐQNB in vitro khi được nuôi trên máy lắc ở tốc độ 100 vòng/phút đã gia tăng sinh khối theo sự gia tăng nồng độ IBA và theo thời gian nuôi cấy. Ở ngày thứ 28, rễ bất định của cây ĐQNB trong môi trường bổ sung 1 mg/l IBA có khối lượng tươi (2423,7 mg/bình) lớn nhất và tăng gần 5 lần so với khối lượng rễ ở ngày nuôi cấy ban đầu (500 mg/bình).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sự hình thành và tăng trưởng của rễ bất định từ nuôi cấy in vitro của cây đương quy nhật bản (Angelica Acutiloba Kitagawa)

TẠP CHÍ SINH HỌC 2013, 35(3se): 165­173<br /> <br /> <br /> <br /> SỰ HÌNH THÀNH VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA RỄ BẤT ĐỊNH <br /> TỪ NUÔI CẤY IN VITRO CỦA CÂY ĐƯƠNG QUY NHẬT BẢN <br /> (ANGELICA ACUTILOBA KITAGAWA)<br /> <br /> Nguyễn Thị Quỳnh*, Hoàng Ngọc Nhung, Nguyễn Lê Anh Thư<br /> Viện Sinh học nhiệt đới, Viện Hàn lâm KH & CN Việt Nam, *qtnguyen_vn@yahoo.com<br /> <br /> TÓM TẮT:  Cây Đương quy nhật bản (ĐQNB) là cây thuốc quí, đầu vị  trong nhiều bài thuốc cổ <br /> truyền, với dược tính chủ  yếu đến từ  bộ  rễ. Trong nghiên cứu này, sự  hình thành và tăng trưởng rễ <br /> của cây ĐQNB in vitro đã được thực hiện trong điều kiện tối với nhiệt độ phòng nuôi  24 ± 2oC, độ ẩm <br /> tương đối 65  ±  5%. Phiến lá  ở  ba vị  trí khác nhau  của chồi  in vitro  được nuôi cấy trên môi trường <br /> khoáng  MS  kết hợp với vitamin Morel hay khoáng và vitamin Gamborg’s B5 . Tỷ  lệ  mẫu tạo rễ  đạt <br /> 100% cũng như khối lượng tươi của rễ (132,7 mg/mẫu) lớn nhất khi phiến lá ở  vị  trí thứ  hai tính từ <br /> chồi ngọn được nuôi cấy trên môi trường Gamborg’s B5. Khi phiến lá được nuôi cấy trên môi trường  <br /> Gamborg’s B5 có bổ sung các cytokinin bao gồm BA, Kin hoặc TDZ ở các nồng độ 0,1; 0,5 hay 1 mg/l, <br /> tỷ lệ  mẫu tạo rễ, số rễ/mẫu, khối lượng tươi của rễ cũng như  tỷ  lệ  khối lượng tươi rễ/khối lượng  <br /> tươi mẫu lớn nhất ở nồng độ 0,1 mg/l BA. Trong môi trường lỏng gồm khoáng MS, vitamin Morel, và <br /> bổ sung IBA ở các nồng độ 0,2; 0,5 hay 1 mg/l, rễ bất định của cây ĐQNB  in vitro khi được nuôi trên <br /> máy lắc  ở tốc độ  100 vòng/phút đã gia tăng sinh khối theo sự gia tăng nồng độ  IBA và theo thời gian <br /> nuôi cấy.  Ở  ngày thứ  28, rễ  bất định của cây ĐQNB trong môi trường bổ  sung 1 mg/l IBA có khối <br /> lượng tươi (2423,7 mg/bình) lớn nhất và tăng gần 5 lần so với khối lượng rễ ở ngày nuôi cấy ban đầu  <br /> (500 mg/bình).<br /> Từ khóa: Angelica acutiloba, auxin, cytokinin, rễ bất định.<br /> <br /> MỞ ĐẦU ẩm mát, vì vậy việc gieo hạt và sinh trưởng <br /> của cây cần trùng với thời gian có nhiệt độ <br /> Cây   Đương   quy   nhật   bản   (Angelica <br /> thấp   trong   năm.   Thời   gian   gieo   hạt   ở   Việt  <br /> acutiloba  (Sieb.   &   Zucc.)   Kitagawa)   là   cây <br /> Nam tốt nhất là đầu tháng 10. Việc gieo hạt <br /> thuốc quí, đầu vị  và không thể  thiếu trong y <br /> vào thời điểm muộn hơn (tháng 11 đến tháng <br /> học cổ  truyền đối với việc điều trị  bệnh phụ <br /> 2) sẽ  dẫn đến tỷ  lệ  nẩy mầm giảm đáng kể <br /> nữ và bồi bổ khí huyết, đồng thời còn là thuốc <br /> do   nhiệt   độ   giảm   mạnh   ở   thời   điểm   này. <br /> trị  bệnh như  thuốc chữa thiếu máu, đau đầu, <br /> Ngoài   ra,   hạt   Đương   quy   dễ   mất   khả   năng <br /> kháng viêm, tăng cường miễn dịch. Dược tính <br /> nảy   mầm   khiến   việc   sử   dụng   hạt   để   nhân <br /> của cây Đương quy đến từ bộ phận rễ nơi có <br /> giống   gặp   nhiều   khó   khăn.   Nhu   cầu   rễ   cây <br /> chứa rất nhiều hợp chất thứ cấp, bao gồm 47  <br /> ĐQNB rất lớn trên thế  giới, khoảng 450 tấn  <br /> hợp   chất   khác   nhau,   trong   đó   ligustilide <br /> năm 2005 trong khi cung chỉ  đạt được xấp xỉ <br /> (22,8%) và butylidenephthalide (19,5%) là hai <br /> 197   tấn,   vì   vậy   cần   tìm   phương   pháp   nhân <br /> hợp chất chính. Cây Đương quy nhật bản từ <br /> nhanh hữu hiệu cây Đương quy mà vẫn đảm <br /> lúc trồng đến lúc thu hoạch rễ phải mất từ 2­3 <br /> bảo sự đồng nhất về mặt di truyền. <br /> năm, dẫn đến chi phí công lao động và chăm  <br /> sóc trên đồng ruộng gia tăng khiến giá thành  Phương pháp nuôi cấy mô tế  bào thực vật <br /> sản phẩm tăng theo rất cao [3].  từ khi ra đời đã đem đến khả năng làm tăng hệ <br /> số nhân giống của thực vật chỉ trong một thời <br /> Cây   Đương   quy   nhật   bản   (ĐQNB)   đã <br /> gian   ngắn,   đồng   thời   việc   nuôi   cấy   các   cơ <br /> được du nhập vào trồng  ở Việt Nam với diện  <br /> quan hay mô, tế  bào thực vật đã giúp các nhà <br /> tích mở  rộng từ  Tây Bắc đến khu vực sông <br /> nghiên cứu thu nhận được các hợp chất thứ <br /> Hồng gần Hà Nội [14]. Cây ĐQNB ưa khí hậu <br /> <br /> <br /> 165<br /> Nguyen Thi Quynh, Hoang Ngoc Nhung, Nguyen Le Anh Thu<br /> <br /> cấp có giá trị  trong y dược với hiệu suất cao   được rạch 3 đường tạo thành 3 vết thương.  <br /> khi không thể  sản xuất từ  tế  bào vi sinh vật  Môi   trường   nuôi   cấy   được  bổ   sung  30   g/l <br /> hoặc tổng hợp bằng con đường hoá học. Công  đường sucrose, 8 g/l agar,  6 mg/l  NAA và  1 <br /> trình nghiên cứu về  nuôi cấy mô tế  bào cây  mg/l kinetin (Kin) với pH được điều chỉnh đến <br /> ĐQNB tại Việt Nam chưa nhiều. Hoàng Ngọc  5,8 và hấp vô trùng  ở  121oC, 1 atm trong thời <br /> Nhung và nnk. (2012) [13] đã chứng minh sự  gian 20 phút. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn <br /> tạo   chồi   trực   tiếp   của   cây   ĐQNB   bằng   ngẫu nhiên theo kiểu 2 yếu tố: (A) thành phần <br /> phương   pháp   nuôi   cấy   lớp   mỏng   cắt   ngang  môi   trường,   có   2   mức   độ:   khoáng   MS   và <br /> của   chồi   đỉnh   cây  in   vitro  trên   môi   trường  vitamin   Morel   hoặc   khoáng   và   vitamin <br /> khoáng   MS,   vitamin   Gamborg’s   B5,   bổ   sung  Gamborg’s B5 [4]; và (B) là vị trí phiến lá mọc  <br /> 0,1   mg/l   α­naphthaleneacetic   acid   (NAA),   1   ở chồi in vitro, có 3 mức độ: lá mở 2, 3 hoặc 4  <br /> mg/1 thidiazuron (TDZ), 30 g/l đường sucrose,  tính   từ   chồi   ngọn   xuống.   Thí   nghiệm   có   6 <br /> 10% (v/v) nước dừa và 40 mg/l adenine. nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 5 bình (V = <br />       Trong bài này, ảnh hưởng của thành phần  130 ml), mỗi bình chứa 18 ml môi trường với <br /> khoáng và vitamin khác nhau trong môi  1 mẫu phiến lá được đặt hoàn toàn trong tối. <br /> trường nuôi cấy, cũng như  vai trò của  Phòng nuôi cây có nhiệt độ  24  ±  2oC, độ   ẩm <br /> cytokinin   lên   sự   tạo   rễ   bất   định   từ  tương đối 65 ± 5%. Các thí nghiệm đều được <br /> mẫu cấy phiến lá của cây ĐQNB  in  lặp lại 3 lần, thời gian thí nghiệm 42 ngày.  Tỷ <br /> vitro  đã   được   khảo   sát,   đồng   thời  lệ  (%)  mẫu   tạo   rễ,   số   rễ/mẫu,   khối   lượng  <br /> nghiên   cứu   bước   đầu   về   sự   tăng  tươi  (KLT) và  khô (KLK)  của  rễ,  được  xác <br /> trưởng của rễ  bất định khi được tách  định ở ngày thứ 42. <br /> rời   khỏi   mẫu  và   nuôi   cấy  trong  môi   Vai trò của cytokinin lên sự  tạo rễ  bất định  <br /> trường lỏng được trình bày. trên mẫu cấy phiến lá của cây ĐQNB in vitro<br /> Mẫu   cấy   là   phiến   lá   thứ   2   của   chồi  in <br /> VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> vitro được nuôi cấy trước đó trên môi trường <br /> Vật liệu MS. Mỗi phiến lá được cắt thành 3 phần, mỗi  <br /> Chồi  in vitro  cây ĐQNB có nguồn gốc từ  phần rạch 3 đường tạo thành 3 vết thương.  <br /> cây nảy mầm từ hạt (do Đại học Chiba, Nhật  Thí nghiệm kế  thừa kết quả  của thí nghiệm <br /> Bản   cung   cấp)   khi   được   nuôi   cấy   trên   môi  trước,   môi   trường   nuôi   cấy   với   thành   phần <br /> trường khoáng MS [12]  kết hợp với vitamin  khoáng và vitamin Gamborg’s B5 có bổ  sung <br /> Morel  [11]  có  bổ  sung  30  g/l   đường sucrose  30   g/l   đường   sucrose,   8   g/l   agar   và   6   mg/l <br /> (công ty Đường Biên Hòa), 8 g/l agar (công ty   NAA. Thí nghiệm gồm 9 nghiệm thức với 3  <br /> Cổ   phần   Đồ   hộp   Hạ   Long).   pH   của   môi  loại   cytokinin,   bao   gồm   N6­benzyladenine <br /> trường trước khi khử trùng là 5,8. Môi trường  (BA), Kin hoặc TDZ, được bổ  sung vào môi <br /> được khử  trùng  ở nhiệt độ  121oC, 1 atm trong  trường trước khi khử  trùng  ở  3 mức nồng độ <br /> 20 phút.  0,1; 0,5 hay 1 mg/l. Mỗi nghiệm thức có 3 bình <br /> (V = 130 ml), mỗi bình chứa 18 ml môi trường <br /> Phương pháp<br /> với 1 mẫu phiến lá. Thí nghiệm được lặp lại  <br /> Sự phát sinh rễ ở các vị trí phiến lá khác nhau   3   lần.   Điều   kiện   nuôi   cấy   giống   như   thí <br /> của   cây   ĐQNB   in   vitro   dưới   ảnh   nghiệm trên. Các chỉ  tiêu theo dõi bao gồm tỷ <br /> hưởng   của   thành   phần   khoáng   và   lệ  (%) mẫu tạo rễ, số rễ/mẫu, KLT rễ, tỷ lệ <br /> vitamin   khác   nhau   trong   môi   trường   (%) KLT rễ/KLT mẫu, được xác định  ở  ngày <br /> nuôi cấy thứ 42.<br /> Mẫu cấy là phiến lá của chồi in vitro được  Nghiên cứu sự  tăng trưởng của rễ  bất định  <br /> nuôi cấy trước đó trên môi trường MS. Mỗi  cây ĐQNB khi nuôi cấy trong môi trường lỏng  <br /> phiến   lá   được   cắt   thành   3   phần,   mỗi   phần  có lắc<br /> <br /> <br /> 166<br /> TẠP CHÍ SINH HỌC 2013, 35(3se): 165­173<br /> <br /> Cùng lúc với nghiên cứu tạo rễ bất định từ  khối lượng tươi của rễ  bất định  ở  các vị  trí <br /> phiến lá, thí nghiệm khảo sát sự  tăng trưởng   mẫu  khác  nhau vào ngày kết thúc thí nghiệm <br /> của rễ bất định tách rời từ chồi cây ĐQNB khi  (bảng 1, hình 1). Tất cả các mẫu phiến lá cấy <br /> nuôi cấy trên môi trường lỏng cũng được tiến  trên môi trường khoáng và vitamin Gamborg’s <br /> hành   nhằm   hướng   đến   việc   sản   xuất   sinh  B5 đều cho KLT cao hơn các mẫu cấy trên <br /> khối   rễ   trong   hệ   thống   bioreactor   sau   này.  môi trường có thành phần<br /> Mẫu cấy là rễ  bất định tách ra từ  cây ĐQNB <br /> in vitro  hình  thành trong  quá  trình phát  triển  <br /> chồi thành cây hoàn chỉnh. Mỗi mẫu có trọng <br /> lượng tươi ban đầu là 500 mg được đặt vào <br /> trong bình tam giác (V = 370 ml) chứa 50 ml  <br /> môi   trường   lỏng   gồm   khoáng   MS,   vitamin <br /> Morel, 30 g/l đường sucrose và được bổ  sung <br /> indole­3­butyric   acid   (IBA)   với   các   nồng   độ <br /> 0,2; 0,5 hay 1 mg/l. pH của môi trường được <br /> điều chỉnh là 5,8 trước khi hấp khử  trùng  ở <br /> 121oC,   1   atm   trong   20   phút.   Các   bình   môi <br /> trường lỏng chứa mẫu cấy được đặt trên máy <br /> lắc   INNOVA   (công   ty   New   Brunswick <br /> Scientific, Hoa Kỳ), model 2100, với vận tốc  <br /> 100 vòng/phút trong điều kiện hoàn toàn tối. <br /> Phòng  nuôi  cấy  có  nhiệt  độ   24±2oC,  độ   ẩm <br /> tương đối 65±5%. Thí nghiệm gồm 3 nghiệm <br /> thức   tương   ứng   với   3   nồng   độ   IBA,   mỗi <br /> nghiệm thức 3 bình, được lặp lại 3 lần. Thời  <br /> gian thí nghiệm là 28 ngày. Khối lượng tươi <br /> của rễ được đo ở các ngày nuôi cấy thứ 7, 14,  <br /> 21, 28 và 35. <br /> Số   liệu   các   thí   nghiệm   được   phân   tích <br /> ANOVA,   một   hoặc   hai   yếu   tố,   bằng   phần  <br /> mềm thống kê MSTATC, phiên bản 2.1, của  <br /> Đại học bang Michigan, Hoa Kỳ  và vẽ  biểu  <br /> đồ   bằng   phần   mềm   Microsoft   Office   Excel  <br /> 2007.<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> <br /> Sự  phát sinh rễ   ở  các vị  trí phiến lá khác <br /> nhau   của   cây   ĐQNB   in   vitro   dưới <br /> ảnh hưởng của thành phần khoáng <br /> và   vitamin   khác   nhau   trong   môi <br /> trường nuôi cấy<br /> Sự   cảm   ứng   tạo   rễ   bất   định   và   dinh <br /> dưỡng khoáng có mối quan hệ  mật thiết với  <br /> nhau.   Trong   thí   nghiệm   này,   thành   phần <br /> khoáng   và   vitamin   có   ảnh   hưởng   rõ   rệt   lên <br /> <br /> <br /> 167<br /> Nguyen Thi Quynh, Hoang Ngoc Nhung, Nguyen Le Anh Thu<br /> <br /> khoáng   MS   kết   hợp   với   vitamin   Morel.   khoáng đa lượng của môi trường Gamborg’s <br /> Mẫu cấy  ở  công thức B2 cho rễ  có KLT cao   B5, NH4+  hiện diện chỉ  bằng 8% so với môi <br /> nhất   132,7   mg/mẫu,   trong   khi   mẫu   cấy   có  trường MS ((NH4)2SO4/NH4NO3), nên tính đối <br /> KLT của rễ thấp nhất là ở công thức M2 (3,0   kháng giữa sự  đồng hoá đạm và hấp thu các <br /> mg/mẫu).   Hai   loại   môi   trường   MS   và  cation đa lượng không cao, vì thế  sự cảm ứng <br /> Gamborg’s B5 đều tương đồng về  chủng loại   tạo   rễ   bất   định   của   mẫu   cấy   phiến   lá   cây <br /> và hàm lượng các thành phần khoáng vi lượng.  ĐQNB trên môi trường khoáng Gamborg’s B5 <br /> Vì   vậy,   sự   phát   sinh   rễ   bất   định   của   cây  đạt hiệu quả  lớn hơn (bảng 1). Nghiên cứu  <br /> ĐQNB trong nuôi cấy này có thể  do sự  khác  của Nguyễn Thị  Liễu và nnk. (2010) [8] cũng <br /> biệt về  thành phần và hàm lượng của khoáng  cho thấy  thành  phần khoáng  đa  lượng và   vi  <br /> đa   lượng   hay   vitamin.   Schwambach   et   al.   lượng trong môi trường Gamborg’s B5 là phù <br /> (2005) [17] chứng minh Ca, Zn và N trong môi  hợp   cho   sự   tạo   rễ   bất   định   từ   mô   sẹo   có <br /> trường nuôi cấy đã có ảnh hưởng đáng kể đến  nguồn   gốc   từ   rễ   của   cây   Sâm   ngọc   linh <br /> số   lượng   rễ   hình   thành   trên   đối   tượng  (Panax   vietnamensis  Ha   et   Gurshv.)   khi   môi <br /> Eucalyptus globulus  Labill. Trong thành phần  trường có bổ sung 7 mg/l NAA.<br /> <br /> Bảng 1. Ảnh hưởng của thành phần khoáng, vitamin và vị  trí phiến lá của cây ĐQNB lên tỷ  lệ <br /> mẫu tạo rễ, số rễ/mẫu, khối lượng tươi (KLT) và khối lượng khô (KLK) của rễ ở ngày thứ 42 <br /> Công thứcz Tỷ lệ mẫu tạo  Số rễ/mẫu KLT rễ  KLK rễ <br /> M2  73,6 4,3 3,0 ex 0,9<br /> M3  44,4 4,5 5,4 de 0,8<br /> M4  55,6 14,3 16,5 d 4,1<br /> B2 100,0 39,5 132,7 a 17,6<br /> B3  90,0 36,4 71,4 c 11,9<br /> B4  88,9 42,5 103,4 b 14,1<br /> ANOVAy<br /> Khoáng ­ Vit (A) ** ** ** **<br /> Vị trí lá (B) * * ** NS<br /> A x B NS NS ** NS<br /> M hoặc B bên trái đại diện cho khoáng MS kết hợp với vitamin Morel hoặc khoáng và vitamin Gamborg’s <br /> z <br /> <br /> B5, các số bên phải đại diện cho vị trí lá thứ 2, 3 hoặc 4;  y NS, *, **: không khác biệt hoặc khác biệt có ý <br /> nghĩa  ở p ≤ 0,05 hoặc 0,01; xCác trị số có chữ cái giống nhau trên cùng một cột thì không có sự  khác biệt <br /> theo trắc nghiệm phân hạng Duncan’s Multiple Range Test.<br /> <br /> Trong   thành   phần   vitamin,   thyamine  cao gấp 10 lần so với trong vitamin Morel. Vì <br /> đóng vai trò quan trọng trong sự  chuyển hoá  vậy, có thể  thyamine cũng đã  ảnh hưởng đến <br /> carbohydrate   và   trực   tiếp   tham   gia   vào   quá  việc làm gia tăng số lượng rễ bất định của cây <br /> trình sinh tổng hợp một số loại acid amin, cho   ĐQNB.  Chée (1995) [1] cũng đã chứng minh <br /> nên thyamine cần được cung cấp liên tục trong  thyamine cần thiết cho quá trình cảm  ứng tạo  <br /> quá trình nuôi cấy [15]. Thyamine hiện diện  rễ bất định ở loài Taxus sp..<br /> trong   vitamin   Gamborg’s   B5   với   hàm   lượng <br />  <br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 168<br /> TẠP CHÍ SINH HỌC 2013, 35(3se): 165­173<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 1. Ảnh hưởng của thành phần khoáng và vitamin trong môi trường nuôi cấy <br /> lên sự hình thành rễ ở các vị trí khác nhau của mẫu cấy phiến lá của cây ĐQNB<br /> M hoặc B bên trái đại diện cho khoáng MS và vitamin Morel hoặc khoáng và vitamin Gamborg’s B5, các <br /> số bên phải đại diện cho vị trí lá thứ 2, 3 hoặc 4.<br /> <br /> Môi trường nuôi cấy là yếu tố  tác động  và cytokinin nội sinh nhất định.  Auxin sẽ <br /> chính gây cảm  ứng  ở  mô nuôi cấy, tuy nhiên,  cảm  ứng mẫu cấy tạo mô sẹo và hình thành <br /> tuổi sinh lý của mô cấy cũng cần quan tâm do  sơ khởi rễ khi phối hợp với cytokinin theo một <br /> ảnh hưởng của nó liên quan đến sự  phát sinh  tỷ lệ thích hợp. Khi môi trường nuôi cấy có bổ <br /> hình thái  ở  thực vật nuôi cấy như  sự  tạo mô   sung auxin và cytokinin ngoại sinh, tùy vào tỷ <br /> sẹo, tạo chồi hay rễ bất định. Ở ngày thứ  42,   lệ  auxin tổng: cytokinin tổng mà mẫu cấy sẽ <br /> tỷ   lệ   mẫu   cấy   hình   thành   mô   sẹo   ở   vết  có những đáp  ứng khác nhau, nếu tỷ lệ auxin:  <br /> thương và tạo rễ  giảm dần  ở các vị  trí phiến  cytokinin lớn thì kích thích sự  ra rễ. Trong thí <br /> lá   càng   xa   chồi   ngọn   dù   cấy   trên   loại   môi  nghiệm   này,   phiến   lá   cây   ĐQNB   được   nuôi <br /> trường nào, cùng với số mẫu phiến lá hóa nâu  cấy trong môi trường có 6 mg l­1 NAA và khi <br /> đen và chết tăng dần.  Ở  mẫu phiến lá thứ  4  bổ   sung   thêm   Kin   hoặc   BA   đều  có   sự   hình <br /> tuy   cho   lượng   rễ   nhiều,   nhưng   tỷ   lệ   mẫu   thành rễ  bất định (bảng 2). Tuy nhiên, tỷ  lệ <br /> không   tạo   rễ   cao.   Mẫu   nuôi   cấy   trên   môi   mẫu tạo rễ   ở  các công thức có sự  hiện diện  <br /> trường khoáng và vitamin Gamborg’s B5 có tỷ  của BA cao hơn so với các nghiệm thức có <br /> lệ  tạo rễ  ở  phiến lá thứ  2 lên đến 100% mặc  Kin, đồng thời tỷ lệ mẫu tạo rễ và số rễ/mẫu  <br /> dù không khác biệt về  phương diện thống kê  giảm dần khi nồng độ  BA tăng từ  0,1 lên 1 <br /> so với các nghiệm thức còn lại (bảng 1). Mẫu  mg/l. Gaspar et al. (1996) [5] cho rằng việc bổ <br /> cấy càng già, khả  năng phản biệt hoá bị  suy  sung cytokinin có thể gây  ức chế một số hoạt <br /> giảm khiến khiến khả  năng tái biệt hoá thành  tính của auxin. Vì vậy, KLT của rễ  cùng với <br /> rễ bất định theo con đường trực tiếp hoặc gián  tỷ lệ KLT rễ/KLT mẫu giảm dần khi nồng độ <br /> tiếp thông qua mô sẹo cũng bị ảnh hưởng.  BA   bổ   sung   vào   môi   trường   tăng   dần.   Tuy  <br /> Vai trò của cytokinin lên sự tạo rễ bất định  nhiên, tùy theo loại cytokinin mà sự  phối hợp <br /> với auxin trong môi trường đem đến sự  khác <br /> trên   mẫu   cấy   phiến   lá   của   cây   ĐQNB   in <br /> biệt  về  tỷ   lệ  mẫu tạo rễ,  số  lượng  rễ  hay  <br /> vitro<br /> khối lượng rễ, tương tự như thí nghiệm ở cây <br /> Mỗi   loại  mẫu  cấy  đều chứa một  lượng  đậu   (Phaseolus   vulgaris),   kinetin   ức   chế   sự <br /> auxin  hình thành rễ trên trụ hạ diệp [6], trong khi lại  <br /> <br /> <br /> 169<br /> Nguyen Thi Quynh, Hoang Ngoc Nhung, Nguyen Le Anh Thu<br /> <br /> kích thích hình thành rễ bất định ở trụ hạ diệp  rễ cùng với tỷ lệ KLT rễ/KLT mẫu tăng cùng <br /> và  cuống  lá  của  Pinus  radiata  [18],  hay  của  với sự tăng nồng độ Kin trong môi trường nuôi <br /> cây hoa hồng [21]. Tương tự trong thí nghiệm   cấy (bảng 2, hình 2).<br /> này, tỷ lệ mẫu tạo rễ và số rễ, đồng thời KLT  <br /> <br /> Bảng 2.  Ảnh hưởng của cytokinin lên tỷ lệ mẫu tạo rễ, số rễ, khối lượng tưới (KLT) và tỷ  lệ <br /> khối lượng tươi rễ/khối lượng tươi mẫu (KLT rễ/KLT mẫu) của rễ bất định trên  <br /> mẫu cấy phiến lá của cây ĐQNB ở ngày thứ 42<br /> Nghiệm thứcz Tỷ lệ mẫu Số rễ/mẫu KLT rễ KLT rễ/KLT <br /> B0,1 74,1 ax 26,4 a 137,30 ax  34,63 a<br /> B0,5 74,1 a 22,3 a  91,59 a  15,60 b<br /> B1 29,6 bc  1,7 b  3,62 b  1,92 c<br /> K0,1  7,4 c  0,7 b  0,76 b  0,25 c<br /> K0,5 25,9 bc  5,1 b  14,29 b  5,43 bc<br /> K1 44,4 ab 20,8 a  92,71 a  28,32 a<br /> T0,1  0,0 c  0,0 b  0,00 b  0,00 c<br /> T0,5  0,0 c  0,0 b  0,00 b  0,00 c <br /> T1  0,0 c  0,0 b  0,00 b  0,00 c<br /> ANOVAy      <br />  Loại cyt. (A) ** ** * **<br />  Nồng độ cyt. (B) NS NS NS NS<br />  A x B ** ** ** **<br /> z <br /> B, K, hoặc T bên trái đại diện cho BA, Kin hoặc TDZ; các số  bên phải đại diện cho nồng độ  (0,1; 0,5 <br /> hoặc 1 mg l­1); y NS, **: không khác biệt hoặc khác biệt có ý nghĩa ở p ≤ 0,01;  xCác trị số có <br /> chữ cái giống nhau trên cùng một cột thì không có sự khác biệt theo trắc nghiệm phân hạng  <br /> Duncan’s Multiple Range Test.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 170<br /> TẠP CHÍ SINH HỌC 2013, 35(3se): 165­173<br /> <br /> Hình 2. Ảnh hưởng của BA, Kin hay TDZ ở các nồng độ khác nhau <br /> lên sự hình thành rễ của mẫu cấy phiến lá cây ĐQNB<br /> Chữ B, K hoặc T bên trái đại diện BA, Kin hoặc TDZ; các số bên phải <br /> đại diện cho nồng độ (0,1; 0,5 hoặc 1 mg l­1).<br /> Sự  hiện diện của TDZ trong môi trường   nhanh   ở   tất   cả   các   nghiệm   thức <br /> nuôi cấy đã không cảm  ứng mẫu cấy tạo rễ  (log/exponential phase ­ pha tăng trưởng). Sự <br /> bất định như BA hay Kin mà chỉ  cảm ứng tạo   tăng trưởng của rễ  trở  nên chậm, tương đối <br /> mô sẹo có màu vàng trắng nơi có vết thương.   ổn   định   từ   ngày   nuôi   cấy   21   đến   ngày   28 <br /> Điều này chứng tỏ TDZ kết hợp với auxin nội   (stationary phase ­ pha  ổn định), và có khuynh <br /> sinh trong mô cấy đã cảm  ứng sự tăng sinh tế  hướng đi vào trạng thái suy thoái, không tăng <br /> bào, nhưng hoạt tính tạo sơ  khởi rễ  bất định  trưởng   thêm   từ   ngày   28   vào   ngày   thứ   35 <br /> có thể đã bị TDZ ức chế nên không hình thành  (diminishing   growth   phase   ­   pha   suy   thoái) <br /> sơ  khởi rễ  bất định. Theo Mok et al. (1982)   (hình 3). Từ kết quả này, việc nuôi cấy rễ bất <br /> [10],   cấu   trúc   phân   tử   của   TDZ   có   2   nhóm  định cây ĐQNB  trên môi trường lỏng có bổ <br /> chức năng là nhóm phenyl và nhóm thidiazon.  sung IBA nên dừng  ở ngày thứ  28 để  thu sinh  <br /> Do đó, tùy theo sự  hoạt động của hai nhóm   khối, hoặc môi trường mới cần được bổ sung <br /> này mà kết quả cảm  ứng của mô nuôi cấy sẽ  cho chu kỳ nuôi cấy rễ tiếp theo.<br /> khác nhau. <br /> Nghiên cứu sự tăng trưởng của rễ bất định  I0.2<br /> 400<br /> cây ĐQNB khi nuôi cấy trong môi trường  I0.5<br /> Khối lượng tươi gia tăng (%)<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> lỏng có lắc I1<br /> 300<br /> <br /> Việc bổ  sung các auxin như  IBA vào môi <br /> trường nuôi cấy ở nhiều loài thực vật dẫn đến  200<br /> sự   cảm   ứng   tạo   rễ   bất   định   [9].   Trong   thí <br /> nghiệm này, sự  gia tăng sinh khối rễ theo thời  100<br /> gian nuôi cấy chịu  ảnh hưởng rõ rệt bởi sự <br /> hiện   diện   và   sự   gia   tăng   nồng   độ   của   IBA  0<br /> (hình 3 và 4). Khối lượng tươi của rễ gia tăng  0 7 14 21 28 35<br /> <br /> khi nồng độ  IBA trong môi trường nuôi cấy  Ngày<br /> <br /> tăng.  Ở các ngày nuôi cấy thứ 14, 21, 28 khối  <br /> Hình 3. Sự biến thiên sinh khối rễ cây ĐQNB <br /> lượng tươi của rễ đều gia tăng nhanh, gấp đôi  <br /> theo thời gian nuôi cấy<br /> hay gấp ba khi nồng độ  IBA bổ  sung  ở  mức <br /> 0,5 hay 1 mg/l so với rễ nuôi trong môi trường  Chữ I đại diện cho IBA, các số bên phải của <br /> có bổ sung IBA 0,2 mg/l (hình 3). Ở ngày nuôi   chữ I đại diện các nồng độ 0,2; 0,5 hay 1 mg/l.<br /> cấy thứ 28, sự gia tăng sinh khối rễ ở nghiệm <br /> thức bổ  sung IBA 1 mg/l là lớn nhất (1923,7   Sự  không tăng sinh khối tươi rễ   ở  tất cả <br /> mg/bình) với khối lượng tươi trung bình của  các công thức khi kéo dài thời gian nuôi cấy từ <br /> nghiệm   thức   này   là   2423,7   mg/bình.   Sự   gia  ngày 28 đến ngày thứ 35 có lẽ  do sự giảm pH <br /> tăng   khối   lượng   tươi   rễ   bất   định   ở   bất   kỳ  của môi trường nuôi cấy thông qua việc hấp <br /> nồng   độ   IBA   nào   của   cây   ĐQNB   theo   thời  thu dinh dưỡng khoáng của các tế  bào rễ. Sau <br /> gian   nuôi   cấy   đã   thể   hiện   động   học   tăng  35 ngày nuôi cấy, pH của môi trường bổ  sung <br /> trưởng   rễ   điển   hình   (hình   3).   Từ   ngày   nuôi  IBA 0,2; 0,5 hay 1 mg/l lần lượt là 4; 3,9 hay <br /> cấy đầu tiên đến ngày nuôi cấy thứ  7, khối  3,8.   pH   của   môi   trường   giảm   càng   mạnh, <br /> lượng rễ gia tăng tương đối chậm (lag phase ­   chứng   tỏ   tế   bào  hấp   thu  lượng   dinh   dưỡng  <br /> pha tiềm tàng). Từ  ngày nuôi cấy thứ  7 đến  khoáng từ  môi trường càng lớn. Rễ  cây luôn <br /> ngày nuôi cấy thứ  21, khối lượng rễ  gia tăng  có sự  hấp thu tích cực và chọn lọc các chất <br /> <br /> <br /> 171<br /> Nguyen Thi Quynh, Hoang Ngoc Nhung, Nguyen Le Anh Thu<br /> <br /> dinh dưỡng thông qua quá trình trao đổi chất  Lượng khí CO2 này kết hợp với nước tạo ra <br /> của tế  bào. Để  hấp thu các chất dinh dưỡng  một   lượng  acid   carbonic,   tích   lũy   ngày  càng <br /> dưới dạng cation, rễ  cây phải tiết ra các ion  nhiều   dẫn   đến   việc   làm   giảm   pH   của   môi <br /> H+ để trao đổi với môi trường xung quanh. Ion  trường [20]. Tuy nhiên, Dilorio et al. (1992) [2] <br /> H+ tích lũy dần trong vùng rễ, làm cho pH của  đã chứng minh sự  gia tăng khí CO2 trong bình <br /> môi trường giảm dần. Mặt khác sự  hấp thu  nuôi   cấy   do  sự   hô   hấp   của   rễ   cùng   với   sự <br /> tích   cực   cũng   dẫn   đến   tiêu   hao   nhiều   năng  thiếu hụt O2  đã kích thích rễ  tơ  tăng trưởng  <br /> lượng của tế  bào, vì vậy rễ  hô hấp mạnh và  mạnh hơn.<br /> thải ra nhiều khí CO2 vào môi trường hệ  rễ. <br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 4. Rễ cây ĐQNB trên các môi trường nuôi cấy khác nhau<br /> Chữ I đại diện cho IBA, các số bên phải chữ I đại diện các nồng độ 0,2; 0,5 hay 1 mg/l.<br /> <br /> Trong thí nghiệm này, rễ  tăng trưởng còn  tất cả các công thức đều giảm. Rễ bất định ở <br /> nhờ   vào  nguồn  carbon  hữu  cơ   có  mặt   trong   ngày đầu tiên nuôi cấy không có sự hiện diện <br /> môi trường nuôi cấy, chủ  yếu là của đường  của các rễ thứ cấp. Sau 35 ngày nuôi cấy, các <br /> sucrose. Rễ  cây ĐQNB thông qua hô hấp sẽ  rễ  thứ  cấp được hình thành từ  rễ  sơ  cấp ban  <br /> tiêu  thụ   carbon   đồng   hóa  để   có   năng  lượng  đầu  ở  tất cả  các công thức khảo sát (hình 4).  <br /> cần thiết cho sự  duy trì và gia tăng sinh khối,  Tuy nhiên, sự gia tăng nồng độ IBA trong môi  <br /> vì vậy tiến trình này cần thiết phải có sự hiện  trường nuôi cấy đã làm gia tăng số  lượng rễ <br /> diện của oxy. Theo Yu et al. (2000) [22], sự  thứ cấp. Kim et al. (2003) [7] cũng chứng minh <br /> thông   khí   của   hệ   thống   nuôi   cấy   là   yếu   tố  IBA   có   ảnh   hưởng   mạnh   mẽ   đến   sự   hình <br /> quan   trọng   trong   sự   hình   thành   rễ   bất   định.  thành rễ  thứ  cấp sau 7 ngày nuôi cấy rễ  bất  <br /> Soffer   và   Burger   (1988)   [19]   cũng   đã   chứng  định của cây sâm Panax ginseng; San José et al. <br /> minh rằng oxy hòa tan thiết yếu cho sự  hình  (2012) [16] cũng đã chứng minh sự  hiện diện <br /> thành và tăng trưởng của rễ bất định. Do bình  của IBA 0,1 mg/l trong môi trường nuôi cấy đã <br /> nuôi cấy rễ  bất định của cây ĐQNB là bình  làm sự  hình thành rễ  thứ  cấp của cây  Alnus <br /> kín, không có sự  trao  đổi khí với bên ngoài,  glutinosa gia tăng rõ rệt so với đối chứng trên <br /> lượng oxy hòa tan trong môi trường nuôi cấy  môi trường không có IBA.<br /> sẽ   giảm   dần   trong   giai   đoạn   tăng   trưởng <br /> nhanh của rễ từ ngày 14 đến ngày 28. Vì vậy,   KẾT LUẬN<br /> ở ngày thứ 35, hoạt động phân chia của tế bào <br /> rễ có thể đã giảm dẫn đến sinh khối của rễ ở  Kết quả  nghiên  cứu đã cho thấy tính khả <br /> thi của việc tạo rễ bất định từ nuôi cấy phiến <br /> <br /> 172<br /> TẠP CHÍ SINH HỌC 2013, 35(3se): 165­173<br /> <br /> lá cây ĐQNB  in vitro  trên môi trường thạch  3. J.,   1992.   Carbon   dioxide   improves   the <br /> cũng như  việc nuôi cấy rễ bất định trong môi   growth   of   hairy   roots   cultures   on   solid <br /> trường lỏng với sự hỗ trợ của máy lắc để làm  medium   and   in   nutrient   mists.   Appl. <br /> tăng sinh khối rễ. Các nghiên cứu sâu hơn về  Microbiol. Biotechnol., 37: 463­467.<br /> nuôi   cấy   rễ   cần   được   tiến   hành   để   có   thể <br /> hoàn   thiện   quy   trình   nuôi   rễ   bất   định   đồng  4. Fukuda  K.,   Murata   K.,   Matsuda   H., <br /> thời cần triển khai các nghiên cứu về  sự  tích  Taniguchi   M.,   Shibano   M.,   Baba   K., <br /> lũy các hợp chất thứ  cấp trong rễ   in vitro của  Shiratori   M.,   Tani   T.,   2009.  Quality   of <br /> cây ĐQNB. Angelica   acutiloba  roots   cutivated   ang <br /> processed   in   Sichuan   provice   of   China,   J. <br /> Lời cảm  ơn: Nghiên cứu nhận  được  sự  hỗ <br /> Trad. Med., 26: 169­178.<br /> trợ   về   nguồn   hạt   giống   cây   ĐQNB   của   GS <br /> Toyoki Kozai, Đại học Chiba, Nhật Bản, kỹ  5. Gamborg   L.,   Miller   A.,   Ojima   K.,   1968. <br /> thuật của Trịnh Thị Thanh Vân và Phạm Minh  Nutrient   requirements   of   suspension <br /> Duy, phòng Công nghệ  Tế  bào Thực vật và  cultures   of   soybean   root   cells.   Exp.   Cell <br /> trang   thiết   bị   của   Phòng   Thí   nghiệm   trọng  Res., 50: 151­158.<br /> điểm về Công nghệ tế bào thực vật phía Nam,   6. Gaspar T., Kevers C., Greppin H., Reid M., <br /> Viện Sinh học nhiệt đới. Thrope A., 1996. Plant hormones and plant <br /> growth regulators in plant tissue culture. In <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> vitro Cell Dev. Biol. Plant, 32: 272­289.<br /> 1. Chée P., 1995. Stimulation of adventitious  7. Humphries  E.C.,   1960.   Inhibition   of   root <br /> rooting of Taxus species by thiamine. Plant  development on pertioles and hypocotyls of <br /> Cell Rep., 14: 753­757.  dwarf bean (Phaseolus vulgaris) by kinetin. <br /> Physiol. Plant, 13: 659­663.<br /> 2. Dilorio A. A., Cheetham R. D., Weathers P. <br /> 8. Kim J. S., Hahn E. J., Yeung E. C., Paek K. <br /> Y.,   2003.   Lateral   root   development   and <br /> saponin accumulation as affected by IBA or <br /> NAA in adventitious root cultures of Panax <br /> ginseng  C.   A.   Meyer.  In­Vitro   Cel.Dev. <br /> Biol. Plant, 39(2): 245­249. <br /> 9. Nguyễn  Thị   Liễu,   Nguyễn  Trung  Thành, <br /> Nguyễn Văn Kết, 2010.  Nghiên cứu khả <br /> năng tạo rễ  bất định của sâm Ngọc Linh <br /> (Panax   vietnamensis  Ha   et   Grushv.)   trong <br /> nuôi  cấy  in vitro.  Tạp chí  khoa  học  Đại <br /> học quốc gia Hà Nội, Khoa học tự  nhiên <br /> và Công Nghệ, 27: 30­36.<br /> 10. Ludwig­Muller   J.,   2000.   Indole­3­butyric <br /> acid in plant growth and development. Plant <br /> Growth Reg., 32: 219­230.<br /> 11. Mok M. C., Mok D. W. S., Amstrong D. J., <br /> 1982.  Cytokinin   activity   of  N­phenyl­N’­<br /> 1,2,3­thidiazon­5­ylurea   (TDZ). <br /> Phytochem., 21: 1509­1511.<br /> <br /> <br /> <br /> 173<br /> Nguyen Thi Quynh, Hoang Ngoc Nhung, Nguyen Le Anh Thu<br /> <br /> 12. Morel G., Wetmore R., 1951. Tissue culture  14. medium   for   rapid   growth   and   bioassays <br /> of   monocotyledons, American   Jour.   Bot.,  with tobacco tissue cultures. Physiol. Plant, <br /> 38(2): 138­140. 15(3): 473­497. <br /> 13. Murashige T., Skoog F., 1962. A revised  15. Hoàng  Ngọc  Nhung,  Nguyễn Thị  Quỳnh, <br /> Nguyễn   Vũ   Ngọc   Anh,   Nguyễn   Lê  Anh <br /> Thư, Kozai T.,  2012.  Nghiên cứu sự  phát <br /> sinh   cơ   quan   từ   lớp   mỏng   tế   bào   cây <br /> đương quy Nhật Bản  ­ Angelica acutiloba <br /> nuôi   cấy  in   vitro.   Tạp   chí  Sinh   học, <br /> 34(3SE): 196­204.<br /> 16. Ninh   T.   P.,   Nojima   H.,   Tashiro   T.,   2009. <br /> Effect   of   pretreatment   of   seeds   by <br /> gibberellin (GA3), kinetin and temperatures <br /> on   germination   and   seedling   growth   of <br /> Angelica acutiloba Kitagawa. J. Sci. Dev., 7 <br /> (Eng.Iss.2): 217­224.<br /> 17. Polikarpochkina  R.  T.,   Gamburg   K.  Z., <br /> Khavin E.E., 1979.  Cell­suspension culture <br /> of   maize  (Zea   mays  L.).  Z.P. <br /> flanzenphysiol., 95: 57­67.<br /> 18. San José M. C., Romero L., Janeiro L.V., <br /> 2012. Effect of indole­3­butyric acid on root <br /> formation in  Alnus glutinosa  microcuttings. <br /> Silva Fennica, 46(5): 643­654.<br /> 19. Schwambach  J.,   Fadanelli   C.,   Fett­Neto <br /> A.G.,   2005.   Mineral   nutrition   and <br /> adventitious   rooting   in   microcutting   of <br /> Eucalyptus globules. Tree Physiol., 25: 487­<br /> 494.<br /> 20. Smith   D.   R.,   Thorpe   T.   A.,   1975.   Root <br /> initiation   in   cuttings   of  Pinus   radiata <br /> seedlings. II. Growth regulator interactions. <br /> J. Exp. Bot., 26: 193­202.<br /> 21. Soffer H., Burgur D. W., 1988. Effects of <br /> dissolved   oxygen   concentrations   in   aero <br /> hydroponics on the formation and growth of <br /> adventitious   roots,   J.  Am.   Soc.  Hort.   Sci., <br /> 113: 218­221.<br /> 22. Thorpe   T.,   Stasolla   C.,   Yeung   E.   C.,   de <br /> Klerk G. J., Roberts A., George E. F., 2008. <br /> The   components   of   plant   tissue   culture <br /> media II: Organic additions, osmotic and pH <br /> effects,   and   support   systems.   In:  Plant <br /> <br /> <br /> 174<br /> TẠP CHÍ SINH HỌC 2013, 35(3se): 165­173<br /> <br /> Propagation by Tissue Culture 3rd Edition,  rose   single   ­   node   softwood   cuttings,   Sci. <br /> Vol. 1: The Background, George E.F., Hall  Hortic., 34: 115­121.<br /> M.A.,   de   Klerk   G.J.   (eds.),   Springer, <br /> 24. Yu T. A., Yeh S. D., Cheng Y. H., Yang  <br /> Dordrecht, The Netherlands, 115­174.<br /> J.   S.,   2000.   Efficient   rooting   for <br /> 23. Vries  D.   P.,   Dubois   L.   A.   M.,   1988.   The  establishment   of   papaya  plantlets  by <br /> effect   of   BAP   and   IBA   on   sprouting   and  micropropagation,   Plant   Cell   Tiss.   Org. <br /> adventitous   root   formation   of   ‘Amanda’  Cult., 61(1): 29­35.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> FORMATION AND GROWTH OF ADVENTITIOUS ROOTS FROM IN VITRO <br /> ANGELICA ACUTILOBA KITAGAWA TISSUE CULTURE<br /> <br /> Nguyen Thi Quynh, Hoang Ngoc Nhung, Nguyen Le Anh Thu<br /> Institute of Tropical Biology, VAST<br /> <br /> SUMMARY<br /> <br /> Japanese  touki  is considered  of high and  prior value  in many traditional  remedies  due  to medicinal  <br /> properties in the root system. In this study, root formation and growth of Japanese touki cultured in vitro were <br /> carried out in the dark condition of a culture room having temperature of 24 ± 2oC and RH of 65 ± 5%. Leaf <br /> blades from three different positions of the  in vitro  touki shoot were cultured either on basal mineral MS <br /> medium supplemented with Morel vitamins or Gamborg’s B5 medium. Percent of root formation was 100% <br /> as well as root fresh weight (132.7 mg explant ­1) was the greatest when the second leaf blade was cultured on <br /> the   Gamborg’s   B5   medium.   Percent   of   root   formation,   root   number,   root   fresh   weight   and   root   fresh <br /> weight/explant fresh weight were the greatest when the leaf blade was cultured on the Gamborg’s B5 medium <br /> supplemented with 0.1 mg/l BA. <br /> In the MS liquid medium including Morel vitamin, shaked at 100 ppm, and supplemented with different  <br /> IBA concentrations (0.2, 0.5 or 1 mg/l), adventitious roots of in vitro touki plants grew and increased their <br /> biomass over time with the increase in IBA concentrations. On day 28, touki roots had the greatest fresh <br /> weight (2423.7 mg/vessel) in the medium supplemented with 1 mg/l IBA, almost 5 times higher than that  <br /> (500 mg/vessel) at the first day of culture.<br /> Keywords: Angelica acutiloba, adventitious rout, auxin, cytokinin.<br /> <br /> Ngày nhận bài: 30­6­2013<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 175<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2