intTypePromotion=1
ADSENSE

sự kiện lịch sử việt nam - 7-5-1954 Chiến thắng Điện Biên Phủ

Chia sẻ: Nguyen Hoang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

417
lượt xem
77
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

7-5-1954 Chiến thắng Điện Biên Phủ Điện Biên Phủ là một thung lũng phía Tây khu Tây Bắc, sát biên giới Việt-Lào, cách Hà Nội hơn 300 kilômét, cách hậu phương của ta hồi kháng chiến chống Pháp (Việt Bắc, khu 4) từ 300 đến 400 kilômét đường bộ. Đế quốc Mỹ-Pháp coi đây là một ngã tư chiến lược quan trọng, một vị trí then chốt che chở cho Thượng Lào và có thể trở thành căn cứ không quân, lục quân lợi hại. Tháng 11.1953, địch mở cuộc hành quân Cát-to, ném 6 tiểu đoàn, do tướng Gin chỉ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: sự kiện lịch sử việt nam - 7-5-1954 Chiến thắng Điện Biên Phủ

  1. 7-5-1954 Chiến thắng Điện Biên Phủ Điện Biên Phủ là một thung lũng phía Tây khu Tây Bắc, sát biên giới Việt-Lào, cách Hà Nội hơn 300 kilômét, cách hậu phương của ta hồi kháng chiến chống Pháp (Việt Bắc, khu 4) từ 300 đến 400 kilômét đường bộ. Đế quốc Mỹ-Pháp coi đây là một ngã tư chiến lược quan trọng, một vị trí then chốt che chở cho Thượng Lào và có thể trở thành căn cứ không quân, lục quân lợi hại. Tháng 11.1953, địch mở cuộc hành quân Cát-to, ném 6 tiểu đoàn, do tướng Gin chỉ huy, nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Địch ráo riết xây dựng căn cứ quân sự Điện Biên Phủ. Tháng 3.1954, hệ thống cứ điểm Điện Biên Phủ bao gồm 49 cứ điểm, chia thành 8 cụm với tổng số quân 17 tiểu đoàn bộ binh, lính dù. Điện Biên Phủ có 2 sân bay riêng. Thu hút tới 80% lực lượng không quân của Pháp ở Đông Dương. Tướng Mỹ Ô.Đa-ni-en xác nhận đây là một pháo đài bất khả xâm phạm, một Véc- đoong ở châu á. Na va tuyên bố giữ Điện Biên Phủ bằng bất cứ giá nào. Còn Đờ Cát-tơ-ri, tư lệnh Điện Biên Phủ, hăng hơn, cho rải truyền đơn thách thức quân ta tấn công Điện Biên Phủ. Thực ra, ngay trong tháng 12-1953, Bộ Chính trị đã quyết định lấy Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược. Ta đã bí mật điều chủ lực lên Tây Bắc bao vây Điện Biên Phủ. Mặt khác, ta đã mở các chiến dịch nghi binh, căng địch ra bằng cách tiến đánh Lai Châu (12-1953), Trung Lào (12-1953), Tây Nguyên (1-1954) và đẩy mạnh chiến tranh du kích ở đồng bằng Nam Bộ. Trung ương Đảng quyết
  2. định lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận do đồng chí Võ Nguyên Giáp đứng đầu. Chính phủ tổ chức Hội đồng cung cấp mặt trận do phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Đồng chí Trần Đăng Ninh được Tổng Quân ủy giao phụ trách toàn bộ vấn đề đường xá, tiếp tế cho chiến dịch... Ngày 22.12.1953, Bác Hồ trao lá cờ Quyết chiến quyết thắng cho quân đội. Cả nước hướng về Điện Biên Phủ. Dưới làn mưa bom bão đạn của địch, những con đường từ Yên Bái sang, từ Hòa Bình, Thanh Hóa lên được hình thành và ào ạt chuyển đạn dược, gạo muối lên Điện Biên, 26 vạn dân công với trên 3 triệu ngày công, gần hết số ôtô (628 chiếc), hàng ngàn thuyền bè, 2 vạn chiếc xe đạp... đã ra trận mở đường thắng lợi. Quán triệt tư tưởng đánh chắc thắng nên sau 9 ngày đêm kéo pháo vào, lại phải kéo pháo ra. Những tấm gương hy sinh thân mình chèn pháo như Tô Vĩnh Diện, Nguyễn Văn Chức... Tháng 3-1954, công tác chuẩn bị cơ bản đã xong: các Đại đoàn chủ lực đã ở các vị trí tập kết. Chưa bao giờ bộ đội ta tập trung một lực lượng to lớn đến thế (gần 4 đại đoàn). Ngày 11.3.1954 Bác Hồ gửi thư cho bộ đội: "...các chú sắp ra trận, nhiệm vụ của các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang..." Từ 13.3 đến 17.3.1954 ta mở đợt một chiến dịch. Trong 5 ngày đêm đầu tiên ta diệt 2000 tên, hạ 12 máy bay, chiếm các đồi Him Lam (13.3), Độc Lập (15.3) và Bản Kéo (17.3). Quá uất ức và lo sợ, trước sự thất bại bất ngờ, tên Pi-rốt, tư lệnh pháo binh địch tự tử. Đợt hai chiến dịch mở từ 30.3 đến 24.4 nhằm tiêu diệt các cứ điểm ở phía Đông. Đây là đợt chiến đấu ác liệt gian khổ nhất. Đồi C1 giành đi giật lại. Bắn tỉa và đánh lấn diễn ra ở các đồi D1, E.. Bộ đội đào hào cắt đôi sân bay Mường Thanh,
  3. cắt khu Nam và khu Trung Tâm, tạo nên chiếc thòng lọng xiết chặt cổ địch. Một tên tướng thực dân lúc đó đã thú nhận Điện Biên Phủ đã thành một góc của địa ngục. Trước thế bí, Pháp tung hết máy bay vận tải cứu Điện Biên Phủ, Mỹ tăng thêm 100 chiếc. Có ngày chúng huy động 250 lần chiếc. Kho dù Đông Phương cạn sạch. Mỹ vội vã lập cầu hàng không từ Nhật, Mỹ sang nhưng 62.000 chiếc dù ném xuống phần lớn rơi vào tay quân ta. Mỹ còn dọa dùng bom nguyên tử! Nhưng chúng không thay đổi được cục diện chiến tranh. Bộ đội ta nhanh chóng chiếm các điểm cao còn lại ở phía Đông và tả ngạn sông Nậm Rốn. Đêm 3.5, ta còn cách chỉ huy sở của địch khoảng 300 mét. Quân địch định tổ chức thành 3 cánh quân, xé vây tháo chạy sang Lào. Nhưng chiều 6.5, toàn bộ pháo binh và 1 đại đội hỏa tiễn 6 nòng đã chụp lửa vào trung tâm địch. Sáng 7.5, đồi A1, cao điểm cuối cùng thất thủ, cầu Mường Thanh đã rơi vào tay quân ta. Địch cố gắng tổ chức phản kích, nhưng đến chiều 7.5 ta đã thực hiện tổng công kích, tiến thẳng vào chỉ huy sở của chúng. 17 giờ 30 ngày 7.5, Đờ Cát-tơ-ri tên tướng tư lệnh và toàn bộ tham mưu địch bị bắt sống. Gần 1 vạn tên nhảy khỏi hầm hố xin hàng... Thế là sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục và mãnh liệt, lá cờ Quyết chiến quyết thắng của Hồ Chủ Tịch đã phất cao trên nắp hầm chỉ huy địch ở Điện Biên Phủ. Điện Biên Phủ là trận tiêu diệt lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ta đã tiêu diệt và bắt sống trên 16.000 tên, trong đo có 1 tướng, 16 quan năm, 1.749 sĩ quan và hạ sĩ quan, bắn rơi và phá hủy 62 máy bay các loại, thu 30 trọng pháo, 6 xe tăng, 6 vạn chiếc dù...
  4. Điện Biên Phủ là trận hiệp đồng binh chủng lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là chiến thắng to lớn nhất của quân và dân ta. Những tấm gương hy sinh như Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện... cùng với danh hiệu chiến sĩ Điện Biên, mãi mãi là những biểu hiệu tượng trưng cho tinh thần Việt Nam. Với Chiến thắng Điện Biên lừng lẫy địa cầu nhân dân ta đã phá tan kế hoạch Nava cùng mọi mưu đồ chiến lược điên rồ của đế quốc Mỹ và thực dân Pháp thành mây khói, góp phần quyết định vào thắng lợi của hội nghị Giơ-ne-vơ về vấn đề Đông Dương. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ không những được coi như một Bạch Đằng, một Đống Đa, một Chi Lăng trong thế kỷ 20 mà còn đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch của chủ nghĩa đế quốc. 19-5-1890 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19 tháng 5, một trong những ngày in dấu ấn sâu đậm nhất trong tâm trí nhân dân Việt Nam vì đó là ngày sinh người con vĩ đại nhất của dân tộc: Bác Hồ. Ngày 18-5-1946, báo Cứu Quốc xuất bản ở Hà Nội có đăng một bài đặc biệt được bạn đọc đông đảo trong và ngoài nước hết sức chú ý. Đó là bài "Cụ Hồ Chí Minh với dân tộc Việt Nam". Bài báo có đoạn viết: "... Ngày 19 tháng 5 này, năm mươi sáu năm trước đây (1890) đã ra đời một con người: Hồ Chí Minh.
  5. Bằng bàn tay khéo léo và quả quyết, chính ông đã khai sinh, đã nuôi nấng nhiều đoàn thể cách mạng Việt Nam. Tinh thần hoạt động của hầu hết các chiến sỹ Việt Nam đều do bàn tay tài tình của ông hun đúc..." Bài báo đã nói đến những cống hiến của Hồ Chủ tịch với cách mạng, đã ca ngợi Người là linh hồn, là hiện thân của cách mạng Việt Nam và nêu cao ý nghĩa to lớn của ngày 19 tháng 5. Đó là lần đầu tiên toàn thể dân tộc Việt nam cũng như bè bạn trên thế giới được biết ngày sinh của Hồ Chủ tịch. Đúng ngày 19-5, nhân dân cả nước vui mừng chào đón ngày sinh của Bác. Các cháu thiếu nhi, trống ếch rộn ràng trước Bắc Bộ phủ mừng thọ Bác. Bác tặng thiếu nhi một cây bách tán, lá nhỏ xanh đậm. Khi tiếp đoàn đại biểu của Nam Bộ đang chiến đấu, Bác cảm động nói: "... Tôi xin cảm ơn các anh chi Nam Bộ đến chúc thọ tôi. Thật ra các báo chí ở đây làm to lên cái ngày sinh của tôi, chứ tuổi 56 chưa có gì đáng được chúc thọ, cũng hãy còn như thanh niên cả, mà trước các anh chị, trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thấy lấy làm xấu hổ vì trong Nam chưa được thái bình..." Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890 ở quê ngoại là làng Hoàng Trù, sau về quê nội là làng Kim Liên, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ Tĩnh. Cụ thân sinh ra Người là Nguyễn Sinh Huy, tức Nguyễn Sinh Sắc (1863-1929). Đỗ phó bảng năm 1901, bị ép làm quan, nhưng vốn có tinh thần yêu nước và khẳng khái, cụ Nguyễn Sinh Sắc bị chúng cách chức. Cụ vào Nam Kỳ làm nghề bốc thuốc, sống thanh bạch cho đến lúc qua đời.
  6. Thân mẫu của Người là cụ Hoàng thị Loan (1868-1900), là người phụ nữ trung hậu, đảm việc, chịu thương, chịu khó nuôi con. Chị cả của Bác là bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954), tức Bạch Liên nữ sĩ. Trong hồ sơ của mật thám Pháp, bản lý lịch của Nguyễn Tất Thành khi xin vào xưởng Ba Son (1911), có ghi: " Nguyễn Thị Thanh tức Bạch Liên sống độc thân có liên lạc với quân phiến loạn ở Nghệ Tĩnh, lầy trộm 3 khẩu súng trong trại lính Vinh, đã bị kết án 9 năm khổ sai..." Anh ruột của Bác là đông Nguyễn Sinh Khiêm tức Nguyễn Tất Đạt (1888-1950) cũng từng tham gia phong trào chống Pháp và bị tù đày. Từ 1890 đến 1901 Bác sống ở quê ngoại, cách làng Kim Liên quê nội không xa. Tên khai sinh của Bác là Nguyễn Sinh Cung. Người thầy có ảnh hưởng nhất trong tuổi ấu thơ của Người là cử nhân Vương Thúc Quý. Cụ Quý là bạn thân của cụ Phó bảng Sắc và là con thủ lĩnh Chung nghĩa binh Vương Thúc Mậu thời Cần Vương. Đội nghĩa binh của Vương Thúc Quý chiến đấu quanh vùng núi Chung (Nam Đàn), khi bị Pháp vây bắt, cụ Vương Thúc Quý đã nhảy xuống ao hy sinh ngay ở làng Sen cạnh nhà Bác. Chính ở ngôi nhà nhỏ ở làng Sen, trước khi bước vào mái trường Quốc học Huế (1905), cậu Cung đã được vị túc nho Vương Thúc Quý hết lòng giúp đỡ, tinh thông tứ thư ngũ kinh... Nhưng điều quan trọng hơn cả là cậu Cung được thầy học cho biết đường tận các địa điểm, biến diễn của các cuộc khởi nghĩa ngay trên đất quê nhà của Trần Tấn, Đặng Như Mai, của Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Vương Thúc Mậu và cả phong trào Đông du của cụ Phan Bội Châu đang diễn ra âm ỷ... Cậu Cung rất chú ý lắng nghe những cuốc đàm đạo của cha mình với các đồng chí, bè bạn như Sào Nam Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, đội Quyên (Đại Đấu)...
  7. Cậu Cung trở thành liên lạc cho các nhà nho yêu nước. Nhưng rồi cậu Cung không quanh quẩn ở lũy tre làng, cũng không đi sang Nhật theo Phan Bội Châu như bao người cùng thế hệ. Năm 1908, sau khi tham gia phong trào chống thuế, bị đuổi học, Nguyễn Tất Thành bỏ vào Nam. Người đừng lại ít lâu ở Phan Thiết, đạy học ở trường Dục Thanh do một số nhà giáo yêu nước lập ra. Sau đó, Người và Sài Gòn rồi xuống tàu xuất dương để đi tìm đường cứu nước. Trong 10 năm (1911-1920) Người đã đi khắp năm châu bốn biển, làm hàng chục nghề để tự vô sản hóa mình và tìm ra chân lý- con đường cách mạng vô sản, cái cẩm nang thần kỳ mà cả dân tộc Việt Nam đang mong đợi, 1920-1930 là thời gian Người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê-nin vào Việt Nam để tiến hành thành lập Đảng. Cũng như giai đoạn trước, để có ngày 3-2-1930 ở Cửu Long (Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam) (Trung Quốc) Người đã đi từ Pa-ri tới Mát-xcơ-va rồi từ Quảng Châu vòng trở lại châu Âu và cuối năm 1928 lại trở về Đông bắc Thái Lan... Sau 30 năm xa tổ quốc, mùa xuân 1941 Người trở về Pác Bó (Cao Bằng) trực tiếp lãnh đạo công cuộc đấu tranh chống Nhật Pháp, phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, mở ra thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám 1945. Từ đó cho đến khi Người qua đời (3-9-1969) Người đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến, đánh bại hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đưa Việt Nam vào kỷ nguyên độc lập và chủ nghĩa xã hội, thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của dân tộc. Nếu như năm 1911, dân tộc Việt Nam có Anh Ba- người phụ bếp trên tàu, năm 1920 có Nguyễn ái Quốc- người Cộng sản, thì từ ngày 2-9-1945 nhân dân Việt Nam có Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- và ngày nay, một cách chung nhất, kính yêu nhất, chúng ta có Bác Hồ của Tổ quốc Việt Nam.
  8. Ngày 19 tháng 5! Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá khứ cũng như trong tương lai, mãi mãi là một trong những ngày vui nhất của dân tộc Việt Nam, ngày hướng về một lẽ sống cao đẹp nhất của con người.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2