LUẬN VĂN:
Sự thống nhất và đấu tranh
giữa các thành phần kinh tế ở
nước ta hiện na
Phần mở đầu
Đất nước ta trải qua một thời gian dài chiến tranh gian khổ ác liệt lại bắt tay
ngay vào công cuộc xây dựng CNXH. Trong quá trình khôi phục phát triển nền
kinh tế đi lên từ đói nghèo lạc hậu. Do đó không tránh khỏi tư tưởng chủ quan nóng
vội những sai lầm. Đó thời kỳ nền kinh tế nước ta tình trạng kế hoạch hoá
tập trung quan liêu bao cấp.
Sớm nhận thức được những sai lầm trong đường lối chính sách của Đảng
Nhà nước những năm trước. vậy đã vạch ra đường lối đi mới toàn diện
triệt để mà trọng tâm đổi mới kinh tế được vạch ra Đại hội VI, được tiếp tục
phát triển tại Đại hội VII là hoàn toàn đúng đắn. Trong đó sự tồn tại của nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần được xác định là chiến lược phát triển lâu dài trong công
cuộc đổi mới, theo định hướng XHCN.
Sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế của nước ta hiện nay
sự đan xen tác động mâu thuẫn không kém phần gay gắt. Đứng trên phương diện
triết học, cần nhìn nhận rõ mặt thống nhất đối lập giữa các thành phần kinh tế
trong nền kinh tế Việt Nam thời kỳ quá độ lên XHCN. Phân tích để từ đó đưa ra
phương hướng giải quyết tích cực cho vấn đề này.
Đây cũng chính là lý do em chọn đề tài:
"Sự thống nhất đấu tranh giữa các thành phần kinh tế nước ta hiện
nay"
i viết sau sẽ lần lướt phânch những biểu hin tác đng của quy luật, phân tích
mặt thống nhất và đấu tranh giữa c tnh phần kinh tế nưc ta hiện nay.
I. Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần ở nước ta hiện nay.
1. Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam
Như chúng ta đã biết, trải qua một thời gian dài đất nước ta phát triển nền kinh
tế quốc dân với cơ chế kế hoạch h tập trung quan liêu bao cấp. Cơ chế bao cấp đã
những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp cách mạng nước ta, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đưa cả ớc tiến
lên CNXH. Trong suốt một thời gian dài đó cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp
còn có những điểm tồn ti.
Thứ nhất: chế quản kinh tế được thiết lập dựa trên cơ sở của chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất.
Th hai: Nhà nước thực hiện chức ng quản lý thông qua hệ thống mệnh lệnh
hành cnh được phát ra từ một trung tâm được biểu hiện hệ thống chằng chịt
các chỉ tiêu mang nh pháp lệnh từ trên giao xung các đơn vcở.
Thứ ba: Nhà nước can thiệp quá sâu vào các hoạt động của các doanh nghiệp
hợp tác và các tổ chức sản xut dẫn đến các dơnh nghiệp vừa không có quyền
tự chủ trong kinh doanh, vừa không bị ràng buộc về kết quả kinh doanh
Thứ : nhà ớc thực hiện 1 chế bao cấp tràn lan thông qua chế độ cung
cấp và cấp phát ngân sách mà không có ràng buộc về mặt vật chất
Thứ năm: Kế hoạch giá trị hầu như không được tính tới.Tiền tệ là một công cụ
năng động nht trong quản kinh tế không được coi trọng đúng mức.Thậm chí
đồng tiền còn bị gán tiếng xấu là nguồn gốc của bất công trong xã hội
Với những đặc điểm ở trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã
không tránh khỏi kết quả hoạt động kém hiệu quả. Lợi ích người lao động chưa
được quan tâm đúng mức. Kết quả là sự khủng hoảng kinh tế,chính trị …
Đứng trước tình hình đó đòi hỏi Đảng Nnước ta phải chủ trương chỉ
đạo đổi mới toàn diện mà trọng tâm là đổi mới kinh tế.
2. Tính tất yếu khách quan của việc chuyển đổi tồn tại nền kinh tế nhiều
thành phần ở ớc ta hiện nay.
2.1. Tính tất yếu khách quan của việc chuyển đổi tồn tại nền kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta.
Từ Đại hội VI(1986) đảng ta đã đánh giá đúng đắn những tồn tại,đồng thời
phân tích những sai lầm về chủ quan duy ý chí trong những năm thực hiện cơ chế
kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp.Từ đó Đảng ta đã khởi ớng sự nghiệp
đổi mới toàn diện trọng tâm đổi mới kinh tế -"Phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần với nhiều hình thức shữu, vận hành theo cơ chế thị trường, đi
đôi với tăng cường quản của nhà nước theo định hướng XHCN". Nội dung y
tiếp tục được khẳng đnh tại Đại hội VII và VIII.
Quan điểm của Đảng về việcy dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
xuất phát từ:
Thứ nhất: Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần mới p hợp với thực trạng
của lc lượng sản xuất chưa đồng đều
Thứ hai: Chphát triển nền kinh tế nhiều thành phần, chúng ta mới khả
năng giải quyết được vấn đề việc làm trên đất ớc chúng ta. Trong điều kiện đó,
khai thác và tận dụng tiềm năng của các thành phần kinh tế là một trong những cách
tốt nhất để tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
Thứ ba: Ch phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, chúng ta mới huy
động được mọi tiềm năng về vốn, kỹ thuật và tiềm năng về con người.
Qua sự phân ch trên cho thấy nền kinh tế nhiều thành phần tồn tại nước ta
là tất yếu khách quan và mang lại nhiều lợi ích to lớn trong thời kỳ quá độ.
2.2 Thành tựu của quá trình đổi mới.
Để chđược tính đúng đắn, sáng suốt về đường lối chỉ đạo của Đảng
Nhà nước trong thời kỳ đi mới kinh tế. Trong bài viết này xin nêu ra một số thành
tựu nổi bật về kinh tế trong 10 năm đổi mới (1986 - 1995).
Thứ nhất: Tmột nền kinh tế hầu như không tăng trưởng trước những năm
1986, đã đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế ổn định đặc biệt 5 năm (1991 -
1995) lần đầu tiên hoàn thành vượt mức mục tiêu kinh tế 5 năm. Tính chung 5 năm,
GDP tăng trưởng hàng năm 3,9%. Nhịp độ tăng trưởng GDP 1991: 6% 1992: 8,6%
1993: 8,1% 1994: 8,8% 1995: 9,5% cũng trong 5 m (1991 -1995) nông nghiệp
tăng 4,5%, công nghiệp tăng 13,5% kim ngạch xuất khẩu tăng 20%. Từ năm 1991,
sản xuất không chỉ đáp ứng được tiêu dùng mà còn dành một phần để ch luỹ 1991:
10,1% 1992: 13,8% 1993: 14,8% 1994: 17%.
Bước đầu tích luỹ trong nội bnền kinh tế quốc dân. Trước m 1968, thu
nhập quốc dân sản xuất mới đáp ứng 80% thu nhập quốc dân sử dụng không tích
luỹ, phần thâm hụt 20%.
Thứ hai: m chế và đẩy lùi được nạn siêu lạm phát. Trong năm
1986 - 1988 nạn lạm phát tăng với 3 con số giảm xuống còn 2 con số trong khi
đó tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Chỉ tiêu năm 1986 1987 1988 1993 1994 1995
Tăng trưởng 4 3,9 5,1 8,1 8,8 9,5
Lạm phát 774,7 223,1 393,8 5,2 14,4 12,7
Hiện nay đồng tiền Việt Nam, tăng giá và ổn định. Tỷ lệ đầu tư ớc ngoài
vào Việt Nam tăng, cơ cấu các nghành kỹ thuật có thay đổi theo hướng tiến bộ.
Thứ ba: cấu nghành kinh tế sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ. T
trọng công nghiệp xây dựng cơ bản trong GDP tăng 22,6%(1990) lên
30,3%(1995), tỷ trọng dịch vụ từ 38,6% lên 42,5%, tỷ trọng nông nghiệp giảm
40,6%(1990) xuống 36,2% (1994).
Nhìn chung bộ mặt của đất ớc thay đổi hẳn, đúng như nhận t của Giênathan H
Hotơn (Giáo sư viện phát triển quốc tế Havớt (Mỹ))"Việt Nam đã đạt được nhiều tnh
tựu đáng kinh ngạc..., đã thực hiện được những bưc chuyển to lơn nhanh hơn cả Trung
Quốc(theo Vain,1993) hiểu quả cao n cNga và Đông Âu vào ng thời điểm"(
c ch kinh tế Việt Nam: bức tranh tổng quát trang 33).