intTypePromotion=1
ADSENSE

SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 6

Chia sẻ: Ashfjshd Askfaj | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:32

126
lượt xem
22
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương 5 Một số ví dụ về bệnh do môi trường ô nhiễm và động vạt gây ra đối với cơ thể con người và cách cứu chữa khi bị ngộ độc 5.1 Bệnh do cơ thể người bị tác động bởi các yếu tố vật lý 5.1.1 Vi khí hậu Điều kiện vi khí hậu bất lợi cho con người như nhiệt độ, độ ẩm quá cao hoặc quá thấp; sự kết hợp của các điều kiện khí quyển khi làm việc ngoài trời sự ton hoá không khí tăng hoặc giảm; nhiệt độ các thiết bị tăng hoặc giảm....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 6

  1. Chương 5 Một số ví dụ về bệnh do môi trường ô nhiễm và động vạt gây ra đối với cơ thể con người và cách cứu chữa khi bị ngộ độc 5.1 Bệnh do cơ thể người bị tác động bởi các yếu tố vật lý 5.1.1 Vi khí hậu Điều kiện vi khí hậu bất lợi cho con người như nhiệt độ, độ ẩm quá cao hoặc quá thấp; sự kết hợp của các điều kiện khí quyển khi làm việc ngoài trời sự ton hoá không khí tăng hoặc giảm; nhiệt độ các thiết bị tăng hoặc giảm. Ô nhiễm “nhiệt” có thể được hiểu là môi trường lao động nóng quá hoặc lạnh quá. Môi trường lao động nóng có thể ở bên trong nhà (như các phân xưởng sấy, nung, nhiệt luyện...) hoặc bên ngoài như đối với công nhân làm đường. Môi trường lao động lạnh cũng có thể ở bên trong như trong các kho lạnh, các nhà máy thuỷ sản, bia, giải khát... hoặc bên ngoài như ở các nước phương bắc. Môi trường lao động nóng, với nhiệt độ và/hoặc nhiệt độ bức xạ vượt quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể con người, ở những mức độ khác nhau có thể gây ra những hiện tượng như mất nước, say nắng, đột quy. . . Làm việc trong môi trường lạnh hoặc phải tiếp xúc với các vật có nhiệt độ thấp có khả năng gây các bệnh viêm mũi, họng mãn tính, giảm khả năng phản xạ của tay và ảnh hưởng đến hệ thần kinh. 157
  2. 5.1.2 Điếc do tiếng ồn Công nhân làm việc ở những khu vực có tiếng ồn từ 90 dBA trở lên phải hạn chế thời gian làm việc là 6 giờ/ngày. Nếu thời giàn tiếp xục với tiếng ồn quá 10 giờ trong một ngày thì tiếng ồn quy định không được vượt quá 80 dBA. Công nhân được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội với bệnh điếc nghề nghiệp. Ở nước ta, bệnh điếc nghề nghiệp đã được phát hiện ở các ngành đường sắt, giao thông vận tải, năng lượng, xây dựng công nghiệp nặng và nhẹ. Cho đến nay, trong tổng số bệnh nhân mắc bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm, số trường hợp bệnh điếc nghề nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng 10%. Đối với các giác quan khác, tiếng ồn quá giới hạn cho phép gây chóng mặt, buồn nôn, ngất. Tiếng ồn có thể tác động đến khu vực thẩn kinh tiền đình. Tiếng ồn còn có tác hại về tâm lý, gây khó chịu, lo lắng, bực bội, dễ cáu gắt, sợ hãi, ám ảnh, mất tập trung, suy nghĩ mất ngủ, làm hco dễ nhầm lẫn. Công nhân luyện thép tiếp xúc với tiếng ồn hay cãi cọ nhau, xung đột trong quan hệ gia đình và ở nơi làm việc. Về sinh lý, tiếng ồn gây mệt mỏi toàn thân, nhức đầu, choáng váng, ăn mất ngon, gẩy yếu, thiếu máu, bạch cầu đa nhân giảm. Các rối loạn thắn kinh thực vật hay gặp là nhịp tim tăng, huyết áp thay đổi. Nhu động ống tiêu hoá, tiết nước bọt, chức phận thận, chuyển hoá cơ bản thay đổi. Đối với hệ thần kinh 'trung ương, tiếng ồn có tác dụng kích thích, tiếng ồn phức tạp của động cơ lại có tác dụng ức chế. Tại Việt Nam, giới hạn tối đa cho phép đối với tiếng ồn ở môi trường lao động là 90 dBA. . . . 158
  3. Giới hạn tiếng ồn tối đa cho phép có thể thay đổi theo thời gian tiếp xúc hàng ngày. Cường độ ồn càng cao, thời gian tiếp xúc phải càng ngắn. Khi tiếp xúc hàng ngày trong 2 hay nhiều đợt với tiếng ồn có cường độ khác nhau, phải xem xét ảnh hưởng phối hợp, chứ không phải chỉ chú ý ảnh hưởng riêng biệt của từng loại cường độ tiếng ồn. Thí dụ: nếu tổng các phân số sau đây: C1/T1 + C2/T2 + C3/T3 + ........ Cn/Tn vượt quá giới hạn, sự tiếp xúc phải hợp này phải coi như vượt quá trị số giới hạn ngưỡng. Trong đó: C1: Tổng số thời gian tiếp xúc ở một mức cường độ tiếng ồn T1: Tổng thời gian tiếp xúc cho phép ở mức cường độ tiếng ồn. Sự tiếp xúc với tiếng ồn dưới 90 dBA không đưa vào tính toán trên. 5.2 Bệnh do cơ thể người bị ảnh hưởng môi trường khoảg khí, nước ô nhiễm 5.2.1 Bệnh do ô nhiễm không khí Tác hại của không khí bị ô nhiễm đôi với sức khoẻ cộngđồng Độc chất trong không khí có thể ở dạng khí cũng có thể ở dạng hạt bụi. Sự hấp thụ và thời gian lưu trữ các độc tố trong cơ thể động vật phụ thuộc nhiều vào kích thước hạt của chúng. Những hạt này có thể sẽ kết lắng ở bề mặt cơ quan hô hấp theo 1 trong 3 quá trình sau: 159
  4. Phân tán hạt: xảy ra đối với những hạt có kích thước vài em khi luồng khí gặp bề mặt dốc. Lắng đọng theo lực hấp dẫn: phụ thuộc vào khối lượng và hình dạng của hạt. Đối với hạt có đồng mật độ thì quá trình này thường xẩy ra ở hạt có đường kính từ 0,5µm đến 5µm.. Khuếch tán: hiện tượng này thường có ở hạt với kích thước nhỏ. Tác hại do bụi Bụi khói khí thải: ảnh hưởng độc hại của các chất gây ô nhiễm này đối với con người và động vật phụ thuộc vào tính chất lý học và hoá học của chúng. Chúng có thể gây kích thích và các bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da. Ở những mức độ nhất định chúng có thể làm nặng thêm các bệnh hô hấp mãn tính, hen, giảm chức năng phổi và tăng nguy cơ ung thư. 5.2.2 Bệnh do ô nhiễm nước Nước bị ô nhiễm là nguy cơ gây bệnh cho con người và động vật. Các bệnh chủ yếu liên quan đến chất lượng nước như sau: Bệnh đường ruột Bệnh đường ruột gây nên chủ yếu do các loại vi khuẩn có trong nước như vi khuẩn đại tràng, thương hàn, ly, tả... Ngoài ra, trong nước tự nhiên và nước sinh hoạt còn có thể có các loại vi khuẩn gây bệnh ỉa chảy trẻ em như Leptosplra, Brucella, Tularensis, các siêu vi khuẩn bại liệt, viêm gan, ECHO, Coksaki... Ví dụ: Bệnh ỉa chảy Bệnh ỉa chảy là bệnh lây lan chủ yếu bởi phân người. Bên canh đó thức ăn, nước uống bị ô nhiễm có thể cũng là nguyên 160
  5. nhân gây ra bệnh ỉa chảy. Nhiều nước trên thế giới khi người mẹ sinh con, có nhiều khả năng là đứa trẻ sẽ chết trước khi sinh nhật lẩn thứ nhất. Tỷ lệ có thể lên tới 220 trẻ chết trong 1000 trẻ sinh ra, trong đó ít nhất có 25% trẻ chết vì các bệnh ỉa chảy. Các bệnh do ký sinh trùng, vi khuẩn, virus và nấm mốc Con người có thể mắc các bệnh do ký sinh tử nó gây ra như Amib, giun sán các loại; các bệnh ngoài da, viêm mắt do các loại vi khuẩn, virus, nấm mốc và các loại ký sinh trùng. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu nước sinh, vệ sinh cá nhân kém. Nước bị nhiễm ký sinh trùng là do việc quản lý phân và chất thải không tốt, gây ô nhiễm môi trường xung quanh và tăng tỷ lệ mắc bệnh trong dân cư. Ví dụ: Bệnh sốt do Leptospira Bệnh sất do Leptospira ở các vùng rừng núi, các khu vực khai hoang phát triển nông nghiệp hay xây dựng công nghiệp. Đó là bệnh truyền nhiễm do nhiều chủng Leptospira từ gia súc truyền sang người. Đường lây thông thường là do tiếp xúc với đất hoặc nước ô nhiễm do nước tiểu súc vật bị bệnh, trong khi lao động phải ngâm mình dưới nước hoặc bùn lầy. Cũng có thể lây trực tiếp từ súc vật, mầm bệnh vào cơ thể qua da xây xát hoặc qua niêm mạc. bệnh còn có thể lây qua thực phẩm, nước uống ô nhiễm. Điều kiện tồn tại và phát triển của mầm bệnh là nóng và ẩm ướt. Tại những vùng nhiệt đới nóng và ẩm quanh năm, bệnh dễ phát triển ở những người phải lao động bên những súc vật bị bệnh hay tiếp xúc với đất, nước ô nhiễm, ở những ao tù, hồ nước đọng, sông suối chảy chậm. Triệu chứng Các triệu chứng sớm xuất hiện là ăn không ngon, đau cơ, nhức đầu dữ dội, liên tục, người lả vì đau vùng sau nhãn cầu, mồ 161
  6. hôi vã ra nhiều. Bệnh nhân thường buồn nôn, có thể bị ỉa chảy hoặc táo bón, viêm thần kinh mắt và đôi khi liệt nhẹ thần kinh vận động nhãn cầu. Màng não bị tổn thương, có biểu hiện cổ bị cứng, bạch cầu đơn nhân tăng lên > 50/mm3, cơ yếu và liệt. Thận bị tổn thương, đái ra mủ, máu. Bệnh do Leptospira nặng thường do Lipterohaemorthagiae gây ra. Các triệu chứng cũng như vậy, nhưng nặng hơn, buồn nôn, đặc biệt bị tiêu chảy nặng. Rất hay có biểu hiện xuất huyết, viêm phổi, viêm cơ tim, truỵ mạch ngoại biên. Gan to, vàng da, chức năng gan bị ảnh hưởng, các triệu chứng về hệ thần kinh trung ương thường nặng hơn, bạch cầu tăng, chủ yếu bạch cầu đa nhân. Thận bị suy, potein niệu tăng, tiểu tiện ít hoặc vô niệu. Phòng bệnh Ổ bệnh thường gây qua các loại gặm nhấm, lợn, trâu bò, ngựa , chó . . . Biện pháp phòng bệnh: Nước bị ô nhiễm: Tiến hành khử trùng nước (bằng clo). Đất bị ô nhiễm: Xử lý bằng muối đồng sulphate, cyanamit canxi. Các bệnh do côn trùng trung gian Côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu là các loại muỗi. Quá trình sinh sản của muỗi phải qua môi trường nước. Trong các vùng có binh dịch lưu hành, muỗi có khả năng truyền các loại bệnh như bệnh sốt rét, bệnh Dengue, bệnh sốt xuất huyết, bệnh giun chỉ... Ví dụ: Bệnh Sốt rét Sốt rét là một trong những bệnh nguy hiểm bậc nhất tác động 162
  7. đến con người ở các nước đang phát triển có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới sốt rét đặc biệt nguy hiểm đối với phụ nữ có thai và nhất là trẻ em (dưới 5 tuổi). Nếu họ bị sốt rét, có thể nhanh chóng bị lâm vào tình trạng suy nhược trầm trọng và có thể dẫn đến tử vong. Sốt rét là loại bệnh gây ra do những vi sinh vật cực nhỏ được gọi là ký sinh trùng sốt rét ở trong máu. Một vật trung gian truyền bệnh là muỗi. Muỗi cái có khả năng đốt người và có thể truyền các bệnh nguy hiểm cho con người. Muỗi đực không hút máu và không thể truyền bệnh. Muỗi thường cư trú ở những nơi như vùng nước ngọt hoặc nước lợ nhẹ, nhất là nơi tù đọng hoặc chảy chậm, tại các dòng suối chảy chậm, vũng nước tù sau cơn mưa hoặc do thoát nước kém, đầm lầy, ruộng lúa, hồ chứa, ao hồ nhỏ, chuôm, mương, vũng trâu, đầm có nước tù đọng, dấu chân động vật chứa nước, chum, thùng, bể chứa nước... Có 3 cách chính để phòng chống sốt rét. - Để phòng muối đốt • Ngủ trong màn (có thể màn đã được tẩm thuốc diệt côn trùng) • Chắn bằng lưới toàn bộ cửa sổ và cửa ra vào hoặc ít nhất cũng là cửa phòng ngủ • Xoa thuốc chống muỗi lên da • Đốt các loại hương muỗi hoặc mùn cưa. - Kiểm soát các nơi muồi sống • Hạn chế những vị trí muỗi có thể đẻ trứng • Lấp các vũng nước hoặc tháo khô • Thả các loại cá ăn bọ gậy • Phun thuốc diệt bọ gậy. 163
  8. - Diệt muỗi trưởng thành • Phun thuốc diệt muỗi. Các bệnh do các chất yếu tố vi lượng khác có trong nước Bệnh do các yếu tố vi lượng hoặc do các chất khác trong nước gây ra cho con người là do thừa hoặc thiếu trong nước. Có một số loại bệnh sau: Bệnh bướu cổ địa phương ở những vùng núi cao, xa biển do trong đất, trong nước và thực phẩm thiếu tốt. - Bệnh về răng do quá thiếu hoặc thừa flo. Flo cần thiết cho cơ thể để cấu tạo men răng và tổ chức của răng. Tiêu chuẩn đối với flo trong nước uống là 0,7 - 1,5 mg/l. Nếu flo nhỏ hơn 0,5 màu sẽ bị bệnh sâu ràng nếu lớn hơn sẽ làm hoen ố men răng và bị các bệnh về khớp. - Bệnh do nồng độ nitrat cao trong nước. Nồng độ nitrat cao trong nước có thể do phân huỷ của chất hữu cơ trong tự nhiên hoặc do bị ảnh hưởng của nước thải ô nhiễm. Trong nước chứa hàm lượng mướt trên 10 mẫu có thể gây bệnh tím tái ở trẻ em. Người ta thấy hàm lượng methemoglobine trong máu cao ở cả trẻ em và người lớn khì dùng nước chứa hàm lượng nitrat cao hơn giới hạn cho phép. - Bệnh do nhiễm độc bởi các chất độc hoá học có trong nước như bệnh Minamata do nước bị nhiễm dimethyl thuỷ ngân, bệnh Itai-Itai do trong nước có quá nhiều cadimi. Nếu trong nước có các chất gây ung thư, các chất ảnh hưởng đến đến di truyền, con người cũng sẽ bị mắc bệnh. Bệnh xã hội Bệnh lao phổi Bệnh lao phổi là vấn đề sức khoẻ cộng đồng có quy mô toàn 164
  9. cầu với khoảng 8 - 10 triệu ca mới và 3 triệu tử vong mỗi năm. Tình trạng trầm trọng đến mức WHO phải công bố lệnh báo động trên toàn cầu vào năm 1993. Lao phổi được coi là một bệnh xã hội hơn là một bệnh truyền nhiễm vì nó thường có ở những người nghèo khổ, phải sống đông đúc chật chội và đối mặt với vấn đề suy dinh dưỡng. Sự nhập cư từ những nước đang lan tràn bệnh lao phổi đã góp phần gia tăng bệnh này. Khoảng 8/10 lượng người bị nhiễm lao là nhóm người trong độ tuổi lao động từ lá - 59 tuổi. Khoảng 95% những người bị lao là từ các nước đang phát triển, nhất là Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và Châu Phi. Trẻ em sinh ra trong những thập kỷ qua ở những vùng có tốc độ tăng trưởng dân số cao hiện đang đạt đến độ tuổi mà lao phổi ưa xâm nhập nhất. Tăng số lượng người nghèo, người suy dinh dưỡng sống trong những vùng chật chội, thiếu vệ sinh là điều kiện thuận lợi cho việc lan truyền các bệnh lây từ người sang người như bệnh lao phổi cùng với các bệnh truyền nhiễm khác, sự đi lại quốc tế và di cư quốc tế, sự nghèo đói đã hợp lực thúc đẩy sự lan tràn của bệnh lao phổi. Thủ phạm của lao phổi - vi trùng Mycobactérium thường tồn tại dai dẳng trong người rất lâu kể từ lần lây nhiễm đầu tiên. Mặc dù việc nhiễm loài khuẩn lúc đầu có thể được cơ thể kiểm soát nhưng vài năm sau, lao phổi có thể bị kích hoạt và có khả năng đe doạ. Những năm gần đây lao phổi đã tấn công vào nhưng người nhiễm HIV với tốc độ mạnh, tạo ra một loại bệnh lan.tràn nhanh chóng. Virus HIV/AIDS phá huỷ hệ thống phòng vệ của cơ thể gọi là hệ thống miễn dịch góp phần tạo điều kiện cho quá trình lao 165
  10. phát triển nhanh từ giai đoạn lây nhiễm vô hại đến giai đoạn trầm trọng. Lao phổi lan truyền vi khuẩn vào không khí do người bị lao phổi ho hay khạc nhổ. Khi người khác hít vào phổi, vi khuẩn sinh sản ngay nhưng ở nhiều người, hệ thống miễn dịch có khả năng hạn chế tác dụng sự lan tràn này. Ở đây, vi khuẩn không chết mà thực ra chúng bất động, để rồi nhiều năm sau chúng có thể tái hoạt động khi phổi bị hư hại, sức khoẻ bị suy sút... Triệu chứng là ho nặng: có máu, đau ngực, khó thở, sốt và sút cân. Bệnh lao nghề nghiệp Bệnh lao nghề nghiệp cũng là một trong 16 bệnh được Nhà nước Việt Nam bảo hiểm. Sau đây là một số thông tin về căn bệnh này: Vi khuẩn lao ở trong đất, nước và không khí, ở trên da và niêm mạc ở sữa và các sản phẩm làm từ bơ sữa. Vi khuẩn lao bị tiêu diệt dưới tia nắng mặt trời, nhưng lại có thể sống hàng tháng ở đầm và nước cống rãnh. Bệnh lao nhiễm qua phổi còn có nguyên nhân nghề nghiệp khi tiếp xúc nghề nghiệp với bệnh nhân lao như bác sỹ, y tá, nhân viên phòng thí nghiệm. Bệnh lao nghề nghiệp còn có thể do tai biến tiêm truyền: có người bị bệnh khi đụng chạm tổn thương qua các vết xây xát Dấu hiệu nhiễm bệnh có thể thông qua các nốt sần hay các nốt viêm nhiễm, màu tím và ăn sâu vào da. Bệnh tiến triển chậm, các vết trầy lớn lên ở giữa là mụn mủ, xung quanh có bờ cao. Thường tổn thương chỉ là một loại hột cơm, kẻo dài dai dẳng hàng tháng, hàng năm. - Dấu hiệu lâm sàng: Dấu hiệu chung sốt về chiều, ra nhiều mồ hôi, chán ăn, sút cân kéo dài, sức lực suy giảm. 166
  11. Bệnh AIDS Hiện trạng mắc bệnh Bệnh AIDS còn được gọi là Hội chứng suy giảm miễn dịch ở cơ thể con người. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có khoảng 16 triệu người bị nhiễm virus HIV, trong số đó có 9 triệu là nam, 6 triệu là nữ và khoảng 1 triệu là trẻ sơ sinh và trẻ em. 2/3 số các bệnh nhân AIDS hiện nay sống ở vùng cận Sahara, Châu Phi. Những năm gần đây, việc virus HIV lan truyền nhanh chóng ở các nước Đông Nam Á, trong 5 năm qua, khoảng 2,5 triệu người đã bị nhiễm virus HIV. Ở các nước đang phát triển, HIV đang gây ra hậu quả khó lường về kinh tế và xã hội. Năm 2000, ước tính toàn cầu HIV/AIDS là nguyên nhân gây tử vong cho khoảng 750.000 trẻ em trên 15 tuổi và khoảng 10 triệu trẻ em dưới 15 tuổi sẽ rơi vào cảnh mồ côi vì bố mẹ chúng đã chết do nhiễm virus HIV. • Các yếu nhiên quan đến sự lan tràn virus HIV - Di dân - Đô thị hoá - Sự biến động xã hội - Dịch vụ y tế xuống cấp - Suy thoái kinh tế - Vị trí xã hội thấp kém của phụ nữ - Bệnh xã hội • Biểu hiện lâm sàng của nhiễm virus HIV Nhiễm virus HIV sẽ dẫn đến phổ rộng về bệnh lâm sàng mà giai đoạn cuối là bệnh giảm miễn dịch, một trạng thái lâm sàng trầm trọng nhất. 167
  12. Có thể phân loại như sau: Nhiễm virus HIV sơ phát (Primary HIV infection) - Biểu hiện cấp tính của nhiễm virus HIV Trong 2 - 6 tuần lễ đầu tiên có những biểu hiện cấp tính giống như bệnh tăng cao bạch cầu đơn nhân (Acute Mononucleosislike) với những triệu chứng như: sốt, đổ mồ hôi trộm, lơ mơ, đau cơ, khớp, nhức đầu, đau bụng, đau hạch, ỉa chảy, phát ban đỏ, sợ ánh sáng. Có thể xuất hiện một số di chứng của nhiễm virus loét miệng, bong vẩy, tàng tiết chất bã, vẩy nến... - Nhiễm virus HIV, huyết thanh dương tính nhưng không có triệu chứng lâm sàng, phân lập được HIV từ máu và các tiết dịch khác. - Nhiễm virus HIV nhưng huyết thanh âm tính: có thể có hoặc không bị suy giảm miễn dịch, rất khó chẩn đoán. - Có các nhiễm trùng thừa cơ nhẹ, biểu hiện ở các cơ quan hoặc hệ tổ chức. + Hội chứng ở hệ tiêu hoá như chốc mép, viêm lợi, viêm ruột, ỉa chảy kéo dài (virus HIV có tính hướng ruột) + Hội chứng ở hệ hô hấp như chảy nước nhại viêm xoang + Hội chứng ở da: • Nhiễm trùng da do tụ cầu, viêm nang lông, chốc bọng nước, đinh nhọt, áp xe. • Tăng tiết chất bã, viêm da quanh miệng, quanh mắt, vẩy nến. • Chứng khô da. • Herpes do virus HIV. • Hột cơm, xúi mào gà, u mềm lây. 168
  13. • Nhiễm nấm candida, nấm da lâu khỏi. + Hội chứng tâm thần, thần kinh: chán nản, cáu gắt, thay đổi nhân cách, nhức đầu kéo dài, dấu hiệu khu trú. Phức hợp Á (AIDS related complex tức ARC) hay hội chứng viêm hạch bạch huyết (Lymphodenophthy Syndrome, viết tắt là LAS). Là biểu hiện lâm sàng kinh điển của nhiễm virus HIV, thường kéo dài 3 tháng hoặc lâu hơn: Viêm hạch kéo dài; tồn lưu, lan toả: ngoài vùng bẹn ra còn có thể viêm ở những nơi khác cổ (phía trước, phía sau), vùng chân, nách. - Ỉa chảy, đổ mồ hôi trộm, mệt mỏi, sút cân. - Có khi nhiễm nấm men candida ở miệng, sốt kéo dài, thiếu máu, giảm tiểu cầu, lá lách bị to. - Có khi chỉ đơn thuần viêm hạch lan toả. Bệnh giảm miễn dịch toàn phát (SIDA, AIDS hay Full- Blown AIDS). Đây là giai đoạn cuối cùng của nhiễm virus HIV tiến triển thành AIDS hoàn chỉnh. Các biểu hiện chủ yếu như sau: Các nhiễm trùng thừa cơ: + Hệ tiêu hoá: • Ỉa chảy nặng, kéo dài do Cryptosponridium, Cytomegalovirus hay Mycobacterium Intracellulare hoặc không rõ nguyên nhân. • Sarcom Kaposi, U lympho ở dạ dày, ruột, gây chảy máu. + Hệ hô hấp: • Viêm phổi do Pocumpcystic acrinii, đặc biệt còn có chứng khó thở, ho khan, thâm nhiễm phổi. + Hệ thần kinh trung ương: 169
  14. • Viêm màng não, áp xe. • U lympho. • Loạn trí. + Ngoài da: • Các thương tổn da và niêm mạc kéo dài, tồn tại lâu trên 1 tháng • Viêm niêm mạc thực quản do candida, gây khó nuốt và đau xương ức. • Các biểu hiện như: herpes miệng, sinh dục, quanh hậu môn, u mềm lây, xùi mào gà... đều mang tính chất lan toả rộng, kéo dài. + Các u ác tính: • Sarcom Kaposi: màu đỏ tía, không đau, số lượng nhiều ở da, ở hạch và các bộ phận khác. Sarcom Kaposi có nhiều, xuất hiện ở dạ dày, lòng bàn tay, bàn chân, miệng hậu môn, mông, ngực, lưng. • U lympho, u sơ phát thường ở thần kinh trung ương, sau lan sang tuỷ xương, dạ dày, ruột và đa. Điều tri: Hiện nay người ta đang tìm thuốc điều trị và đang đi vào các hướng sau đây: - Tìm thuốc tiêu diệt virus HIV: không được vì 2 lý do: • HIV "trốn" trong tế bào, thuốc sẽ tiêu diệt cả tế bào. • HIV nhiễm vào tế bào máu mà phần lớn thuốc lại không vượt qua được hàng rào máu não. - Tìm thuốc chống sự sinh sản và lan toả của virus HIV sang tế bào khác. 170
  15. Hiện nay có hai loại thuốc có triển vọng đang được thí nghiệm ở Italia, Australia và Âu : • Azidothymidine AZT • Rthavirin Cả hai loại này đều là thuốc uống và có thể vượt qua hàng rào máu não, tuy nhiên có nhược điểm: • Giá thành quá đắt, ngày uống 6 viên chi phí khoảng 10 - 20 USD. • Phải dùng thuốc suốt đời. • Gây thiếu máu nặng: đã xảy ra ở một số bệnh nhân sau 4 - 8 tuần dùng thuốc. Tìm những phương pháp thay thế miễn dịch: • Tiêm truyền lympho. • Ghép tuỷ. • Ghép tuyến ức. : Cho đến nay, trong khi chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, người ta dùng các thuốc để chữa các nhiễm trùng thừa cơ như: viêm phổi, nhiễm nấm da, ỉa chảy, ung thư. - Mặt khác, bệnh nhân cần lạc quan tin tưởng, tăng cương bảo vệ sức khoẻ bằng luyện tập đều đặn, ăn uống theo chế độ bồi dưỡng, nghỉ ngơi. Cần tránh các yếu tố làm suy giảm miễn dịch thêm như các bệnh nhiễm trùng virus khác, các bệnh lây truyền qua đường sinh dục khác, ma tuý, thuốc lá, rượu. Đồng thời có sự hỗ trợ về tâm lý của gia đình và tập thể. Phòng bệnh và chống bệnh: Bệnh AIDS lây truyền qua 3 cách: 171
  16. • Quan hệ tình dục với người có bệnh. • Tiếp xúc trực tiếp với máu và sản phẩm có nhiễm HIV: • Từ mẹ sang con ở thời kì bào thai hoặc khi sinh đẻ. • Phòng bệnh phải tránh hoặc chống lại 3 cách lây lan trên đây,cụ thể. + Các biện pháp tránh lây nhiễm qua đường sinh dục: • Không quan hệ sinh dục với nhiều người - tốt nhất là "thuỷ chung một vợ, một chồng. • Không quan hệ với người thuộc nhóm nguy cơ cao. • Không có quan hệ luyến ái đồng giới. • Sử dụng comdom. + Để tránh lây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp với máu và sản phẩm của máu bị nhiễm HIV: • Chỉ tiêm và truyền máu khi thật cần thiết. • Kiểm tra máu và các sản phẩm máu trước khi dùng. • Kiểm tra cẩn thận thường kì máu của người cho máu trước khi quyết định lấy máu. • Kiểm tra và tiệt trùng máu và sản phẩm máu nhập nội. • Bảo đảm bơm tiêm, kim tiêm, kim lấy máu, kim xâm chàm, kim xâu tai được tiệt trùng đúng quy cách và không có mầm bệnh HIV. + Để tránh lây từ mẹ sang con cần: • Giáo dục, khám nghiệm các thai phụ để phát hiện sớm virus HIV. • Thông báo trước cho các sản phụ về nguy cơ có thể có của thời kì mang thai và khi sinh nở đối với cháu bé. Bệnh giang mai 172
  17. Giang mai là một bệnh nhiễm khuẩn, lây truyền chủ yếu qua con đường quan hệ sinh dục, tiếng Pháp, tiếng Anh đều gọi là Syphilis, do một loại xoắn khuẩn hình lò xo, gọi là Treponema pallidum gây nên. Xoắn khuẩn giang mai ra ngoài cơ thể không sống được quá vài tiếng đồng hồ, chết nhanh chóng ở nơi khô, ngược lại ở nơi ẩm ướt nó sống được lâu hơn, trong nước đá và ở độ lạnh - 200C nó vẫn giữ được tính di động rất lâu, ở nhiệt độ 450C nó bị bất động, và có thể sống sót trong 30 phút. Xoắn khuẩn đột nhập cơ thể người qua con đường giao hợp (thông qua các xây xước da và niêm mạc trong quá trình giao hợp). Bệnh Giang mai phân thành hai loại: Bệnh giang mai bị mắc: do có quan hệ, chung chạ với người bệnh. Bệnh giang mai bẩm sinh: do thai nhi bị lây bệnh của thai phụ (người mẹ) khi còn nằm trong bụng mẹ, nên khi chào đời đã mang sẵn bệnh giang mai dưới nhiều hình thái khác nhau. Đặc điểm lâm sàng của sàng giang mai là một vết xước nông (chỉ say mất lớp thượng bì), hình tròn hay bầu dục, bằng phẳng, màu đỏ thịt tươi, không có mủ, không có vẩy trừ khi bị nhiễm khuẩn thứ phát. Nền của sông giang mai thường rắn. Đó là một đặc điểm quan trọng giúp phân biệt với các vết xước khác. Sàng giạng mai không gây đau, không gây ngứa, vì vậy, người bệnh dễ không biết, bỏ qua, nhất là ở nữ giới, có khi thấy thương tổn nhưng cũng không đi khám nghiệm, vì nghĩ rằng đây chỉ là một vết trầy xước thông thường. Các mảng niêm mạc (Mucous pateches) ở các niêm mạc như 173
  18. mép, quanh mũi, quanh hậu môn, âm hộ, người ta thấy những thương tổn trợt loét, có khi hơi nổi cao, sần xùi hoặc nứt nẻ, đóng vẩy tiết có chứa rất nhiều xoắn khuẩn và rất dễ lây Các thương tổn sẩn: trên các vùng da khác nhau, thấy xuất hiện những sản, nổi cao hơn mặt da, rắn chắc, màu đỏ đồng, hình bán cầu xung quanh có viền vẩy, gọi là sản giang mai (papular syphilides). Một đặc điểm rất quan trọng là tính chất đa dạng về hình thái của các sản giang mai: sẩn có vẩy, sẩn trợt, sẩn có mủ... lại đa dạng về vị trí và cách sắp xếp các sẩn: sẩn hình cung, sẩn hình nhẫn, sản quanh nang lông. . Những vùng nóng và ẩm ướt của cơ thể như ở kẽ mông, hậu môn, âm hộ, nách; các sẩn giang mai thường to hơn bình thường, chân bè ra, bề mặt phẳng và ướt, có khi sắp xếp thành vòng xung quanh hậu môn, âm hộ, có chứa rất nhiều xoắn khuẩn và dễ lây. Những biểu hiện khác của giang mai thời kì thứ 2: viêm mống mắt, viêm gan (gan to, vàng da, thử nghiệm chức năng gan không bình thường); viêm họng, khản tiếng, viêm màng xương (đau xương về ban đêm); viêm thận (protein niệu, phù chân). Giai đoạn 3 thường bắt đầu vào năm thứ 3 của bệnh, ngày nay, ít gặp giang mai ở thời kì này, vì thường người bệnh được phát hiện và điều trị tương đối sớm và bằng loại thuốc công hiệu tốt là Penicthne. Giai đoạn này các thương tổn không có tính chất lan toả như ở thời kì thứ hai, ngược lại thường khu trú ở một nơi nào đó của cơ thể nhưng lại ăn sâu hơn nên phá hoại các tổ chức nhiều hơn, thường có hình nhẫn, hình cung hoặc vằn vèo, không đối xứng. Vì vậy, người ta thường nói: giang mai 174
  19. thời kì thứ hai không nguy hiểm cho bản thân bệnh nhân (vì thương tổn tuy lan toả nhưng lại ăn nông trên mặt da) mà lại rất nguy hiểm cho xã hội (vì có chứa nhiều xoắn khuẩn và rất lây); ngược lại, giang mai thời kì thứ 3 rất nguy hiểm cho bản thân bệnh nhân (vì ăn sâu vào tổ chức và phá hoại các tổ chức phủ tạng) nhưng lại không nguy hiểm cho xã hội (vì không còn xoắn khuẩn và không lây bệnh cho người khác). Phòng bệnh giang mai: trước đây người ta thường nói đến cách phòng bệnh cá nhân bằng xà phòng, mỡ calomel, mỡ peniciline... nhưng thực ra không có phương pháp nào bảo đảm không lây bệnh nếu có quan hệ tình dục với người mắc giang mai. Dùng bao comdom có thể ngăn chặn lây lan phần nào, song vẫn là một phương tiện mỏng manh đối với bệnh giang mai, nhất là xoắn khuẩn vẫn có thể đột nhập cơ thể người qua các điểm tiếp xúc khác không được bao comdom bảo vệ. Vì vậy cách phòng bệnh cá nhân đảm bảo nhất là không quan hệ sinh dục với người có bệnh, tốt nhất là "một vợ, một chồng '. - Cách phòng ngừa bệnh: ■ Giáo dục thanh thiếu niên sống lành mạnh. ■ Chống tệ nạn mại dâm. ■ Cải tạo những phụ nữ đã hành nghề mại dâm. ■ Xây đựng và áp dụng một quy chế hôn nhân đảm bảo cho sự phát triển giống nòi: khi đăng kí kết hôn cần có đầy đủ giấy khám sức khoẻ, trong đó có giấy thử máu âm tính, không cho phép cưới khi chưa khỏi bệnh (nếu có bệnh). ■ Giáo dục giới tính, vệ sinh, sinh hoạt trong các trường phổ thông, trong các đoàn thể thanh thiếu niên. Giáo dục, phổ biến những kiến thức cơ bản về bệnh giang mai và các bệnh hoa liễu 175
  20. khác, những biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh, những nguy hại của bệnh cho bản thân và cho con cháu mai sau, cách phòng tránh, chữa trị. 5.3. Các bệnh đo một số loài động vật làm lây truyền 5.3.1 Mối quan hệ giữa chất thải rắn và sự kiểm soát loài gặm nhám Các loài gặm nhấm gây ra một số rắc rối như: chúng phá huỷ tài sản, làm con người hoảng sợ, gây lây .lan bệnh tật .và phá hoại. thực phẩm của con người. Những chất thải rắn không được quản lý một cách hợp lý đã tạo cho các loài côn trùng và gậm nhấm một “gôi nhà lý tưởng”. Chi phí cho việc quản ly các chất thải rắn giảm xuống dưới mức cần thiết đối với chi phí cho các chương trình kiểm soát. các véc-tơ truyền bệnh và các bệnh do các véc-tơ này gây ra. Các bệnh tật do động vật gây ra bao gồm: bệnh sốt xuất huyết, bệnh dịch hạch, bệnh trùng xoắn móc câu, bệnh vi khuẩn samon, bệnh sốt do chuột cắn, bệnh đậu mùa, bệnh giun xoắn, bệnh bạch huyết. Chuột gây ra nhiều phiền toái cho tài sản dự trữ của con người. Chúng gây rắc rối đối với các đồ ăn uống và việc bảo quản các hạt giống, chúng phá huỷ hạt giống, hạt ngũ cốc, và các kho dự trữ khác chuột cũng gây ra những rắc rối đối với những nhà nuôi gia cầm và các trang trai nuôi chim. Chúng phá huỷ và gây ô nhiễm các công trình cũng như gây tác hại đối với chim và gà con. Ở một vài nơi trên thế giới chuột phá huỷ từ 1 đến 1/3 sản lượng nông nghiệp thu hoạch được. Do có tính gặm nhấm và đào bới, chúng gây ra những thiệt hại đối với các công trình và các toà nhà. Chúng thường gặm 176
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2