BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Võ Thị Bảo Ngọc
SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN
SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Võ Thị Bảo Ngọc
SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN
SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tâm lí học
Mã số
: 8310401
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS.ĐINH PHƯƠNG DUY
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Võ Thị Bảo Ngọc
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn chân thành nhất tôi xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, quý thầy cô
giáo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên, Trường Đại học Sư phạm TP. HCM đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với thầy hướng dẫn: PGS.TS. Đinh
Phương Duy đã tận tình động viên, giúp đỡ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu. Cảm ơn Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, trường Đại học Bách
Khoa TP.HCM và đại học Công Nghệ TP. HCM đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thu
thập số liệu hoàn thành đề tài.
Tôi xin cảm ơn Quý Thầy cô phản biện và hội đồng chấm luận văn đã đọc và
có những nhận xét, góp ý quý giá về luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã sát cánh, động viên và giúp đỡ
tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Võ Thị Bảo Ngọc
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH
VIÊN SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH ........................ 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 5
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới .............................................. 5
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước .............................................. 8
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài ............................................................................ 10
1.2.1. Sức khỏe tâm thần ............................................................................. 10
1.2.2 Sinh viên .......................................................................................... 16
1.2.3 Một số lý luận về sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại
thông minh ........................................................................................ 20
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................... 27
Chương 2. THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN SỬ
DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH .................................................................... 29
2.1 Thể thức nghiên cứu .................................................................................. 29
2.1.1. Mục đích nghiên cứu ......................................................................... 29
2.1.2. Mẫu nghiên cứu ................................................................................. 29
2.2. Công cụ nghiên cứu ................................................................................. 30
2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi ................................................. 30
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn .................................................................... 32
2.2.3. Phương pháp thống kê toán học ........................................................ 33
2.3. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 33
2.3.1. Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh ........................................ 33
2.3.2. Thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông
minh................................................................................................... 38
2.3.3. Thực trạng phụ thuộc vào điện thoại thông minh của sinh viên sử dụng
điện thoại thông minh ....................................................................... 62
2.3.4. Tương quan giữa sự sức khỏe tâm thần và sự phụ thuộc của sinh viên
sử dụng điện thoại thông minh trên địa bàn Hồ Chí Minh vào điện
thoại thông minh ............................................................................... 69
2.3.5. Phòng ngừa và hỗ trợ sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh, cân bằng
việc sử dụng điện thoại thông minh cho sinh viên sử dụng điện thoại
thông minh ........................................................................................ 71
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................... 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 82
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Stt Viết tắt Viết đầy đủ
ĐHBK 1 Đại học Bách khoa TPHCM TPHCM
ĐHCN 2 Đại học Công nghệ TPHCM TPHCM
3 ĐHSP TPHCM Đại học Sư phạm TPHCM
4 ĐTB Điểm trung bình
5 ĐTTM Điện thoại thông minh
6 ĐLC Độ lệch chuẩn
7 ĐY Đồng ý
8 ĐHSP Đại học Sư phạm
9 HTĐY Hoàn toàn đồng ý
10 HTKĐY Hoàn toàn không đồng ý
11 KĐY Không đồng ý
12 Nxb Nhà xuất bản
13 PV Phân vân
14 RTX Rất thường xuyên
15 SKTT Sức khỏe tâm thần
16 TS Tần số
17 TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
18 TT Thỉnh thoảng
19 TX Thường xuyên
20 XH Xếp hạng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Phân bố thành phần mẫu nghiên cứu .......................................... 29
Bảng 2.2. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2
– những nhân tố của SKTT ......................................................... 31
Bảng 2.3. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2
– Sức khỏe tâm thần ................................................................... 32
Bảng 2.4. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2
– phụ thuộc ................................................................................. 32
Bảng 2.5. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2
– biện pháp .................................................................................. 32
Bảng 2.6. Tần suất sử dụng ĐTTM............................................................. 33
Bảng 2.7. Tần suất sử dụng ĐTTM tối đa trong một ngày ......................... 34
Bảng 2.8. Tần suất sử dụng ĐTTM ở trường của sinh viên sử dụng
ĐTTM. ........................................................................................ 36
Bảng 2.9. Mục đích sử dụng ĐTTM của sinh viên ..................................... 36
Bảng 2.10. Tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng ĐTTM ................ 38
Bảng 2.11. Tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo
trường và giới tính ...................................................................... 40
Bảng 2.12. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM 42
Bảng 2.13. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM
theo trường và theo giới tính ...................................................... 44
Bảng 2.14. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người
thân ............................................................................................. 46
Bảng 2.15. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân
theo trường và giới tính .............................................................. 48
Bảng 2.16. Về nhận thức xã hội .................................................................... 51
Bảng 2.17. Về nhận thức xã hội của sinh viên sử dụng ĐTTM theo trường và
theo giới tính ............................................................................... 52
Bảng 2.18. Thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM ....................... 56
Bảng 2.19. Thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường
và theo giới tính .......................................................................... 58
Bảng 2.20. Tương quan giữa các nhân tố của SKTT .................................... 60
Bảng 2.21. Thực trạng phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên sử dụng
ĐTTM ......................................................................................... 62
Bảng 2.22. Thực trạng phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên sử dụng ĐTTM
theo trường và theo giới tính ...................................................... 66
Bảng 2.23. Tương quan giữa sự SKTT và sự phụ thuộc của sinh viên sử dụng
ĐTTM trên địa bàn HCM vào ĐTTM ........................................ 69
Bảng 2.24. Biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM của sinh viên sử dụng
ĐTTM ......................................................................................... 72
Bảng 2.25. Sự đồng thuận về biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM của
sinh viên sử dụng ĐTTM theo trường và theo giới tính ............. 73
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Tần suất sử dụng ĐTTM..................................................................... 34
Biểu đồ 2.2. Nhân tố về sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại
thông minh .......................................................................................... 57
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
SKTT không chỉ được định nghĩa hẹp là những chứng bệnh về tâm thần mà là
trạng thái khỏe mạnh hoặc không khỏe mạnh về mặt tinh thần của con người, đó là
những cảm xúc, tâm lí, sự cảm nhận về hạnh phúc, ảnh hưởng tới điều cá nhân suy
nghĩ, cảm nhận và hành động. SKTT giúp chúng ta xác định cách xử lý stress, kết nối
với người khác và đưa ra quyết định. Trong mọi giai đoạn của cuộc đời mỗi người từ
trẻ nhỏ, thanh thiếu niên cho đến người trưởng thành, sự tác động của sức khỏe tinh
thần là vô cùng lớn.
Chúng ta đang được sống trong một thời đại mà cách mạng công nghệ số đang
thật sự mạnh mẽ cùng với sự đón đầu một cách nhanh chóng khoa học kỹ thuật. Với
mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống, hướng tới xã hội hiện đại hơn, ĐTTM dần
trở thành một công cụ phổ biến phục vụ cho đời sống vật chất, và tinh thần của con
người trong thời điểm hiện tại.
Sinh viên nói chung và sinh viên đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh nói
riêng là một bộ phận của giới trẻ linh hoạt, chủ động và mềm dẻo trong tư duy, có
nhận thức tương đối cao, dễ dàng tiếp thu cái mới chính là đối tượng mà nghiên cứu
này hướng tới. Theo nhận định ban đầu số lượng sinh viên sử dụng ĐTTM lớn và vì
đã có đủ nhận thức nên việc đánh giá, nhìn nhận về những lợi ích cũng như ảnh hưởng
tiêu cực của ĐTTM lên bản thân sẽ đầy đủ chính vì vậy người nghiên cứu lựa chọn
khách thể là sinh viên các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua phương tiện truyền thông đại chúng trong những năm gần đây cũng như
nhận định của bản thân về việc con người nói chung và sinh viên nói riêng sử dụng
ĐTTM như một vật dụng không thể thiếu đang là một hiện tượng mới nổi lên như
một xu hướng Song song với lợi ích không thể chối bỏ mà ĐTTM mang lại như con
người có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin thậm chí là cả nghiên cứu khoa học, dễ dàng
trao đổi, gặp gỡ, chia sẻ với nhau thông qua các ứng dụng trên ĐTTM mà không bị
cản trở bởi khoảng cách địa lý, thời gian, nâng cao giá trị bản thân thì những ảnh
hưởng tiêu cực mà ĐTTM mang lại cũng không hề nhỏ như sinh viên không thể làm
2
chủ được thời gian hoàn thành các hoạt động trong cuộc sống hiện tại của mình, ảnh
hưởng đến công việc, học tập, đặc biệt là SKTT.
Vậy liệu thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM hiện nay thực sự như
thế nào, điều đó đã thúc đẩy người nghiên cứu thực hiện đề tài: “Sức khỏe tâm thần
của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh”
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng sử dụng ĐTTM bao gồm thời lượng và mục đích, bước đầu
tìm hiểu thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên cơ sở đó đề xuất một số
kiến nghị nhằm cân bằng việc sử dụng nhằm hạn chế sự ảnh hưởng đến sức khỏe tâm
thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là : 210 sinh viên sử dụng ĐTTM các trường Đại Học tại
Thành phố Hồ Chí Minh (đại học Sư phạm TP.HCM, đại học Bách Khoa TP.HCM,
đại học Công Nghệ TP.HCM).
Khách thể phỏng vấn: 5 sinh viên sử dụng ĐTTM và 5 chuyên gia trong lĩnh
vực tâm lí, giáo dục và SKTT.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Người nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu thực trạng SKTT của sinh viên
sử dụng ĐTTM.
4.2. Giới hạn về địa điểm nghiên cứu
Người nghiên cứu lựa chọn ba trường đại học trên địa bàn TP.HCM.
5. Giả thuyết khoa học
SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TPHCM đạt mức tốt.
Có mối tương quan thuận giữa sự phụ thuộc vào ĐTTM và SKTT không khỏe
mạnh của sinh viên.
3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài thực hiện bốn nhiệm vụ:
Nhiệm vụ 1: Tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về vấn đề SKTT của
sinh viên sử dụng ĐTTM.
Nhiệm vụ 2: Khảo sát thực trạng bao gồm thời gian và mục đích sử dụng và
sự phụ thuộc của sinh viên sử dụng ĐTTM.
Nhiệm vụ 3: Khảo sát thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa
bàn TPHCM.
Nhiệm vụ 4: Đề xuất một số kiến nghị nhằm cân bằng việc sử dụng nhằm hạn
chế sự ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.
7. Nguyên tắc tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Nguyên tắc tiếp cận
Nguyên tắc tiếp cận hệ thống cấu trúc.
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xem xét vấn đề ở nhiều khía cạnh khác
nhau từ đó hình thành cơ sở lý luận của các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu như
là khái niệm SKTT, SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM và việc sử dụng ĐTTM ảnh
hưởng đến SKTT của sinh viên.
Thông qua nguyên tắc tiếp cận này để hình thành đề tài theo cấu trúc đã được xác
lập nhằm xây dựng bảng hỏi, bình luận...
Nguyên tắc tiếp cận thực tiễn.
Nghiên cứu mang tính khám phá, phát hiện và nhìn nhận thực tiễn vấn đề sử dụng
ĐTTM của sinh viên hiện nay, từ đó tìm ra nguyên nhân, hướng khắc phục có thể áp
dụng vào thực tiễn.
Nguyên tắc tiếp cận hoạt động.
Nhìn nhận vấn đề trong trạng thái động để có cái nhìn khách quan. Tìm hiểu các
quy luật, bản chất của sự vận động và phát triển vấn đề thông qua hoạt động.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận.
4
Người nghiên cứu tổng hợp các tư liệu, hệ thống kiến thức có liên quan đến đề
tài nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng cơ sở lí luận, vấn đề nghiên cứu và mục đích,
mục tiêu, phương pháp nghiên cứu.
Người nghiên cứu sử dụng phương pháp này như là một công cụ để phân tích,
khái quát, tổng hợp những vấn đề lý luận nhằm xây dựng bảng hỏi. Người nghiên cứu
tham khảo tài liệu, phân tích thực tiễn, những công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước để tìm ra được con đường nghiên cứu SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM.
Ngoài ra người nghiên cứu sử dụng phương pháp chuyên gia, tham khảo ý kiến
của các nhà nghiên cứu, chuyên gia trong lĩnh vực SKTT học nhằm xây dựng những
nội dung làm cơ sở lý luận trong nghiên cứu và tăng thêm những gợi mở về những
những kiến nghị có tác dụng giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc sử dụng ĐTTM của
sinh viên.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Đây là phương pháp chính và xuyên suốt đề tài. Bảng hỏi dành cho sinh viên
nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như nguyên nhân của việc sử dụng ĐTTM hiện
nay.Các nhóm câu hỏi trong bảng hỏi bao gồm câu hỏi dạng đúng/sai, câu hỏi nhiều
lựa chọn, câu hỏi điền thế, câu hỏi trả lời ngắn, câu hỏi đánh giá thứ bậc.
Phương pháp phỏng vấn.
Nhóm khách thể phỏng vấn gồm 5 sinh viên sử dụng ĐTTM và 5 chuyên gia
trong các lĩnh vực tâm lí, giáo dục, SKTT nhằm mục đích tìm hiểu về nguyên nhân
khiến sinh viên sử dụng ĐTTM cũng như tìm ra được ảnh hưởng sâu của nó đối với
SKTT của sinh viên hiện nay.
Phương pháp ứng dụng toán thống kê.
Đây là phương pháp được người nghiên cứu sử dụng trong quá trình xử lý số liệu
đã thu được của quá trình nghiên cứu. Người nghiên cứu sử dụng các phương pháp
toán học thống kê và sử dụng phần mềm thống kê SPSS để xử lý số liệu.
Đề tài tập trung phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, các phương pháp khác bổ
trợ, làm rõ thêm về nội dung nghiên cứu.
5
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN
SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới
a. Lịch sử nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trên thế giới
SKTT có vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách
của cá nhân. Từ lâu loài người đã biết chăm sóc SKTT, đến thế kỉ thứ XVIII, chính
xác là năm 1773 ở Viecginia, Mỹ đã có bệnh viện tâm thần đầu tiên và sách giáo khoa
tâm thần đầu tiên.(Đặng Bá Lãm, 2007). Sau Thế chiến thứ hai, thuật ngữ SKTT được
xuất hiện do khía cạnh tích cực của nó từ việc điều trị bệnh sang các lĩnh vực phòng
ngừa và chăm sóc sức khỏe. Trước đó, thuật ngữ này được bắt nguồn từ khái niệm
“vệ sinh tâm thần” (mental hygiene) do William Sweetser, là người đầu tiên sử dụng
và có thể được coi là tiền thân của các phương pháp đương đại để thúc đẩy SKTT
tích cực. Đến đầu thế kỷ 20, Clifford Beers đã thành lập American Health America -
Ủy ban quốc gia về vệ sinh tâm thần sau khi xuất bản các nghiên cứu của mình từ
kinh nghiệm làm việc trong các bệnh viện tâm thần, ông đã mở ra phòng khám phòng
khám tâm thần ngoại trú đầu tiên của Hoa Kỳ (Wikipedia, 2014).
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), SKTT là một khía cạnh rất đáng được quan
tâm vì có đến 25% dân số thế giới mắc các rối loạn tâm thần ít nhất một lần trong đời,
54 triệu người mắc rối loạn về SKTT.Những ảnh hưởng về kinh tế do rối loạn SKTT
rất đáng quan ngại. (WHO, 2013).
Tầm quan trọng của SKTT được biểu hiện khi một con người khỏe mạnh chỉ
khi hội tụ đủ về thể chất lẫn tinh thần. Theo quyển Y tế Glencoe: một hướng dẫn để
khỏe mạnh: đó là khi cá nhân cảm nhận được sự hài lòng về bản thân và kết nối được
với những người xung quanh và giải quyết được những vấn đề xảy đến với bản thân
trong cuộc sống. Khi đó con người mới cảm nhận được giá trị của cuộc sống, cảm
nhận được bản thân thật sự khỏe mạnh (Mary Bronson Merki, Don Merki, 1996).
b. Lịch sử nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của người sử dụng điện thoại
thông minh trên thế giới
6
Ngày nay, trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì ĐTTM với những chức
năng như gọi điện, gửi tin nhắn, email, chia sẻ hình và video, chơi game, nghe nhạc,
lướt web…mọi lúc mọi nơi đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến SKTT của con người
nói chung và sinh viên nói riêng. Đây là một lĩnh vực mới và những nghiên cứu trên
thế giới gần đây về mối liên quan SKTT và việc sử dụng ĐTTM được thể hiện như
sau:
Năm 2012, nhóm nhà nghiên cứu người Hàn Quốc đã tìm ra sự ảnh hưởng của
ĐTTM đến SKTT của sinh viên đại học qua hai phương diện đời sống học đường và
các mối quan hệ cá nhân. Ngoài ra nghiên cứu này còn đề cập đến việc trẻ hóa lứa
tuổi sử dụng ĐTTM hiện nay cũng như cách tiếp cận giáo dục cho thanh niên và
thanh niên để giảm ảnh hưởng tiêu cực đến SKTT của việc dùng ĐTTM (Hyun-Seok
Choi, Hyun-Kyung Lee, Jeong-Cheol Ha, 2012).
Theo Oulasvirta và cộng sự cho rằng với việc phổ biến ĐTTM bắt nguồn từ việc
hình thành thói quen kiểm tra khi sử dụng ĐTTM. Chính sự truy cập một cách nhanh
chóng những thông báo liên tục xuất hiện và những “phần thưởng” là thông tin mới
mà thông báo mang lại chính là kích thích khiến cho người dùng lặp lại nhiều lần việc
kiểm tra và sau đó là thực hiện những hoạt động khác khiến tổng thời gian sử dụng
thiết bị tăng lên (Antti Oulasvirta, Tye Rattenbury, Lingyi Ma, Eeva Raita 2012).
Cùng quan điểm với nghiên cứu của nghiên cứu của Oulasvirta và cộng sự về
tác nhân “phần thưởng” kích thích người dùng thì nghiên cứu Alexander J.A.M. van
Deursen đã gợi ý mở đường cho cảm xúc xã hội chi phối việc thiết lập hành vi nghiện
ĐTTM, cụ thể ĐTTM cung cấp một môi trường an toàn để con người thể hiện cảm
xúc hơn là tương tác ngoài đời thật. Ngoài ra nghiên cứu này còn chỉ ra sự khác biệt
giữa thói quen sử dụng và nghiện ĐTTM bằng căn cứ là sự mất khả năng tự điều
chỉnh (Alexander JAM van Deursen, Colin L Bolle, Sabrina M Hegner, Piet AM
Kommers, 2015).
Nhóm tác giả Yu-Kang Lee, Chun-Tuan Chang, You Lin, Zhao-Hong Cheng
(2014) cho rằng ngoài những lợi ích mà ĐTTM mang lại, khi nghiên cứu thực nghiệm
trên 325 người kết quả là có mối liên hệ giữa hành vi sử dụng ĐTTM và đặc điểm
tâm lí của con người, ngoài ra có sự căng thẳng do hành vi sử dụng thành thói quen
7
cưỡng chế của ĐTTM mang lại và sự cưỡng chế trên giới tính nam mạnh hơn nữ
mặc dù nam giới có xu hướng sử dụng điện thoại của họ cho mục đích kinh doanh
hoặc chuyên nghiệp, trong khi phụ nữ dựa vào ĐTTM cho mạng xã hội và duy trì
mối quan hệ (Yu-Kang Lee, Chun-Tuan Chang, You Lin, Zhao-Hong Cheng, 2014).
Theo Adriana Bianchi, Dr. James G. Phillips, tần suất và vấn đề khi sử dụng
ĐTTM có liên quan đến sự hướng ngoại, lòng tự trọng, tuổi tác, tình trạng tâm lí và
giới tính. Tuy vấn đề thần kinh chưa đánh giá được mức độ sử dụng ĐTTM nhưng
nghiên cứu trên chỉ ra rằng, tính cách hướng ngoại và lòng tự trọng thấp là một yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến vấn đề trong việc sử dụng ĐTTM, những người trẻ tuổi
có xu hướng sử dụng ĐTTM với tần suất cao hơn và gặp nhiều vấn đề hơn (Adriana
Bianchi, James G Phillips, 2005).
Nhóm các nhà nghiên cứu của Hàn Quốc Min Kwon, Joon-Yeop Lee, Wang-
Youn Won, Jae-Woo Park, Jung-Ah Min, Changtae Hahn đã nhận thấy mối nguy hại
tiềm tàng của ĐTTM chính vì vậy họ đã phát triển thang đo tự chuẩn đoán có thể
phân biệt người nghiện ĐTTM. Với 197 trên 214 người tham gia khảo sát, nghiên
cứu chỉ ra rằng những người có trình độ học vấn thấp khả năng kiểm soát kém có xu
hướng nghiện ĐTTM hơn. Nghiên cứu xây dựng được thang đo 40 mục cải tiến từ
thang đo của trẻ thành niên “nghiện Internet” bao gồm các nhân tố bị ảnh hưởng bới
ĐTTM: “sự xáo trộn cuộc sống thường ngày, khả năng dự đoán, sự rút lui, các mối
quan hệ ảo, sử dụng quá mức và lòng khoan dung” (Min Kwon et al., 2013).
Trong nghiên cứu của mình về tính gây nghiện và việc sử dụng ĐTTM một cách
có vấn đề, Motoharu Takao và các cộng sự không những tìm ra các yếu tố ảnh hưởng
đến việc sử dụng ĐTTM là sự tự giám sát và động cơ phê duyệt và không có mối liên
quan lớn của việc sử dụng có vấn đề của ĐTTM với sự cô đơn và giới, họ còn đưa ra
được hai giả định nhằm can thiệp vấn đề này chính là giảm các tính năng hấp dẫn của
ĐTTM và giáo dục ý thức và khuynh hướng sử dụng ĐTTM cho sinh viên (Motoharu
Takao, Susumu Takahashi, Masayoshi Kitamura, 2009)
Năm 2001, các nhà nghiên cứu Sara Thomée, Annika Härenstam, Mats Hagberg
đã khảo sát 4156 thanh niên trẻ sử dụng ĐTTM và theo dõi sau 1 năm đã rút ra được
có mối liên hệ giữa việc sử dụng ĐTTM với stress, căng thẳng, rối loạn giấc ngủ và
8
trầm cảm của nhóm người nghiên cứu (Sara Thomée, Annika Härenstam, Mats
Hagberg, 2011)
Năm 2012 các nhà nghiên cứu người Hàn Quốc đã chỉ ra nhóm sử dụng ĐTTM
ở mức cao có dấu hiệu đau cùng cực, trạng thái lo âu, căng thẳng thậm chí là khó
khăn trong việc thiết lập mối quan hệ cá nhân, rối loạn tính cách và trầm cảm cao hơn
nhóm sử dụng ĐTTM ở mức trung bình và thấp. Nhóm đưa ra kiến nghị về việc có
sự đánh giá sớm về mức độ sử dụng ĐTTM cũng như xây dựng các chương trình
phòng chống nghiện cũng như giảm thiểu những tác hại mà ĐTTM mang lại (Antti
Oulasvirta, Tye Rattenbury, Lingyi Ma, Eeva Raita, 2012).
Một nghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu người Úc L.L.Saling và M.Haire
đã chứng minh được việc sử dụng ĐTTM vào ban đêm sau khi tắt đèn có nguy cơ
làm gián đoạn sự liên tục của giấc ngủ, khiến cho chất lượng giấc ngủ giảm sút đóng
góp đáng kể vào việc tăng tình trạng mệt mỏi và suy nhược tâm lí của người lớn
(Lauren L Saling, M Haire, 2016).
Có thể thấy việc nghiên cứu SKTT và các yếu tố tâm lí dưới sự ảnh hưởng của
ĐTTM ngày càng được xem trọng, nhất là trong giai đoạn gần đây khi việc sử dụng
ĐTTM ngày càng được phổ biến rộng rãi và lứa tuổi sử dụng đang được trẻ hóa.
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về ĐTTM và SKTT nhưng chưa
có đề tài nào nghiên cứu tổng quan trên đối tượng sinh viên sử dụng ĐTTM. Vì đây
là vấn đề mới và cấp thiết hiện nay nên nghiên cứu sẽ tập trung vào đối tượng trên.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước
SKTT sinh viên hiện nay là một vấn đề đáng quan tâm khi mà áp lực ngày càng
đè nặng và có rất nhiều yếu tố khiến ảnh hưởng trong đó có ĐTTM. Tuy Việt Nam
chưa có nhiều nghiên cứu về ĐTTM và ảnh hưởng của nó đến SKTT nhưng đã có
những nghiên cứu sâu về những ứng dụng khác được sử dụng thông qua ĐTTM như
Internet, mạng xã hội, facebook, công nghệ hiện đại có ảnh hưởng đến tâm lí và SKTT
của con người.
a. Lịch sử nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trong nước
Trước hết, về SKTT của sinh viên, những nghiên cứu trong nước đã được đề
cập. Theo Phạm Minh Hạc (2008), SKTT là tập trung sức mạnh của con người, và
9
cũng là giá trị mà con người tạo ra cho cộng đồng và xã hội trách nhiệm của mỗi nhà
tâm lí học và giáo dục học là phải nghiên cứu, tìm ra con đường để bảo vệ và phát
triển SKTT của mỗi người dân (Phạm Minh Hạc, 2008). Chính vì điều đó việc tìm ra
và khắc phục những yếu tố ảnh hưởng đến SKTT là rất quan trọng và cấp thiết, một
trong những yếu tố đó là ĐTTM và các ứng dụng của nó.
Luận văn thạc sĩ tâm lí học :Thực trạng hiện tượng stress trong đời sống của
sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Tp. HCM
của tác giả Nguyễn Thị Huyền đã sơ bộ phác thảo rõ nét về một vấn đề trong SKTT
đó là stress của mọi lúc tuổi trong đó có sinh viên. Từ những biểu hiện, nguyên nhân,
cách khắc phục nghiên cứu đã đề ra những cách thức giảm stress bằng sự thư giản
tinh thần, thay đổi thói quen, suy nghĩ, trang bị cho mình lối sống lành mạnh hơn để
giảm bớt áp lực, xây dựng môi trường học tập phù hợp nhất, nâng cao SKTT cho sinh
viên (Nguyễn Thị Huyền, 2012).
b. Lịch sử nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của người sử dụng điện thoại
thông minh và các ứng dụng của ĐTTM trong nước
Năm 2012, nhà nghiên cứu Lê Minh Công nhận thấy có sự ảnh hưởng khá tiêu
cực của Internet một trong những ứng dụng lớn nhất được dùng trên ĐTTM đến đời
sống tinh thần như khó khăn trong quan hệ liên nhân cách, cảm xúc và cả nhận thức
của học sinh nên đã nghiên cứu và ứng dụng khá thành công trong việc sử dụng liệu
pháp nhận thức hành vi trong việc điều chỉnh hành vi nghiện Internet của 5 học sinh
THCS. Kết quả thu được rất khả quan, có sự tiến bộ đáng kể (Lê Minh Công 2012).
Nghiên cứu trên sinh viên tại trường Đại học Nông Lâm TPHCM, tác giả Trần
Minh Trí chỉ ra hai mặt tích cực và tiêu cực của việc sử dụng Internet của sinh viên,
tuy ý kiến thu thập được, phần trăm cao sinh viên đồng tình về lợi ích tinh thần của
Internet (60%) như việc dễ dàng thiết lập mối quan hệ tình bạn và giữ gìn tình bạn,
cung cấp thông tin chăm sóc sức khỏe tinh thần nhưng bên cạnh đó, cũng có sự đồng
thuận về thời lượng sử dụng Internet lớn khiến sinh viên “bị mỏi mệt/bệnh” và kết
quả học tập thấp (Trần Minh Trí, Đỗ Minh Hoàng, 2013).
Cũng trong năm 2012, nhóm tác giả Hồ Văn Dũng, Phùng Đình Mẫn, Zhang
Wei, Li Hui Ling, Li Ni Ni đã phát triển thang đo khuynh hướng nghiện Internet cho
10
thanh niên Việt Nam nhằm phát hiện và kịp thời có động thái ngăn chặn những ảnh
hưởng của Internet đến sức khỏe và tinh thần của thanh niên Việt Nam (Hồ Văn Dũng,
Phùng Đình Mẫn, Zhang Wei, Li Hui Ling, Li Ni Ni 2012).
Năm 2014, trong một nghiên cứu về thực trạng sử dụng Facebook của thanh
thiếu niên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Sơn
đã chỉ ra rằng có đến 97,6% vị thành niên đã và đang sử dụng Facebook và thời điểm
tiếp cận là rất sớm. Theo khảo sát trong nghiên cứu này thì điện thoại di động là công
cụ được sử dụng để dùng Facebook chiếm phần trăm cao nhất. Chính sự thuận tiên
trong việc sử dụng mà cần cân nhắc đến hành vi nghiện Facebook, và có hướng phòng
ngừa và ngăn chặn kịp thời (Huỳnh Văn Sơn, 2014).
Theo nhà nghiên cứu Đặng Văn Luận thì ngoài những tác động tích cực của
công nghệ hiện đại bao gồm có ĐTTM giúp con người gần nhau hơn về khoảng cách
địa lý, công nghệ còn mang đến những ảnh hưởng tiêu cực về mối quan hệ giữa cha
mẹ và con cái, vợ chồng và giữa người lớn tuổi đến người nhỏ tuổi. Công nghệ khiến
sự giao lưu trực tiếp, chia sẻ, thấu hiểu lẫn nhau của các thành viên trong gia đình
giảm sút, cũng từ đó sinh ra những tệ nạn khác như nghiện film đen, xâm hại tình dục
và các mối quan hệ ngoài luồng có cơ hội dễ dàng được hình thành hơn (Đặng Văn
Luận, 2018).
Việt Nam có nhiều nghiên cứu về SKTT ở đối tượng sinh viên tập trung những
vấn đề như sinh viên sử dụng mạng xã hội, facebook, Internet…Chưa có đề tài nào
nghiên cứu tổng quan về đối tượng sinh viên sử dụng ĐTTM. Nghiên cứu này sẽ đi
sâu về đánh giá thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM đồng thời đưa ra đề
xuất nâng cao chức năng của ĐTTM và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến SKTT của
sinh viên sử dụng ĐTTM.
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1. Sức khỏe tâm thần
a. Khái niệm sức khỏe tâm thần
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa SKTT là khả năng về trí tuệ và cảm
xúc và tiềm năng của con người. Đó là khả năng nâng cao năng lực cá nhân, xác định
mục tiêu từ đó tự nhận ra năng lực của mình, giải quyết được những khó khăn trong
11
cuộc sống và cống hiến cho cộng đồng và xã hội (WHO, 2003). Theo đó, định nghĩa
về SKTT bao gồm cá nhân, quan hệ xung quanh của cá nhân ấy với xã hội. Phải cân
bằng được những điều đó cá nhân mới có được một SKTT khỏe mạnh.
Theo Từ điển tâm lí học của tác giả Vũ Dũng, SKTT được đề cập như là sức
khỏe tâm lí với ý nghĩa sau: "là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không
có các biểu hiện rối loạn tâm thần, một trạng thái bảo đảm cho sự điều khiển hành vi,
hoạt động phù hợp với môi trường" Theo tác giả các tiêu chí đánh giá SKTT gồm:
sự phù hợp các biểu tượng chủ quan về khách thể với hiện thực của tính chất các phản
ứng với các kích thích bên ngoài, với ý nghĩa của các sự kiện đời sống, sự phù hợp
của mức độ phát triển về các lĩnh vực nhận thức, cảm xúc - ý chí của nhân cách với
lứa tuổi; sự thích ứng với các mối quan hệ xã hội; khả năng tự điều chỉnh hành vi, lập
kế hoạch, mục đích sống và có những nỗ lực để đạt được mục đích đó (Đặng Bá Lãm,
Weiss Bahr, 2007).
Theo bài viết của Jamie Chamberlin: "SKTT là sức khỏe", "Cho đến khi tất cả
chúng ta có thể hiểu rằng có sức khỏe mà không có SKTT, như thế không ai trong
chúng ta sẽ tiến về phía trước" chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của SKTT
để mà có thể nhìn nhận và đánh giá đúng vị trí của SKTT trong cuộc sống của chúng
ta hiện nay (Jamie Chamberlin, 2015).
Trong một công bố trực tuyến trên trang mạng điện tử APA đã định nghĩa về
SKTT. SKTT bao gồm ba khía cạnh: suy nghĩ, hành vi và cảm xúc. Có được SKTT
ổn định con người có khả năng dẫn dắt được cuộc sống của bản thân, có được những
suy nghĩ tích cực, những mối quan hệ chất lượng, những quyết định sáng suốt trong
công việc, học tập và cả đời sống (APA, 2012).
Tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa SKTT là trạng thái cân bằng, không có bệnh
tật về tâm lí. Giữ được sự thoải mái trong các hoạt động sống như công việc, học tập,
mối quan hệ bạn bè, tình yêu. Điều quan trọng là việc thực hiện các hoạt động sống
của cá nhân bên trong như giải quyết vấn đề trong cuộc sống một cách linh hoạt và
vẫn giữ được tinh thần khỏe mạnh (Phạm Minh Hạc, 2008).
Bác sĩ Nguyễn Minh Hải có đề cập trong luận văn tiến sĩ:Nghiên cứu một số chỉ
số sức khoẻ tâm thần trong hoạt động bay của phi công quân sự, “sức khoẻ tâm thần
12
là mặt trung tâm thiết yếu vì chức năng tâm thần của hệ thần kinh trung ương là chủ
đạo, điều khiển mọi hoạt động của con người. Thuật ngữ sức khoẻ tâm thần dùng để
mô tả các mặt của hoạt động tâm thần, nó vừa thể hiện sự lành mạnh trong các hoạt
động tâm thần, vừa bao gồm sự suy giảm, rối loạn trong hoạt động tâm thần” (Nguyễn
Minh Hải, 2009).
Khả năng tận hưởng cuộc sống, khả năng phục hồi, khả năng cân bằng, khả
năng phát triển cá nhân, khả năng linh hoạt thích nghi trong mọi tình huống là những
khía cạnh cơ bản mà theo nghiên cứu của Viện Tâm lý học – Viện Khoa học xã hội
Việt Nam, SKTT bao hàm (Trần Thị Lệ Thu, 2014).
Để một con người có thể sống một cách khỏe mạnh, phải đảm bảo được ba yếu
tố: sinh học, tinh thần và các mối quan hệ xã hội. Ba mặt này luôn đồng hành và tác
động với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất (Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr, 2007).
Cơ thể bị tổn thương (tổn thương thể chất và bệnh thực thể) sẽ gây tình trạng lo âu,
bi quan, buồn phiền, cáu gắt, uể oải, giảm hứng thú tức là gây tổn hại đến SKTT như
trầm cảm do ung thư. Ngược lại, khi trạng thái tâm lí không thoải mái, lo âu, sợ hãi,
buồn chán... hoặc bị rối loạn tâm thần nặng đều kéo theo những rối loạn cơ thể (rối
loạn thực vật - nội tạng, giảm miễn dịch...) như đau dạ dày do stress kéo dài. Sức
khỏe xã hội không tốt khiến con người khó hòa nhập, sống không thoải mái, tăng
stress làm SKTT con người dễ bị tổn thương. Ngược lại, SKTT không tốt cũng gây
trở ngại cho sự hòa nhập của con người vào xã hội, tức là sức khỏe xã hội.
Sự kết nối này được thể hiện rõ ràng, khi một người mang trong mình một căn
bệnh trên cơ thể sẽ gây ra những cảm xúc tiêu cực như lo lắng, sợ hãi, không tập trung
và hứng thú…Ngược lại với những người mang những bệnh tật về tinh thần, cơ quan
đầu tiên trong cơ thể dễ dàng bị ảnh hưởng nhất chính là dạ dày và những cơn đau
đầu kéo dài... Cùng với đó là khi con người không thể thiết lập những mối quan hệ
xung quanh mình sẽ tạo nên cảm giác cô độc, cô đơn từ đó ảnh hưởng đến SKTT.
Kế thừa những khái niệm của các tác giả đi trước, trong bài nghiên cứu, tác giả
sử dụng khái niệm SKTT là “tình trạng tâm lí của cá nhân biểu hiện ở khả năng tự
nhận thức, hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, thiết lập các mối quan hệ gần gũi và
hòa nhập với xã hội” .
13
b. Tiêu chí đánh giá sức khỏe tâm thần:
Sức khỏe tâm thần khỏe mạnh.
SKTT khỏe mạnh là mặt tích cực của các hoạt động tâm lí, tâm thần của con
người. Mà ở đó con người duy trì và bảo vệ khả năng hài lòng với sự tự nhận thức về
bản thân, hài lòng với các mối quan hệ gần gũi và thiết lập được mối quan hệ vững
chắc với cộng đồng, xã hội.
Theo tác giả Ngô Thị Mỹ Duyên trích dẫn trong luận văn thạc sĩ nhận thức và
thái độ đối với rối loạn SKTT của sinh viên đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
(Ngô Thị Mỹ Duyên, 2013) có nhắc đến khái niệm khoẻ mạnh tâm thần của tác giả
R.Jenkins, ACulloch và C. Parker – WHO (1998), cá nhân khoẻ mạnh về sức khoẻ
tâm thần là cá nhân có: một cuộc sống thật sự thoải mái; niềm tin vào giá trị bản thân,
vào giá trị và phẩm chất của người khác; khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp
lý trước mọi tình huống; khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối
quan hệ; khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất cân bằng.
Dựa theo khái niệm của trên về SKTT thì SKTT khỏe mạnh được xem xét trên
các yếu tố khả năng tự nhìn nhận về bản thân, các mối quan hệ xung quanh và phản
ứng với xã hội.
Khả năng tự nhận thức về bản thân.
Là sự hài lòng về bản thân, chấp nhận bản thân với những gì bản thân vốn như
vậy. Có suy nghĩ tích cực cả hiện tại và quá khứ của cá nhân ấy. Không những vậy
cá nhân còn có niềm tin vào những giá trị của mình. Tin tưởng bản thân có thể hoàn
thành được những nhiệm vụ trong cuộc sống.
Con người mang SKTT tốt có khả năng thể hiện rõ ràng và chính xác cảm xúc
của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, các xúc cảm được thể hiện ra ngoài
một cách lành mạnh.
Khi con người có khả năng tự cảm nhận bản thân, con người ấy sẽ tạo nên lòng
tự trọng của chính bản thân mình, biết đánh giá đúng bản thân mình ở đâu, không cần
so sánh bản thân mình (giỏi hơn hoặc kém hơn) với người khác. Chính nhờ sự tự cảm
nhận về bản thân tốt cá nhân biết được giá trị của mình ở đâu từ đó có được những
cư xử, cách thể hiện cảm xúc đúng mực để những người xung quanh cũng cảm thấy
14
hài lòng. Niềm vui niềm hạnh phúc của bản thân không còn là tìm kiếm và làm mọi
việc một cách hoàn hảo, cá nhân chấp nhận được những sai lầm và sửa sai với tinh
thần lạc quan. Khi đó cá nhân mới tìm được niềm vui trong cuộc sống từ chính bản
thân mình (Mary Bronson Merki, Don Merki 1996).
Hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân.
Nhiệm vụ của cá nhân là khả năng hoàn thành tốt công việc của mình, đó là khi
gặp những thách thức và khó khăn trong cuộc sống con người có được ý chí mạnh
mẽ, không bỏ cuộc, cố gắng hết sức mình để hoàn thành công việc một cách tốt nhất
có thể. Không những vậy, chấp nhận những khó khăn, vất vả gặp phải trong cuộc
sống như một điều tất yếu sẽ giúp bản thân có thể đứng vững chắc trên đôi chân của
mình, nâng cao được trình độ, chuyên môn, khả năng của mình, luôn tìm kiếm những
giá trị, những trải nghiệm mới góp phần làm cuộc sống thêm mới mẻ và đa dạng
(Mary Bronson Merki, Don Merki, 1996).
Khi hoàn thành được nhiệm vụ của mình, cá nhân sẽ cảm thấy tự tin, cảm nhận
tốt hơn về bản thân mình, điều đó tác dụng tích cực ngược trở lại với khả năng hoàn
thành nhiệm vụ.
Thiết lập các mối quan hệ gần gũi.
Những mối quan hệ gần gũi chính là những mối quan hệ có tác động, ảnh hưởng
đến bản thân mỗi người. Đó có thể là mối quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hoặc
tình yêu.
Với SKTT khỏe mạnh con người có khả năng gần gũi, giao lưu, hòa hợp với
các mối quan hệ quan trọng của mình. Không có nghĩa là bản thân luôn cảm thấy vui
vẻ, thoải mái nhưng phần lớn thời gian sẽ bản thân và đối tác luôn trong trạng thái
tích cực, dù có những giận hờn hay giận giữ thì cách giải quyết vấn đề luôn trên tinh
thần tôn trọng lẫn nhau, luôn dành cho nhau sự tự do trong mọi quyết định và thời
gian cũng như không gian riêng. (Mary Bronson Merki, Don Merki, 1996).
Hòa nhập với xã hội.
Cấu trúc hạnh phúc về mặt xã hội của tác giả Keyes (1998) là sự nhìn nhận và
đánh giá của bản thân về xã hội trên các phương diện: sự gắn kết xã hội, là khả năng
tạo ra những giá trị cho xã hội mình đang sinh sống; chấp nhận xã hội, là sự cảm
15
thông với những khó khăn trong xã hội; tiềm năng xã hội, là niềm tin vào những khả
năng của xã hội, cộng đồng có thể được phát triển lớn mạnh; đóng góp xã hội, là sự
tự nguyện đóng góp những giá trị vật chất và tinh thần vào xã hội; hòa hợp xã hội, là
sự thuộc về một cộng đồng, tập thể và xã hội. (Keyes,1998)
Tóm lại, SKTT khỏe mạnh là biểu hiện tích cực SKTT, là trạng thái khỏe mạnh
của tâm thần, có khả năng nhận thức đúng đắn về bản thân, hoàn thành được nhiệm
vụ của bản thân ở thời điểm đó; có thể thiết lập, duy trì được các mối quan hệ gần gũi
cũng như loại bỏ những mối quan hệ làm mất giá trị của bản thân; và hòa nhập, đóng
góp, gắn kết với cộng đồng và xã hội.
Sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh
SKTT không khỏe mạnh chỉ trạng thái mất cân bằng của con người về mặt
tâm lí, là những điều mà con người phải gánh chịu về tinh thần từ những khó khăn
trong cuộc sống đến những rối loạn tâm lí.
Khả năng tự cảm nhận về bản thân thấp và không hoàn thành nhiệm vụ của
cá nhân.
Con người với SKTT không khỏe mạnh sẽ mất khả năng kết nối với bản thân,
có những suy nghĩ tiêu cực: nghi ngờ, né tránh, ghét bỏ chính bản thân; không chấp
nhận, không thành thật với những điều đã xảy ra trong quá khứ, hiện tại và cả tương
lai của mình.
SKTT không khỏe mạnh con người sẽ không có niềm tin vào bản thân. Người
có niềm tin vào bản thân khẳng định số phận bản thân nằm trong tay mình (Nguyễn
Thị Huyền, 2012). Ngược lại, những người không tin tưởng bản thân không tin mình
có thể làm được và luôn đổ lỗi vào người khác khi có khó khăn xảy đến với mình.
SKTT không khỏe mạnh còn ảnh hưởng đến khả năng tự chăm sóc bản thân
từ những việc căn bản nhất. Không những thế, SKTT không khỏe mạnh còn ảnh
hưởng đến tiến độ và chất lượng của khả năng hoàn thành nhiệm của cá nhân dẫn đến
việc sa sút trong công việc, học tập.
Không có khả năng thiết lập các mối quan hệ gần gũi.
SKTT không khỏe mạnh là một yếu tố ảnh hưởng đến sự thiết lập các mối
quan hệ gần gũi và ngược lại. Những người có SKTT không khỏe mạnh, lòng tự trọng
16
dễ bị bản thân đánh giá thấp chính vì vậy họ không tìm được những người tôn trọng
họ và họ cũng không có khả năng tôn trọng người khác. Chính vì vậy những phản hồi
tiêu cực sẽ đến với bản thân mình từ chính những mối quan hệ gần gũi nhất và chính
những phản hồi đó sẽ khiến bản thân cảm thấy cô đơn, tẻ nhạt, lạnh lẽo, thiếu yêu
thương. Những người có SKTT không khỏe mạnh sẽ rất khó khăn để tìm kiếm được
những phản hồi tích cực (Mary Bronson Merki, Don Merki, 1996).
Theo nghiên cứu "Tự chăm sóc đối với các nhà khoa học" của Nabil Hassan
El-Ghoroury (trên 70 % người tham gia khảo sát trả lời kết nối với bạn bè). Trong
cuộc sống việc gặp gỡ những người thân để có thể được đồng cảm sẽ giúp chúng ta
thoải mái hơn, giải tỏa được cảm xúc và cân bằng trong cuộc sống (Nabil Hassan El
– Ghoroury, 2015). Thế nhưng SKTT không khỏe mạnh khiến cho bản thân khó tìm
được sự kết nối quan trọng này, mất đi nguồn giải tỏa dễ tạo nên sự dồn nén về cảm
xúc.
Khó hòa nhập với xã hội.
Người có SKTT không khỏe mạnh khó có khả năng chấp nhận người khác,
không chấp nhận sự khác biệt của các cá nhân, cộng đồng và xã hội. Dễ dàng dán
mác, áp đặt suy nghĩ, giá trị của mình lên người khác mà xuất phát điểm là do không
chấp nhận bản thân mình.
Mặt khác, những yếu tố tiêu cực của xã hội như sự bất bình đẳng, lạm dụng,
bắt nạt, sự khác biệt văn hóa cũng là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng đến
SKTT của một cá thể khiến cá thể đó trở nên không khỏe mạnh về tinh thần.
Tóm lại, SKTT không khỏe mạnh biểu hiện ở những người không có đủ khả
năng chấp nhận bản thân, không hoàn thành được những nhiệm vụ cơ bản của mình,
khó khăn trong việc thiết lập các mối quan hệ gần gũi và hòa nhập với xã hội.
1.2.2 Sinh viên
a. Khái niệm sinh viên
Theo Wikipedia, sinh viên là những người đang được học tập, được đào tạo đạo
đức, kiến thức, chuyên môn về một nghề nghiệp mà đã được chọn lựa trong những
trường cao đẳng và đại học. Những chứng chỉ, bằng cấp sau quá trình đào tạo sẽ được
công nhận và có giá trị tùy thuộc vào trường mà cá nhân ấy theo học. Họ sẽ trải qua
17
quá trình, thứ tự các bậc học từ tiểu học, trung học phổ thông, trung học cơ sở trước
khi bắt đầu quá trình rèn luyện trên giảng đường (Wikipedia, 2011)
Quá trình học tập của sinh viên là được đề cao bởi sự tự học tập, tự nghiên cứu
tạo ra kiến thức, kỷ năng, kỷ xảo cho bản thân chứ không phải là dựa vào sự đôn đốc
của cha mẹ, thầy cô. Theo tác giả Lê Khánh Bằng “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử
dụng những năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một một lĩnh vực khoa
học nhất định.” Đây là bước đầu của quá trình tự lập của cá nhân trong cuộc sống.
b. Đặc điểm của sinh viên
Đặc điểm sinh lý của sinh viên
Sinh viên nói chung đến (trừ những trường hợp đặc biệt) là những cá nhân với
độ tuổi mang đặc điểm sinh lý hoàn thiện, sự tăng trưởng cơ thể vừa phải, không
nhiều biến động. Cơ thể phát triển với đầy đủ chức năng và đặc điểm tràn đầy nhất
về hệ thần kinh, cơ, xương, nội tạng, hệ tiêu hóa, nội tiết, hormone…
Sự tăng trưởng hệ cơ xương và cơ bắp đang dần đạt mức ổn định. Trí tuệ dẻo
dai với bộ não, chất xám, số lượng dây thần kinh liên hợp giữa các vùng chức năng
trên vỏ não được phát triển ở mức cao nhất điều này kích thích và duy trì khả năng
tìm hiểu, học tập và nghiên cứu của sinh viên. Hệ tuần hoàn phát triển ở mức tốt giúp
sinh viên có khả năng chịu đựng, tập trung cao hơn, sinh viên có khả năng làm chủ
được cảm xúc và tâm trạng. Sự phát triển của hormone có ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng và phát triển tâm sinh lý của sinh viên đặc biệt là hormone tuyến sinh dục
(Nguyễn Thị Tứ, Lý Minh Tiên, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương, 2012).
Đặc điểm tâm lí của sinh viên
Bước qua lứa tuổi sinh viên, cùng với sự phát triển chín muồi của đặc điểm
sinh lý, đặc điểm tâm lí cũng có nhiều thay đổi mang tính cố định và phát triển cao,
đặc biệt là trong nhận thức, tư duy và trí tuệ. Tư duy mang tính độc lập, tư duy lý
luận, tư duy phản biện, tư duy khái quát phát triển mạnh từ đó khả năng sáng tạo để
tìm ra cái mới, cái khác biệt được hình thành.
Hoạt động chủ đạo.
Hoạt động học tập (chuyên sâu về nghề nghiệp tương lai) (Nguyễn Thị Tứ et
a1, 2012). Đây là quá trình sinh viên trau dồi và tích lũy kiến thức trong nhà trường
18
với tâm thể tự ý thức và bản lĩnh về mặt trí tuệ. Tất cả những kiến thức sinh viên thu
thập bằng việc giải quyết nhiệm vụ của học tập được sẽ đảm bảo cho việc phát triển
chuyên môn, kĩ năng, kĩ xảo và cuộc sống sau này của sinh viên. Đây là hoạt động
chủ đạo nên sẽ có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tâm lí của giai đoạn này.
Đặc điểm nhận thức.
Các đặc điểm về tri giác, ghi nhớ, tư duy và chú ý của sinh viên đều có tính
chủ định. Tri giác của thanh niên học sinh là tri giác có mục đích, có suy xét và có hệ
thống. Trong quá trình tri giác sinh viên thường trong trạng thái tri giác có mục đích,
đặc biệt trong quan sát, đối tượng tri giác của sinh viên rất rõ ràng. Ghi nhớ có chủ
định phát triển mạnh, đây là thời điểm sinh viên học tập bằng phương pháp ghi nhớ
phân loại theo mức độ quan trọng chứ không còn là ghi nhớ máy móc, nhồi nhét kiến
thức. Ở lứa tuổi này, sự tìm tòi, nghiên cứu và khám phá cái mới có vị trí quan trọng
và thiết yếu. Tư duy trừu tượng của sinh viên đóng vai trò quan trọng, hình thành các
phẩm chất tư duy: tính độc lập, lập luận, phê phán, linh hoạt, hệ thống, khái quát,
sáng tạo. Chú ý của sinh viên theo mức độ mà mình quan tâm đến vấn đề đó, khả
năng phân phối chú ý phát triển mạnh (Nguyễn Thị Tứ et a1, 2012).
Sinh viên là lứa tuổi đã hình thành và phát triển “cái tôi” của bản thân, sinh
viên nhìn có lòng tự trọng, có thế giới quan rõ ràng, ít chịu nhiều ảnh hưởng của
những người xung quanh chính vì vậy sự tự ý thức của thanh niên đã phát triển ở mức
cao. Sinh viên có khả năng tự nhìn nhận và đánh giá bản thân trong cảm xúc, hành vi
và vị trí xã hội của mình.
Xem xét đặc điểm nhận thức của sinh viên cần đặt nó trong mối quan hệ với
hoạt động chủ đạo là học tập. Trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay, hoạt động về
trí tuệ là một trong những hoạt động có vai trò to lớn nhất. Để có thể đáp ứng được
nhu cầu này của xã hội, hoạt động nhận thức của sinh viên không những phải chuyên
sâu mà còn phải mở rộng. Chính vì vậy, nhiệm vụ của sinh viên phải trang bị sự phát
triển nhận thức ở mức có thể đáp ứng được, đó là kĩ năng phân tích và tổng hợp vấn
đề, năng lực đánh giá và nhận xét các tình huống, các sự kiện có liên quan đến việc
học tập của mình. Bên cạnh việc nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực mà mình
đang theo đuổi, sinh viên cũng phải tìm hiểu thêm những kiến thức chuyên - liên
19
ngành, tổng hợp và ứng dụng những tri thức đó vào chuyên môn của mình (Phạm Thị
Kim Thoa, 2013).
Tóm lại, nhận thức của lứa tuổi sinh viên nói chung đạt được ở mức cao. Chính
nhờ tính chủ định mà sinh viên có khả năng cảm nhận về bản thân cao, các vấn đề
nảy sinh trong hoạt động học tập được giải quyết một cách nhanh chóng và đạt hiệu
quả hơn rất nhiều so với giai đoạn trước, vì giai đoạn này nhận thức khá linh hoạt.
Đặc điểm đời sống xúc cảm – tình cảm.
Đời sống xúc cảm – tình cảm của sinh viên mang tính ổn định (Nguyễn Thị
Tứ et a1, 2012). Khi thiết lập các mối quan hệ bạn bè, gia đình, trường học, xã hội
của sinh viên có sự chọn lựa và khó có sự thay đổi hơn so với giai đoạn trước đây.
Sinh viên có nhu cầu kết bạn thân tình và cao hơn nữa là nhu cầu yêu đương theo
những tiêu chuẩn mà sinh viên đặt ra và rất sâu sắc. Đặc biệt trong hoàn cảnh xa gia
đình, những mối quan hệ này là rất cần thiết và có tác động mạnh đến tâm lí của sinh
viên, khiến đời sống tinh thần của sinh viên thêm đa dạng và phong phú.
Một loại tình cảm cao cấp hơn được phát triển trong giai đoạn sinh viên là tình
cảm trí tuệ, nhờ vậy mà sinh viên khát khao chiếm lĩnh tri thức, tự tham gia vào các
hoạt động, mở rộng kiến thức ở nhiều phương diện khác nhau. Chính tình cảm này
giúp sinh viên tiếp thu, học hỏi, rèn luyện được chuyên môn, trí tuệ của bản thân
(Phạm Thị Kim Thoa, 2013).
Đặc điểm nhân cách.
Sinh viên là giai đoạn có mong muốn tìm hiểu, khám phá bản thân nhiều nhất.
Song song với đó, sinh viên cũng bắt tay vào quá trình xây dựng giá trị bản thân một
cách tự giác thông qua mục tiêu của bản thân hoặc những “hình mẫu” mà các em
theo đuổi. Xuất phát từ nhu cầu được tôn trọng và như cầu chứng tỏ bản thân đây là
những nhu cầu cao nhất theo tháp nhu cầu của Maslow, sinh viên hình thành và xây
dựng hình ảnh bản thân theo mong muốn của mình. Đây là những quyết định mang
tính độc lập nhưng để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, những người có
mối quan hệ có thể có tác động đến sinh viên nên đưa ra những lời khuyên đúng đắn
trong quá trình này. Ngoài xây dựng hình ảnh bản thân các em còn hình thành thế
giới quan và và xây dựng lý tưởng sống. Đây cũng là bước ngoặt hình thành nhân
20
cách của sinh viên sau này, chính vì vậy, nghiên cứu này khẳng định một lần nữa
những nhân tố như môi trường sống, cái mối quan hệ gần gũi, và những nguồn thông
tin sinh viên cập nhật cần có sự chọn lọc (Nguyễn Thị Tứ et a1, 2012).
1.2.3 Một số lý luận về sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại
thông minh
a. Sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh
“SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM là tình trạng tâm lí biểu hiện ở khả năng
tự nhận thức bản thân, hoàn thành nhiệm vụ học tập, thiết lập các mối quan hệ gần
gũi và hòa nhập với xã hội của sinh viên đã và đang sử dụng ĐTTM”.
b. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện
thoại thông minh
Kết hợp với khái niệm về SKTT của nghiên cứu, là “tình trạng tâm lí của cá
nhân biểu hiện ở khả năng tự nhận thức, hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, thiết lập
các mối quan hệ gần gũi và hòa nhập với xã hội” cùng với sự hiểu biết của tác giả về
sinh viên, nghiên cứu này sẽ khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của sinh viên
sử dụng ĐTTM ở ba phương diện: yếu tố sinh học, yếu tố tâm lí và yếu tố xã hội, dựa
theo học thuyết của bác sĩ Tâm thần học người Mỹ Geoege Engel, mô hình Tâm -
sinh - xã hội.
Yếu tố sinh học.
Yếu tố sinh học là một yếu tố có mối quan hệ mật thiết với SKTT, nếu chức
năng sinh lý của cơ thể điều hòa, linh hoạt có thể mang đến những lợi ích tích cực
đến sinh viên, làm tinh thần của sinh viên trở nên lạc quan hơn, xây dựng và giữ gìn
vững chắc được các mối quan hệ gần gũi và dễ dàng hơn trong việc hòa đồng với xã
hội. Ngược lại, những sinh viên có khuyết tật bẩm sinh hoặc do những nguyên nhân
bên ngoài tác động làm suy giảm, mất hoặc thay đổi đột ngột các chức năng của các
bộ phận trong cơ thể có thể gây nên các rối loạn về đến SKTT.
Yếu tố sinh học thường gây ảnh hưởng đến SKTT thông qua chức năng của
não, sự cân bằng các chất hóa học trong não, dùng các chất kích thích ảnh hưởng đến
các bộ phận cơ thể (rượu ảnh hưởng đến tế bào thần kinh; ma túy, thuốc an thần,
thuốc kích thần gây nhiễm độc cấp và gây nghiện; corticoid có nguy cơ gây trầm
21
cảm), tuổi tác, chế độ dinh dưỡng, các bệnh mãn tính hoặc suy giảm các chức năng
trong cơ thể Nguyễn Thị Thanh Hương (2014).
Yếu tố bẩm sinh cũng có tác động lớn đối với SKTT ví dụ như bản đồ gene có
thể gây ảnh hưởng đến SKTT của thế hệ sau, tuy yếu tố di truyền dẫn đến các rối loạn
tâm thần không lớn nhưng có tác động đáng kể nhất là trong các bệnh loạn thần nội
sinh như tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, rối loạn trầm cảm tái diễn (Đào Văn
Dũng, Đỗ Văn Dung 2013).
Những bệnh lý hoặc những sự thay đổi sinh lý mang tính bước ngoặt cũng ảnh
hưởng rất nhiều đến SKTT. Ví dụ bệnh nhân gặp tai nạn mất đi một phần thân thể,
người đó sẽ gặp rất nhiều sự biến đổi tâm lí khiến người đó mất đi niềm tin vào bản
thân từ đó tâm tính, hành vi của người này bị thay đổi, đây là điều kiện thuận lợi đế
rối loạn SKTT xuất hiện. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân HIV/AIDS có thể có
các cơn trầm cảm, hưng cảm và mất lý trí do nhiễm khuẩn thần kinh trực tiếp và thay
đổi đáp ứng miễn dịch (Nguyễn Sinh Phúc, 2013).
Tóm lại yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và to lớn đến SKTT, các ảnh hưởng đã
được nghiên cứu và có nhiều bằng chứng thực tiễn, đây là một yếu tố quan trọng cần
được nhìn nhận đúng đắn trong việc nghiên cứu SKTT.
Yếu tố tâm lí.
Những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi có mối liên quan đến SKTT. Nhận thức,
thành kiến, cách ứng phó với những hoàn cảnh, tình huống khác nhau trong cuộc sống
góp phần xây dựng hoặc ảnh hưởng tiêu cực, làm giảm sút SKTT.
Nhân cách là khía cạnh được nhắc đến nhiều khi nói đến SKTT chính vì tầm
quan trọng của nó, nhân cách có tính chất quyết định trong việc chống lại sự xuất
hiện, giảm thiểu tác động và sự hồi phục của rối loạn SKTT. Nếu nhân cách mạnh
SKTT sẽ khỏe mạnh, ngược lại rối loạn SKTT sẽ xuất hiện và tác động mạnh mẽ bất
kể khi nào nhân cách trở nên yếu ớt (Đào Văn Dũng, Đỗ Văn Dung, 2013).
Cách mà cảm xúc bộc lộ ra ngoài một cách lành mạnh hay không lành mạnh
cũng có thể ảnh hưởng đến SKTT. Nhận thức và bộc lộ được cảm xúc của bản thân
một cách đúng đắn chính là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ và giữ gìn SKTT của
chính mình (Mary Bronson Merki - Don Merki, 1996). Bất kể giới tính, dân tộc, tôn
22
giáo, văn hóa nào cũng được quyền thõa mãn cảm xúc của bản thân với đúng người
và đúng thời điểm. Có như vậy bản thân chúng ta mới có thể ổn định về tâm lí, sự
kìm hãm cảm xúc quá mức rất dễ dẫn đến ức chế và gây nên tâm bệnh.
Trong các rối loạn liên quan đến SKTT, cơ chế cảm ứng đóng vai trò nhất
định, nhờ cơ chế này mà sinh viên rất dễ tiếp nhận các trạng thái cảm xúc hành vi,
của những người xung quanh (Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr, 2007). Từ đó dẫn đến việc
điều khiển cảm xúc và hành vi của sinh viên chịu sự tác động, đặc biệt là các tác động
xấu là rất nhanh, khi đó SKTT của sinh viên dễ dàng bị ảnh hưởng tiêu cực.
Tóm lại thì yếu tố tâm lí có ảnh hưởng từ bên trong, tuy khó nhận ra nhưng tác
động của yếu tố này là rất sâu sắc đến SKTT.
Yếu tố xã hội.
Môi trường xung quanh, các mối quan hệ xã hội như gia đình, nhà trường,
cộng đồng; những cột mốc như mất mát người, xung đột, kinh tế, bạo lực; những sự
kiện gây chấn động, thảm họa là những yếu tố có tác dộng mạnh, có khả năng gây
nên mất cân bằng chức năng não bộ, dẫn đến bệnh lý hoặc nặng hơn nữa là các bệnh
tâm thần (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2014).
Gia đình là cái nôi nhân cách của mỗi người, gia đình với sự đầy đủ về thành
viên, tình thương, sự giáo dục là điều kiện thuận lợi cho SKTT của mỗi người được
hoàn thiện. Ngược lại, những gia đình xảy ra nhiều biến cố, gia đình không trọn vẹn,
thiếu tình cảm dễ nảy sinh tâm lí khó khăn dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến SKTT.
Nhu cầu được hòa nhập vào cộng đồng, xã hội của giai đoạn sinh viên là khá
cao chính vì vậy khi không được đáp ứng đủ như cầu này, sinh viên dễ có những cảm
xúc tiêu cực như cảm thấy cô độc, giá trị bản thân thấp lâu dần sẽ gây khó khăn trong
việc sinh viên thiết lập các mối quan hệ xã hội, cô lập trong thế giới của riêng mình.
Yếu tố xã hội vừa tác động đến tâm lí vừa là điều kiện để SKTT của sinh viên
được khỏe mạnh, hoàn thiện. Sinh viên tác động ngược trở lại với xã hội thông qua
sự đóng góp, cống hiến của mình. Chính vì lẽ đó mối quan hệ hai chiều này phải luôn
được giữ vững ở mức cân bằng.
Tóm lại, SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM bị tác động, chi phối, ảnh hưởng
bới rất nhiều yếu tố. Trong giới hạn của nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến yếu
23
tố sinh học, yếu tố tâm lí và yếu tố xã hội. Ba yếu tố này là những yếu tố chính ảnh
hưởng trực tiếp đến SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM. Không những vậy, các yếu
tố này còn có tác động qua lại với nhau theo mô hình tâm – sinh – xã hội. Điều quan
trọng là cần nắm vững các yếu tố và tầm quan trọng của nó để có cái nhìn đúng đắn
hơn cũng như sự tập trung để xây dựng, hoàn thiện để SKTT luôn khỏe mạnh.
c. Ảnh hưởng của ĐTTM đến SKTT của sinh viên:
Mặt tích cực của ĐTTM
Ảnh hưởng đến tự nhận thức bản thân.
Với những tính năng của ĐTTM, sinh viên cũng có thể dễ dàng hơn trong việc
xây dựng, duy trì và khẳng định giá trị của bản thân. Thông qua những tương tác của
những người xung quanh, cách cá nhân nhìn vào bản thân mình cũng như mục tiêu
xây dựng giá trị của bản thân trong tương lai cũng rõ ràng hơn, chi tiết hơn khiến sinh
viên có được mục tiêu và động lực sống tốt hơn.
Ảnh hưởng đến hoàn thành nhiệm vụ học tập.
Thông qua các ứng dụng của ĐTTM, sinh viên có khả năng mở rộng, tiếp thu,
trau dồi tri thức của mình phục vụ cho công việc học tập và định hướng nghề nghiệp
tương lai hoặc chăm sóc sức khỏe, kỷ năng sống. Sinh viên muốn nâng cao kiến thức,
kỹ năng nào có thể tải về những ứng dụng về mảng đó ví dụ học ngôn ngữ với:
Duolingo, HiNative, SpeakingPal…, hoặc luyện trí nhớ, tăng động lực học tập với
ứng dụng hoc24h…Không những vậy, nhờ ĐTTM sinh viên có thể tiếp thu được
nguồn kiến thức của mình thông qua chia sẻ của những người đi trước hoặc trên
những trang tìm kiếm chính thống.
Về mặt tích cực, những tiện ích của ĐTTM đem đến cho sinh viên quan trọng
nhất là nâng cao giá trị của bản thân sinh viên, giúp sinh viên có cái nhìn đúng hơn
về bản thân, hoàn thành nhiệm vụ quan trọng nhất trong giai đoạn này của sinh viên
là học tập và rèn luyện đạo đức.
Ảnh hưởng đến xây dựng và duy trì các mối quan hệ gần gũi.
24
Duy trì những mối quan hệ gần gũi bằng các ứng dụng chúng ta có thể ghi nhớ
được những ngày kỷ niệm, những cột mốc quan trọng, thông qua những tin nhắn,
những lời động viên đúng lúc, những món quà tinh thần ý nghĩa. Với những tính năng
như gọi điện thoại hình ảnh hoặc âm thanh, trao đổi hình ảnh, email giúp kết nối của
các mối quan hệ được nhanh chóng nhờ vậy mà thường xuyên hơn, gần gũi hơn.
Ảnh hưởng đến mở rộng các mối quan hệ xã hội.
Nhờ ĐTTM chúng ta có thể tìm kiếm bạn bè xung quanh, hoặc những nhóm
người mới có cùng sở thích, định hướng nghề nghiệp tương lai, những tiền bối trong
trường, những người có cùng chí hướng.
Một phần nhờ sử dụng ĐTTM, sinh viên có thể có được những thông tin từ
những cộng đồng tương trợ, giúp đỡ nhau trên Internet hoặc mạng xã hội nhanh chóng
và tiện lợi, từ đó có thể tham gia vào các nhóm, dùng sức của mình cống hiến cho xã
hội: các nhóm sinh viên có thể tham gia: Tiếp sức mùa thi, mùa hè xanh, ngàn hạt
giấy…
Nhìn chung, thông qua ĐTTM và những tiện ích của nó mà sinh viên có thể
nâng cao, khẳng định được giá trị của bản thân; nâng cao kiến thức, kỹ năng của mình
một cách nhanh chóng và chính xác hơn; duy trì được những mối quan hệ gần gũi và
giúp sức cho cộng đồng, xã hội thường xuyên và dễ dàng.
Mặt tiêu cực của ĐTTM
Stress, mất ngủ, kiệt sức do kéo dài thời gian sử dụng ĐTTM.
Biểu hiện của stress là việc cá nhân có những những cảm xúc tiêu cực như
căng thẳng, lo lắng, hoang mang, đau buồn , không thể đưa ra được phản ứng chính
xác cho những tình huống xảy đến trong cuộc sống. Nặng hơn nữa, là sự trơ về mặt
cảm xúc, mất khả năng ứng phó được với các sự kiện dù là nhỏ nhất (Nguyễn Thị
Huyền, 2012). Nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời stress kéo dài rất có thể
dẫn đến trầm cảm hoặc rối loạn lo âu.
Gây nên biểu hiện stress của sinh viên nói trên vì nhờ sự tiện ích của ĐTTM
mà sinh viên dành đa phần thời gian của mình vào ĐTTM, không gian gặp gỡ, giao
lưu trò chuyện mở không còn là sự lựa chọn tối ưu của sinh viên mà thay vào đó là
sự giao tiếp thông qua các ứng dụng trên ĐTTM vì sự tiết kiệm chi phí đi lại và thời
25
gian. Sự giao tiếp mặt đối mặt hoặc cùng không gian sống với nhau không còn được
sinh viên ưu tiên (Bùi Thị Ngọc Hân, 2013). Chính vì lẽ đó mà sinh viên không còn
được giao tiếp trực tiếp với nhau, giới hạn cuộc sống chỉ xoay quanh chiếc ĐTTM,
dẫn đến tình trạng “phụ thuộc”.
Ngoài ra ĐTTM với tính tiện lợi và hấp dẫn của nó dễ khiến sinh viên không
thể điều khiển, điều chỉnh hành vi, cảm xúc của mình. Sinh viên sử dụng với tần suất
dày đặc khiến dễ dàng rơi vào tình trạng thiếu kiểm soát với những kích thích từ bên
ngoài. Dễ bị kích động bới các yếu tố xung quanh và có những hành vi sai lệch.
Xây dựng hình ảnh bản thân bằng cách dùng những tiện ích của ĐTTM nhưng
cũng vì vậy mà những giá trị chân chính không được sinh viên chú tâm đến, chạy
theo những giá trị “ảo”, cái tôi lý tưởng đi quá xa cái tôi hiện thực khiến SKTT rất dễ
mất cân bằng. Cũng vì mong muốn xây dựng hình ảnh bản thân nên người dùng bắt
buộc kiềm chế cảm xúc hoặc không biết cách thể hiện cảm xúc lành mạnh, đúng đắn
dẫn tới cá nhân sinh viên dễ dẫn tới phẫn uất, stress hoặc trầm cảm.
Nhiệm vụ chính của sinh viên là học tập cũng dễ bị ảnh hưởng, phân tán sự
tập trung bởi thời gian sử dụng ĐTTM vào nhu cầu giải trí, lướt web, tham gia mạng
xã hội chiếm phần lớn khiến sinh viên không còn đủ thời gian cho quá trình học tập
và trau dồi tri thức. Thời gian ngủ, nghĩ ngơi, ăn uống hoặc ngay cả đi vệ sinh cũng
bị chiếm bởi ĐTTM, dẫn đến tình trạng kiệt sức, mất ngủ hoặc nặng hơn là những rối
loạn cưỡng bức, rối loạn lo âu, đặc biệt có những trường hợp lo lắng khi thiếu ĐTTM,
không kiểm soát được cảm xúc và hành động của mình.
Sự giao lưu trực tiếp khiến bản thân mỗi người dễ có thể có cái nhìn đúng đắn
hơn về người khác nhưng thông qua các ứng dụng ĐTTM, những lời nói, hành động
có thể dễ bị phán đoán sai vì là giao lưu gián tiếp khiến sinh viên dễ bị lừa gạt, dễ nảy
sinh cảm xúc không còn tin tưởng vào bản thân, mất mát cả vật chất lẫn tinh thần.
Cũng chính vì nguyên nhân sử dụng nhiều ĐTTM, sinh viên cũng dễ dàng
đánh mất những mối quan hệ của cá nhân khi không còn đủ thời gian, tâm trí, kể cả
là sức khỏe cho việc chăm sóc bản thân, duy trì các mối quan hệ gần gũi hoặc tham
gia vào cộng đồng, xã hội.
26
Tóm lại, SKTT của sinh viên chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó vật
dụng gắn bó hằng ngày như ĐTTM có sự ảnh hưởng trực tiếp. Cần cân bằng và hài
hòa trong việc sử dụng ĐTTM nhằm giảm thiểu tác hại và nâng cao lợi ích, hướng
đến SKTT khỏe mạnh.
27
Tiểu kết chương 1
Lịch sử nghiên cứu đề tài cho thấy rằng, SKTT và ĐTTM là lĩnh vực nghiên
cứu rất được quan tâm hiện nay trên thế giới và cả ở Việt Nam. Có nhiều nghiên cứu
về lĩnh vực này. Việt Nam chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về ĐTTM và sự ảnh hưởng
của nó đến SKTT, các nghiên cứu tập trung vào sự ảnh hưởng những ứng dụng, tiện
ích có trong ĐTTM.
Đề tài nghiên cứu của tác giả đã xây dựng được khái niệm SKTT, chỉ ra khái
niệm ĐTTM, khái niệm sinh viên, nêu được đặc điểm của SKTT khỏe mạnh và SKTT
không khỏe mạnh, các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của sinh viên, SKTT của sinh
viên sử dụng ĐTTM từ đó nêu lên cách ứng phó với thực trạng SKTT không khỏe
mạnh của sinh viên sử dụng ĐTTM.
Khái niệm SKTT là “tình trạng tâm lí của cá nhân biểu hiện ở khả năng nhận
thức, hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, thiết lập các mối quan hệ gần gũi và hòa
nhập với xã hội.”
SKTT khỏe mạnh là mặt tích cực của các hoạt động tâm lí, tâm thần của con
người. Mà ở đó con người duy trì và bảo vệ khả năng hài lòng với sự tự nhận thức về
bản thân, hài lòng với các mối quan hệ gần gũi và thiết lập được mối quan hệ vững
chắc với cộng đồng, xã hội.
SKTT không khỏe mạnh chỉ trạng thái mất cân bằng của con người về mặt
tâm lí, là những điều mà con người phải gánh chịu về tinh thần từ những khó khăn
trong cuộc sống đến những rối loạn tâm lí.
Sinh viên sử dụng ĐTTM là những sinh viên đang trong quá trình lĩnh hội kiến
thức, đạo đức trong các trường đại học, cao đẳng có sử dụng ĐTTM. Sinh viên sử
dụng ĐTTM mang đầy đủ những đặc điểm của sinh viên thông thường: đủ khả năng
tự học tập, nghiên cứu và mang đặc điểm tâm sinh lý tương đối hoàn thiện.
ĐTTM là một sản phẩm mang tính cách mạng của loài người, vừa đảm bảo được
những chức năng thông tin liên lạc cơ bản của điện thoại di động vừa là trợ thủ đắc
lực hiện đại có mặt trong hầu hết các hoạt động chính của con người trong cuộc sống
và công việc.
28
Mặt tích cực, thông qua ĐTTM và những tiện ích của nó mà sinh viên có thể
nâng cao, khẳng định được giá trị của bản thân; nâng cao kiến thức, kỹ năng của mình
một cách nhanh chóng và chính xác hơn; duy trì được những mối quan hệ gần gũi và
giúp sức cho cộng đồng, xã hội thường xuyên và dễ dàng.
Mặt tiêu cực: vì nguyên nhân sử dụng nhiều ĐTTM, sinh viên có thể dễ dàng
đánh mất những mối quan hệ của cá nhân khi không còn đủ thời gian, tâm trí, kể cả
là sức khỏe cho việc chăm sóc bản thân, duy trì các mối quan hệ gần gũi hoặc tham
gia vào cộng đồng, xã hội.
29
Chương 2. THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN
SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Thể thức nghiên cứu
2.1.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng ĐTTM của trên
địa bàn TPHCM.
2.1.2. Mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu thuận tiên tại ba trường đại học Sư phạm TPHCM và đại học Bách
Khoa TPHCM năm học 2017-2018. Tổng số phiếu phát ra là 276 phiếu với 100%
sinh viên sử dụng ĐTTM thì có 210 phiếu hợp lệ. Phiếu hợp lệ là phiếu đảm bảo được
điều kiện người làm phiếu là đối tượng của nghiên cứu: sinh viên sử dụng ĐTTM của
ba trường đại học Sư phạm, đại học Bách Khoa và đại học Công nghệ thành phố Hồ
Chí Minh, không bỏ trống câu trả lời, trả lời đạt yêu cầu.
Bảng 2.1. Phân bố thành phần mẫu nghiên cứu
Thành phần Tần số Tỉ lệ (%) Tổng Tỉ lệ (%)
Đại học Sư phạm 68 32,38% TPHCM
Đại học Bách 78 37,15% 210 100 Trường Khoa TPHCM
Đại học Công 64 30,47% nghệ TPHCM
Nam 112 53,33% 210 100 Giới tính Nữ 98 46,67%
Quan sát số liệu bảng 2.1 thấy rằng, việc thu thập số liệu đã đạt được theo sự
lựa và mục tiêu đầu của nghiên cứu: ba trường Trường ĐHSP, đại học Bách khoa
TPHCM, đại học Công nghệ TPHCM và giới tính phân bố khá đồng đều nhau. Đối
tượng sinh viên là đối tượng dễ dàng lấy thông tin nên việc phát phiếu cũng như lựa
chọn phiếu khảo sát đúng với mục đích nghiên cứu là tương đối thuận lợi.
30
2.2. Công cụ nghiên cứu
Tổng hợp của các phương pháp nghiên cứu: trong đó phương pháp điều tra
bằng bảng hỏi là phương pháp chính, phương pháp phỏng vấn sinh viên và phỏng vấn
chuyên gia là phương pháp bổ trợ.
2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
a. Nguyên tắc thiết kế
Dựa trên cơ sở lý luận, người nghiên cứu tiến hành chọn lọc nội dung các câu
hỏi đảm bảo giá trị về mặt nội dung.
Thiết kế nội dung và hình thức câu hỏi phù hợp với khách thể, đối tượng và
mục đích nghiên cứu.
Lựa chọn cách cho điểm phù hợp, đảm bảo tính tin cậy về mặt thống kê.
b. Quy trình thiết kế bảng hỏi
Từ kết quả thu được sau khi nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn liên
quan đến đề tài; với sự trợ giúp, chỉnh sửa, góp ý của người hướng dẫn.
người nghiên cứu tiến hành thiết kế bảng hỏi thử.
Khảo sát thử trên 20 sinh viên trường đại học Sư phạm TPHCM nhằm hoàn
thiện về hình thức, nội dung cũng như tính hệ số tin cậy của thang đo. Từ đó
chỉnh sửa những câu hỏi có vấn đề.
Hoàn thiện bảng hỏi về nội dung, hình thức, cách diễn đạt, bố cục và khảo sát
chính thức.
c. Mô tả bảng hỏi
Bảng hỏi gồm các mục: lời chào và giới thiệu mục đích nghiên cứu, mục A
thông tin cá nhân và B là phần nội dung câu hỏi. Phần nội dung câu hỏi bao gồm 2
phần: phần 1 là thực trạng sử dụng điện thoại thông minh của sinh viên và phần 2 sức
khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh, sự phụ thuộc của sinh
viên vào ĐTTM và các biện pháp cân bằng khi phụ thuộc vào ĐTTM.
Mục A. Thông tin khách thể khảo sát.
Phần này gồm các câu hỏi về thông tin cơ bản của khách thể khảo sát bao gồm:
trường, giới tính, việc sử dụng ĐTTM.
31
Mục B. Nội dung khảo sát: bao gồm hai phần chính
Phần 1: Thực trạng sử dụng ĐTTM của sinh viên.
Nhóm câu hỏi thực trạng sử dụng ĐTTM của sinh viên bao gồm: Cách thức sử
dụng ĐTTM (câu 1), thời gian sử dụng ĐTTM trong một ngày (câu 2), mức độ sử
dụng ĐTTM ở trường học (câu 3) , mục đích sử dụng ĐTTM (câu 4).
Phần 2: Sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.
Gồm 3 câu hỏi.
Câu 1: Nhằm tìm hiểu thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng
ĐTTM.
A. Về tự nhận thức bản thân (gồm 10 câu hỏi nhỏ).
B. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập (gồm 8 câu hỏi nhỏ).
C. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao
gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) (gồm 8 câu hỏi nhỏ).
D. Về hòa nhập với cộng đồng xã hội (gồm 8 câu hỏi nhỏ).
Câu 2: Nhằm tìm hiểu sự phụ thuộc vào điện thoại thông minh của sinh viên
sử dụng ĐTTM. (gồm 17 câu hỏi nhỏ)
Câu 3: Tìm hiểu biện pháp nâng cao sức khỏe tâm thần, cân bằng việc sử dụng
ĐTTM cho sinh viên sử dụng ĐTTM (gồm 6 câu hỏi nhỏ).
d. Cách quy đổi điểm
Về điểm trung bình chung
Bảng 2.2. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2 –
những nhân tố của SKTT
ĐTB chung Mức độ đánh giá
1 - 1,80 Rất kém
1,81 - 2,6 Kém
2,61 - 3,4 Trung bình
3,41 - 4,2 Tốt
Rất tốt 4,21 - 5
32
Bảng 2.3. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2 –
Sức khỏe tâm thần
ĐTB chung Mức độ đánh giá
1 - 1,80 Rất không khỏe mạnh
1,81 - 2,6 Không khỏe mạnh
2,61 - 3,4 Trung bình
3,41 - 4,2 Khỏe mạnh
4,21 - 5 Rất khỏe mạnh
Bảng 2.4. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2 –
phụ thuộc
ĐTB chung Mức độ đánh giá
1 - 1,80 Phụ thuộc hoàn toàn
1,81 - 2,6 Phụ thuộc nhiều
2,61 - 3,4 Phụ thuộc
3,41 - 4,2 Ít phụ thuộc
4,21 - 5 Không phụ thuộc
Bảng 2.5. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2 –
biện pháp
ĐTB chung Câu 3.1, 3.2, 3.3, 3.4, 3.5, 3.6
1 - 1,75 Không có tác dụng
1,751 - 2,50 Tác dụng ít
2,501 - 3,25 Có tác dụng
3,251 - 4 Có tác dụng nhiều
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
a. Mục đích.
- Bổ sung thông tin làm đầy đủ hơn bảng hỏi
33
- Bổ sung thêm thông tin để góp phần làm sáng tỏ kết quả khảo sát.
- Kiểm tra độ trung thực của các kết quả trả lời phiếu điều tra ý kiến.
- Tìm hiểu thêm thông tin về đối tượng nghiên cứu qua một số khách thể.
- Tìm thêm thông tin về biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM.
b. Cách tiến hành.
- Liên hệ với một số sinh viên để làm rõ số liệu xử lý được về sức khỏe tâm thần
của sinh viên.
- Tiến hành phỏng vấn dựa trên bảng phỏng vấn với câu hỏi đã chuẩn bị sẵn
theo mục đích nghiên cứu. Có thể sử dụng thêm những câu hỏi phát sinh tùy
theo vấn đề phát sinh trong nội dung trả lời của khách thể.
2.2.3. Phương pháp thống kê toán học
a. Mục đích.
Xử lý các kết quả định lượng thu được từ cuộc khảo sát nhằm làm cơ sở để
biện luận kết quả nghiên cứu.
b. Nội dung nghiên cứu
- Thống kê mô tả: Tính tổng, trị số trung bình, tần số, tỷ lệ phần trăm, kiểm
nghiệm T-test, kiểm nghiệm ANOVA, kiểm nghiệm tương quan Pearson.
- So sánh kết quả giữa các nhóm khách thể, các mặt khác nhau trong cùng một
chỉ báo nghiên cứu.
b. Cách thức tiến hành
Sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS để xử lý các dữ kiện thu được,
phục vụ cho việc phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu.
2.3. Kết quả nghiên cứu
2.3.1. Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh
Bảng 2.6. Tần suất sử dụng ĐTTM.
Bạn đang sử dụng ĐTTM như thế STT Tần số % Thứ hạng nào?
1 Đang sử dụng thường xuyên. 147 1 70.0
34
2 Sử dụng khi cần thiết. 53 25.2 2
3 Sử dụng nhưng không thích. 7 3.3 3
4 Sử dụng sau một thời gian ngừng. 3 1.4 4
70
60
50
40
Phần trăm
30
20
10
0
Sử dụng khi cần thiết
Đang sử dụng thường xuyên
Sử dụng nhưng không thích
Sử dụng sau một thời gian ngừng
210 100 Tổng
Biểu đồ 2.1. Tần suất sử dụng ĐTTM
Bảng 2.7. Tần suất sử dụng ĐTTM tối đa trong một ngày
STT Tần số %
Thời gian sử dụng ĐTTM tối đa trong một ngày. 1 Có thể không sử dụng. 2 3 4 1 đến 3 tiếng. 4 đến 6 tiếng. Sử dụng liên tục.
Tổng 12 76 88 34 210 5,7 36,2 41,9 16,2 100 Thứ hạng 4 2 1 3
Nhận xét:
Kết hợp hai bảng số liệu trên cũng như biểu đồ 2.1 có thể kết luận hiện nay đa
số sinh viên đang sử dụng ĐTTM một cách thường xuyên (70%). Cách đó khoảng
cách khá lớn là tần suất sinh viên sử dụng khi cần thiết (25%). Rất ít sinh viên không
thích ĐTTM (3,3%). Khi phỏng vấn, sinh viên đều trả lời mình sử dụng ĐTTM nhiều
và rất nhiều, có sinh viên còn trả lời là sử dụng ĐTMM 24/7 chỉ cần có thời gian rảnh,
35
ngoại trừ lúc ngủ, “em sử dụng ĐTTM khá là thường xuyên, gần như là vật không thể
thiếu trong các hoạt động hằng ngày”. Với sự tương đồng của 2 bảng trên, sinh viên
thời nay dành thời gian cho việc dùng ĐTTM từ “4 đến 6 tiếng” một ngày chiếm tỉ
lệ lớn nhất (41,9%), “1 đến 3 tiếng” chiếm không cao (36,2%), cũng có một bộ phận
sinh viên sử dụng ĐTTM một cách liên tục (16,2%) và chỉ có một số lượng nhỏ sinh
viên “có thể không sử dụng” (5,7%). Điều này cho thấy việc sử dụng ĐTTM đang
trở thành một nhu cầu lớn, một điều thiết yếu trong cuộc sống của sinh viên, chiếm
nhiều thời gian của các sinh hoạt bình thường khác như học tập, giải trí và sinh hoạt.
Theo kết quả so sánh giữa ba trường trong nghiên cứu này, nhìn chung tần suất sử
dụng ĐTTM tương đối đồng đều nhau. Riêng, đại học Sư phạm TPHCM có 74,3 %
phần trăm sinh viên sử dụng thường xuyên ĐTTM, đây là số phần trăm cao nhất trong
ba trường. Đặc biệt không có sinh viên nào của trường ĐH Công Nghệ TPHCM “sử
dụng nhưng không thích ĐTTM” và phần trăm sinh viên sử dụng ĐTTM liên tục cao
nhất (22,9%)
Có sự khác nhau giữa tần suất sử dụng ĐTTM của nam và nữ sinh viên. Có 81,9%
sinh viên nữ sử dụng thường xuyên, cao hơn nhiều phần trăm sinh viên nam sử dụng
ĐTTM như vậy (58,1%). Đặc biệt không có sinh viên nữ nào sử dụng ĐTTM sau một
thời gian ngừng, với nam là 2,9%. Trong một ngày, phần trăm cao nhất của sinh viên
nữ là sử dụng ĐTTM trong khoảng“4 đến 6 tiếng” (43,5%), còn ở sinh viên nam là
“1 đến 3 tiếng” (41,9%). Cuối cùng, về “sử dụng liên tục” chiếm 20% sinh viên nữ
và 12,4% nam. Từ sự so sánh này có thể kết luận được sinh viên nữ sử dụng ĐTTM
liên tục là thường xuyên hơn sinh viên nam.
Tóm lại, tần suất sinh viên sử dụng ĐTTM là thường xuyên và phần trăm cao
nhất thuộc về khoảng thời gian “4 đến 6 tiếng”. Tần xuất sử dụng của ba trường là
tương đối đồng đều nhưng có sự khác nhau giữa nam và nữ, nữ sử dụng ĐTTM
thường xuyên và liên tục hơn nam.
36
Bảng 2.8. Tần suất sử dụng ĐTTM ở trường của sinh viên sử dụng ĐTTM.
STT Tần số ĐLC Bạn có thường xuyên sử dụng ĐTTM ở trường không?
Luôn luôn. Thường xuyên
Thứ hạng 3 1 2 4 5 1 2 3 Đôi khi. 4 Hiếm khi 5 Không bao giờ.
14 94 90 10 2 210 6.7 44.8 42.9 4.8 1.0 100 Tổng
Nhận xét:
Từ kết quả trên, ta thấy sinh viên có sử dụng ĐTTM chiếm đa số ở hai mức độ
là “thường xuyên” (44.8%) và “đôi khi” (42,9%) có nghĩa là sinh viên sử dụng ĐTTM
ở ngay cả nơi dành cho việc học tập và điều đó đã trở thành thói quen có thể chi phối
cuộc sống hằng ngày. Chỉ có 4,8% sinh viên trả lời là “hiếm khi” và 1% sinh viên
“không bao giờ” sử dụng ĐTTM khi ở trường. Giữa ba trường không có sự khác biệt
về tần suất sử dụng ĐTTM trong trường. Nữ giới có 46,7% thường xuyên sử dụng
ĐTTM cao hơn ở nam là (42,9%), tuy nhiên phần trăm cao hơn không đáng kể.
Theo số liệu này, tần suất sử dụng ĐTTM ở sinh viên các trường và nam, nữ sinh
viên là khá cao và đồng đều vì vậy nếu ngoài mục đích học tập mà sinh viên vẫn sử
dụng ĐTTM.
Để có được các mục đích chính của việc sử dụng ĐTTM, người nghiên cứu đã
lấy thông tin chính từ việc phỏng vấn nhanh khoảng 20 sinh viên với câu hỏi “Bạn
dùng ĐTTM để làm gì?” và dưới đây là kết quả khảo sát chính thức.
Bảng 2.9. Mục đích sử dụng ĐTTM của sinh viên
STT Tần số % Bạn thường sử dụng ĐTTM chủ yếu vào mục đích gì?
1 2 3 4 Học tập. Giải trí Thể hiện bản thân. Giao tiếp.
146 177 13 119 455 69,5/100 84,2/100 6,1/100 56,7/100 100.0 Thứ hạng 2 1 4 3 Tổng
Nhận xét:
37
Theo bảng số liệu ta thấy, các mục đích chính khi sinh viên sử dụng ĐTTM.
Qua quan sát bảng, với 177/ 210 sinh viên sử dụng ĐTTM nhằm mục đích giải trí,
đây là một con số khá cao, đa phần các em khi có ĐTTM đều chọn giải trí là mục
đích của mình và thông qua thông tin thêm từ phỏng vấn đây cũng là một trong những
mục đích sử dụng chính của các em. ĐTTM đang là một công cụ quan trọng nhất hiện
nay để các em có thể giải trí trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau như tham gia mạng xã
hội (Facebook, Instagram…), chơi những trò chơi điện tử, xem video, xem film, nghe
nhạc…
Vị trí thứ hai xếp ngày sau đó là mục đích học tập với 146/210 sinh viên lựa chọn,
tần số này so với mẫu là một con số lớn, có nghĩa là ngoài mục đích giải trí sinh viên
còn chú trọng việc học thông qua sử dụng ĐTTM, qua phỏng vấn các em hay dùng
ĐTTM là để để chụp và ghi âm bài giảng, tìm kiếm tài liệu tham khảo ngoài ra ĐTTM
còn hỗ trợ các em rất nhiều trong việc tìm hiểu thông tin trên trang web trường, xem
lịch thi, theo dõi kết quả học tập…
Giao tiếp cũng chiếm một phần lớn trong sự lựa chọn của các bạn về mục đích sử
dụng ĐTTM có 119/210 sinh viên lựa chọn. ĐTTM là một công cụ hữu hiệu cho việc
giữ liên lạc với những người xung quanh không những thông qua gọi nghe, nhắn tin
thông thường mà thông qua các ứng dụng sự giao tiếp càng trở nên đơn giản và nhanh
chóng hơn. Chính vì vậy giao tiếp là đáp án có rất nhiều sinh viên đã lựa chọn.
Kết quả cuối cùng là về thể hiện bản thân rất ít sinh viên lựa chọn đáp án này, chỉ
13 lần lựa chọn, cho thấy rằng đối với sinh viên việc thể hiện bản thân thông qua một
chiếc điện thoại là điều hiếm thấy, lứa tuổi sinh viên chưa có sự thể hiện đẳng cấp,và
rất hiếm có sự phân biệt giai cấp, các em đa phần sống hòa đồng với nhau.
So sánh giữa các trường, phần trăm sinh viên đại học Sư phạm và đại học Hutech
sử dụng ĐTTM mục đích học tập khá cao (trên 70%). Đặc biệt sinh viên đại học
Hutech sử dụng ĐTTM với mục đích giải trí là cao nhất trong ba trường (91,4%).
Mục đích giao tiếp và thể hiện bản thân là đồng đều giữa ba trường.
Về giới tính, nữ sinh viên sử dụng ĐTTM với mục đích học tập cao hơn nam sinh
viên (71,4% > 67,6%). Mục đich giao tiếp nam sinh viên lại cao hơn nữ sinh viên
(62,9% > 50,5%), điều này có thể lý giải việc gặp gỡ, trao đổi trực tiếp của nữ sinh
38
viên cao hơn nam sinh viên, chính vì vậy nam giới cần ĐTTM vào mục đích giao
tiếp. Tuy vậy, nhìn chung sự khác biệt này cũng không lớn.
Theo quan sát của người nghiên cứu, đây là câu hỏi nhiều sự lựa chọn, đa phần
sinh viên được khảo sát sẽ chọn ba mục đích sử dụng chính của ĐTTM là giải trí, học
tập và giao tiếp chiếm với 442/455 lần chọn. Kết quả này cũng đúng với thực tế và
khảo sát của nghiên cứu.
2.3.2. Thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại
thông minh
Như trong chương 1 đã nêu, chúng tôi khảo sát SKTT của sinh viên sử dụng
ĐTTM ở các khía cạnh: tự nhận thức bản thân; hoàn thành nhiệm vụ học tập; thiết
lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân; gia đình bạn bè, đồng nghiệp và
nhận thức xã hội.
a. Về tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh
Bảng 2.10. Tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng ĐTTM
39
STT Biểu hiện ĐTB ĐLC XH
Biểu hiện tích cực
3,78 1 0,970 3 Bạn hài lòng với những giá trị bản thân
3,64 2 0.849 6 Bạn hiểu được năng lực của bản thân.
3,79 3 0,781 2 Bạn biết những thiếu sót của bản thân mình.
3,77 4 0.990 4 Bạn biết mình đang có những cảm xúc gì.
5 3,47 1,022 7
Khi có cảm xúc mạnh bạn thường để cảm xúc lắng lại rồi giải quyết vấn đề.
6 3,67 0,924 5 Bạn suy nghĩ trước khi hành động.
Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)
7 1,089 1 3,81 Bạn chán ghét bản thân mình.
8 1,270 9 3,29 Bạn hay cảm thấy thua kém so với chính bạn trước đây
3.32 9 1,189 8 Bạn hay làm quá lên cảm xúc của mình.
9 10 1,040 2,55
Bạn hay có những hành động bộc phát khiến mình phải hối hận.
ĐTB chung: 3,508
Nhận xét:
Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng trên tốt với ĐTB chung là 3,509 cho thấy
mặt bằng chung sinh viên sử dụng ĐTTM thể hiện việc tự nhận biết bản thân ở mức
tốt. Sở dĩ thực trạng tự nhận thức bản thân ở mức này vì đây là thời đại của sự phát
triển, các em có rất nhiều cơ hội như những khóa học; những công cụ hiện đại; sự chỉ
40
dẫn, khuyến khích, đánh giá từ thầy cô, những người đi trước chính vậy các em dễ
dàng nhìn nhận và khám phá bản thân mình.
Tìm hiểu cụ thể hơn về mức độ của từng biểu hiện của tự nhận thức bản thân theo
đánh giá của sinh viên sử dụng ĐTTM không có biểu hiện nào ở mức rất tốt, mức tốt
lần lượt theo thứ tự xếp hạng là không đồng ý với việc “chán ghét bản thân mình”
(ĐTB là 3.81); đồng ý với “biết những thiếu sót của bản thân mình”(ĐTB là 3,79)
và “hài lòng với những giá trị bản thân” (ĐTB là 3,78). Đây là một dấu hiệu đáng
mừng cho việc sinh viên sử dụng ĐTTM có sự tự nhận thức bản thân tốt, biết được
mình là ai, không có cảm giác tự ti, mặc cảm với bản thân mình. Điều này dễ hiểu
hơn khi càng hiện đại con người càng trở nên tự tin nắm bắt bản thân, cuộc sống của
mình.
ĐTB thấp nhất tương ứng với biểu hiện nhận thức bản thân kém nằm ở hai biểu
hiện: “Bạn có những hành động bộc phát khiến mình phải hối hận” (ĐTB 2,55) và
“bạn hay cảm thấy thua kém so với chính bạn trước đây” (ĐTB 3,29), tuy điểm trung
bình chung nằm ở mức tốt nhưng những biểu hiện tiêu cực này có ĐTB thấp như vậy
nghĩa là bản thân các em còn có nhiều sự mâu thuẫn, đặc biệt là điều chỉnh cảm xúc,
tuy có lúc các em suy nghĩ nhiều trước khi hành động nhưng cũng có những khi các
em có những hành động bộc phát, thiếu kiềm chế khiến mình phải hối hận... Tuy vậy,
các em cũng chưa đến mức chán ghét bản thân (ĐTB 3,78).
Bảng 2.11. Tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường
và giới tính
Trường Giới tính
Biểu hiện ĐHSP ĐHBK
ĐH
Nam Nữ
HUTECH
TPHCM TPHCM
Kiểm nghiệm T- Nhận địch tích cực Kiểm nghiệm ANOVA Test
Bạn hài lòng ĐTB 3,81 3,64 3,87 3,81 3,74
với những Kiểm df = 2 df=208 giá trị bản nghiệm Sig = 0,350 Sig = 0,620 thân
41
Bạn hiểu ĐTB 3,59 3,60 3,73 3,73 3,54
được năng Kiểm df = 2 df=208 lực của bản nghiệm Sig = 0,550 Sig = 0,104 thân.
Bạn biết ĐTB 3,76 3,76 3,84 3,80 3,77
những thiếu Kiểm df = 2 df=208 sót của bản nghiệm Sig = 0,757 Sig = 0,792 thân mình.
Bạn biết ĐTB 3,70 3,76 3,86 3,76 3,78
mình đang Kiểm df = 2 df=208 có những nghiệm Sig = 0,639 Sig = 0,890 cảm xúc gì.
Khi có cảm ĐTB 3,47 3,47 3,87 3,52 3,42
xúc mạnh
bạn thường
để cảm xúc Kiểm df = 2 df=208
lắng lại rồi nghiệm Sig = 1,000 Sig = 0,459
giải quyết
vấn đề.
ĐTB 3,71 3,87 3,57 3,60 3,69 Bạn suy nghĩ
trước khi Kiểm df = 2 df=208
hành động. nghiệm Sig = 0,540 Sig = 0,823
Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)
ĐTB 3,90 3,93 3,61 3,77 3,86 Bạn chán
ghét bản thân Kiểm df = 2 df=208
mình. nghiệm Sig = 0,168 Sig = 0,570
Bạn hay cảm ĐTB 3,54 3,09 3,23 3,35 3,22
thấy thua
kém so với Kiểm df = 2 df=208
chính bạn nghiệm sig = 0,84 Sig = 0,448
trước đây
42
Bạn hay làm ĐTB 3,29 3,34 3,33 3,36 3,28
quá lên cảm Kiểm df = 2 df=208 xúc của nghiệm Sig = 0,958 Sig = 0,603 mình.
Bạn hay ĐTB 2,63 2,41 2,60 2,50 2,53
những hành
động bộc Kiểm df = 2 df=208 phát khiến nghiệm Sig = 0,540 Sig = 0,843 mình phải
hối hận.
Nhận xét:
Nhìn vào số liệu ở trên ta thấy về tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng
ĐTTM theo trường và theo giới tính khá tương đồng. Cụ thể như sau:
Theo trường thì lựa chọn của các em khá tương đồng và không có sự khác biệt
mang ý nghĩa thống kê. Điểm trung bình cao nhất thuộc về biểu hiện “bạn chán ghét
bản thân mình” (ĐHSP:3,90; ĐHBK: 3,93; ĐHCN:3,61) , đây là Biểu hiện được các
em lựa chọn hướng về mức không đồng ý cao nhất. Lý giải cho điều này các em hiện
nay cảm thấy tự tin về bản thân mình, biết được điểm mạnh, điểm yếu của mình nên
việc chán ghét bản thân là điều khó xảy ra. ĐTB thấp nhất của cả ba trường thuộc về
biểu hiện “Bạn có những hành động bộc phát khiến mình phải hối hận” (ĐHSP:2,63;
ĐHBK: 2,61; ĐHCN:2,60). Các em tuy có khả năng hài lòng về bản thân, tự giúp đỡ
bản thân tốt nhưng lại thiếu kỹ năng điều chỉnh, điều khiển cảm xúc và hành động
của mình.
Theo giới tính: cũng không có nhiều khác biệt giữa ĐTB của các biểu hiện về
tự nhận thức bản thân của nam và nữ sinh viên sử dụng ĐTTM. ĐTB cao và thấp nhất
tương tự các biểu hiện phân tích ở trên.
b. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng điện thoại
thông minh
Bảng 2.12. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM
43
St Biểu hiện ĐTB ĐLC XH t
Biểu hiện tích cực
Bạn có khả năng tập trung 1 3,35 0,936 4 trong suốt thời gian học.
Tìm kiếm những thử thách để
2 chinh phục trong học tập là sở 3,20 1,031 7
thích của bạn.
Việc thảo luận trong giờ học 3 3,46 1,008 3 của bạn gần đây tốt.
Chất lượng các sản phẩm học
tập (tiểu luận, bài tập, nghiên 4 3,30 1,013 5 cứu…) gần đây của bạn được
đánh giá cao.
Bạn hài lòng với việc học tập 5 3,25 1,109 6 của mình.
Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)
Bạn hay hoàn thành bài tập của 6 3,49 0.999 2 môn học trễ tiến độ.
Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó 7 0,981 1 3,61 khăn trong học tập.
Thời gian gần đây kết quả học
8 8 tập của bạn không đạt như 1,184 3,12
trước.
ĐTB chung: 3,35
Nhận xét:
Theo kết quả trên, được phép nhận xét về nhân tố hoàn thành nhiệm vụ học tập”
của sinh viên sử dụng ĐTTM đang ở mức “trung bình” nhưng nghiêng về phía “tốt”
với ĐTB chung là 3,35.
44
Lý giải cho sự phân vân của các em, ba biểu hiện trong nhóm các nhân tố tiêu
cực về việc hoàn thành nhiệm vụ học tập có các điểm trung bình không đồng đều.
Biểu hiện“thời gian gần đây kết quả học tập của bạn không đạt như trước” có ĐTB
thấp nhất (ĐTB: 3,12) nhưng biểu hiện “bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong học
tập” và “bạn hay hoàn thành bài tập của môn học trễ tiến độ” lại cao nhất. (ĐTB là
3,61 và 3,49). Tương tự, trong nhóm những nhân tố tích cực, chúng ta có thể nhận
thấy ĐTB của biểu hiện “tìm kiếm những thử thách để chinh phục trong học tập là
sở thích của bạn” nằm trong nhóm thấp (ĐTB 3,2) nhưng biểu hiện “việc thảo luận
trong giờ học của bạn gần đây tốt” lại ở mức cao (ĐTB 3,46).
Điều này có thể đưa đến nhận xét, tuy các em có nhiều có gắng trong việc tập
trung học tập, hoàn thành bài tập đúng hạn nhưng sự đánh giá về kết quả mang lại là
không cao và các em chưa có nhu cầu tìm kiểm những thử thách để chinh phục trong
học tập. Theo biểu hiện chủ quan của người nghiên cứu, các em vẫn chỉ cố gắng hoàn
thành những nhiệm vụ mình phải làm hoặc được giảng viên giao, chưa đào sâu , mở
rộng nghiên cứu nhằm tăng vốn kiến thức nên kết quả mang lại chưa đạt như mong
muốn của các em. Chính vì vậy các em còn mâu thuẫn, phân vân, lưỡng lự trong việc
hoàn thành nhiệm vụ học tập. Nhưng khả quan mà nói, dù “phân vân” trước những
biểu hiện về “hoàn thành nhiệm vụ học tập” nhưng phần trăm của việc đồng ý với
những biểu hiện tích cực và không đồng ý những biểu hiện tiêu cực là khá cao.
Bảng 2.13. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM theo
trường và theo giới tính
Trường
Giới tính
Biểu hiện
Nam
Nữ
ĐHSP TPHCM
ĐHBK TPHCM
ĐH HUTECH
Biểu hiện tích cực
Kiểm nghiện ANOVA
Kiểm nghiệm T- Test
ĐTB
3,24
3,46
3,34
3,48
3,22
Kiểm nghiệm
df=208 Sig = 0,050
df = 2
Bạn có khả năng tập trung trong suốt thời gian học.
ĐTB
3,20
3,41
3,00
3,32
3,09
Sig = 0,421
45
df=208 Sig = 0,094
Kiểm nghiệm
df = 2
Tìm kiếm những thử để thách chinh phục trong học là sở tập thích của bạn.
ĐTB
3,26
3,46
3,67
3,50
3,42
Sig = 0,059
Việc thảo luận trong giờ học của bạn gần đây tốt.
df=208 Sig = 0,539
Kiểm nghiệm
df = 2
ĐTB
3,23
3,37
3,31
3,38
3,23
Sig = 0,050
df=208 Sig = 0,277
Kiểm nghiệm
df = 2
Chất lượng các sản phẩm học tập luận, bài (tiểu tập, nghiên cứu…) gần đây của bạn được đánh giá cao.
ĐTB
3,17
3,34
3,30
3,28
3,22
Sig = 0,705
Bạn hài lòng với việc học tập của mình.
Kiểm nghiệm
df=208 Sig = 0,710
df = 2
Sig = 0,773
Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)
ĐTB
3,47
3,47
3,51
3,41
3,50
Kiểm nghiệm
df=208 Sig = 0,270
df = 2
Bạn hay hoàn thành bài tập của môn học trễ tiến độ.
ĐTB
3,59
3,81
3,57
3,70
3,61
Sig = 0,958
Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong học tập.
Kiểm nghiệm
df=208 Sig = 0,483
df = 2
ĐTB
3,19
3,00
3,19
3,04
3,21
Sig = 0,958
Kiểm nghiệm
df=208 Sig = 0,295
df = 2
Thời gian gần đây kết quả học bạn của tập không đạt như trước.
Sig = 0,565
Nhận xét:
Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường
và theo giới tính có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định. Cụ thể như sau:
46
Theo trường: kết quả thu được cho thấy có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê
giữa các trường về biểu hiện “việc thảo luận trong giờ học của bạn gần đây tốt” (p =
0,050). Tuy vậy, nhìn chung sinh viên giữa các trường có lựa chọn hướng về mức
đồng ý đối với những biểu hiện tích cực và không đồng ý với những biểu hiện tiêu
cực về hoàn thành nhiệm vụ học tập và các sự lựa chọn là khá tương đồng.
Theo giới tính: so sánh về nhiệm vụ hoàn thành việc học tập của nam và nữ có sự
khác biệt ở biểu hiện “bạn có khả năng tập trung trong suốt thời gian học” (p =0,050).
Trong đó ĐTB của khả năng học tập của nam cao hơn của ĐTB của nữ (ĐTB:
3,48>3,22). Các biểu hiện còn lại về học tập giữa nam và nữ tương đồng nhau, không
có sự khác biệt.
c. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh
Bảng 2.14. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao
gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp)
47
Stt Biểu hiện ĐTB ĐLC XH
Biểu hiện tích cực
1 0,968 1 4,22
Bạn cảm thấy an toàn, thoải mái khi bên cạnh những người thân của mình.
2 4,16 0,963 2
Những người thân đem lại nguồn năng lượng tích cực giúp bạn vượt qua khó khăn trong cuộc sống.
3 1,036 7 3,51 Những người thân của bạn hay chủ động hẹn gặp bạn.
4 4,16 0,928 2 Bạn tôn trọng thời gian riêng của người thân.
5 4,02 0,858 3 Bạn cảm nhận được người thân tôn trọng mình.
6 3,90 0.901 5
Người thân có cảm giác vui vẻ, thư giản khi được chia sẻ và bên cạnh bạn.
7 3,98 0,896 4 Bên cạnh những người thân bạn cảm nhận được giá trị của bản thân.
Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)
8 3,65 1,123 6 Bạn hay ép buộc người thân làm theo ý mình vì muốn tốt cho họ.
ĐTB chung: 3,98
Nhận xét:
Trong nhóm những nhân tố SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM thì ĐTB của
việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao gồm gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp) có ĐTB chung là cao nhất (ĐTB 3,98), với ĐTB chung này minh
chứng cho việc các em giữ được mối quan hệ tốt với những người gần gũi từ cả hai
phía. Điều này là rất tốt và cần thiết nhất là đối với những sinh viên xa nhà cần sự
động viên, bên cạnh, giúp đỡ về mặt tinh thần các em.
48
Chi tiết hơn, các em cảm thấy rất an toàn và thoải mái khi được bên cạnh người
thân của mình, điều này được thể hiện có đến 49% các em lựa chọn “hoàn toàn đồng
ý” với nhân định này và đây cũng là biểu hiện có ĐTB cao nhất (ĐTB: 4,22). Những
người thân là những người các em có thể tin tưởng và giúp đỡ các em trong quá trình
vượt qua những khó khăn trong học tập và cuộc sống. Chính vì vậy mà khi các em có
được sự thoải mái và an toàn bên người thân, cuộc sống xa nhà của các em sẽ dễ dàng
hơn rất nhiều.
Chính vì có cảm giác an toàn và thoải mái như vậy nên như phân tích ở trên phần
trăm “hoàn toàn đồng ý” về biểu hiện “những người thân đem lại nguồn năng lượng
tích cực giúp bạn vượt qua khó khăn trong cuộc sống” cũng rất cao (44,3%), ĐTB
cũng ở mức tốt (ĐTB: 4,16). Khi gặp khó khăn các em thường hướng về nơi an toàn
và may mắn đó chính là người thân của các em.
Có một điều đáng lưu ý về việc các em yêu thương và quan tâm người thân của
mình đó là biểu hiện“bạn hay ép buộc người thân làm theo ý mình vì muốn tốt cho
họ”. Tuy nhận định này có ĐTB vẫn ở mức tốt (ĐTB: 3,65) nhưng ĐTB này là thấp
nhất trong nhóm, một số các em vẫn có suy nghĩ muốn tốt cho người thân thông qua
việc ép buộc họ là một điều có thể chấp nhận được.
Cuối cùng, về biểu hiện “Những người thân của bạn hay chủ động hẹn gặp
bạn” có ĐTB thấp nhất trong nhóm câu khảo sát về sự thiết lập mối quan hệ của sinh
viên sử dụng ĐTTM (ĐTB: 3,51). Điều này cũng đúng với thực tế và bài nghiên cứu
này vì ngoài cách gặp mặt trực tiếp, các em có rất nhiều cách để kết nối với nhau, kết
nối với gia đình thông qua chính ĐTTM và những ứng dụng của nó. Chính vì vậy mà
việc gặp mặt không có sự lựa chọn duy nhất.
Tóm lại, kết quả số liệu của nhóm câu khảo sát về thiết lập mối quan hệ thân
thiết có sự lựa chọn “hoàn toàn đồng ý” với những biểu hiện tích cực rất cao, ĐTB
cũng nghiêng về mức tốt. Đây là một dấu hiệu đáng mừng với người nghiên cứu vì
với văn hóa phương Đông, các mối quan hệ gần gũi, thân thiết đặc biệt là gia đình
luôn là điều rất thiêng liêng, cần sự vun đắp, trân trọng.
Bảng 2.15. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân theo
trường và giới tính
49
Trường Giới tính
Biểu hiện Nam Nữ ĐHSP TPHCM ĐHBK TPHCM ĐH HUTECH
Biểu hiện tích cực Kiểm nghiệm ANOVA Kiểm nghiệm T- test
ĐTB 4,24 4,14 4,27 4,11 4,32
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,713 df=208 Sig = 0,117
Bạn cảm thấy an thoải toàn, mái khi bên cạnh những người thân của mình.
ĐTB 4,11 4,01 4,34 4,12 4,19
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,117 df=208 Sig = 0,617
Những người thân lại đem nguồn năng tích lượng giúp cực vượt bạn qua khó khăn trong cuộc sống.
ĐTB 3,57 3,54 3,43 3,46 3,57
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,691 df=208 Sig=0,426
Những người thân của bạn hay động chủ hẹn gặp bạn.
ĐTB 4,16 4,00 4,31 4,10 4,22
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,134 df=208 Sig= 0,325
Bạn tôn trọng thời riêng gian của người thân.
ĐTB 3,93 4,03 4,10 4,04 4,00
50
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,496 df=208 Sig= 0,749
Bạn cảm nhận được người thân tôn trọng mình.
ĐTB 3.93 3,91 3,84 3,92 3,87
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,835 df=208 Sig= 0,647
Người thân có cảm giác vui vẻ, thư khi giản chia được sẻ và bên cạnh bạn.
cạnh ĐTB 4,06 3,89 4,00 3,97 3,99
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,517 df=208 Sig= 0,878
Bên những người thân bạn cảm nhận được giá trị của bản thân.
Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)
ĐTB 3,70 3,30 3,96 3,65 3,66
df = 2
Kiểm nghiệm df=208 Sig= 0,951 Sig=0.05
Bạn hay ép buộc người làm thân theo ý mình vì muốn tốt cho họ.
Nhận xét:
Số liệu trên cho thấy nhìn chung về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ
gần gũi – người thân của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường và giới tính là
đồng đều nhau và có những điều cần lưu ý sau:
Theo trường học: đối với biểu hiện được lựa chọn hướng về hoàn toàn đồng ý
cao nhất của sinh viên các trường là “Bạn cảm thấy an toàn, thoải mái khi bên cạnh
những người thân của mình” (ĐHSP:4,24; ĐHBK: 4,14; ĐHCN:4,27). Kết quả cho
51
thấy sinh viên ĐHCN có ĐTB hướng về mức hoàn toàn đồng ý cao nhất. Tuy nhiên
qua kiểm nghiệm cho thấy khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Các nhóm sinh
viên cho rằng cảm thấy rất thoải mái khi được ở bên cạnh người thân, bạn bè.
Theo giới tính: tương tự như với các trường sinh viên nam và nữ đều có quan
hệ với người thân tốt, khá tương đồng với nhau trong các biểu hiện. Sự lựa chọn của
cả nam và nữ sinh viên đều hướng về hoàn toàn đồng ý với những biểu hiện tích cực
và hoàn toàn không đồng ý với những biểu hiện tiêu cực về thiết lập và duy trì mối
quan hệ thân thuộc.
d. Về nhận thức xã hội của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.
Bảng 2.16. Về nhận thức xã hội
Stt Biểu hiện ĐTB ĐLC XH
Biểu hiện tích cực
1 3,72 0.079 4
2 4,05 0,908 2
3 1,111 1 4,10
4 1,115 8 3,01
5 4,01 0,938 3 Bạn cảm thấy thoải mái, phấn chấn khi được tham gia vào các hoạt động cộng đồng, xã hội. Xã hội là một tập đoàn người bao gồm những cá nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng. Bạn cảm thấy bất bình về những thiếu công bằng trong xã hội: bạo hành, bắt nạt tập thể, phân biệt chủng tộc. Bạn là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng đồng. Bạn có mong muốn đóng góp cho xã hội.
Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)
6 3,58 1,114 6
7 3,59 1,023 5
8 3,43 1,016 7 Bạn không tham gia các hoạt động cộng đồng, xã hội. Suy nghĩ của bạn là suy nghĩ của cả xã hội. Bạn cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi tham gia vào các hoạt động xã hội.
ĐTB chung: 3,68
52
Nhận xét:
Từ kết quả nghiên cứu trên, có thể kết luận về nhận thức về cộng đồng, xã hội
của sinh viên sử dụng ĐTTM đạt mức tốt với ĐTB chung là 3,68. Đa số các em có ý
thức tham gia, đóng góp vào cộng đồng, xã hội cụ thể như sau:
Các em có sự quan tâm đặc biệt với các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội.
Có đến 43,8% “hoàn toàn đồng ý” với biểu hiện “bạn cảm thấy bất bình về những
thiếu công bằng trong xã hội: bạo hành, bắt nạt tập thể, phân biệt chủng tộc”, đây là
phần trăm rất cao và biểu hiện này cũng có ĐTB chung cao nhất trong nhóm (ĐTB:
4,1)
Bên cạnh đó, các em có nhận thức đúng về sự tôn trọng từng người trong xã hội, tôn
trọng sự khác biệt, điểm trung bình của biểu hiện “xã hội là một tập đoàn người bao
gồm những cá nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng” là 4,05.
Tuy các em có nhận thức và suy nghĩ tốt về những vấn đề của xã hội nhưng việc
các em tham gia vào các nhóm, cộng đồng, xã hội còn chưa được tốt.. Một bộ phận
các em còn “cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi tham gia vào các hoạt động xã hội”
(ĐTB:3,43). Các em chưa tham gia nhiều vào các hoạt động trong cộng động, xã hội,
ĐTB của biểu hiện “ bạn là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng đồng” là thấp
nhất trong nhóm (ĐTB: 3,01), với 30,5% các em không nằm trong tổ chức, cộng
đồng. Điều này có thể lý giải, các em nhìn nhận nhiệm vụ chính của mình là học tập,
chính vì vậy việc tham gia vào các hoạt động xã hội chưa thật sự cần thiết.
Tóm lại, dù các em tham gia chưa nhiều vào các hoạt động cộng đồng và xã
hội nhưng nhận thức về xã hội của các em tương đối tốt. Cần có nhiều hoạt động,
phong trào, sự kiện để kết nối, kết hơp để các em có thể vừa hoàn thành việc học tập
và hòa đồng vào xã hộ
53
Bảng 2.17. Về nhận thức xã hội của sinh viên sử dụng ĐTTM theo trường và
theo giới tính
54
Giới tính
Biểu hiện Nam Nữ ĐHSP TPHCM Trường ĐHBK TPHCM ĐH HUTECH
Biểu hiện tích cực Kiểm nghiệm ANOVA Kiểm nghiệm T- test
3,56 3,67 3,75 3,69 3,93 ĐTB
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,54 df=208 Sig= 0,623
4,16 ĐTB 3,77 4,23 4,00 4,10
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,12 df=208 Sig= 0,405
ĐTB 3,83 3,16 4,30 3,95 4,24
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,036 df=208 Sig= 0,062
ĐTB 3,07 3,21 2,74 2,99 3,03
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,037 df=208 Sig= 0,805
ĐTB 4,10 3,94 3,99 3,93 4,09
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,594 df=208 Sig= 0,240
Bạn cảm thấy thoải mái, phấn chấn khi tham được gia vào các động hoạt đồng, cộng xã hội. Xã hội là một đoàn tập người bao gồm những cá nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng. Bạn cảm thấy bất bình về thiếu những công bằng trong xã hội: bạo hành, bắt nạt tập thể, phân biệt chủng tộc. Bạn là thành viên của các chức, tổ nhóm vì cộng đồng. Bạn có mong muốn đóng góp cho xã hội. Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)
55
ĐTB 3,63 3,73 3,73 3,59 3,56
df = 2 0,853 Sig=0,147 Kiểm nghiệm
ĐTB 3,69 3,40 3,69 3,42 3,76
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,162 df=208 Sig= 0,015
ĐTB 3,56 3,47 3,27 3,50 3,37
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,233 df=208 Sig= 0,378
Bạn không tham gia các động hoạt cộng đồng, xã hội. Suy nghĩ của bạn là suy nghĩ của cả xã hội. Bạn cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi tham gia vào các hoạt động xã hội.
Nhận xét:
Thực trạng nhận thức xã hội của sinh viên sử dụng ĐTTM ở ba trường và theo
giới tính có tương đồng và có điểm khác biệt, cụ thể như sau:
Theo trường: nhìn chung về nhận thức xã hội sinh viên các trường tương đối
tốt, các câu trả lời đa số hướng về đồng ý với biểu hiện tích cực, không đồng ý với
biểu hiện tiêu cực. Tuy nhiên, có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê trong biểu hiện
“bạn cảm thấy bất bình về những thiếu công bằng trong xã hội: bạo hành, bắt nạt
tập thể, phân biệt chủng tộc” giữa ba trường (p=0,036). Trong ba trường ĐTB cao
nhất thuộc về trường ĐHCN (ĐHSP: 3,83; ĐHBK: 3,16; ĐHCN: 4,30); có thể nói
sinh viên ĐHCN rất bất bình với những vấn đề nóng, tiêu cực trong xã hội. Tuy nhiên
với sự khác biệt trong biểu hiện “bạn là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng
đồng” (p=0,037); ĐTB của trường ĐHCN lại thấp nhất (ĐHSP: 3,07; ĐHBK: 3,21;
ĐHCN: 2,74) điều này có nghĩa tuy sinh viên ĐHCN quan tâm với những vấn đề
nhưng lại chưa tích cực tham gia các nhóm vì cộng đồng và xã hội. Ngoài những
điểm khác biệt nêu trên, các biểu hiện còn lại về nhận thức xã hội đều tương đồng
giữa ba trường.
Theo giới tính: sinh viên nam và nữ đều có những lựa chọn phù hợp với những
biểu hiện về nhận thức xã hội. Với ĐTB cao nhất, biểu hiện “xã hội là một tập đoàn
56
người bao gồm những cá nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng” có sự lựa chọn
hướng về mức hoàn toàn đồng ý cao. (ĐTB nam: 4,00 và nữ: 4,01). Biểu hiện “bạn
là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng đồng” có ĐTB thấp nhất ở cả hai giới
tính (ĐTB nam: 2,99 và nữ: 3,03).
Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ ở biểu hiện “suy nghĩ
của bạn là suy nghĩ của xã hội” (p=0,015), trong đó nam đồng ý với biểu hiện không
hợp lý này nhiều hơn nữ giới (ĐTB nam: 3,42 và nữ: 3,76). Lý giải cho điều này,
theo quan sát chủ quan của người nghiên cứu nữ giới có sự giao lưu suy nghĩ, cảm
xúc trong nhóm, cộng đồng, xã hội nhiều hơn chính vì vậy ở nữ giới có cái nhìn mở
hơn về sự đa dạng trong suy nghĩ của cộng đồng.
Tóm lại, nhận thức xã hội của ba trường và hai giới đều ở mức tốt tuy có điểm khác
biệt nhưng nhìn chung là tương đối đồng đều.
Thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.
Bảng 2.18. Thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM
Stt Nhân tố ĐTB ĐLC
Về tự nhận thức bản thân. 3,51 0,5139 1
Về hoàn thành nhiêm vụ học 3,35 0,6052 2 tập
Về việc thiết lập và duy trì các
mối quan hệ gần gũi – người 3,94 0,6049 3
thân.
4 Về nhận thức xã hội. 3,68 0,5293
Sức khỏe tâm thần 3,62 0,4279
Nhận xét:
Trong những nhân tố hình thành nên SKTT, nhân tố về “việc thiết lập và duy
trì các mối quan hệ gần gũi” đạt ĐTB cao nhất (ĐTB: 3,94) tức là hướng về mức
đồng ý với những biểu hiện tích cực và không đồng ý với những biểu hiện tiêu cực,
điều này cho thấy các em rất quan tâm đến việc duy trì, xây dựng các mối quan hệ và
đang làm tốt điều đó.
57
Về “Nhận thức xã hội” của sinh viên sử dụng ĐTTM tương đối tốt (ĐTB: 3,68),
các em bất bình với những bất công trong xã hội, quan tâm đến sự phát triển cộng
đồng tuy nhiên chưa thật sự tham gia vào các tổ chức, hoạt động một các hết mình,
nhiệt tình.
Về “tự nhận thức bản thân” các em có khả năng nhìn nhận đúng sai, điểm mạnh
điểm yếu của bản thân, chính nhờ điều đó các em có được sự tự tin, sự “hài lòng với
giá trị bản thân”. ĐTB của biểu hiện này là 3,51 đạt mức tốt.
Nhân tố “hoàn thành nhiệm vụ học tập” có ĐTB thấp nhất trong nhóm đạt ở mức
trung bình (ĐTB:3,35). Như đã nói ở trên, các em có tư duy và nỗ lực trong học tập
tuy nhiên chưa có sự đào sâu nghiên cứu cũng như mức hài lòng cao nên kết quả
ĐTB
4 3.9 3.8 3.7 3.6 3.5 3.4 3.3 3.2 3.1 3
Nhận thức xã hội
Tự nhận thức bản thân
Hoàn thành nhiệm vụ học tập
Thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi
mang lại chưa theo đúng mong muốn của các em.
Biểu đồ 2.2. Nhân tố về sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng
điện thoại thông minh
Trong những nhân tố về SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM, theo biểu đồ 2.2,
nhân tố thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi được sinh viên tự đánh giá là cao
nhất. Tuy đa phần các em xa nhà nhưng việc các em vẫn có thể duy trì mối quan hệ
tốt với người thân, xây dựng các mối quan hệ mới tốt đẹp là điều rất đáng quý. Cũng
nằm ở mức “tốt” nhưng có ĐTB thấp nhất trong những nhân tố về SKTT của sinh
viên sử dụng ĐTTM đó là nhân tố hoàn thành nhiệm vụ học tập, việc các em chưa
thực sự hài lòng nhất đó chính là kết quả học tập của mình.
58
Tóm lại, theo sự khảo sát và số liệu thu thập được có thể kết luận được SKTT
của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TP.HCM đang đạt ở mức khỏe mạnh với
ĐTB: 3,62. Đây là một tín hiệu đáng mừng SKTT khỏe mạnh các em sẽ thuận lợi
trong việc hoàn thành các hoạt động sống ở lứa tuổi thanh niên của mình.
Bảng 2.19. Thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường và
theo giới tính
Giới tính
Nam Nữ Biểu hiện ĐHSP TPHCM Trường ĐHBK TPHCM ĐH HUTECH
Kiểm nghiệm ANOVA Kiểm nghiệm T-test
3,5400 3,5114 3,5333 3,4829
3,4729 df = 2
df=208 Sig= 0,478
Sig=0,742 3,4071 3,2929 3,3625 3,3893 3,3190 hoàn ĐTB Kiểm nghiệm ĐTB
0,533 0,402 Kiểm nghiệm
ĐTB 3,9625 3,8536 4,0321 3,9214 3,9774
df = 2
Sig=0,213 Kiểm nghiệm df=208 Sig= 0,504
Về tự nhận thức bản thân. Về thành nhiệm vụ học tập Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân.
3,7446 3,6504 3,6417 3,7298
3,6554 df = 2 Về nhận thức xã hội df=208 Sig= 0,229
3,6350 3,6408 3,6214 3,6273
SKTT Sig=0,524 3,5972 df = 2
Sig=0,806 ĐTB Kiểm nghiệm ĐTB Kiểm nghiệm df=208 Sig= 0,921
Nhận xét:
59
Thông qua bảng số liệu trên, chúng tôi kết luận các nhân tố và SKTT của sinh
viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TPHCM đồng đều giữa các trường và hai giới,
không có sự khác biệt.
Về ĐTB của các nhân tố:
Nhân tố 1: Về tự nhận thức bản thân, trường ĐHSP có sự nhận thức về bản thân
tốt hơn hơn so với hai trường còn lại (ĐTB của ĐHSP: 3,5400; ĐHBK: 3,4729;
ĐHCN: 3,5114) và nam sinh viên có ĐTB cao hơn nữ sinh viên (ĐTB nam: 3,5333
và nữ: 3,4829).
Nhân tố 2: Về hoàn thành nhiệm vụ học tập, ĐTB cao nhất thuộc về trường
ĐHBK (ĐTB của ĐHSP: 3,2929; ĐHBK: 3,4071; ĐHCN: 3,3625). So sánh giữa hai
giới thì nam sinh viên có khả năng hoàn công việc học tập cao hơn nữ sinh viên (ĐTB
nam: 3,3893 và nữ: 3,3190).
Nhân tố 3: Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân,
trường ĐHCN có mối quan hệ gần gũi nhất với người thân, bạn bè hơn so với hai
trường còn lại (ĐTB của ĐHSP: 3,9625; ĐHBK: 3,8536; ĐHCN: 4,0321). Nữ giới
cao hơn nam giới viên (ĐTB nam: 3,9214 và nữ: 3,9774).
Nhân tố 4: Về nhận thức xã hội, trường ĐHSP có nhận thức về xã hội tốt hơn
ĐHBK và ĐHCN (ĐTB của ĐHSP: 3,7446; ĐHBK: 3,6554; ĐHCN: 3,6504). Và nữ
giới cũng tốt hơn nam giới (ĐTB nam: 3,6417 và nữ: 3,7298).
Kết quả về sự so sánh trung bình giữa các trường và giới tính tuy không lớn nhưng
có tương đồng với sự quan sát chủ quan của tác giả. Thứ 1, về nhận thức bản thân
sinh viên ĐHSP là những giáo viên tương lai nên việc hình ảnh bản thân là rất quan
trọng cho việc làm gương và giáo dục học sinh, sinh viên sau này. Tiếp theo, về hoàn
thành nhiệm vụ học tập, ĐHBK là một trong những trường đại học top đầu nên việc
học tập tốt nhất là điều dễ hiểu. Cuối cùng, về hai nhân tố giữ gìn các mối quan hệ
gần gũi và nhận thức xã hội ở nữ tốt hơn nam giới nguyên nhân thông thường nữ giới
có cách đón nhận và thể hiện cảm xúc cũng như nhu cầu gắn kết cao hơn nam giới.
Cuối cùng, về SKTT, ĐTB cao nhất ứng với SKTT tốt nhất là trường ĐHSP,
sau đó là ĐHCN và cuối cùng là ĐHBK (ĐTB của ĐHSP: 3,6350; ĐHBK: 3,5972;
ĐHCN: 3,6408), nữ giới cũng khỏe mạnh hơn nam giới về SKKT (ĐTB nam: 3,6214
60
và nữ: 3,6273). Tuy nhiên sự khác biệt, cao thấp giữa các trường và đặc biệt là giới
không đáng kể và chưa mang ý nghĩa thống kê.
Tương quan giữa các nhân tố của sức khỏe tâm thần
Từ các phân tích trên ta thấy được SKTT và 4 nhân tố SKTT của sinh viên sử
dựng ĐTTM đều ở mức tốt, đây là điều đáng mừng. Phân tích sâu hơn về các nhân
tố liệu có sự tương quan giữa các nhân tố cấu thành ĐTTM hay không và tương quan
này là thuận hay nghịch, số liệu sau đây sẽ trả lời được câu hỏi đó.
Bảng 2.20. Tương quan giữa các nhân tố của SKTT
Tương quan Pearson Nhận thức xã hội Tự nhận thức bản thân Hoàn thành nhiệm vụ học tập Thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi
1 0,541** 0,457** 0,478** r
nhận bản
0,000 0,000 0,000 Tự thức thân. Kiểm nghiệm
0,541** 1 0,296** 0,408** r
0,000 0,000 0,000 Hoàn thành nhiệm vụ học tập. Kiểm nghiệm
0,457** 0,296** 1 0,393** r
0,000 0,000 0,000 Kiểm nghiệm Thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi.
r 0,478** 0,408** 0,393** 1
Nhận thức xã hội. 0,000 0,000 0,000 Kiểm nghiệm
Nhận xét:
61
Với kết quả hệ số tương quan, ta thấy tất cả các nhân tố của SKTT đều có mối
liên hệ với nhau khá rõ ràng. Tuy nhiên, hệ số tương quan giữa các cặp nhân tố có sự
chênh lệch nhau chút ít, cụ thể như sau:
Về cặp nhân tố “tự nhận thức bản thân” và “hoàn thành nhiệm vụ học tập” có
tương quan chặt chẽ nhất trong các cặp nhân tố và tương quan thuận ở mức trung
bình (r=0,541) tức là khi sinh viên sử dụng ĐTTM nhận thức được bản thân ở mức
tốt đồng nghĩa với việc hoàn thành nhiệm vụ học tập tốt và ngược lại. Điều này có
thể hiểu được vì khi các em cả nhận được bản thân tốt các em có thể biết được những
điều bản thân mong muốn, biết định hướng, đặt mục tiêu để thực hiện điều đó và học
tập là một trong những điều góp phần nên thành công.
Ngoài cặp nhân tố “ hoàn thành nhiệm vụ học tập” và “tự nhận thức bản thân”
như ở trên đã phân tích thì việc “nhận thức xã hộii” tốt cũng giúp các em có thể hoàn
thành nhiệm vụ học tập tốt hơn và ngược lại (r=0,408) vì khi nhận thức xã hội tốt các
em có thêm nhiều nguồn thông tin đúng đắn, các em hiểu được xã hội điều đó thúc
đẩy các em hoàn thiện tri thức để có thể hòa mình vào xã hội. Ngược lại có kiến thức
tốt các em có thể giúp ích cho xã hội được nhiều hơn.
Cặp biểu hiện về “hoàn thành nhiệm vụ học tập” và “thiết lập và duy trì các mối
quan hệ” tuy có tương quan nhưng rất yếu (r=0,296).
Về cặp nhân tố “thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi” và “nhận thức xã
hội” có tương quan (r=0,393) nghĩa là khi các em xây dựng và duy trì được các mối
quan hệ gần gũi thì nhận thức xã hội của các em cũng tăng lên và ngược lại. Các mối
quan hệ gần gũi là tiền đề để các em có thể hòa mình vào cộng đồng, xã hội và khi
được tham gia vào cộng đồng, xã hội tốt đẹp các em có thêm niềm tin để tăng thêm
kết nối được với các mối quan hệ xung quanh mình.
Tương tự giữa các cặp nhân tố “tự nhận thức bản thân” và “thiết lập và duy trì
các mối quan hệ gần gũi” (r=0.,457); “tự nhận thức bản thân” và “nhận thức xã hội”
(r=0,478) cũng có tương quan thuận ở mức trung bình.
Tóm lại, các nhân tố cấu thành nên SKTT có mối tương quan thuận với nhau
tuy ở mức trung bình-yếu nhưng cũng thể hiện được mối liên hệ giữa chúng. Giữa
62
các nhân tố thì hoàn thành nhiệm vụ học tập và tự nhận thức bản thân có tương quan
mạnh nhất với nhau.
2.3.3. Thực trạng phụ thuộc vào điện thoại thông minh của sinh viên sử dụng
điện thoại thông minh
Bảng 2.21. Thực trạng phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên sử dụng ĐTTM
63
Mức độ biểu hiện (%) Stt Biểu hiện ĐTB ĐLC XH RTX TX TT HK KBG
1 8,1 13,3 24,3 35,2 19,0 3,44 1,177 9
Bạn không hoàn thành công việc vì mất thời gian sử dụng ĐTTM.
2 5,7 17,1 20,5 35,2 21,4 3,50 1,171 7
Bạn khó tập trung trong lớp vì sử dụng ĐTTM.
3 3,8 17,6 23,8 35,2 19,5 3,49 1,108 8
Bạn đau lưng hoặc đau cố vì sử dụng ĐTTM.
4 8,1 18,1 18,6 38,6 16,7 3,38 1,193 11
thể Bạn không ngủ được vì dùng ĐTTM.
5 5,2 8,6 22,9 32,9 30,5 3,75 1,136 4
Bạn không có khả năng làm bất kỳ việc gì nếu thiếu ĐTTM.
6 6,2 5,2 19,5 34,3 34,8 3,86 1,139 3
ăn Bạn không uống đúng giờ vì sử dụng ĐTTM.
7 9,5 22,4 36,2 17,1 14,8 3,05 1,171 14
Bạn chỉ cảm thấy bình thản, dễ chịu khi dùng ĐTTM.
8 4,8 14,8 34,8 24,3 21,4 3,43 1,123 10
Bạn chỉ cảm thấy tự tin khi dùng ĐTTM.
Mức độ biểu hiện (%) Stt Biểu hiện ĐTB ĐLC XH RTX TX TT HK KBG
9 3,3 4,8 25,2 32,9 33,8 3,89 1,036 2 Không có gì thú vị hơn ĐTTM.
64
5,2 17,1 21,4 31,9 24,3 3,53 1,183 6 10
Bạn luôn suy nghĩ về ĐTTM khi không giữ bên mình.
8,1 21,0 23,3 23,8 23,8 3,34 1,270 13 11
Bạn suy nghĩ: sẽ không bao giờ từ bỏ ĐTTM của mình.
9,0 12,9 11,0 33,3 33,8 3,70 1,302 5 12
Bạn mang ĐTTM vào nhà vệ sinh ngay cả khi đang vội.
14,8 29,0 19,0 22,9 14,3 2,93 1,298 15 13 Bạn đặt ĐTTM bên cạnh khi ngủ.
6,7 18,6 27,6 27,6 19,5 3,35 1,181 12 14
người Những xung quanh bạn nói rằng bạn dùng ĐTTM nhiều.
6,2 7,6 20,5 36,7 29,0 3,75 1,140 4 15
Bạn thích dùng ĐTTM hơn nói chuyện với người xung quanh.
13,8 36,2 22,9 20,0 7,1 2,70 1,149 16 16
Bạn dùng ĐTTM ngay sau khi thức dậy.
4,3 7,6 14,8 30,5 42,9 4,00 1,128 1 17
thấy cảm Bạn ĐTTM hiểu mình hơn bạn bè thật bên ngoài
ĐTB chung: 3,475
Nhận xét:
Thông qua khảo sát của nghiên cứu, sinh viên sử dụng ĐTTM hiện nay ở mức
ít phụ thuộc vào ĐTTM với ĐTB chung 3,475. Nghĩa là các em sử dụng ĐTTM
thường xuyên nhưng chưa đến mức lạm dụng. Tuy nhiên ĐTB này không nằm ở
65
mức cao, gần với giá trị phụ thuộc. Bên cạnh những biểu hiện có phần trăm lựa chọn
hiếm khi cao cũng có những biểu hiện có phần trăm của lựa chọn thường xuyên cho
những biểu hiện phụ thuộc cao cụ thể:
Biểu hiện “bạn cảm thấy ĐTTM hiểu mình hơn bạn bè thật bên ngoài” có đến
42,9% sinh viên nghiên về đáp án không bao giờ, nghĩa là tuy các em sử dụng ĐTTM
thường xuyên tuy nhiên ĐTTM không thể thay thế các mối quan hệ xung quanh các
em, các em vẫn hiểu ĐTTM vẫn chỉ là một công cụ để các em có thể thực hiện các
mục đích mà các em mong muốn. Biểu hiện này có ĐTB cao nhất (ĐTB: 4,00)
Biểu hiện “không có gì thú vị hơn ĐTTM” với 33,8% lựa chọn không bao giờ.
Tương tự như trên, các em tuy sử dụng ĐTTM với tần suất cao nhưng các em không
chỉ xem ĐTTM là thú vui duy nhất và “không có gì thú vị hơn ĐTTM” ĐTB của biểu
hiện này cao thứ 2 (ĐTB: 3,89).
Với 34,3% lựa chọn hiếm khi và 34,8% lựa chọn không bao giờ, biểu hiện “bạn
không ăn uống đúng giờ vì sử dụng ĐTTM” không nhận được nhiều sự đồng ý, có
nghĩa là việc sử dụng ĐTTM không có ảnh hưởng nhiều đến việc sinh hoạt của các
em. ĐTB: 3,86 cũng thể hiện điều đó.
Những biểu hiện thể hiện có sự phụ thuộc của các em vào ĐTTM:
Biểu hiện “chỉ cảm thấy bình thản, dễ chịu khi sử dụng ĐTTM” có 36,5 % các
em lựa chọn đôi khi và 22,4% đồng ý nghĩa là, tuy không nhiều những cũng có các
em có chỉ có cảm giác dễ chịu khi sử dụng ĐTTM mà thôi, nghĩa là các em cần ĐTTM
. Với ĐTTB 3,05 ở biểu hiện này, các em có dấu hiệu bị ĐTTM chi phối cảm xúc.
Hai biểu hiện có ĐTB thấp nhất “bạn đặt ĐTTM bên cạnh khi ngủ” (ĐTB: 2,93) và
“bạn dùng ĐTTM ngay sau khi thức dậy”(ĐTB: 2,70) đúng với thực tế quan sát cũng
như trải nghiệm của người nghiên cứu. Hai biểu hiện này có mối liên quan với nhau.
Các em dùng ĐTTM trước khi đi ngủ và ngủ dậy kiểm tra ĐTTM đã trở thành thói
quen của các em. Và mức độ phụ thuộc thể hiện rõ, đặc biệt là biểu hiện dùng ĐTTM
vào lúc thức dậy (36% đồng ý) có ĐTB thấp nhất và gần với mức phụ thuộc nhiều.
Tóm lại, dựa vào số liệu trên cho thấy sinh viên sử dụng ĐTTM ít phụ thuộc
vào ĐTTM (ĐTB: 3,475), tuy các em có những biểu hiện có ĐTB thấp về cảm xúc
nhưng những biểu hiện thể hiện về sự thay đổi về sinh hoạt thường ngày với ĐTB
66
cao. Các em tuy có xu hướng phụ thuộc vào ĐTTM về cảm xúc nhưng chưa ảnh
hưởng nhiều đến các hoạt động sống của các em.
Bảng 2.22. Thực trạng phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên sử dụng ĐTTM theo
trường và theo giới tính
Giới tính
Nam Nữ Biểu hiện ĐHSP TPHCM Trường ĐHBK TPHCM ĐH HUTECH
Kiểm nghiệm ANOVA Kiểm nghiệm T- tesr
ĐTB 3,47 3,33 3,51 3.43 3.45
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,622 df=208 Sig=0,907
ĐTB 3,70 3,14 3,64 3.35 3.64
df = 2
df=208 Sig=0,077 Kiểm nghiệm Sig=0,008
ĐTB 3,63 3,41 3,43 3.41 3.57
df = 2
Sig=0,443 df=208 Sig= 0,091 Kiểm nghiệm
ĐTB 3,43 3,29 3,41 3.28 3.48
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,739 df=208 Sig= 0,225
ĐTB 3,90 3,57 3,83 3.87 3.63
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,101 df=208 Sig= 0,129
Bạn không hoàn thành công việc vì mất thời sử gian dụng ĐTTM. khó Bạn trung tập trong lớp vì sử dụng ĐTTM. Bạn đau lưng hoặc đau cố vì sử dụng ĐTTM. Bạn không ngủ thể vì được dùng ĐTTM. Bạn không khả có năng làm bất kỳ việc gì nếu thiếu ĐTTM.
ĐTB 4,01 3,66 3,91 3.78 3.94
67
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,183 df=208 Sig= 0,304
ĐTB 3,09 2,91 3,16 2.91 3.19
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,453 df=208 Sig= 0,087
ĐTB 3,54 3,34 3,40 3.41 3.45
df = 2 df=208 Sig= 0,806 Kiểm nghiệm Sig=0,557
ĐTB 3,94 3,77 3,96 3.82 3.96
df = 2 Sig= df=208 Sig= 0,319 Kiểm nghiệm
ĐTB 3,70 3,46 3,43 3.51 3.54
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,330 df=208 Sig= 0,862
ĐTB 3,43 3,33 3,27 3.39 3.30
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,762 df=208 Sig= 0,588
ĐTB 3,74 3,61 3,71 3.37 4.03
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,772 df=208 Sig= 0,000
Bạn không ăn uống đúng giờ vì sử dụng ĐTTM. chỉ Bạn cảm thấy bình thản, dễ chịu khi dùng ĐTTM. chỉ Bạn cảm thấy tự tin khi dùng ĐTTM. Không có thú vị gì hơn ĐTTM. luôn Bạn suy nghĩ về ĐTTM khi không giữ bên mình. suy Bạn nghĩ: sẽ không bao giờ từ bỏ ĐTTM của mình. Bạn mang ĐTTM vào nhà vệ sinh ngay cả khi đang vội.
ĐTB 3,50 3,94 2,84 2.78 3.08
68
đặt
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,770 df=208 Sig= 0,099
ĐTB 3,40 3,33 3,31 3.31 3.38
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,900 df=208 Sig= 0,684
thích ĐTB 3,81 3,69 3,74 3.68 3.82
Kiểm nghiệm df = 2 Sig= df=208 Sig= 0,365
ĐTB 2,73 2,79 2,60 2.69 2.72
df = 2
sau thức Kiểm nghiệm Sig=0,621 df=208 Sig= 0,811
cảm ĐTB 4,10 3,87 4,03 3.91 4.09
df = 2
Kiểm nghiệm Sig=0,474 df=208 Sig= 0,272
3,3756 3,4824 3,5445
Bạn ĐTTM bên cạnh khi ngủ. Những người xung quanh bạn rằng nói bạn dùng ĐTTM nhiều. Bạn dùng ĐTTM hơn nói chuyện với người xung quanh. Bạn dùng ĐTTM ngay khi dậy. Bạn thấy ĐTTM hiểu mình hơn bạn bè thật bên ngoài. ĐTB chung Kiểm nghiệm
3,5681 df = 2 Sig=0,248 3,4062 df=208 Sig= 0,148
Nhận xét:
Theo như kết quả thống kê ở trên, hiện nay sinh viên của ba trường, nam và
nữ sinh viên đa phần lựa chọn hiếm khi cho những biểu hiện về sự phụ thuộc vào
69
ĐTTM, các sự lựa chọn trên là tương đối đồng đều, chỉ có một số điểm khác biệt. Cụ
thể như sau.
Theo trường: ĐHSP có ĐTB cao nhất nghĩa là sinh viên ĐHSP ít phụ thuộc nhất
vào ĐTTM, sau đó đến ĐHCN và cuối cùng là ĐHBK (ĐTB chung của ĐHSP:
3,5681; ĐHBK: 3,3756; ĐHCN: 3,4824). Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý
nghĩa thống kê.
Các biểu hiện kiểm tra sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên ba trường sự lựa
chọn tương đối đồng đều với nhau, chỉ biểu hiện “bạn khó tập trung trong lớp vì sử
dụng ĐTTM” là có sự khác biệt (p=0,008), sinh viên ĐHBK khó tập trung trong lớp
vì sử dụng ĐTTM nhiều nhất trong ba trường (ĐTB của ĐHSP: 3,70; ĐHBK: 3,14;
ĐHCN: 3,64).
Theo giới tính: xét về sự phụ thuộc vào ĐTTM của nam và nữ theo kết quả thống
kê ta thấy ĐTB của nữ cao hơn nam giới nghĩa là nữ ít phụ thuộc vào DDTTM hơn
nam (ĐTB nam: 3,4062 và nữ: 3,5445) nhưng sự khác biệt này cũng không mang ý
nghĩa thống kê.
Biểu hiện “bạn mang ĐTTM vào nhà vệ sinh ngay cả khi đang vội” có sự khác
biệt mang ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ sinh viên (p=0,00). Nhu cầu của nữ sử
dụng ĐTTM ngay cả lúc vội vào nhà vệ sinh nhiều hơn nam (ĐTB nam: 3,37 và nữ:
4,03). Ngoài biểu hiện trên, các biểu hiện khác đều tương đồng giữa nam và nữ sinh
viên.
2.3.4. Tương quan giữa sự sức khỏe tâm thần và sự phụ thuộc của sinh viên
sử dụng điện thoại thông minh trên địa bàn Hồ Chí Minh vào điện thoại thông
minh
Dựa vào những số liệu và phân tích ở trên ta có thể kết luận SKTT của sinh
viên sử dụng ĐTTM đang ở mức tốt và sinh viên ít phụ thuộc vào ĐTTM nhưng liệu
có sự tương quan giữa sự phụ thuộc vào ĐTTM và SKTT cũng như các nhân tố cấu
thành nên SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TPHCM hay không.
70
Bảng 2.23. Tương quan giữa sự SKTT và sự phụ thuộc của sinh viên sử dụng
ĐTTM trên địa bàn HCM vào ĐTTM
Thiết Hoàn lập và Tự nhận thành Nhận duy trì thức bản nhiệm thức xã SKTT các mối thân. vụ học hội quan hệ tập. gần gũi
r 0,250** 0,338** 0,163* 0,344** 0,361** Sự phụ
thuộc vào Kiểm 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000
ĐTTM nghiệm
Nhận xét:
Từ số liệu trên ta có thể biểu hiện giữa SKKT và sự phụ thuộc vào ĐTTM của
sinh viên có tương quan với nhau.
Nhân tố “hoàn thành nhiệm vụ học tập” có tương quan với “sự phụ thuộc vào
ĐTTM” (r=0,338) tuy ở mức trung bình yếu nhưng cũng thể hiện được “sự phụ thuộc
vào ĐTTM” có gây ảnh hưởng đến việc học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM và
ngược lại các em chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập có xu hướng sử dụng ĐTTM
nhiều hơn.
“Nhận thức xã hội” và “sự phụ thuộc vào ĐTTM” cũng có tương quan ở mức
trung bình, nghĩa là khi các em có nhu cầu cao trong việc sử dụng ĐTTM đồng nghĩa
với việc các em không có nhiều hào hứng trong các hoạt động cộng đồng, xã hội.
Theo biểu hiện chủ quan của người nghiên cứu, khi các em sử dụng nhiều ĐTTM,
các em nghĩ rằng tham gia vào các nhóm, cộng đồng “ảo” là đủ việc đó cản trở các
em đến với cộng đồng “thực tế”
Hai nhân tố “tự nhận thức bản thân” và “thiết lập và duy trì các mối quan hệ
gần gũi” dường như có tương quan rất yếu và không có tương quan với “sự phụ thuộc
vào ĐTTM”
Cuối cùng SKTT và sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên trên địa bàn
TPHCM có tương quan với nhau. Nghĩa là SKTT càng tốt thì các em càng ít phụ
71
thuộc vào ĐTTM; càng phụ thuộc vào ĐTTM, SKTT của sinh viên càng kém và
ngược lại. Tuy hệ số tương quan ở mức trung bình yếu (0,361) nhưng vẫn thể hiện
được tác động qua lại giữa chúng. Điều này mang ý nghĩa có sự kiến nghị của nghiên
cứu.
2.3.5. Phòng ngừa và hỗ trợ sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh, cân bằng việc
sử dụng điện thoại thông minh cho sinh viên sử dụng điện thoại thông
minh
Nhằm giúp sinh viên có thể có được sự hài lòng về bản thân và việc học tập
của mình, duy trì được tốt những mối quan hệ của mình đồng thời tham gia tích cực
vào công tác xã hội. Nghiên cứu đưa ra những đề xuất giúp phòng ngừa và hỗ trợ
SKTT không khỏe mạnh cho sinh viên sử dụng ĐTTM với tần suất cao và có sự ảnh
hưởng đến đời sống thể chất và tinh thần cũng như giúp sinh viên sử dụng ĐTTM ở
mức bình thường phòng tránh những tác động tiêu cực của ĐTTM.
Tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM.
Tránh việc vì sử dụng ĐTTM khiến quỹ thời gian của sinh viên trở nên eo
hẹp, không còn có thể thực hiện được các công việc khác trong cuộc sống, ảnh hưởng
đến sức khỏe thì việc xây dựng lịch là rất cần thiết.
Mở rộng không gian giao lưu.
Với các mối quan hệ gần gũi, việc giao lưu trực tiếp là rất quan trọng, khiến
tình cảm thêm vun đắp, có thể hiểu nhau hơn và trao đến nhau cảm xúc chân thực
hơn.
Nâng cao lòng tự trọng thông qua những giá trị đích thực.
Nắm rõ được những giá trị nào là giá trị đúng đắn, cần thiết, không chạy theo
những giá trị tầm thường, chạy theo giá trị của người khác mà quên đi bản thân mình.
Tìm kiếm những phương thức thư giản thay thế cho ĐTTM.
Giảm sự “phụ thuộc” của bản thân vào ĐTTM thông qua những hoạt động
thư giản khác như đọc sách, gặp gỡ người thân bạn bè, tham gia hoạt động tình
nguyện, đi chùa, nhà thờ…
Tổ chức lại giờ giấc sinh hoạt.
72
Đảm bảo thời gian nghỉ ngơi, học tâp, tham gia các hoạt động xã hội một
cách cân bằng, không để ĐTTM cản trở hoặc xáo trộn thời gian biểu.
Tìm kiếm những động lực tích cực.
Tìm đến với bản thân những mối quan hệ gần gũi nhất mang đến cho mình
năng lượng, sự tích cực và những lời khuyên đúng đắn. Tránh hoặc loại bỏ những
nguồn năng lượng tiêu cực đến với bản thân mình.
Bảng 2.24. Biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM của sinh viên sử dụng ĐTTM
Mức độ biểu hiện (%) Stt Biện pháp ĐTB ĐLC XH KTD TDI CTD TDN
Tự xây dựng lịch sử 26,7 20,5 38,6 14,3 2,40 1,032 6 1 dụng ĐTTM
Mở rộng không gian 3,8 12,4 42,4 41,4 3,21 0,805 1 2 giao lưu.
Tìm kiếm những
3 phương thức thư giản 5,2 11,0 42,9 41,0 3,20 0,833 2
thay thế cho ĐTTM.
Nâng cao lòng tự trọng
thông qua những giá trị 8,6 22,4 40,5 28,6 2,89 0,919 5 4 đích thực bên ngoài,
không dựa vào ĐTTM.
Tổ chức lại giờ giấc
5 sinh hoạt, thời gian biểu 8,6 15,7 40,5 35,2 3,02 0,925 4
của mình.
Tìm kiếm những động 6 7,6 11,4 39,0 41,9 3,15 0,905 3 lực tích cực.
ĐTB chung: 2,981
Nhận xét:
Các biện pháp của người nghiên cứu đưa ra với sự đánh giá của sinh viên sử
dụng ĐTTM đạt ĐTB chung: 2,981 tức là có tác dụng cân bằng việc sử dụng ĐTTM.
Có thể sử dụng các biện pháp này.
73
Biện pháp: “mở rộng không gian giao lưu” được sinh viên đánh giá là có tác
dụng nhiều nhất trong nhóm (ĐTB:3,21), đây cũng đúng với chủ đích của người
nghiên cứu vì theo chủ quan của người nghiên cứu không gian sinh hoạt, giao lưu của
các em có tác động, ảnh hưởng lớn đến hành động của các em.
Tương tự, biện pháp: “tìm kiếm những phương thức thư giản thay thế cho ĐTTM”
(ĐTB:3,20) cũng được các em đánh giá cao. Phương pháp này không những có tác
dụng cân bằng việc sử dụng ĐTTM mà còn giúp các em tìm ra những niềm vui mới,
mở rộng phạm vi giao lưu, tăng thêm bạn bè…
Tuy nhiên biện pháp “tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM” theo đánh giá của sinh
viên sử dụng ĐTTM ở mức tác dụng ít (ĐTB:2,40) sẽ được xem xét có hay không
đưa vào kiến nghị của nghiên cứu này.
Bảng 2.25. Sự đồng thuận về biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM của sinh
viên sử dụng ĐTTM theo trường và theo giới tính
Trường Giới tính
ĐHSP ĐHBK ĐH Nam Nữ Biểu hiện TPHCM TPHCM HUTECH
Kiểm nghiệm T- Kiểm nghiệm ANOVA Test
Tự xây ĐTB 2.41 2.46 2.34 2.24 2.57
dựng lịch Kiểm df = 2 df=208 sử dụng nghiệm Sig=0,805 Sig= 0,019 ĐTTM
ĐTB 3.19 3.20 3.26 3.15 3.28 Mở rộng
không gian Kiểm df = 2 df=208
giao lưu. nghiệm Sig=0,858 Sig= 0,266
Tìm kiếm ĐTB 3.21 3.13 3.24 3.20 3.19
những Kiểm df = 2 df=208 phương nghiệm Sig=0,702 Sig= 0,934 thức thư
74
giản thay
thế cho
ĐTTM.
Nâng cao ĐTB 2.90 2.87 2.90 2.93 2.85
lòng tự
trọng thông
qua những
giá trị đích Kiểm df = 2 df=208
thực bên nghiệm Sig=0,978 Sig= 0,500
ngoài,
không dựa
vào ĐTTM.
Tổ chức lại ĐTB 2.99 2.97 3.11 2.92 3.12
giờ giấc
sinh hoạt, Kiểm df = 2 df=208 thời gian nghiệm Sig=0,605 Sig= 0,117 biểu của
mình.
ĐTB 3.03 3.27 3.16 3.07 3.24 Tìm kiếm
những động df = 2 df=208 Kiểm
lực tích cực. Sig=0,284 Sig= 0,170 nghiệm
2,9595 2,9833 3,0024 2,9190 3,0444 ĐTB chung
df = 2 df=208 Kiểm nghiệm Sig=0,901 Sig= 0,119
Nhận xét:
Tác động của các biện pháp người nghiên cứu đưa ra nhằm cân bằng việc sử
dụng ĐTTM của sinh viên trên địa bàn TPHCM được sự đồng ý khá cao, đồng đều
giữa ba trường và hai giới. Cụ thể:
Theo trường: ĐHCN đồng ý với những biện pháp cao nhất so với ba trường (ĐTB
chung của ĐHSP: 2,9595; ĐHBK: 2,9833; ĐHCN: 3,0024). Hai biện pháp đánh giá
75
thấp nhất là “tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM” (ĐTB của ĐHSP: 2.41; ĐHBK: 2.46;
ĐHCN: 2.34), và biện pháp” nâng cao lòng tự trọng thông qua những giá trị đích
thực bên ngoài, không dựa vào ĐTTM” (ĐTB của ĐHSP: 2.90; ĐHBK: 2.87; ĐHCN:
2.90).
Theo giới tính: Tuy không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê nhưng dựa vào
ĐTB chung ta thấy nữ sinh viên có sự đồng thuận cao hơn nam sinh viên về các biện
pháp trên (ĐTB nam: 2,9190 và nữ: 3,0444).
Tóm lại: nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm cân bằng việc sử dụng tránh ảnh
hưởng đến SKKT của sinh viên sử dụng ĐTTM là:
Tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM.
Tránh việc vì sử dụng ĐTTM khiến quỹ thời gian của sinh viên trở nên eo
hẹp, không còn có thể thực hiện được các công việc khác trong cuộc sống, ảnh hưởng
đến sức khỏe thì việc xây dựng lịch là rất cần thiết
Mở rộng không gian giao lưu.
Với các mối quan hệ gần gũi, việc giao lưu trực tiếp là rất quan trọng, khiến
tình cảm thêm vun đắp, có thể hiểu nhau hơn và trao đến nhau cảm xúc chân thực
hơn.
Nâng cao lòng tự trọng thông qua những giá trị đích thực.
Nắm rõ được những giá trị nào là giá trị đúng đắn, cần thiết, không chạy theo
những giá trị tầm thường, chạy theo giá trị của người khác mà quên đi bản thân mình.
Tìm kiếm những phương thức thư giản thay thế cho ĐTTM.
Giảm sự “phụ thuộc” của bản thân vào ĐTTM thông qua những hoạt động
thư giản khác như đọc sách, gặp gỡ người thân bạn bè, tham gia hoạt động tình
nguyện, đi chùa, nhà thờ…
Tổ chức lại giờ giấc sinh hoạt.
Đảm bảo thời gian nghỉ ngơi, học tâp, tham gia các hoạt động xã hội một
cách cân bằng, không để ĐTTM cản trở hoặc xáo trộn thời gian biểu.
Tìm kiếm những động lực tích cực.
76
Tìm đến với bản thân những mối quan hệ gần gũi nhất mang đến cho mình
năng lượng, sự tích cực và những lời khuyên đúng đắn. Tránh hoặc loại bỏ những
nguồn năng lượng tiêu cực đến với bản thân mình.
Ngoài ra mở rộng đề xuất một số biện pháp khác nhằm giảm sự phụ thuộc vào
ĐTTM như:
- Nâng cao giá trị gia đình trong cuộc sống của sinh viên, đặc biệt khi đa phần
sinh viên hiện nay đang xa nhà, cha mẹ nên tăng cường kỹ năng giáo dục con cái giúp
con cái có đời sống tinh thần tích cực bằng cách tham gia vào các khóa huấn luyện
kỹ năng giáo dục, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tiếp nhận thông
tin.
- Nhận biết những dấu hiệu sớm của việc phụ thuộc vào ĐTTM, tổ chức các
buổi tham vấn nhằm can thiệp khi sinh viên đã có biểu hiện của sự phụ thuộc bằng
nhiều phương pháp tham vấn – trị liệu đặc biệt là phương pháp nhận thức – hành vi
nhằm giúp sinh viên tự nhận thức vấn đề, có nguồn lực để thay đổi tích cực. Tuy
nhiên mục đích chính là tập trung nâng cao lòng tự trọng của sinh viên từ đó giảm
thiệu sự phụ thuộc vào ĐTTM. (Lê Minh Công, 2016)
77
Tiểu kết chương 2
Nghiên cứu về SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn HCM, kết
quả phân tích số liệu thống kê ở chương 2 cho biết:
Hiện nay đa số sinh viên đang sử dụng ĐTTM một cách thường xuyên, điều
này cho thấy việc sử dụng ĐTTM đang trở thành một nhu cầu lớn, một điều thiết yếu
trong cuộc sống của sinh viên, chiếm nhiều thời gian của các sinh hoạt bình thường
khác như học tập, giải trí và sinh hoạt.
Mục đích sử dụng ĐTTM chính của sinh viên là giải trí, học tập và giao tiếp.
Theo sự khảo sát và số liệu thu thập được có thể kết luận được SKTT của sinh
viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TP.HCM đang đạt ở mức khỏe mạnh. Đồng thời
các nhân tố cấu thành nên SKTT có mối tương quan thuận với nhau ở mức trung
bình-yếu. Giữa các trường và giới tính của sinh viên tuy một vào biểu hiện có sự khác
biệt nhưng đa phần là đồng đều nhau.
Sinh viên sử dụng ĐTTM ít phụ thuộc vào ĐTTM, tuy các em có những biểu
hiện có ĐTB thấp về cảm xúc nhưng những biểu hiện thể hiện về sự thay đổi về sinh
hoạt thường ngày với ĐTB cao. Các em tuy có xu hướng phụ thuộc vào ĐTTM về
cảm xúc nhưng chưa ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động sống của các em.
Đặc biệt SKTT và sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên trên địa bàn TPHCM
có tương quan với nhau ở mức trung bình-yếu.
Các biện pháp của người nghiên cứu đưa ra với sự đánh giá của sinh viên sử
dụng ĐTTM có sự đồng thuận tương đối cao từ sinh viên, tức là có tác dụng cân bằng
việc sử dụng ĐTTM. Có thể sử dụng các biện pháp này.
78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Về lý luận
Khái niệm sức khỏe tâm thần là “tình trạng tâm lí của cá nhân biểu hiện ở khả
năng tự nhận thức, hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, thiết lập các mối quan hệ gần
gũi và hòa nhập với xã hội”. Bao gồm 4 nhân tố.
Khả năng tự nhận thức về bản thân.
Là sự hài lòng về bản thân, chấp nhận bản thân với những gì bản thân vốn như
vậy. Có suy nghĩ tích cực cả hiện tại và quá khứ của cá nhân ấy. Không những vậy
cá nhân còn có niềm tin vào những giá trị của mình. Tin tưởng bản thân có thể hoàn
thành được những nhiệm vụ trong cuộc sống.
Hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân.
Nhiệm vụ của cá nhân là khả năng hoàn thành tốt công việc của mình, đó là khi
gặp những thách thức và khó khăn trong cuộc sống con người có được ý chí mạnh
mẽ, không bỏ cuộc, cố gắng hết sức mình để hoàn thành công việc một cách tốt nhất
có thể. Không những vậy, chấp nhận những khó khăn, vất vả gặp phải trong cuộc
sống như một điều tất yếu sẽ giúp bản thân có thể đứng vững chắc trên đôi chân của
mình, nâng cao được trình độ, chuyên môn, khả năng của mình, luôn tìm kiếm những
giá trị, những trải nghiệm mới góp phần làm cuộc sống thêm mới mẻ và đa dạng.
Thiết lập các mối quan hệ gần gũi.
Những mối quan hệ gần gũi chính là những mối quan hệ có tác động, ảnh hưởng
đến bản thân mỗi người. Đó có thể là mối quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hoặc
tình yêu. Với SKTT khỏe mạnh con người có khả năng gần gũi, giao lưu, hòa hợp
với các mối quan hệ quan trọng của mình. Không có nghĩa là bản thân luôn cảm thấy
vui vẻ, thoải mái nhưng phần lớn thời gian sẽ bản thân và đối tác luôn trong trạng thái
tích cực, dù có những giận hờn hay giận giữ thì cách giải quyết vấn đề luôn trên tinh
thần tôn trọng lẫn nhau, luôn dành cho nhau sự tự do trong mọi quyết định và thời
gian cũng như không gian riêng.
Hòa nhập với xã hội.
79
Sự nhìn nhận và đánh giá của bản thân về xã hội trên các phương diện: sự gắn
kết xã hội, là khả năng tạo ra những giá trị cho xã hội mình đang sinh sống; chấp nhận
xã hội, là sự cảm thông với những khó khăn trong xã hội; tiềm năng xã hội, là niềm
tin vào những khả năng của xã hội, cộng đồng có thể được phát triển lớn mạnh; đóng
góp xã hội, là sự tự nguyện đóng góp những giá trị vật chất và tinh thần vào xã hội;
hòa hợp xã hội, là sự thuộc về một cộng đồng, tập thể và xã hội.
Về thực tiễn
Thứ 1: về thực trạng sử dụng ĐTTM của sinh viên trên địa bàn TPHCM.
Hiện nay đa số sinh viên đang sử dụng ĐTTM một cách thường xuyên, điều này
cho thấy việc sử dụng ĐTTM đang trở thành một nhu cầu lớn, một điều thiết yếu
trong cuộc sống của sinh viên, chiếm nhiều thời gian của các sinh hoạt bình thường
khác như học tập, giải trí và sinh hoạt. Mục đích sử dụng ĐTTM chính của sinh viên
là giải trí, học tập và giao tiếp.
Thứ 2: về thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn
TPHCM.
Theo sự khảo sát và số liệu thu thập được có thể kết luận được SKTT của sinh
viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TP.HCM đang đạt ở mức khỏe mạnh, cả 4 nhân tố:
“tự nhận thức bản thân”,“hoàn thành nhiệm vụ học tập”,“việc thiết lập và duy trì
các mối quan hệ gần gũi” và “nhận thức xã hội” đều đạt mức tốt. Đồng thời các nhân
tố cấu thành nên SKTT có mối tương quan thuận với nhau ở mức trung bình-yếu.
Giữa các trường và giới tính của sinh viên tuy một vào biểu hiện có sự khác biệt
nhưng đa phần là đồng đều nhau.
Thứ 3: về sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên hiện nay.
Sinh viên sử dụng ĐTTM ít phụ thuộc vào ĐTTM, tuy các em có những biểu
hiện có ĐTB thấp về cảm xúc nhưng những biểu hiện thể hiện về sự thay đổi về sinh
hoạt thường ngày với ĐTB cao. Các em tuy có xu hướng phụ thuộc vào ĐTTM về
cảm xúc nhưng chưa ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động sống của các em.
SKTT và sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên trên địa bàn TPHCM có tương
quan với nhau. Nghĩa là SKTT càng tốt thì các em càng ít phụ thuộc vào ĐTTM; càng
80
phụ thuộc vào ĐTTM, SKTT của sinh viên càng kém và ngược lại. Tuy hệ số tương
quan ở mức trung bình yếu nhưng vẫn thể hiện được tác động qua lại giữa chúng.
3.2. Kiến nghị
Về phía sinh viên.
- Áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa và hỗ trợ sức khỏe tâm thần không
khỏe mạnh, cân bằng việc sử dụng điện thoại thông minh cho sinh viên sử dụng điện
thoại thông minh một cách hợp lý hơn của người nghiên cứu đưa ra với sự đóng góp
và tham khảo ý kiến của chuyên gia.
- Mở rộng không gian giao lưu, với các mối quan hệ gần gũi, việc giao lưu trực
tiếp là rất quan trọng, khiến tình cảm thêm vun đắp, có thể hiểu nhau hơn và trao đến
nhau cảm xúc chân thực hơn.
- Nâng cao lòng tự trọng thông qua những giá trị đích thực, nắm rõ được những
giá trị nào là giá trị đúng đắn, cần thiết, không chạy theo những giá trị tầm thường,
chạy theo giá trị của người khác mà quên đi bản thân mình bằng cách tham gia vào
các câu lạc bộ kỹ năng sống trong trường, đọc sách kỹ năng hoặc tài liệu phát tay
chính thống.
- Tìm kiếm những phương thức thư giản thay thế cho ĐTTM, giảm sự “phụ
thuộc” của bản thân vào ĐTTM thông qua những hoạt động thư giản khác như đọc
sách, gặp gỡ người thân bạn bè, tham gia hoạt động tình nguyện, đi chùa, nhà thờ…
- Tổ chức lại giờ giấc sinh hoạt, đảm bảo thời gian nghỉ ngơi, học tâp, tham gia
các hoạt động xã hội một cách cân bằng, không để ĐTTM cản trở hoặc xáo trộn thời
gian biểu.
- Tìm kiếm những động lực tích cực, tìm đến với bản thân những mối quan hệ
gần gũi nhất mang đến cho mình năng lượng, sự tích cực và những lời khuyên đúng
đắn. Tránh hoặc loại bỏ những nguồn năng lượng tiêu cực đến với bản thân mình.
Ngoài ra mở rộng đề xuất một số biện pháp khác nhằm giảm sự phụ thuộc vào
ĐTTM như: (thêm tài liệu tham khảo)
- Nâng cao giá trị gia đình trong cuộc sống của sinh viên, đặc biệt khi đa phần
sinh viên hiện nay đang xa nhà, cha mẹ nên tăng cường kỹ năng giáo dục con cái giúp
con cái có đời sống tinh thần tích cực bằng cách tham gia vào các khóa huấn luyện
81
kỹ năng giáo dục, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tiếp nhận thông
tin.
- Nhận biết những dấu hiệu sớm của việc phụ thuộc vào ĐTTM, tổ chức các
buổi tham vấn nhằm can thiệp khi sinh viên đã có biểu hiện của sự phụ thuộc bằng
nhiều phương pháp tham vấn – trị liệu đặc biệt là phương pháp nhận thức – hành vi
nhằm giúp sinh viên tự nhận thức vấn đề, có nguồn lực để thay đổi tích cực. Tuy
nhiên mục đích chính là tập trung nâng cao lòng tự trọng của sinh viên từ đó giảm
thiệu sự phụ thuộc vào ĐTTM.
Tóm lại sinh viên hiện nay nên tránh việc lạm dụng sử dụng ĐTTM khiến quỹ
thời gian của sinh viên trở nên eo hẹp, không còn có thể thực hiện được các công việc
khác trong cuộc sống, ảnh hưởng đến sức khỏe thì việc xây dựng sử dụng lịch ĐTTM
là rất cần thiết,
Về các đề tài nghiên cứu sau.
- Có thể áp dụng các biện pháp đã đề xuất nhằm nâng cao SKTT cho sinh viên sử
dụng ĐTTM trên địa bàn TPHCM.
- Có thể tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn về sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh
viên từ đó tìm ra mức độ ảnh hưởng và tìm ra nhiều phương pháp giúp giảm bớt sự
phụ thuộc đó.
- Có thể nghiên cứu sâu hơn nguyên nhân, sự liên hệ, tương quan, ảnh hưởng
giữa SKTT và ĐTTM bằng phương pháp thực nghiệm nhằm tăng độ chính xác và
cấp thiết hơn về đề tài.
82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
APA. (2012). Change your mind about mental health, from
https://www.apa.org/helpcenter/change.aspx
Adriana Bianchi, James G Phillips. (2005). Psychological predictors of problem
mobile phone use, CyberPsychology & Behavior.
Bùi Thị Ngọc Hân. (2013). Nhận thức và thái độ về các mạng xã hội của học sinh
hệ trung cấp chuyên nghiệp trường trung cấp Đông Dương tại thành phố Hồ Chí
Minh. Luận văn thạc sĩ tâm lí học. Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh.
Jamie Chamberlin. (1/2015). At National Press Club event, psychologists call for
more resources for mental health care. Magazine Article.
Hyun-Seok Choi, Hyun-Kyung Lee, Jeong-Cheol Ha. (2012).The influence of
smartphone addiction on mental health, campus life and personal relations-Focusing
on K university students. Journal of the Korean Data and Information Science Society,
23 (5), 1005-1015.
Alexander JAM van Deursen, Colin L Bolle, Sabrina M Hegner, Piet AM
Kommers (2015). Modeling habitual and addictive smartphone behavior The role of
smartphone usage types, emotional intelligence, social stress, self-regulation, age,
and gender. Computers in Human Behavior, 45, 411-420.
Đào Văn Dũng, Đỗ Văn Dung (đồng chủ biên). (2013). Y học xã hội và xã hội
học sức khoẻ. Nxb chính trị quốc gia.
Đặng Bá Lãm – Weiss Bahr. (2007). Giáo dục, tâm lí và sức khoẻ tâm thần trẻ
em Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành. Nxb Đại học Quốc gia.
Đặng Văn Luận. (2018). Tác động của công nghệ hiện đại đến lối sống gia đình
Việt Nam. Khoa học Xã hội Việt Nam, (9), 30.
Nabil Hassan El Ghoroury. (9/2015). Self-care for the scientist. Magazine
Article.
Hồ Văn Dũng, Phùng Đình Mẫn, Zhang Wei, Li Hui Ling, Li Ni Ni. (2012). Phát
triển thang đo khuynh hướng nghiện Internet cho thanh niên Việt Nam. Tạp chí Tâm
lý học, (6), 72-81.
83
Huỳnh Văn Sơn. (2014). Thực trạng việc sử dụng Facebook của thanh thiếu niên
15-18 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học, (63), 46.
Keyes, Corey Lee M. 1998. Social well-being. Social psychology quarterly.121-140.
Kyung-Hye Hwang, Yang-sook Yoo, Ok-Hee Cho. (2012). Smartphone overuse
and upper extremity pain, anxiety, depression, and interpersonal relationships
among college students. The Journal of the Korea Contents Association, 12 (10), 365-
375.
Min Kwon, Joon-Yeop Lee, Wang-Youn Won, Jae-Woo Park, Jung-Ah Min,
Changtae Hahn, et al. (2013). Development and validation of a smartphone addiction
scale (SAS)". PloS one, 8 (2), e56936.
Yu-Kang Lee, Chun-Tuan Chang, You Lin, Zhao-Hong Cheng. (2014). The dark
side of smartphone usage: Psychological traits, compulsive behavior and
technostress. Computers in Human Behavior, 31, 373-383.
Lê Minh Công. (2012). Ứng dụng liệu pháp hành vi điều trị năm trường hợp
nghiện Internet. Tạp chí Tâm lý học, (9), 70-82.
Lê Minh Công. (2016). Nghiện Internet và tự đánh giá bản thân của học sinh
THCS. Luận án Tiến sĩ Tâm lý học chuyên ngành. Học viên Hàn lâm Khoa học Xã
hội. Học viện Khoa học Xã hội.
Mary Bronson Merki, Don Merki. (1996). Glencoe Health: a guide to wellness.
5th edition, New York: Glencoe.
Ngô Thị Mỹ Duyên. 2013. Nhận thức và thái độ đối với rối loạn SKTT của sinh
viên đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ tâm lí học, Trường
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh.
Nguyễn Minh Hải. 2009. Nghiên cứu một số chỉ số sức khoẻ tâm thần trong hoạt
động bay của phi công quân sự. Luận văn Tiến sĩ y học. Chuyên ngành Tâm thần
học. Học viện quân y. Hà Nội.
Nguyễn Sinh Phúc. 2013. Dự thảo giáo trình đại cương chăm sóc sức khoẻ tâm
thần. Nxb Lao động – Xã hội.
84
Nguyễn Thị Hà, Trịnh Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Thị Diễm Sương (2016) Ảnh
hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến kết quả học tập của sinh viên. Hội
thảo khoa học sinh viên lần thứ IX, đại học Văn Hiến Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Huyền. 2012. Thực trạng hiện tượng stress trong đời sống của sinh
viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Tp. HCM.
Luận văn thạc sĩ tâm lí học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Hồ
Chí Minh.
Nguyễn Thị Thanh Hương. 2014. Mối quan hệ giữa công tác xã hội và chăm sóc
SKTT, trải nghiệm của thực tập sinh công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ cho trẻ
rối nhiễu tâm trí: gợi ý khung kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực đào tạo, chăm sóc
sức khoẻ tâm thần học đường. Kỷ yếu hội thảo tâm lí học đường lần IV. Nxb ĐH
quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Thị Tứ (chủ biên), Lý Minh Tiên, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh
Chương. 2012. Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm. Nxb Đại học
Sư phạm TPHCM.
Antti Oulasvirta, Tye Rattenbury, Lingyi Ma, Eeva Raita. 2012. Habits make
smartphone use more pervasive. Personal and Ubiquitous Computing, 16 (1), 105-
114.
Phạm Minh Hạc. 2008. Sức khoẻ tinh thần. Tạp chí Tâm lý học. Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam.
Phạm Thị Kim Thoa. 2013. Tự ý thức của sinh viên một số trường đại học thành
phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ tâm lí học. Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh.
Azkario Rizky Pratama, Risanuri Hidayat. 2012. Smartphone-based pedestrian
dead reckoning as an indoor positioning system. System Engineering and
Technology (ICSET), 2012 International Conference on. IEEE.
Lauren L Saling, M Haire. 2016. Are you awake? Mobile phone use after lights out.
Computers in Human Behavior, 64, 932-937.
85
Motoharu Takao, Susumu Takahashi, Masayoshi Kitamura .2009. Addictive
personality and problematic mobile phone use. CyberPsychology & Behavior, 12 (5),
501-507.
Sara Thomée, Annika Härenstam, Mats Hagberg. 2011. Mobile phone use and
stress, sleep disturbances, and symptoms of depression among young adults-a
prospective cohort study. BMC public health, 11 (1), 66.
Trần Minh Trí, Đỗ Minh Hoàng. 2013. Thực trạng sử dụng Internet và những tác
động của Internet đến sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
Trần Thị Lệ Thu (chủ biên). 2014. Sức khỏe tâm thần trong trường học. Kỉ yếu
hội thảo khoa học toàn quốc. Nxb đại học quốc gia Tp.HCM, 40.
Vũ Dũng (Chủ biên). 2008. Từ điển tâm lí học. Nxb Từ điển Bách Khoa.
WHO. 2003. Investing in mental health. World health organization.
Wikipedia. Sinh viên. (2011). Nhận từ
https://vi.wikipedia.org/wiki/Sinh_vi%C3%.
Wikipedia. Điện thoại thông minh. (2014) from
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90i%E1%BB%87n_tho%E1%BA%A1i_th%C3
%
P1
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến.
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Tâm lý học
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN
Thân chào bạn.
Chúng tôi hiện đang tiến hành thực hiện một nghiên cứu liên quan đến vấn đề
sinh viên sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) trên địa bàn TPHCM. Để thực
hiện được đề tài này, chúng tôi rất cần những chia sẻ của các bạn. Chúng tôi xin cam
đoan mọi thông tin bạn cung cấp đều được bảo mật và chỉ phục vụ cho mục đích
nghiên cứu. Rất mong nhận được sự hợp tác, giúp đỡ của bạn bằng cách trả lời tất cả
câu hỏi trong phiếu khảo sát này.
Xin chân thành cảm ơn!
A. Thông tin cá nhân
Xin bạn vui lòng cho biết vài điều về bản thân.
Trường của bạn? Đại học Sư phạm TPHCM
Đại học Bách Khoa TPHCM
Giới tính của bạn? Nam Nữ
Bạn có đang sử dụng Điện thoại thông minh (Smartphone) hay không?
Có.
Không.
P2
Phần 1. Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) của sinh viên.
Đánh dấu vào ô bạn cho là đúng với bản thân, có thể có nhiều sự lựa chọn.
1. Bạn sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) như thế nào.
Đang sử dụng thường xuyên.
Sử dụng khi cần thiết.
Sử dụng nhưng không thích.
Sử dụng sau một thời gian ngừng.
2. Thời gian sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) tối đa trong một ngày.
Có thể không sử dụng.
1 đến 3 tiếng.
4 đến 6 tiếng.
Sử dụng liên tục.
3. Bạn có thường xuyên sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) ở trường
không?
Luôn luôn.
Thường xuyên.
Đôi khi.
Hiếm khi
Không bao giờ.
4. Bạn thường sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) chủ yếu vào mục
đích gì?
Học tập.
Giải trí.
Thể hiện bản thân.
Giao tiếp.
Ý kiến khác ( nêu rõ mục đích sử dụng)………………………………………….
P3
Phần 2:
Câu 1. Sau đây là những câu hỏi về tình hình chung của bạn, vui lòng khoanh tròn
vào một con số ở từng dòng thể hiện câu trả lời của bạn theo quy ước sau:
Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Phân vân Đồng ý Hoàn toàn đồng ý
1 2 3 4 5
A. Về tự nhận thức bản thân.
STT Biểu hiện Mức độ
1 Bạn hài lòng với những gía trị của bản thân. 1 2 3 4 5
2 Bạn hiểu được năng lực của bản thân. 1 2 3 4 5
3 Bạn chán ghét bản thân mình. 1 2 3 4 5
4 Bạn biết những thiếu sót của bản thân mình. 1 2 3 4 5
Bạn hay cảm thấy thua kém so với chính bạn 5 1 2 3 4 5 trước đây.
6 Bạn biết mình đang có những cảm xúc gì. 1 2 3 4 5
7 Bạn hay làm quá lên cảm xúc của mình. 1 2 3 4 5
Khi có cảm xúc mạnh bạn thường để cảm xúc 8 1 2 3 4 5 lắng lại rồi giải quyết vấn đề.
Bạn có những hành động bộc phát khiến mình 9 1 2 3 4 5 phải hối hận.
10 Bạn suy nghĩ trước khi hành động. 1 2 3 4 5
P4
Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Phân vân Đồng ý Hoàn toàn đồng ý
1 2 3 4 5
B. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập.
STT Biểu hiện Mức độ
Bạn có khả năng tập trung trong suốt thời gian 1 1 2 3 4 5 học.
Bạn hay hoàn thành bài tập của môn học trễ tiến 2 1 2 3 4 5 độ.
3 Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong học tập. 1 2 3 4 5
Tìm kiếm những thử thách để chinh phục trong 4 1 2 3 4 5 học tập là sở thích của bạn.
Thời gian gần đây kết quả học tập của bạn không 5 1 2 3 4 5 đạt như trước.
6 Việc thảo luận trong giờ học của bạn gần đây tốt. 1 2 3 4 5
Chất lượng các sản phẩm học tập (tiểu luận, bài
7 tập, nghiên cứu…) gần đây của bạn được đánh 1 2 3 4 5
giá cao.
8 Bạn hài lòng với việc học tập của mình. 1 2 3 4 5
P5
Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Phân vân Đồng ý Hoàn toàn đồng ý
1 2 3 4 5
C. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao
gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp)
STT Biểu hiện Mức độ
Bạn cảm thấy an toàn, thoải mái khi bên cạnh 1 1 2 3 4 5 những người thân của mình.
Những người thân đem lại nguồn năng lượng tích 2 1 2 3 4 5 cực giúp bạn vượt qua khó khăn trong cuộc sống.
Những người thân của bạn hay chủ động hẹn gặp 3 1 2 3 4 5 bạn.
4 Bạn tôn trọng thời gian riêng của người thân. 1 2 3 4 5
Bạn hay ép buộc người thân làm theo ý mình vì 5 1 2 3 4 5 muốn tốt cho họ.
6 Bạn cảm nhận được người thân tôn trọng mình. 1 2 3 4 5
Người thân có cảm giác vui vẻ, thư giản khi được 7 1 2 3 4 5 chia sẻ và bên cạnh bạn.
Bên cạnh những người thân bạn cảm nhận được giá 8 1 2 3 4 5 trị của bản thân.
P6
Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Phân vân Đồng ý Hoàn toàn đồng ý
1 2 3 4 5
D. Về nhận thức xã hội.
STT Biểu hiện Mức độ
Bạn cảm thấy thoải mái, phấn chấn khi được tham 1 2 3 4 5 1 gia vào các hoạt động cộng đồng, xã hội.
Bạn không tham gia các hoạt động cộng đồng, xã 1 2 3 4 5 2 hội.
Xã hội là một tập đoàn người bao gồm những cá 1 2 3 4 5 3 nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng.
Suy nghĩ của bạn là suy nghĩ của cả xã hội. 1 2 3 4 5 4
Bạn cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi tham gia vào các 1 2 3 4 5 5 hoạt động xã hội.
Bạn thấy bất bình về những thiếu công bằng trong
6 xã hội: bạo hành, bắt nạt tập thể, phân biệt chủng 1 2 3 4 5
tộc.
Bạn là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng 1 2 3 4 5 7 đồng.
Bạn có mong muốn đóng góp cho xã hội. 1 2 3 4 5 8
P7
Câu 2. Bạn hãy cho biết những biểu hiện dưới đây về sử dụng điện thoại thông minh
(ĐTTM - Smartphone) có đúng với bạn hay không? Bạn vui lòng khoanh tròn vào
một con số ở từng dòng thể hiện câu trả lời của bạn theo quy ước sau: (Min Kwon,
et al. 2013).
Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi
Không bao giờ
1 2 3 4 5
STT Biểu hiện Mức độ
Bạn không hoàn thành công việc vì mất thời gian 1 1 2 3 4 5 sử dụng ĐTTM.
2 Bạn khó tập trung trong lớp vì sử dụng ĐTTM. 1 2 3 4 5
3 Bạn đau lưng hoặc đau cố vì sử dụng ĐTTM. 1 2 3 4 5
4 Bạn không thể ngủ được vì dùng ĐTTM. 1 2 3 4 5
Bạn không có khả năng làm bất kỳ việc gì nếu 5 1 2 3 4 5 thiếu ĐTTM.
6 Bạn không ăn uống đúng giờ vì sử dụng ĐTTM. 1 2 3 4 5
Bạn chỉ cảm thấy bình thản, dễ chịu khi dùng 7 1 2 3 4 5 ĐTTM.
8 Bạn chỉ cảm thấy tự tin khi dùng ĐTTM. 1 2 3 4 5
9 Không có gì thú vị hơn ĐTTM. 1 2 3 4 5
Bạn luôn suy nghĩ về ĐTTM khi không giữ bên 10 1 2 3 4 5 mình.
Bạn suy nghĩ: sẽ không bao giờ từ bỏ ĐTTM của 11 1 2 3 4 5 mình.
Bạn mang ĐTTM vào nhà vệ sinh ngay cả khi 12 1 2 3 4 5 đang vội.
1 2 3 4 5 13 Bạn đặt ĐTTM bên cạnh khi ngủ.
P8
Những người xung quanh bạn nói rằng bạn dùng 14 1 2 3 4 5 ĐTTM nhiều.
Bạn thích dùng ĐTTM hơn nói chuyện với người 15 1 2 3 4 5 xung quanh.
16 Bạn dùng ĐTTM ngay sau khi thức dậy. 1 2 3 4 5
Bạn cảm thấy ĐTTM hiểu mình hơn bạn bè thật 17 1 2 3 4 5 bên ngoài.
Câu 3. Chọn những biện pháp phù hợp với bạn. (Vui lòng đánh dấu vào ô bạn cho
là đúng.)
Không Tác Tác Có tác STT Biện pháp Mức độ có tác dụng dụng dụng dụng ít nhiều
1 Tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM
2 Mở rộng không gian giao lưu.
Tìm kiếm những phương thức thư giản 3 thay thế cho ĐTTM.
Nâng cao lòng tự trọng thông qua
4 những giá trị đích thực bên ngoài,
không dựa vào ĐTTM.
Tổ chức lại giờ giấc sinh hoạt, thời gian 5 biểu của mình.
Tìm kiếm những động lực tích cực. 6
Xin chân thành cảm ơn vì đã hoàn thành xuất sắc bản khảo sát này!
P9
DÀNH CHO SINH VIÊN
Phụ lục 2: Biên bản phỏng vấn.
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Tâm lý học
BIÊN BẢN TỔNG HỢP PHỎNG VẤN
Đối tượng phỏng vấn: 5 sinh viên sử dụng ĐTTM thường xuyên.
Người thực hiện: Võ Thị Bảo Ngọc.
1. Mục đích: nhằm mục đích tìm hiểu sâu về nguyên nhân khiến sinh viên sử dụng
ĐTTM quá thường xuyên cũng như tìm ra được ảnh hưởng sâu của nó đối với cuộc
sống và công việc.
2. Cách thức phỏng vấn: Người nghiên cứu phát phiếu khảo sát, sinh viên tiến
hành trả lời. Sau đó người nghiên cứu đặt câu hỏi tìm hiểu lý do học sinh lựa chọn
câu trả lời của mình.
3. Nội dung:
Câu 1: Theo bạn tần suất sử dụng ĐTTM của mình có đang là như thế nào?
Trả lời:
Câu 2: Nguyên nhân của việc sử dụng ĐTTM với tần suất như vậy?
Trả lời:
Câu 3: Với mức độ sử dụng như vậy, ảnh hưởng của việc sử dụng ĐTTM theo bạn
là như thế nào?
Trả lời:
Câu 4: Với bản thân, bạn có những biện pháp nào nhằm nâng cao lợi ích và để
giảm thiểu tác hại của ĐTTM đến sức khỏe tâm thần của mình.
Trả lời:
Cảm ơn bạn rất nhiều.
P10
DÀNH CHO CHUYÊN GIA TRONG NGÀNH TÂM LÝ
TÂM LÝ – GIÁO DỤC
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Tâm lý học
BIÊN BẢN TỔNG HỢP PHỎNG VẤN
Đối tượng phỏng vấn: Các chuyên gia trong ngành Tâm lý – Giáo dục.
Người thực hiện: Võ Thị Bảo Ngọc.
1. Mục đích: bổ sung xây dựng những nội dung làm cơ sở lý luận trong nghiên cứu
cũng như giải thích kết quả nghiên cứu đồng thời tăng thêm những gợi mở về
những những kiến nghị có tác dụng giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe
tâm thần của sinh viên sử dụng ĐTTM.
2. Cách thức phỏng vấn:
3. Nội dung:
Câu 1: Thầy Cô có thể cho em xin ý kiến về thực trạng sử dụng ĐTTM của sinh viên
hiện nay theo quan sát của Thầy Cô không ạ?
Trả lời:
Câu 2: Sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng ĐTTM theo nghiên cứu này ở mức
khỏe mạnh nhưng các bạn đang có xu hướng bị phụ thuộc nhiều vào ĐTTM, Thầy
Cô nghĩ sao về điều này ạ?
Trả lời:
Câu 3: Thầy Cô có thể cho em xin những biện pháp nhằm nâng cao SKTT của các
em sinh viên sử dụng điện thoại thông minh? Biện pháp cấm sử dụng có khả thi
không ạ?
Trả lời:
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Cô vì buổi phỏng vấn hôm nay.
P11
Phụ lục 3: MỘT SỐ BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ SPSS.
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
có
210
100.0
100.0
100.0
Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh Bạn có đang sử dụng điên thoại không
Bạn sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) như thế nào.
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Đang sử dụng thường
147
70.0
70.0
70.0
xuyên.
Sử dụng khi cần thiết.
53
25.2
25.2
95.2
Sử dụng nhưng không thích.
7
3.3
3.3
98.6
Sử dụng sau một thời gian
3
1.4
1.4
100.0
ngừng.
Total
210
100.0
100.0
Thời gian sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) tối đa trong một ngày.
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Có thể không sử dụng
12
5.7
5.7
5.7
1 đến 3 tiếng
76
36.2
36.2
41.9
4 đến 6 tiếng
88
41.9
41.9
83.8
Sử dụng liên tục
34
16.2
100.0
Total
210
100.0
16.2 100.0
Bạn có thường xuyên sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) ở trường không?
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Luôn luôn
14
6.7
6.7
6.7
Thường xuyên
94
44.8
44.8
51.4
Đôi khi
90
42.9
42.9
94.3
Hiếm khi
10
4.8
4.8
99.0
Không bao giờ
2
1.0
100.0
Total
210
100.0
1.0 100.0
Mục đích sử dụng ĐTTM.
Học tập
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
không
64
30.5
30.5
30.5
chọn
146
69.5
100.0
Total
210
100.0
69.5 100.0
Giải trí
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
15.7
15.7
15.7
33
Valid
không
100.0
84.3
177
chọn
84.3 100.0
100.0
210
Total
P12
Thể hiện bản thân
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
93.8
93.8
93.8
197
Valid
không
100.0
6.2
13
chọn
6.2 100.0
100.0
210
Total
Giao tiếp
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
43.3
43.3
43.3
91
Valid
không
100.0
56.7
119
chọn
56.7 100.0
100.0
210
Total
SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TP.HCM. Descriptive Statistics
N
Minimum Maximum
Mean
Std. Deviation
.42479
210
SKTT
1.83
4.83
3.6243
.51390
210
ban_than
1.80
4.80
3.5081
.60520
210
hoc_tap
1.25
5.00
3.3542
.60492
210
quan_he
1.38
5.00
3.9494
.52937
xa_hoi
1.88
4.75
3.6857
210 210
Valid N (listwise)
Sự khác biệt của SKTT sinh viên sử dụng ĐTTM theo trường.
ANOVA
SKTT
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
Between Groups
.078
2
.216
.806
Within Groups
37.636
.039 .182
Total
37.714
207 209
Sự khác biệt của SKTT sinh viên sử dụng ĐTTM theo giới tính.
Independent Samples Test
Levene's Test for
Equality of Variances
t-test for Equality of Means
Sig. (2-
F
Sig.
t
df
tailed)
SKTT
Equal variances
.083
.773
-.099
208
.921
assumed
Equal variances
-.099
207.684
.921
not assumed
P13
Các nhân tố của SKTT sinh viên sử dụng ĐTTM.
Sự khác biệt của các biểu hiện của nhân tố tự nhận thức bản thân theo trường.
ANOVA
Sum of
Mean
Squares
df
Square
F
Sig.
Bạn hài lòng với những gía trị của
Between Groups
1.981
2
1.054
.350
bản thân.
Within Groups
194.500
.990 .940
Total
196.481
207 209
Bạn hiểu được năng lực của bản
Between Groups
.867
2
.599
.550
thân.
Within Groups
149.629
.433 .723
Total
150.495
207 209
Bạn chán ghét bản thân mình.
Between Groups
4.229
2
1.797
.168
Within Groups
243.529
2.114 1.176
Total
247.757
207 209
Bạn biết những thiếu sót của bản
Between Groups
.343
2
.279
.757
thân mình.
Within Groups
127.014
.171 .614
Total
127.357
207 209
Bạn biết mình đang có những cảm
Between Groups
.886
2
.449
.639
xúc gì.
Within Groups
204.143
.443 .986
Total
205.029
207 209
Bạn hay làm quá lên cảm xúc của
Between Groups
.124
2
.043
.958
mình.
Within Groups
295.500
.062 1.428
Total
295.624
207 209
Khi có cảm xúc mạnh bạn thường để
Between Groups
.000
2
.000
1.000
cảm xúc lắng lại rồi giải quyết vấn đề.
Within Groups
218.329
.000 1.055
Total
218.329
207 209
Bạn có những hành động bộc phát
Between Groups
1.895
2
.875
.418
khiến mình phải hối hận
Within Groups
224.129
.948 1.083
207 209
Total
226.024
Bạn suy nghĩ trước khi hành động.
Between Groups
1.057
2
.617
.540
Within Groups
177.271
.529 .856
207 209
Total
178.329
Robust Tests of Equality of Means
Statistica
df1
df2
Sig.
Bạn hay cảm thấy thua kém
Welch
2.518
2
136.880
.084
so với chính bạn trước đây.
a. Asymptotically F distributed.
Sự khác biệt của các biểu hiện của nhân tố tự nhận thức bản thân theo giới
P14
tính.
Independent Samples Test
Levene's Test
for Equality of
Variances
t-test for Equality of Means
Sig. (2-
F
Sig.
t
df
tailed)
Bạn hài lòng với những
Equal variances assumed
.324
.570
.497
208
.620
gía trị của bản thân.
Equal variances not assumed
.497
206.604
.620
Bạn hiểu được năng lực
Equal variances assumed
.994
.320
1.633
208
.104
của bản thân.
Equal variances not assumed
1.633
206.756
.104
Bạn chán ghét bản thân
Equal variances assumed
.651
.421
-.569
208
.570
mình.
Equal variances not assumed
-.569
207.863
.570
Bạn biết những thiếu sót
Equal variances assumed
1.162
.282
.265
208
.792
của bản thân mình.
Equal variances not assumed
.265
199.847
.792
Bạn hay cảm thấy thua
Equal variances assumed
4.599
.033
.760
208
.448
kém so với chính bạn
Equal variances not assumed
.760
203.838
.448
trước đây.
Bạn biết mình đang có
Equal variances assumed
.979
.324
-.139
208
.890
những cảm xúc gì.
Equal variances not assumed
-.139
206.565
.890
Bạn hay làm quá lên cảm
Equal variances assumed
.960
.328
.521
208
.603
xúc của mình.
Equal variances not assumed
.521
206.489
.603
Khi có cảm xúc mạnh bạn
Equal variances assumed
.039
.844
.742
208
.459
thường để cảm xúc lắng
Equal variances not assumed
.742
207.970
.459
lại rồi giải quyết vấn đề.
Bạn có những hành động
Equal variances assumed
1.110
.293
.199
208
.843
bộc phát khiến mình phải
Equal variances not assumed
.199
206.647
.843
hối hận
Bạn suy nghĩ trước khi
Equal variances assumed
1.756
.187
-.224
208
.823
hành động.
Equal variances not assumed
-.224
203.980
.823
Equal variances assumed
.083
.773
-.099
208
.921
SKTT
Equal variances not assumed
-.099
207.684
.921
Sự khác biệt của các biểu hiện của nhân tố hoàn thành nhiệm vụ học tập theo
trường.
ANOVA
Sum of
Mean
Squares
df
Square
F
Sig.
Bạn có khả năng tập trung trong suốt
Between
1.610
2
.805
.868
.421
thời gian học.
Groups
Within Groups 192.014
.928
Total
193.624
207 209
Bạn hay hoàn thành bài tập của môn
Between
.086
2
.043
.043
.958
học trễ tiến độ.
Groups
Within Groups 208.371
1.007
Total
208.457
207 209
Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong
Between
2.600
2
1.300
1.354
.260
học tập.
Groups
Within Groups 198.714
.960
Total
201.314
207 209
Tìm kiếm những thử thách để chinh
Between
6.010
2
3.005
2.877
.059
phục trong học tập là sở thích của bạn.
Groups
Within Groups 216.186
1.044
Total
222.195
207 209
Thời gian gần đây kết quả học tập của
Between
1.610
2
.805
.572
.565
bạn không đạt như trước.
Groups
Within Groups 291.171
1.407
Total
292.781
207 209
Việc thảo luận trong giờ học của bạn
Between
6.010
2
3.005
3.017
.051
gần đây tốt.
Groups
Within Groups 206.186
.996
Total
212.195
207 209
Chất lượng các sản phẩm học tập (tiểu
Between
.724
2
.362
.350
.705
luận, bài tập, nghiên cứu…) gần đây
Groups
của bạn được đánh giá cao.
Within Groups 213.771
1.033
Total
214.495
207 209
Bạn hài lòng với việc học tập của
Between
.638
2
.319
.257
.773
mình.
Groups
Within Groups 256.486
1.239
Total
257.124
207 209
Sự khác biệt các biểu hiện của nhân tố hoàn thành nhiệm vụ học tập theo giới
P15
tính.
Independent Samples Test
Levene's
Test for
Equality of
Variances
t-test for Equality of Means
Sig. (2-
F
Sig.
t
df
tailed)
Bạn có khả năng tập trung
Equal variances assumed
.109
.741
1.949
208
.053
trong suốt thời gian học.
Equal variances not assumed
1.949 207.452
.053
Bạn hay hoàn thành bài
Equal variances assumed
.007
.934
-1.106
208
.270
tập của môn học trễ tiến
Equal variances not assumed
-1.106 207.654
.270
độ.
Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp
Equal variances assumed
1.23
.269
.702
208
.483
1
khó khăn trong học tập.
Equal variances not assumed
.702 207.113
.483
Tìm kiếm những thử thách
Equal variances assumed
.084
.772
1.680
208
.094
để chinh phục trong học
Equal variances not assumed
1.680 205.279
.094
tập là sở thích của bạn.
Thời gian gần đây kết quả
Equal variances assumed
1.43
.233
-1.050
208
.295
2
học tập của bạn không đạt
như trước.
Equal variances not assumed
-1.050 207.409
.295
Việc thảo luận trong giờ
Equal variances assumed
.007
.932
.615
208
.539
học của bạn gần đây tốt.
Equal variances not assumed
.615 207.998
.539
Chất lượng các sản phẩm
Equal variances assumed
.018
.895
1.090
208
.277
học tập (tiểu luận, bài tập,
Equal variances not assumed
1.090 207.936
.277
nghiên cứu…) gần đây
của bạn được đánh giá
cao.
Bạn hài lòng với việc học
Equal variances assumed
1.88
.171
.373
208
.710
8
tập của mình.
Equal variances not assumed
.373 206.045
.710
Sự khác biệt các biểu hiện của nhân tố thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần
P16
gũi – người thân theo trường.
ANOVA
Sum of
Mean
Squares
df
Square
F
Sig.
Bạn cảm thấy an toàn, thoải mái
Between Groups
.638
2
.338
.713
khi bên cạnh những người thân
Within Groups
195.286
của mình.
.319 .943
Total
195.924
207 209
Những người thân đem lại nguồn
Between Groups
3.971
2
2.165
.117
năng lượng tích cực giúp bạn vượt
Within Groups
189.843
qua khó khăn trong cuộc sống
1.986 .917
Total
193.814
207 209
Những người thân của bạn hay chủ
Between Groups
.800
2
.370
.691
động hẹn gặp bạn.
Within Groups
223.657
.400 1.080
Total
224.457
207 209
Bạn tôn trọng thời gian riêng của
Between Groups
3.457
2
2.029
.134
người thân.
Within Groups
176.357
1.729 .852
Total
179.814
207 209
Bạn cảm nhận được người thân
Between Groups
1.038
2
.703
.496
tôn trọng mình.
Within Groups
152.886
.519 .739
Total
153.924
207 209
Người thân có cảm giác vui vẻ, thư
Between Groups
.295
2
.180
.835
giản khi được chia sẻ và bên cạnh
169.400
Within Groups
bạn.
.148 .818
Total
169.695
207 209
Bên cạnh những người thân bạn
Between Groups
1.067
2
.662
.517
cảm nhận được giá trị của bản
166.857
Within Groups
thân.
.533 .806
Total
167.924
207 209
P17
Robust Tests of Equality of Means
Statistica
df1
df2
Sig.
Bạn hay ép buộc người thân
Welch
5.418
2
135.393
.005
làm theo ý mình vì muốn tốt
cho họ.
Sự khác biệt các biểu hiện của nhân tố thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần
gũi – người thân theo giới tính.
Independent Samples Test
Levene's Test for
Equality of
Variances
t-test for Equality of Means
Sig. (2-
F
Sig.
t
df
tailed)
Bạn cảm thấy an toàn, thoải
Equal variances assumed
1.558
.213
-1.574
208
.117
mái khi bên cạnh những người
Equal variances not
-1.574 203.846
.117
thân của mình.
assumed
Những người thân đem lại
Equal variances assumed
.017
.897
-.501
208
.617
nguồn năng lượng tích cực giúp
Equal variances not
-.501 207.531
.617
bạn vượt qua khó khăn trong
assumed
cuộc sống
Những người thân của bạn hay
Equal variances assumed
.099
.753
-.798
208
.426
chủ động hẹn gặp bạn.
Equal variances not
-.798 207.757
.426
assumed
Bạn tôn trọng thời gian riêng
Equal variances assumed
.026
.871
-.967
208
.335
của người thân.
Equal variances not
-.967 207.205
.335
assumed
Equal variances assumed
1.854
.175
-.061
208
.951
Bạn hay ép buộc người thân
Equal variances not
-.061 205.729
.951
làm theo ý mình vì muốn tốt cho
assumed
họ.
Bạn cảm nhận được người thân
Equal variances assumed
1.342
.248
.321
208
.749
tôn trọng mình.
Equal variances not
.321 205.144
.749
assumed
Người thân có cảm giác vui vẻ,
Equal variances assumed
.001
.980
.459
208
.647
thư giản khi được chia sẻ và
Equal variances not
.459 206.736
.647
bên cạnh bạn.
assumed
Bên cạnh những người thân
Equal variances assumed
.106
.745
-.154
208
.878
bạn cảm nhận được giá trị của
Equal variances not
-.154 207.254
.878
bản thân.
assumed
Sự khác biệt về các biểu hiện của nhân tố nhận thức xã hội theo trường.
P18
ANOVA
Sum of
Mean
Squares
df
Square
F
Sig.
4.752
2
1.932
.147
Bạn không tham gia các
Between Groups
hoạt động cộng đồng, xã
254.529
Within Groups
hội.
2.376 1.230
259.281
207 209
Total
3.810
2
1.834
.162
Suy nghĩ của bạn là suy
Between Groups
nghĩ của cả xã hội.
214.971
Within Groups
1.905 1.039
218.781
207 209
Total
3.010
2
1.465
.233
Bạn cảm thấy lo lắng, sợ
Between Groups
hãi khi tham gia vào các
212.557
Within Groups
hoạt động xã hội.
1.505 1.027
215.567
207 209
Total
8.181
2
3.388
.036
Bạn thấy bất bình về những
Between Groups
thiếu công bằng trong xã
249.914
207
4.090 1.207
Within Groups
hội: bạo hành, bắt nạt tập
258.095
Total
209
thể, phân biệt chủng tộc.
8.181
2
3.363
.037
Bạn là thành viên của các tổ
Between Groups
chức, nhóm vì cộng đồng.
251.800
Within Groups
4.090 1.216
259.981
207 209
Total
.924
2
Bạn có mong muốn đóng
Between Groups
.522
.594
góp cho xã hội.
Within Groups
183.057
.462 .884
Total
183.981
207 209 Robust Tests of Equality of Means
Statistica
df1
df2
Sig.
Bạn cảm thấy thoải mái,
Welch
2.988
2
134.903
.054
phấn chấn khi được tham
gia vào các hoạt động cộng
đồng, xã hội.
Xã hội là một tập đoàn
Welch
4.572
2
133.595
.012
người bao gồm những cá
nhân với sự khác biệt cần
được tôn trọng.
a. Asymptotically F distributed.
Sự khác biệt về các biểu hiện của nhân tố nhận thức xã hội theo giới tính.
P19
Independent Samples Test
Levene's Test for
Equality of Variances
t-test for Equality of Means
Sig. (2-
F
Sig.
t
df
tailed)
Bạn cảm thấy thoải mái,
Equal variances assumed
.298
.586
.492
208
.623
phấn chấn khi được tham
Equal variances not
.492 206.499
.623
gia vào các hoạt động
assumed
cộng đồng, xã hội.
Bạn không tham gia các
Equal variances assumed
.289
.592
.185
208
.853
hoạt động cộng đồng, xã
Equal variances not
.185 207.588
.853
hội.
assumed
Xã hội là một tập đoàn
Equal variances assumed
1.050
.307
-.835
208
.405
người bao gồm những cá
Equal variances not
-.835 206.246
.405
nhân với sự khác biệt cần
assumed
được tôn trọng.
Suy nghĩ của bạn là suy
Equal variances assumed
.409
.523
-2.457
208
.015
nghĩ của cả xã hội.
Equal variances not
-2.457 207.493
.015
assumed
Bạn cảm thấy lo lắng, sợ
Equal variances assumed
.069
.792
.883
208
.378
hãi khi tham gia vào các
Equal variances not
.883 207.852
.378
hoạt động xã hội.
assumed
Bạn thấy bất bình về
Equal variances assumed
1.961
.163
-1.874
208
.062
những thiếu công bằng
Equal variances not
-1.874 203.962
.062
trong xã hội: bạo hành, bắt
assumed
nạt tập thể, phân biệt
chủng tộc.
Equal variances assumed
.238
.626
-.247
208
.805
Bạn là thành viên của các
Equal variances not
-.247 207.697
.805
tổ chức, nhóm vì cộng
assumed
đồng.
Bạn có mong muốn đóng
Equal variances assumed
8.776
.003
-1.178
208
.240
góp cho xã hội.
Equal variances not
-1.178 193.351
.240
assumed
P20
Tương quan giữa sự phụ thuộc vào ĐTTM và SKTT của sinh viên.
Correlations
phu_thuoc
SKTT
1
phu_thuoc
Pearson Correlation
.361**
Sig. (2-tailed)
.000
210
N
210
SKTT
Pearson Correlation
1
.361** .000
Sig. (2-tailed)
210
N
210
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).
Sự đồng thuận các đề xuất cân bằng việc sử dụng ĐTTM.
Descriptive Statistics
N
Minimum Maximum
Mean
Std. Deviation
1
4
Tự xây dựng lịch sử dụng
210
2.40
1.032
ĐTTM
1
4
210
3.21
Mở rộng không gian giao
.805
lưu.
1
4
210
3.20
Tìm kiếm những phương
.833
thức thư giản thay thế cho
ĐTTM.
1
4
Nâng cao lòng tự trọng
210
2.89
.919
thông qua những giá trị đích
thực bên ngoài, không dựa
vào ĐTTM.
1
4
Tổ chức lại giờ giấc sinh
210
3.02
.925
hoạt, thời gian biểu của
mình.
1
4
Tìm kiếm những động lực
210
3.15
.905
tích cực.
1.00
4.00
2.9817
.58245
bien_phap
210 210
Valid N (listwise)

