BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Võ Thị Bảo Ngọc

SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN

SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Võ Thị Bảo Ngọc

SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN

SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Tâm lí học

Mã số

: 8310401

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS.ĐINH PHƯƠNG DUY

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết

quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ

công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả

Võ Thị Bảo Ngọc

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn chân thành nhất tôi xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, quý thầy cô

giáo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên, Trường Đại học Sư phạm TP. HCM đã tạo

điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với thầy hướng dẫn: PGS.TS. Đinh

Phương Duy đã tận tình động viên, giúp đỡ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu. Cảm ơn Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, trường Đại học Bách

Khoa TP.HCM và đại học Công Nghệ TP. HCM đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thu

thập số liệu hoàn thành đề tài.

Tôi xin cảm ơn Quý Thầy cô phản biện và hội đồng chấm luận văn đã đọc và

có những nhận xét, góp ý quý giá về luận văn.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã sát cánh, động viên và giúp đỡ

tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Võ Thị Bảo Ngọc

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH

VIÊN SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH ........................ 5

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 5

1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới .............................................. 5

1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước .............................................. 8

1.2. Cơ sở lý luận của đề tài ............................................................................ 10

1.2.1. Sức khỏe tâm thần ............................................................................. 10

1.2.2 Sinh viên .......................................................................................... 16

1.2.3 Một số lý luận về sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại

thông minh ........................................................................................ 20

Tiểu kết chương 1 ........................................................................................... 27

Chương 2. THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN SỬ

DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH .................................................................... 29

2.1 Thể thức nghiên cứu .................................................................................. 29

2.1.1. Mục đích nghiên cứu ......................................................................... 29

2.1.2. Mẫu nghiên cứu ................................................................................. 29

2.2. Công cụ nghiên cứu ................................................................................. 30

2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi ................................................. 30

2.2.2. Phương pháp phỏng vấn .................................................................... 32

2.2.3. Phương pháp thống kê toán học ........................................................ 33

2.3. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 33

2.3.1. Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh ........................................ 33

2.3.2. Thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông

minh................................................................................................... 38

2.3.3. Thực trạng phụ thuộc vào điện thoại thông minh của sinh viên sử dụng

điện thoại thông minh ....................................................................... 62

2.3.4. Tương quan giữa sự sức khỏe tâm thần và sự phụ thuộc của sinh viên

sử dụng điện thoại thông minh trên địa bàn Hồ Chí Minh vào điện

thoại thông minh ............................................................................... 69

2.3.5. Phòng ngừa và hỗ trợ sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh, cân bằng

việc sử dụng điện thoại thông minh cho sinh viên sử dụng điện thoại

thông minh ........................................................................................ 71

Tiểu kết chương 2 ........................................................................................... 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 82

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Stt Viết tắt Viết đầy đủ

ĐHBK 1 Đại học Bách khoa TPHCM TPHCM

ĐHCN 2 Đại học Công nghệ TPHCM TPHCM

3 ĐHSP TPHCM Đại học Sư phạm TPHCM

4 ĐTB Điểm trung bình

5 ĐTTM Điện thoại thông minh

6 ĐLC Độ lệch chuẩn

7 ĐY Đồng ý

8 ĐHSP Đại học Sư phạm

9 HTĐY Hoàn toàn đồng ý

10 HTKĐY Hoàn toàn không đồng ý

11 KĐY Không đồng ý

12 Nxb Nhà xuất bản

13 PV Phân vân

14 RTX Rất thường xuyên

15 SKTT Sức khỏe tâm thần

16 TS Tần số

17 TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

18 TT Thỉnh thoảng

19 TX Thường xuyên

20 XH Xếp hạng

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Phân bố thành phần mẫu nghiên cứu .......................................... 29

Bảng 2.2. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2

– những nhân tố của SKTT ......................................................... 31

Bảng 2.3. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2

– Sức khỏe tâm thần ................................................................... 32

Bảng 2.4. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2

– phụ thuộc ................................................................................. 32

Bảng 2.5. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2

– biện pháp .................................................................................. 32

Bảng 2.6. Tần suất sử dụng ĐTTM............................................................. 33

Bảng 2.7. Tần suất sử dụng ĐTTM tối đa trong một ngày ......................... 34

Bảng 2.8. Tần suất sử dụng ĐTTM ở trường của sinh viên sử dụng

ĐTTM. ........................................................................................ 36

Bảng 2.9. Mục đích sử dụng ĐTTM của sinh viên ..................................... 36

Bảng 2.10. Tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng ĐTTM ................ 38

Bảng 2.11. Tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo

trường và giới tính ...................................................................... 40

Bảng 2.12. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM 42

Bảng 2.13. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM

theo trường và theo giới tính ...................................................... 44

Bảng 2.14. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người

thân ............................................................................................. 46

Bảng 2.15. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân

theo trường và giới tính .............................................................. 48

Bảng 2.16. Về nhận thức xã hội .................................................................... 51

Bảng 2.17. Về nhận thức xã hội của sinh viên sử dụng ĐTTM theo trường và

theo giới tính ............................................................................... 52

Bảng 2.18. Thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM ....................... 56

Bảng 2.19. Thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường

và theo giới tính .......................................................................... 58

Bảng 2.20. Tương quan giữa các nhân tố của SKTT .................................... 60

Bảng 2.21. Thực trạng phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên sử dụng

ĐTTM ......................................................................................... 62

Bảng 2.22. Thực trạng phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên sử dụng ĐTTM

theo trường và theo giới tính ...................................................... 66

Bảng 2.23. Tương quan giữa sự SKTT và sự phụ thuộc của sinh viên sử dụng

ĐTTM trên địa bàn HCM vào ĐTTM ........................................ 69

Bảng 2.24. Biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM của sinh viên sử dụng

ĐTTM ......................................................................................... 72

Bảng 2.25. Sự đồng thuận về biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM của

sinh viên sử dụng ĐTTM theo trường và theo giới tính ............. 73

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1. Tần suất sử dụng ĐTTM..................................................................... 34

Biểu đồ 2.2. Nhân tố về sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại

thông minh .......................................................................................... 57

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

SKTT không chỉ được định nghĩa hẹp là những chứng bệnh về tâm thần mà là

trạng thái khỏe mạnh hoặc không khỏe mạnh về mặt tinh thần của con người, đó là

những cảm xúc, tâm lí, sự cảm nhận về hạnh phúc, ảnh hưởng tới điều cá nhân suy

nghĩ, cảm nhận và hành động. SKTT giúp chúng ta xác định cách xử lý stress, kết nối

với người khác và đưa ra quyết định. Trong mọi giai đoạn của cuộc đời mỗi người từ

trẻ nhỏ, thanh thiếu niên cho đến người trưởng thành, sự tác động của sức khỏe tinh

thần là vô cùng lớn.

Chúng ta đang được sống trong một thời đại mà cách mạng công nghệ số đang

thật sự mạnh mẽ cùng với sự đón đầu một cách nhanh chóng khoa học kỹ thuật. Với

mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống, hướng tới xã hội hiện đại hơn, ĐTTM dần

trở thành một công cụ phổ biến phục vụ cho đời sống vật chất, và tinh thần của con

người trong thời điểm hiện tại.

Sinh viên nói chung và sinh viên đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh nói

riêng là một bộ phận của giới trẻ linh hoạt, chủ động và mềm dẻo trong tư duy, có

nhận thức tương đối cao, dễ dàng tiếp thu cái mới chính là đối tượng mà nghiên cứu

này hướng tới. Theo nhận định ban đầu số lượng sinh viên sử dụng ĐTTM lớn và vì

đã có đủ nhận thức nên việc đánh giá, nhìn nhận về những lợi ích cũng như ảnh hưởng

tiêu cực của ĐTTM lên bản thân sẽ đầy đủ chính vì vậy người nghiên cứu lựa chọn

khách thể là sinh viên các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Qua phương tiện truyền thông đại chúng trong những năm gần đây cũng như

nhận định của bản thân về việc con người nói chung và sinh viên nói riêng sử dụng

ĐTTM như một vật dụng không thể thiếu đang là một hiện tượng mới nổi lên như

một xu hướng Song song với lợi ích không thể chối bỏ mà ĐTTM mang lại như con

người có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin thậm chí là cả nghiên cứu khoa học, dễ dàng

trao đổi, gặp gỡ, chia sẻ với nhau thông qua các ứng dụng trên ĐTTM mà không bị

cản trở bởi khoảng cách địa lý, thời gian, nâng cao giá trị bản thân thì những ảnh

hưởng tiêu cực mà ĐTTM mang lại cũng không hề nhỏ như sinh viên không thể làm

2

chủ được thời gian hoàn thành các hoạt động trong cuộc sống hiện tại của mình, ảnh

hưởng đến công việc, học tập, đặc biệt là SKTT.

Vậy liệu thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM hiện nay thực sự như

thế nào, điều đó đã thúc đẩy người nghiên cứu thực hiện đề tài: “Sức khỏe tâm thần

của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí

Minh”

2. Mục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng sử dụng ĐTTM bao gồm thời lượng và mục đích, bước đầu

tìm hiểu thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên cơ sở đó đề xuất một số

kiến nghị nhằm cân bằng việc sử dụng nhằm hạn chế sự ảnh hưởng đến sức khỏe tâm

thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM.

3.2. Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là : 210 sinh viên sử dụng ĐTTM các trường Đại Học tại

Thành phố Hồ Chí Minh (đại học Sư phạm TP.HCM, đại học Bách Khoa TP.HCM,

đại học Công Nghệ TP.HCM).

Khách thể phỏng vấn: 5 sinh viên sử dụng ĐTTM và 5 chuyên gia trong lĩnh

vực tâm lí, giáo dục và SKTT.

4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Người nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu thực trạng SKTT của sinh viên

sử dụng ĐTTM.

4.2. Giới hạn về địa điểm nghiên cứu

Người nghiên cứu lựa chọn ba trường đại học trên địa bàn TP.HCM.

5. Giả thuyết khoa học

 SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TPHCM đạt mức tốt.

 Có mối tương quan thuận giữa sự phụ thuộc vào ĐTTM và SKTT không khỏe

mạnh của sinh viên.

3

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài thực hiện bốn nhiệm vụ:

 Nhiệm vụ 1: Tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về vấn đề SKTT của

sinh viên sử dụng ĐTTM.

 Nhiệm vụ 2: Khảo sát thực trạng bao gồm thời gian và mục đích sử dụng và

sự phụ thuộc của sinh viên sử dụng ĐTTM.

 Nhiệm vụ 3: Khảo sát thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa

bàn TPHCM.

 Nhiệm vụ 4: Đề xuất một số kiến nghị nhằm cân bằng việc sử dụng nhằm hạn

chế sự ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.

7. Nguyên tắc tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

7.1. Nguyên tắc tiếp cận

 Nguyên tắc tiếp cận hệ thống cấu trúc.

Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xem xét vấn đề ở nhiều khía cạnh khác

nhau từ đó hình thành cơ sở lý luận của các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu như

là khái niệm SKTT, SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM và việc sử dụng ĐTTM ảnh

hưởng đến SKTT của sinh viên.

Thông qua nguyên tắc tiếp cận này để hình thành đề tài theo cấu trúc đã được xác

lập nhằm xây dựng bảng hỏi, bình luận...

 Nguyên tắc tiếp cận thực tiễn.

Nghiên cứu mang tính khám phá, phát hiện và nhìn nhận thực tiễn vấn đề sử dụng

ĐTTM của sinh viên hiện nay, từ đó tìm ra nguyên nhân, hướng khắc phục có thể áp

dụng vào thực tiễn.

 Nguyên tắc tiếp cận hoạt động.

Nhìn nhận vấn đề trong trạng thái động để có cái nhìn khách quan. Tìm hiểu các

quy luật, bản chất của sự vận động và phát triển vấn đề thông qua hoạt động.

7.2. Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu lý luận.

4

Người nghiên cứu tổng hợp các tư liệu, hệ thống kiến thức có liên quan đến đề

tài nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng cơ sở lí luận, vấn đề nghiên cứu và mục đích,

mục tiêu, phương pháp nghiên cứu.

Người nghiên cứu sử dụng phương pháp này như là một công cụ để phân tích,

khái quát, tổng hợp những vấn đề lý luận nhằm xây dựng bảng hỏi. Người nghiên cứu

tham khảo tài liệu, phân tích thực tiễn, những công trình nghiên cứu trong và ngoài

nước để tìm ra được con đường nghiên cứu SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM.

Ngoài ra người nghiên cứu sử dụng phương pháp chuyên gia, tham khảo ý kiến

của các nhà nghiên cứu, chuyên gia trong lĩnh vực SKTT học nhằm xây dựng những

nội dung làm cơ sở lý luận trong nghiên cứu và tăng thêm những gợi mở về những

những kiến nghị có tác dụng giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc sử dụng ĐTTM của

sinh viên.

 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.

Đây là phương pháp chính và xuyên suốt đề tài. Bảng hỏi dành cho sinh viên

nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như nguyên nhân của việc sử dụng ĐTTM hiện

nay.Các nhóm câu hỏi trong bảng hỏi bao gồm câu hỏi dạng đúng/sai, câu hỏi nhiều

lựa chọn, câu hỏi điền thế, câu hỏi trả lời ngắn, câu hỏi đánh giá thứ bậc.

 Phương pháp phỏng vấn.

Nhóm khách thể phỏng vấn gồm 5 sinh viên sử dụng ĐTTM và 5 chuyên gia

trong các lĩnh vực tâm lí, giáo dục, SKTT nhằm mục đích tìm hiểu về nguyên nhân

khiến sinh viên sử dụng ĐTTM cũng như tìm ra được ảnh hưởng sâu của nó đối với

SKTT của sinh viên hiện nay.

 Phương pháp ứng dụng toán thống kê.

Đây là phương pháp được người nghiên cứu sử dụng trong quá trình xử lý số liệu

đã thu được của quá trình nghiên cứu. Người nghiên cứu sử dụng các phương pháp

toán học thống kê và sử dụng phần mềm thống kê SPSS để xử lý số liệu.

Đề tài tập trung phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, các phương pháp khác bổ

trợ, làm rõ thêm về nội dung nghiên cứu.

5

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN

SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới

a. Lịch sử nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trên thế giới

SKTT có vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách

của cá nhân. Từ lâu loài người đã biết chăm sóc SKTT, đến thế kỉ thứ XVIII, chính

xác là năm 1773 ở Viecginia, Mỹ đã có bệnh viện tâm thần đầu tiên và sách giáo khoa

tâm thần đầu tiên.(Đặng Bá Lãm, 2007). Sau Thế chiến thứ hai, thuật ngữ SKTT được

xuất hiện do khía cạnh tích cực của nó từ việc điều trị bệnh sang các lĩnh vực phòng

ngừa và chăm sóc sức khỏe. Trước đó, thuật ngữ này được bắt nguồn từ khái niệm

“vệ sinh tâm thần” (mental hygiene) do William Sweetser, là người đầu tiên sử dụng

và có thể được coi là tiền thân của các phương pháp đương đại để thúc đẩy SKTT

tích cực. Đến đầu thế kỷ 20, Clifford Beers đã thành lập American Health America -

Ủy ban quốc gia về vệ sinh tâm thần sau khi xuất bản các nghiên cứu của mình từ

kinh nghiệm làm việc trong các bệnh viện tâm thần, ông đã mở ra phòng khám phòng

khám tâm thần ngoại trú đầu tiên của Hoa Kỳ (Wikipedia, 2014).

Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), SKTT là một khía cạnh rất đáng được quan

tâm vì có đến 25% dân số thế giới mắc các rối loạn tâm thần ít nhất một lần trong đời,

54 triệu người mắc rối loạn về SKTT.Những ảnh hưởng về kinh tế do rối loạn SKTT

rất đáng quan ngại. (WHO, 2013).

Tầm quan trọng của SKTT được biểu hiện khi một con người khỏe mạnh chỉ

khi hội tụ đủ về thể chất lẫn tinh thần. Theo quyển Y tế Glencoe: một hướng dẫn để

khỏe mạnh: đó là khi cá nhân cảm nhận được sự hài lòng về bản thân và kết nối được

với những người xung quanh và giải quyết được những vấn đề xảy đến với bản thân

trong cuộc sống. Khi đó con người mới cảm nhận được giá trị của cuộc sống, cảm

nhận được bản thân thật sự khỏe mạnh (Mary Bronson Merki, Don Merki, 1996).

b. Lịch sử nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của người sử dụng điện thoại

thông minh trên thế giới

6

Ngày nay, trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì ĐTTM với những chức

năng như gọi điện, gửi tin nhắn, email, chia sẻ hình và video, chơi game, nghe nhạc,

lướt web…mọi lúc mọi nơi đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến SKTT của con người

nói chung và sinh viên nói riêng. Đây là một lĩnh vực mới và những nghiên cứu trên

thế giới gần đây về mối liên quan SKTT và việc sử dụng ĐTTM được thể hiện như

sau:

Năm 2012, nhóm nhà nghiên cứu người Hàn Quốc đã tìm ra sự ảnh hưởng của

ĐTTM đến SKTT của sinh viên đại học qua hai phương diện đời sống học đường và

các mối quan hệ cá nhân. Ngoài ra nghiên cứu này còn đề cập đến việc trẻ hóa lứa

tuổi sử dụng ĐTTM hiện nay cũng như cách tiếp cận giáo dục cho thanh niên và

thanh niên để giảm ảnh hưởng tiêu cực đến SKTT của việc dùng ĐTTM (Hyun-Seok

Choi, Hyun-Kyung Lee, Jeong-Cheol Ha, 2012).

Theo Oulasvirta và cộng sự cho rằng với việc phổ biến ĐTTM bắt nguồn từ việc

hình thành thói quen kiểm tra khi sử dụng ĐTTM. Chính sự truy cập một cách nhanh

chóng những thông báo liên tục xuất hiện và những “phần thưởng” là thông tin mới

mà thông báo mang lại chính là kích thích khiến cho người dùng lặp lại nhiều lần việc

kiểm tra và sau đó là thực hiện những hoạt động khác khiến tổng thời gian sử dụng

thiết bị tăng lên (Antti Oulasvirta, Tye Rattenbury, Lingyi Ma, Eeva Raita 2012).

Cùng quan điểm với nghiên cứu của nghiên cứu của Oulasvirta và cộng sự về

tác nhân “phần thưởng” kích thích người dùng thì nghiên cứu Alexander J.A.M. van

Deursen đã gợi ý mở đường cho cảm xúc xã hội chi phối việc thiết lập hành vi nghiện

ĐTTM, cụ thể ĐTTM cung cấp một môi trường an toàn để con người thể hiện cảm

xúc hơn là tương tác ngoài đời thật. Ngoài ra nghiên cứu này còn chỉ ra sự khác biệt

giữa thói quen sử dụng và nghiện ĐTTM bằng căn cứ là sự mất khả năng tự điều

chỉnh (Alexander JAM van Deursen, Colin L Bolle, Sabrina M Hegner, Piet AM

Kommers, 2015).

Nhóm tác giả Yu-Kang Lee, Chun-Tuan Chang, You Lin, Zhao-Hong Cheng

(2014) cho rằng ngoài những lợi ích mà ĐTTM mang lại, khi nghiên cứu thực nghiệm

trên 325 người kết quả là có mối liên hệ giữa hành vi sử dụng ĐTTM và đặc điểm

tâm lí của con người, ngoài ra có sự căng thẳng do hành vi sử dụng thành thói quen

7

cưỡng chế của ĐTTM mang lại và sự cưỡng chế trên giới tính nam mạnh hơn nữ

mặc dù nam giới có xu hướng sử dụng điện thoại của họ cho mục đích kinh doanh

hoặc chuyên nghiệp, trong khi phụ nữ dựa vào ĐTTM cho mạng xã hội và duy trì

mối quan hệ (Yu-Kang Lee, Chun-Tuan Chang, You Lin, Zhao-Hong Cheng, 2014).

Theo Adriana Bianchi, Dr. James G. Phillips, tần suất và vấn đề khi sử dụng

ĐTTM có liên quan đến sự hướng ngoại, lòng tự trọng, tuổi tác, tình trạng tâm lí và

giới tính. Tuy vấn đề thần kinh chưa đánh giá được mức độ sử dụng ĐTTM nhưng

nghiên cứu trên chỉ ra rằng, tính cách hướng ngoại và lòng tự trọng thấp là một yếu

tố quan trọng ảnh hưởng đến vấn đề trong việc sử dụng ĐTTM, những người trẻ tuổi

có xu hướng sử dụng ĐTTM với tần suất cao hơn và gặp nhiều vấn đề hơn (Adriana

Bianchi, James G Phillips, 2005).

Nhóm các nhà nghiên cứu của Hàn Quốc Min Kwon, Joon-Yeop Lee, Wang-

Youn Won, Jae-Woo Park, Jung-Ah Min, Changtae Hahn đã nhận thấy mối nguy hại

tiềm tàng của ĐTTM chính vì vậy họ đã phát triển thang đo tự chuẩn đoán có thể

phân biệt người nghiện ĐTTM. Với 197 trên 214 người tham gia khảo sát, nghiên

cứu chỉ ra rằng những người có trình độ học vấn thấp khả năng kiểm soát kém có xu

hướng nghiện ĐTTM hơn. Nghiên cứu xây dựng được thang đo 40 mục cải tiến từ

thang đo của trẻ thành niên “nghiện Internet” bao gồm các nhân tố bị ảnh hưởng bới

ĐTTM: “sự xáo trộn cuộc sống thường ngày, khả năng dự đoán, sự rút lui, các mối

quan hệ ảo, sử dụng quá mức và lòng khoan dung” (Min Kwon et al., 2013).

Trong nghiên cứu của mình về tính gây nghiện và việc sử dụng ĐTTM một cách

có vấn đề, Motoharu Takao và các cộng sự không những tìm ra các yếu tố ảnh hưởng

đến việc sử dụng ĐTTM là sự tự giám sát và động cơ phê duyệt và không có mối liên

quan lớn của việc sử dụng có vấn đề của ĐTTM với sự cô đơn và giới, họ còn đưa ra

được hai giả định nhằm can thiệp vấn đề này chính là giảm các tính năng hấp dẫn của

ĐTTM và giáo dục ý thức và khuynh hướng sử dụng ĐTTM cho sinh viên (Motoharu

Takao, Susumu Takahashi, Masayoshi Kitamura, 2009)

Năm 2001, các nhà nghiên cứu Sara Thomée, Annika Härenstam, Mats Hagberg

đã khảo sát 4156 thanh niên trẻ sử dụng ĐTTM và theo dõi sau 1 năm đã rút ra được

có mối liên hệ giữa việc sử dụng ĐTTM với stress, căng thẳng, rối loạn giấc ngủ và

8

trầm cảm của nhóm người nghiên cứu (Sara Thomée, Annika Härenstam, Mats

Hagberg, 2011)

Năm 2012 các nhà nghiên cứu người Hàn Quốc đã chỉ ra nhóm sử dụng ĐTTM

ở mức cao có dấu hiệu đau cùng cực, trạng thái lo âu, căng thẳng thậm chí là khó

khăn trong việc thiết lập mối quan hệ cá nhân, rối loạn tính cách và trầm cảm cao hơn

nhóm sử dụng ĐTTM ở mức trung bình và thấp. Nhóm đưa ra kiến nghị về việc có

sự đánh giá sớm về mức độ sử dụng ĐTTM cũng như xây dựng các chương trình

phòng chống nghiện cũng như giảm thiểu những tác hại mà ĐTTM mang lại (Antti

Oulasvirta, Tye Rattenbury, Lingyi Ma, Eeva Raita, 2012).

Một nghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu người Úc L.L.Saling và M.Haire

đã chứng minh được việc sử dụng ĐTTM vào ban đêm sau khi tắt đèn có nguy cơ

làm gián đoạn sự liên tục của giấc ngủ, khiến cho chất lượng giấc ngủ giảm sút đóng

góp đáng kể vào việc tăng tình trạng mệt mỏi và suy nhược tâm lí của người lớn

(Lauren L Saling, M Haire, 2016).

Có thể thấy việc nghiên cứu SKTT và các yếu tố tâm lí dưới sự ảnh hưởng của

ĐTTM ngày càng được xem trọng, nhất là trong giai đoạn gần đây khi việc sử dụng

ĐTTM ngày càng được phổ biến rộng rãi và lứa tuổi sử dụng đang được trẻ hóa.

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về ĐTTM và SKTT nhưng chưa

có đề tài nào nghiên cứu tổng quan trên đối tượng sinh viên sử dụng ĐTTM. Vì đây

là vấn đề mới và cấp thiết hiện nay nên nghiên cứu sẽ tập trung vào đối tượng trên.

1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước

SKTT sinh viên hiện nay là một vấn đề đáng quan tâm khi mà áp lực ngày càng

đè nặng và có rất nhiều yếu tố khiến ảnh hưởng trong đó có ĐTTM. Tuy Việt Nam

chưa có nhiều nghiên cứu về ĐTTM và ảnh hưởng của nó đến SKTT nhưng đã có

những nghiên cứu sâu về những ứng dụng khác được sử dụng thông qua ĐTTM như

Internet, mạng xã hội, facebook, công nghệ hiện đại có ảnh hưởng đến tâm lí và SKTT

của con người.

a. Lịch sử nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trong nước

Trước hết, về SKTT của sinh viên, những nghiên cứu trong nước đã được đề

cập. Theo Phạm Minh Hạc (2008), SKTT là tập trung sức mạnh của con người, và

9

cũng là giá trị mà con người tạo ra cho cộng đồng và xã hội trách nhiệm của mỗi nhà

tâm lí học và giáo dục học là phải nghiên cứu, tìm ra con đường để bảo vệ và phát

triển SKTT của mỗi người dân (Phạm Minh Hạc, 2008). Chính vì điều đó việc tìm ra

và khắc phục những yếu tố ảnh hưởng đến SKTT là rất quan trọng và cấp thiết, một

trong những yếu tố đó là ĐTTM và các ứng dụng của nó.

Luận văn thạc sĩ tâm lí học :Thực trạng hiện tượng stress trong đời sống của

sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Tp. HCM

của tác giả Nguyễn Thị Huyền đã sơ bộ phác thảo rõ nét về một vấn đề trong SKTT

đó là stress của mọi lúc tuổi trong đó có sinh viên. Từ những biểu hiện, nguyên nhân,

cách khắc phục nghiên cứu đã đề ra những cách thức giảm stress bằng sự thư giản

tinh thần, thay đổi thói quen, suy nghĩ, trang bị cho mình lối sống lành mạnh hơn để

giảm bớt áp lực, xây dựng môi trường học tập phù hợp nhất, nâng cao SKTT cho sinh

viên (Nguyễn Thị Huyền, 2012).

b. Lịch sử nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của người sử dụng điện thoại

thông minh và các ứng dụng của ĐTTM trong nước

Năm 2012, nhà nghiên cứu Lê Minh Công nhận thấy có sự ảnh hưởng khá tiêu

cực của Internet một trong những ứng dụng lớn nhất được dùng trên ĐTTM đến đời

sống tinh thần như khó khăn trong quan hệ liên nhân cách, cảm xúc và cả nhận thức

của học sinh nên đã nghiên cứu và ứng dụng khá thành công trong việc sử dụng liệu

pháp nhận thức hành vi trong việc điều chỉnh hành vi nghiện Internet của 5 học sinh

THCS. Kết quả thu được rất khả quan, có sự tiến bộ đáng kể (Lê Minh Công 2012).

Nghiên cứu trên sinh viên tại trường Đại học Nông Lâm TPHCM, tác giả Trần

Minh Trí chỉ ra hai mặt tích cực và tiêu cực của việc sử dụng Internet của sinh viên,

tuy ý kiến thu thập được, phần trăm cao sinh viên đồng tình về lợi ích tinh thần của

Internet (60%) như việc dễ dàng thiết lập mối quan hệ tình bạn và giữ gìn tình bạn,

cung cấp thông tin chăm sóc sức khỏe tinh thần nhưng bên cạnh đó, cũng có sự đồng

thuận về thời lượng sử dụng Internet lớn khiến sinh viên “bị mỏi mệt/bệnh” và kết

quả học tập thấp (Trần Minh Trí, Đỗ Minh Hoàng, 2013).

Cũng trong năm 2012, nhóm tác giả Hồ Văn Dũng, Phùng Đình Mẫn, Zhang

Wei, Li Hui Ling, Li Ni Ni đã phát triển thang đo khuynh hướng nghiện Internet cho

10

thanh niên Việt Nam nhằm phát hiện và kịp thời có động thái ngăn chặn những ảnh

hưởng của Internet đến sức khỏe và tinh thần của thanh niên Việt Nam (Hồ Văn Dũng,

Phùng Đình Mẫn, Zhang Wei, Li Hui Ling, Li Ni Ni 2012).

Năm 2014, trong một nghiên cứu về thực trạng sử dụng Facebook của thanh

thiếu niên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Sơn

đã chỉ ra rằng có đến 97,6% vị thành niên đã và đang sử dụng Facebook và thời điểm

tiếp cận là rất sớm. Theo khảo sát trong nghiên cứu này thì điện thoại di động là công

cụ được sử dụng để dùng Facebook chiếm phần trăm cao nhất. Chính sự thuận tiên

trong việc sử dụng mà cần cân nhắc đến hành vi nghiện Facebook, và có hướng phòng

ngừa và ngăn chặn kịp thời (Huỳnh Văn Sơn, 2014).

Theo nhà nghiên cứu Đặng Văn Luận thì ngoài những tác động tích cực của

công nghệ hiện đại bao gồm có ĐTTM giúp con người gần nhau hơn về khoảng cách

địa lý, công nghệ còn mang đến những ảnh hưởng tiêu cực về mối quan hệ giữa cha

mẹ và con cái, vợ chồng và giữa người lớn tuổi đến người nhỏ tuổi. Công nghệ khiến

sự giao lưu trực tiếp, chia sẻ, thấu hiểu lẫn nhau của các thành viên trong gia đình

giảm sút, cũng từ đó sinh ra những tệ nạn khác như nghiện film đen, xâm hại tình dục

và các mối quan hệ ngoài luồng có cơ hội dễ dàng được hình thành hơn (Đặng Văn

Luận, 2018).

Việt Nam có nhiều nghiên cứu về SKTT ở đối tượng sinh viên tập trung những

vấn đề như sinh viên sử dụng mạng xã hội, facebook, Internet…Chưa có đề tài nào

nghiên cứu tổng quan về đối tượng sinh viên sử dụng ĐTTM. Nghiên cứu này sẽ đi

sâu về đánh giá thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM đồng thời đưa ra đề

xuất nâng cao chức năng của ĐTTM và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến SKTT của

sinh viên sử dụng ĐTTM.

1.2. Cơ sở lý luận của đề tài

1.2.1. Sức khỏe tâm thần

a. Khái niệm sức khỏe tâm thần

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa SKTT là khả năng về trí tuệ và cảm

xúc và tiềm năng của con người. Đó là khả năng nâng cao năng lực cá nhân, xác định

mục tiêu từ đó tự nhận ra năng lực của mình, giải quyết được những khó khăn trong

11

cuộc sống và cống hiến cho cộng đồng và xã hội (WHO, 2003). Theo đó, định nghĩa

về SKTT bao gồm cá nhân, quan hệ xung quanh của cá nhân ấy với xã hội. Phải cân

bằng được những điều đó cá nhân mới có được một SKTT khỏe mạnh.

Theo Từ điển tâm lí học của tác giả Vũ Dũng, SKTT được đề cập như là sức

khỏe tâm lí với ý nghĩa sau: "là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không

có các biểu hiện rối loạn tâm thần, một trạng thái bảo đảm cho sự điều khiển hành vi,

hoạt động phù hợp với môi trường" Theo tác giả các tiêu chí đánh giá SKTT gồm:

sự phù hợp các biểu tượng chủ quan về khách thể với hiện thực của tính chất các phản

ứng với các kích thích bên ngoài, với ý nghĩa của các sự kiện đời sống, sự phù hợp

của mức độ phát triển về các lĩnh vực nhận thức, cảm xúc - ý chí của nhân cách với

lứa tuổi; sự thích ứng với các mối quan hệ xã hội; khả năng tự điều chỉnh hành vi, lập

kế hoạch, mục đích sống và có những nỗ lực để đạt được mục đích đó (Đặng Bá Lãm,

Weiss Bahr, 2007).

Theo bài viết của Jamie Chamberlin: "SKTT là sức khỏe", "Cho đến khi tất cả

chúng ta có thể hiểu rằng có sức khỏe mà không có SKTT, như thế không ai trong

chúng ta sẽ tiến về phía trước" chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của SKTT

để mà có thể nhìn nhận và đánh giá đúng vị trí của SKTT trong cuộc sống của chúng

ta hiện nay (Jamie Chamberlin, 2015).

Trong một công bố trực tuyến trên trang mạng điện tử APA đã định nghĩa về

SKTT. SKTT bao gồm ba khía cạnh: suy nghĩ, hành vi và cảm xúc. Có được SKTT

ổn định con người có khả năng dẫn dắt được cuộc sống của bản thân, có được những

suy nghĩ tích cực, những mối quan hệ chất lượng, những quyết định sáng suốt trong

công việc, học tập và cả đời sống (APA, 2012).

Tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa SKTT là trạng thái cân bằng, không có bệnh

tật về tâm lí. Giữ được sự thoải mái trong các hoạt động sống như công việc, học tập,

mối quan hệ bạn bè, tình yêu. Điều quan trọng là việc thực hiện các hoạt động sống

của cá nhân bên trong như giải quyết vấn đề trong cuộc sống một cách linh hoạt và

vẫn giữ được tinh thần khỏe mạnh (Phạm Minh Hạc, 2008).

Bác sĩ Nguyễn Minh Hải có đề cập trong luận văn tiến sĩ:Nghiên cứu một số chỉ

số sức khoẻ tâm thần trong hoạt động bay của phi công quân sự, “sức khoẻ tâm thần

12

là mặt trung tâm thiết yếu vì chức năng tâm thần của hệ thần kinh trung ương là chủ

đạo, điều khiển mọi hoạt động của con người. Thuật ngữ sức khoẻ tâm thần dùng để

mô tả các mặt của hoạt động tâm thần, nó vừa thể hiện sự lành mạnh trong các hoạt

động tâm thần, vừa bao gồm sự suy giảm, rối loạn trong hoạt động tâm thần” (Nguyễn

Minh Hải, 2009).

Khả năng tận hưởng cuộc sống, khả năng phục hồi, khả năng cân bằng, khả

năng phát triển cá nhân, khả năng linh hoạt thích nghi trong mọi tình huống là những

khía cạnh cơ bản mà theo nghiên cứu của Viện Tâm lý học – Viện Khoa học xã hội

Việt Nam, SKTT bao hàm (Trần Thị Lệ Thu, 2014).

Để một con người có thể sống một cách khỏe mạnh, phải đảm bảo được ba yếu

tố: sinh học, tinh thần và các mối quan hệ xã hội. Ba mặt này luôn đồng hành và tác

động với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất (Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr, 2007).

Cơ thể bị tổn thương (tổn thương thể chất và bệnh thực thể) sẽ gây tình trạng lo âu,

bi quan, buồn phiền, cáu gắt, uể oải, giảm hứng thú tức là gây tổn hại đến SKTT như

trầm cảm do ung thư. Ngược lại, khi trạng thái tâm lí không thoải mái, lo âu, sợ hãi,

buồn chán... hoặc bị rối loạn tâm thần nặng đều kéo theo những rối loạn cơ thể (rối

loạn thực vật - nội tạng, giảm miễn dịch...) như đau dạ dày do stress kéo dài. Sức

khỏe xã hội không tốt khiến con người khó hòa nhập, sống không thoải mái, tăng

stress làm SKTT con người dễ bị tổn thương. Ngược lại, SKTT không tốt cũng gây

trở ngại cho sự hòa nhập của con người vào xã hội, tức là sức khỏe xã hội.

Sự kết nối này được thể hiện rõ ràng, khi một người mang trong mình một căn

bệnh trên cơ thể sẽ gây ra những cảm xúc tiêu cực như lo lắng, sợ hãi, không tập trung

và hứng thú…Ngược lại với những người mang những bệnh tật về tinh thần, cơ quan

đầu tiên trong cơ thể dễ dàng bị ảnh hưởng nhất chính là dạ dày và những cơn đau

đầu kéo dài... Cùng với đó là khi con người không thể thiết lập những mối quan hệ

xung quanh mình sẽ tạo nên cảm giác cô độc, cô đơn từ đó ảnh hưởng đến SKTT.

Kế thừa những khái niệm của các tác giả đi trước, trong bài nghiên cứu, tác giả

sử dụng khái niệm SKTT là “tình trạng tâm lí của cá nhân biểu hiện ở khả năng tự

nhận thức, hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, thiết lập các mối quan hệ gần gũi và

hòa nhập với xã hội” .

13

b. Tiêu chí đánh giá sức khỏe tâm thần:

 Sức khỏe tâm thần khỏe mạnh.

SKTT khỏe mạnh là mặt tích cực của các hoạt động tâm lí, tâm thần của con

người. Mà ở đó con người duy trì và bảo vệ khả năng hài lòng với sự tự nhận thức về

bản thân, hài lòng với các mối quan hệ gần gũi và thiết lập được mối quan hệ vững

chắc với cộng đồng, xã hội.

Theo tác giả Ngô Thị Mỹ Duyên trích dẫn trong luận văn thạc sĩ nhận thức và

thái độ đối với rối loạn SKTT của sinh viên đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

(Ngô Thị Mỹ Duyên, 2013) có nhắc đến khái niệm khoẻ mạnh tâm thần của tác giả

R.Jenkins, ACulloch và C. Parker – WHO (1998), cá nhân khoẻ mạnh về sức khoẻ

tâm thần là cá nhân có: một cuộc sống thật sự thoải mái; niềm tin vào giá trị bản thân,

vào giá trị và phẩm chất của người khác; khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp

lý trước mọi tình huống; khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối

quan hệ; khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất cân bằng.

Dựa theo khái niệm của trên về SKTT thì SKTT khỏe mạnh được xem xét trên

các yếu tố khả năng tự nhìn nhận về bản thân, các mối quan hệ xung quanh và phản

ứng với xã hội.

 Khả năng tự nhận thức về bản thân.

Là sự hài lòng về bản thân, chấp nhận bản thân với những gì bản thân vốn như

vậy. Có suy nghĩ tích cực cả hiện tại và quá khứ của cá nhân ấy. Không những vậy

cá nhân còn có niềm tin vào những giá trị của mình. Tin tưởng bản thân có thể hoàn

thành được những nhiệm vụ trong cuộc sống.

Con người mang SKTT tốt có khả năng thể hiện rõ ràng và chính xác cảm xúc

của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, các xúc cảm được thể hiện ra ngoài

một cách lành mạnh.

Khi con người có khả năng tự cảm nhận bản thân, con người ấy sẽ tạo nên lòng

tự trọng của chính bản thân mình, biết đánh giá đúng bản thân mình ở đâu, không cần

so sánh bản thân mình (giỏi hơn hoặc kém hơn) với người khác. Chính nhờ sự tự cảm

nhận về bản thân tốt cá nhân biết được giá trị của mình ở đâu từ đó có được những

cư xử, cách thể hiện cảm xúc đúng mực để những người xung quanh cũng cảm thấy

14

hài lòng. Niềm vui niềm hạnh phúc của bản thân không còn là tìm kiếm và làm mọi

việc một cách hoàn hảo, cá nhân chấp nhận được những sai lầm và sửa sai với tinh

thần lạc quan. Khi đó cá nhân mới tìm được niềm vui trong cuộc sống từ chính bản

thân mình (Mary Bronson Merki, Don Merki 1996).

 Hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân.

Nhiệm vụ của cá nhân là khả năng hoàn thành tốt công việc của mình, đó là khi

gặp những thách thức và khó khăn trong cuộc sống con người có được ý chí mạnh

mẽ, không bỏ cuộc, cố gắng hết sức mình để hoàn thành công việc một cách tốt nhất

có thể. Không những vậy, chấp nhận những khó khăn, vất vả gặp phải trong cuộc

sống như một điều tất yếu sẽ giúp bản thân có thể đứng vững chắc trên đôi chân của

mình, nâng cao được trình độ, chuyên môn, khả năng của mình, luôn tìm kiếm những

giá trị, những trải nghiệm mới góp phần làm cuộc sống thêm mới mẻ và đa dạng

(Mary Bronson Merki, Don Merki, 1996).

Khi hoàn thành được nhiệm vụ của mình, cá nhân sẽ cảm thấy tự tin, cảm nhận

tốt hơn về bản thân mình, điều đó tác dụng tích cực ngược trở lại với khả năng hoàn

thành nhiệm vụ.

 Thiết lập các mối quan hệ gần gũi.

Những mối quan hệ gần gũi chính là những mối quan hệ có tác động, ảnh hưởng

đến bản thân mỗi người. Đó có thể là mối quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hoặc

tình yêu.

Với SKTT khỏe mạnh con người có khả năng gần gũi, giao lưu, hòa hợp với

các mối quan hệ quan trọng của mình. Không có nghĩa là bản thân luôn cảm thấy vui

vẻ, thoải mái nhưng phần lớn thời gian sẽ bản thân và đối tác luôn trong trạng thái

tích cực, dù có những giận hờn hay giận giữ thì cách giải quyết vấn đề luôn trên tinh

thần tôn trọng lẫn nhau, luôn dành cho nhau sự tự do trong mọi quyết định và thời

gian cũng như không gian riêng. (Mary Bronson Merki, Don Merki, 1996).

 Hòa nhập với xã hội.

Cấu trúc hạnh phúc về mặt xã hội của tác giả Keyes (1998) là sự nhìn nhận và

đánh giá của bản thân về xã hội trên các phương diện: sự gắn kết xã hội, là khả năng

tạo ra những giá trị cho xã hội mình đang sinh sống; chấp nhận xã hội, là sự cảm

15

thông với những khó khăn trong xã hội; tiềm năng xã hội, là niềm tin vào những khả

năng của xã hội, cộng đồng có thể được phát triển lớn mạnh; đóng góp xã hội, là sự

tự nguyện đóng góp những giá trị vật chất và tinh thần vào xã hội; hòa hợp xã hội, là

sự thuộc về một cộng đồng, tập thể và xã hội. (Keyes,1998)

Tóm lại, SKTT khỏe mạnh là biểu hiện tích cực SKTT, là trạng thái khỏe mạnh

của tâm thần, có khả năng nhận thức đúng đắn về bản thân, hoàn thành được nhiệm

vụ của bản thân ở thời điểm đó; có thể thiết lập, duy trì được các mối quan hệ gần gũi

cũng như loại bỏ những mối quan hệ làm mất giá trị của bản thân; và hòa nhập, đóng

góp, gắn kết với cộng đồng và xã hội.

 Sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh

SKTT không khỏe mạnh chỉ trạng thái mất cân bằng của con người về mặt

tâm lí, là những điều mà con người phải gánh chịu về tinh thần từ những khó khăn

trong cuộc sống đến những rối loạn tâm lí.

 Khả năng tự cảm nhận về bản thân thấp và không hoàn thành nhiệm vụ của

cá nhân.

Con người với SKTT không khỏe mạnh sẽ mất khả năng kết nối với bản thân,

có những suy nghĩ tiêu cực: nghi ngờ, né tránh, ghét bỏ chính bản thân; không chấp

nhận, không thành thật với những điều đã xảy ra trong quá khứ, hiện tại và cả tương

lai của mình.

SKTT không khỏe mạnh con người sẽ không có niềm tin vào bản thân. Người

có niềm tin vào bản thân khẳng định số phận bản thân nằm trong tay mình (Nguyễn

Thị Huyền, 2012). Ngược lại, những người không tin tưởng bản thân không tin mình

có thể làm được và luôn đổ lỗi vào người khác khi có khó khăn xảy đến với mình.

SKTT không khỏe mạnh còn ảnh hưởng đến khả năng tự chăm sóc bản thân

từ những việc căn bản nhất. Không những thế, SKTT không khỏe mạnh còn ảnh

hưởng đến tiến độ và chất lượng của khả năng hoàn thành nhiệm của cá nhân dẫn đến

việc sa sút trong công việc, học tập.

 Không có khả năng thiết lập các mối quan hệ gần gũi.

SKTT không khỏe mạnh là một yếu tố ảnh hưởng đến sự thiết lập các mối

quan hệ gần gũi và ngược lại. Những người có SKTT không khỏe mạnh, lòng tự trọng

16

dễ bị bản thân đánh giá thấp chính vì vậy họ không tìm được những người tôn trọng

họ và họ cũng không có khả năng tôn trọng người khác. Chính vì vậy những phản hồi

tiêu cực sẽ đến với bản thân mình từ chính những mối quan hệ gần gũi nhất và chính

những phản hồi đó sẽ khiến bản thân cảm thấy cô đơn, tẻ nhạt, lạnh lẽo, thiếu yêu

thương. Những người có SKTT không khỏe mạnh sẽ rất khó khăn để tìm kiếm được

những phản hồi tích cực (Mary Bronson Merki, Don Merki, 1996).

Theo nghiên cứu "Tự chăm sóc đối với các nhà khoa học" của Nabil Hassan

El-Ghoroury (trên 70 % người tham gia khảo sát trả lời kết nối với bạn bè). Trong

cuộc sống việc gặp gỡ những người thân để có thể được đồng cảm sẽ giúp chúng ta

thoải mái hơn, giải tỏa được cảm xúc và cân bằng trong cuộc sống (Nabil Hassan El

– Ghoroury, 2015). Thế nhưng SKTT không khỏe mạnh khiến cho bản thân khó tìm

được sự kết nối quan trọng này, mất đi nguồn giải tỏa dễ tạo nên sự dồn nén về cảm

xúc.

 Khó hòa nhập với xã hội.

Người có SKTT không khỏe mạnh khó có khả năng chấp nhận người khác,

không chấp nhận sự khác biệt của các cá nhân, cộng đồng và xã hội. Dễ dàng dán

mác, áp đặt suy nghĩ, giá trị của mình lên người khác mà xuất phát điểm là do không

chấp nhận bản thân mình.

Mặt khác, những yếu tố tiêu cực của xã hội như sự bất bình đẳng, lạm dụng,

bắt nạt, sự khác biệt văn hóa cũng là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng đến

SKTT của một cá thể khiến cá thể đó trở nên không khỏe mạnh về tinh thần.

Tóm lại, SKTT không khỏe mạnh biểu hiện ở những người không có đủ khả

năng chấp nhận bản thân, không hoàn thành được những nhiệm vụ cơ bản của mình,

khó khăn trong việc thiết lập các mối quan hệ gần gũi và hòa nhập với xã hội.

1.2.2 Sinh viên

a. Khái niệm sinh viên

Theo Wikipedia, sinh viên là những người đang được học tập, được đào tạo đạo

đức, kiến thức, chuyên môn về một nghề nghiệp mà đã được chọn lựa trong những

trường cao đẳng và đại học. Những chứng chỉ, bằng cấp sau quá trình đào tạo sẽ được

công nhận và có giá trị tùy thuộc vào trường mà cá nhân ấy theo học. Họ sẽ trải qua

17

quá trình, thứ tự các bậc học từ tiểu học, trung học phổ thông, trung học cơ sở trước

khi bắt đầu quá trình rèn luyện trên giảng đường (Wikipedia, 2011)

Quá trình học tập của sinh viên là được đề cao bởi sự tự học tập, tự nghiên cứu

tạo ra kiến thức, kỷ năng, kỷ xảo cho bản thân chứ không phải là dựa vào sự đôn đốc

của cha mẹ, thầy cô. Theo tác giả Lê Khánh Bằng “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử

dụng những năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một một lĩnh vực khoa

học nhất định.” Đây là bước đầu của quá trình tự lập của cá nhân trong cuộc sống.

b. Đặc điểm của sinh viên

 Đặc điểm sinh lý của sinh viên

Sinh viên nói chung đến (trừ những trường hợp đặc biệt) là những cá nhân với

độ tuổi mang đặc điểm sinh lý hoàn thiện, sự tăng trưởng cơ thể vừa phải, không

nhiều biến động. Cơ thể phát triển với đầy đủ chức năng và đặc điểm tràn đầy nhất

về hệ thần kinh, cơ, xương, nội tạng, hệ tiêu hóa, nội tiết, hormone…

Sự tăng trưởng hệ cơ xương và cơ bắp đang dần đạt mức ổn định. Trí tuệ dẻo

dai với bộ não, chất xám, số lượng dây thần kinh liên hợp giữa các vùng chức năng

trên vỏ não được phát triển ở mức cao nhất điều này kích thích và duy trì khả năng

tìm hiểu, học tập và nghiên cứu của sinh viên. Hệ tuần hoàn phát triển ở mức tốt giúp

sinh viên có khả năng chịu đựng, tập trung cao hơn, sinh viên có khả năng làm chủ

được cảm xúc và tâm trạng. Sự phát triển của hormone có ảnh hưởng đến sự tăng

trưởng và phát triển tâm sinh lý của sinh viên đặc biệt là hormone tuyến sinh dục

(Nguyễn Thị Tứ, Lý Minh Tiên, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương, 2012).

 Đặc điểm tâm lí của sinh viên

Bước qua lứa tuổi sinh viên, cùng với sự phát triển chín muồi của đặc điểm

sinh lý, đặc điểm tâm lí cũng có nhiều thay đổi mang tính cố định và phát triển cao,

đặc biệt là trong nhận thức, tư duy và trí tuệ. Tư duy mang tính độc lập, tư duy lý

luận, tư duy phản biện, tư duy khái quát phát triển mạnh từ đó khả năng sáng tạo để

tìm ra cái mới, cái khác biệt được hình thành.

 Hoạt động chủ đạo.

Hoạt động học tập (chuyên sâu về nghề nghiệp tương lai) (Nguyễn Thị Tứ et

a1, 2012). Đây là quá trình sinh viên trau dồi và tích lũy kiến thức trong nhà trường

18

với tâm thể tự ý thức và bản lĩnh về mặt trí tuệ. Tất cả những kiến thức sinh viên thu

thập bằng việc giải quyết nhiệm vụ của học tập được sẽ đảm bảo cho việc phát triển

chuyên môn, kĩ năng, kĩ xảo và cuộc sống sau này của sinh viên. Đây là hoạt động

chủ đạo nên sẽ có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tâm lí của giai đoạn này.

 Đặc điểm nhận thức.

Các đặc điểm về tri giác, ghi nhớ, tư duy và chú ý của sinh viên đều có tính

chủ định. Tri giác của thanh niên học sinh là tri giác có mục đích, có suy xét và có hệ

thống. Trong quá trình tri giác sinh viên thường trong trạng thái tri giác có mục đích,

đặc biệt trong quan sát, đối tượng tri giác của sinh viên rất rõ ràng. Ghi nhớ có chủ

định phát triển mạnh, đây là thời điểm sinh viên học tập bằng phương pháp ghi nhớ

phân loại theo mức độ quan trọng chứ không còn là ghi nhớ máy móc, nhồi nhét kiến

thức. Ở lứa tuổi này, sự tìm tòi, nghiên cứu và khám phá cái mới có vị trí quan trọng

và thiết yếu. Tư duy trừu tượng của sinh viên đóng vai trò quan trọng, hình thành các

phẩm chất tư duy: tính độc lập, lập luận, phê phán, linh hoạt, hệ thống, khái quát,

sáng tạo. Chú ý của sinh viên theo mức độ mà mình quan tâm đến vấn đề đó, khả

năng phân phối chú ý phát triển mạnh (Nguyễn Thị Tứ et a1, 2012).

Sinh viên là lứa tuổi đã hình thành và phát triển “cái tôi” của bản thân, sinh

viên nhìn có lòng tự trọng, có thế giới quan rõ ràng, ít chịu nhiều ảnh hưởng của

những người xung quanh chính vì vậy sự tự ý thức của thanh niên đã phát triển ở mức

cao. Sinh viên có khả năng tự nhìn nhận và đánh giá bản thân trong cảm xúc, hành vi

và vị trí xã hội của mình.

Xem xét đặc điểm nhận thức của sinh viên cần đặt nó trong mối quan hệ với

hoạt động chủ đạo là học tập. Trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay, hoạt động về

trí tuệ là một trong những hoạt động có vai trò to lớn nhất. Để có thể đáp ứng được

nhu cầu này của xã hội, hoạt động nhận thức của sinh viên không những phải chuyên

sâu mà còn phải mở rộng. Chính vì vậy, nhiệm vụ của sinh viên phải trang bị sự phát

triển nhận thức ở mức có thể đáp ứng được, đó là kĩ năng phân tích và tổng hợp vấn

đề, năng lực đánh giá và nhận xét các tình huống, các sự kiện có liên quan đến việc

học tập của mình. Bên cạnh việc nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực mà mình

đang theo đuổi, sinh viên cũng phải tìm hiểu thêm những kiến thức chuyên - liên

19

ngành, tổng hợp và ứng dụng những tri thức đó vào chuyên môn của mình (Phạm Thị

Kim Thoa, 2013).

Tóm lại, nhận thức của lứa tuổi sinh viên nói chung đạt được ở mức cao. Chính

nhờ tính chủ định mà sinh viên có khả năng cảm nhận về bản thân cao, các vấn đề

nảy sinh trong hoạt động học tập được giải quyết một cách nhanh chóng và đạt hiệu

quả hơn rất nhiều so với giai đoạn trước, vì giai đoạn này nhận thức khá linh hoạt.

 Đặc điểm đời sống xúc cảm – tình cảm.

Đời sống xúc cảm – tình cảm của sinh viên mang tính ổn định (Nguyễn Thị

Tứ et a1, 2012). Khi thiết lập các mối quan hệ bạn bè, gia đình, trường học, xã hội

của sinh viên có sự chọn lựa và khó có sự thay đổi hơn so với giai đoạn trước đây.

Sinh viên có nhu cầu kết bạn thân tình và cao hơn nữa là nhu cầu yêu đương theo

những tiêu chuẩn mà sinh viên đặt ra và rất sâu sắc. Đặc biệt trong hoàn cảnh xa gia

đình, những mối quan hệ này là rất cần thiết và có tác động mạnh đến tâm lí của sinh

viên, khiến đời sống tinh thần của sinh viên thêm đa dạng và phong phú.

Một loại tình cảm cao cấp hơn được phát triển trong giai đoạn sinh viên là tình

cảm trí tuệ, nhờ vậy mà sinh viên khát khao chiếm lĩnh tri thức, tự tham gia vào các

hoạt động, mở rộng kiến thức ở nhiều phương diện khác nhau. Chính tình cảm này

giúp sinh viên tiếp thu, học hỏi, rèn luyện được chuyên môn, trí tuệ của bản thân

(Phạm Thị Kim Thoa, 2013).

 Đặc điểm nhân cách.

Sinh viên là giai đoạn có mong muốn tìm hiểu, khám phá bản thân nhiều nhất.

Song song với đó, sinh viên cũng bắt tay vào quá trình xây dựng giá trị bản thân một

cách tự giác thông qua mục tiêu của bản thân hoặc những “hình mẫu” mà các em

theo đuổi. Xuất phát từ nhu cầu được tôn trọng và như cầu chứng tỏ bản thân đây là

những nhu cầu cao nhất theo tháp nhu cầu của Maslow, sinh viên hình thành và xây

dựng hình ảnh bản thân theo mong muốn của mình. Đây là những quyết định mang

tính độc lập nhưng để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, những người có

mối quan hệ có thể có tác động đến sinh viên nên đưa ra những lời khuyên đúng đắn

trong quá trình này. Ngoài xây dựng hình ảnh bản thân các em còn hình thành thế

giới quan và và xây dựng lý tưởng sống. Đây cũng là bước ngoặt hình thành nhân

20

cách của sinh viên sau này, chính vì vậy, nghiên cứu này khẳng định một lần nữa

những nhân tố như môi trường sống, cái mối quan hệ gần gũi, và những nguồn thông

tin sinh viên cập nhật cần có sự chọn lọc (Nguyễn Thị Tứ et a1, 2012).

1.2.3 Một số lý luận về sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại

thông minh

a. Sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh

“SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM là tình trạng tâm lí biểu hiện ở khả năng

tự nhận thức bản thân, hoàn thành nhiệm vụ học tập, thiết lập các mối quan hệ gần

gũi và hòa nhập với xã hội của sinh viên đã và đang sử dụng ĐTTM”.

b. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện

thoại thông minh

Kết hợp với khái niệm về SKTT của nghiên cứu, là “tình trạng tâm lí của cá

nhân biểu hiện ở khả năng tự nhận thức, hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, thiết lập

các mối quan hệ gần gũi và hòa nhập với xã hội” cùng với sự hiểu biết của tác giả về

sinh viên, nghiên cứu này sẽ khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của sinh viên

sử dụng ĐTTM ở ba phương diện: yếu tố sinh học, yếu tố tâm lí và yếu tố xã hội, dựa

theo học thuyết của bác sĩ Tâm thần học người Mỹ Geoege Engel, mô hình Tâm -

sinh - xã hội.

 Yếu tố sinh học.

Yếu tố sinh học là một yếu tố có mối quan hệ mật thiết với SKTT, nếu chức

năng sinh lý của cơ thể điều hòa, linh hoạt có thể mang đến những lợi ích tích cực

đến sinh viên, làm tinh thần của sinh viên trở nên lạc quan hơn, xây dựng và giữ gìn

vững chắc được các mối quan hệ gần gũi và dễ dàng hơn trong việc hòa đồng với xã

hội. Ngược lại, những sinh viên có khuyết tật bẩm sinh hoặc do những nguyên nhân

bên ngoài tác động làm suy giảm, mất hoặc thay đổi đột ngột các chức năng của các

bộ phận trong cơ thể có thể gây nên các rối loạn về đến SKTT.

Yếu tố sinh học thường gây ảnh hưởng đến SKTT thông qua chức năng của

não, sự cân bằng các chất hóa học trong não, dùng các chất kích thích ảnh hưởng đến

các bộ phận cơ thể (rượu ảnh hưởng đến tế bào thần kinh; ma túy, thuốc an thần,

thuốc kích thần gây nhiễm độc cấp và gây nghiện; corticoid có nguy cơ gây trầm

21

cảm), tuổi tác, chế độ dinh dưỡng, các bệnh mãn tính hoặc suy giảm các chức năng

trong cơ thể Nguyễn Thị Thanh Hương (2014).

Yếu tố bẩm sinh cũng có tác động lớn đối với SKTT ví dụ như bản đồ gene có

thể gây ảnh hưởng đến SKTT của thế hệ sau, tuy yếu tố di truyền dẫn đến các rối loạn

tâm thần không lớn nhưng có tác động đáng kể nhất là trong các bệnh loạn thần nội

sinh như tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, rối loạn trầm cảm tái diễn (Đào Văn

Dũng, Đỗ Văn Dung 2013).

Những bệnh lý hoặc những sự thay đổi sinh lý mang tính bước ngoặt cũng ảnh

hưởng rất nhiều đến SKTT. Ví dụ bệnh nhân gặp tai nạn mất đi một phần thân thể,

người đó sẽ gặp rất nhiều sự biến đổi tâm lí khiến người đó mất đi niềm tin vào bản

thân từ đó tâm tính, hành vi của người này bị thay đổi, đây là điều kiện thuận lợi đế

rối loạn SKTT xuất hiện. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân HIV/AIDS có thể có

các cơn trầm cảm, hưng cảm và mất lý trí do nhiễm khuẩn thần kinh trực tiếp và thay

đổi đáp ứng miễn dịch (Nguyễn Sinh Phúc, 2013).

Tóm lại yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và to lớn đến SKTT, các ảnh hưởng đã

được nghiên cứu và có nhiều bằng chứng thực tiễn, đây là một yếu tố quan trọng cần

được nhìn nhận đúng đắn trong việc nghiên cứu SKTT.

 Yếu tố tâm lí.

Những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi có mối liên quan đến SKTT. Nhận thức,

thành kiến, cách ứng phó với những hoàn cảnh, tình huống khác nhau trong cuộc sống

góp phần xây dựng hoặc ảnh hưởng tiêu cực, làm giảm sút SKTT.

Nhân cách là khía cạnh được nhắc đến nhiều khi nói đến SKTT chính vì tầm

quan trọng của nó, nhân cách có tính chất quyết định trong việc chống lại sự xuất

hiện, giảm thiểu tác động và sự hồi phục của rối loạn SKTT. Nếu nhân cách mạnh

SKTT sẽ khỏe mạnh, ngược lại rối loạn SKTT sẽ xuất hiện và tác động mạnh mẽ bất

kể khi nào nhân cách trở nên yếu ớt (Đào Văn Dũng, Đỗ Văn Dung, 2013).

Cách mà cảm xúc bộc lộ ra ngoài một cách lành mạnh hay không lành mạnh

cũng có thể ảnh hưởng đến SKTT. Nhận thức và bộc lộ được cảm xúc của bản thân

một cách đúng đắn chính là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ và giữ gìn SKTT của

chính mình (Mary Bronson Merki - Don Merki, 1996). Bất kể giới tính, dân tộc, tôn

22

giáo, văn hóa nào cũng được quyền thõa mãn cảm xúc của bản thân với đúng người

và đúng thời điểm. Có như vậy bản thân chúng ta mới có thể ổn định về tâm lí, sự

kìm hãm cảm xúc quá mức rất dễ dẫn đến ức chế và gây nên tâm bệnh.

Trong các rối loạn liên quan đến SKTT, cơ chế cảm ứng đóng vai trò nhất

định, nhờ cơ chế này mà sinh viên rất dễ tiếp nhận các trạng thái cảm xúc hành vi,

của những người xung quanh (Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr, 2007). Từ đó dẫn đến việc

điều khiển cảm xúc và hành vi của sinh viên chịu sự tác động, đặc biệt là các tác động

xấu là rất nhanh, khi đó SKTT của sinh viên dễ dàng bị ảnh hưởng tiêu cực.

Tóm lại thì yếu tố tâm lí có ảnh hưởng từ bên trong, tuy khó nhận ra nhưng tác

động của yếu tố này là rất sâu sắc đến SKTT.

 Yếu tố xã hội.

Môi trường xung quanh, các mối quan hệ xã hội như gia đình, nhà trường,

cộng đồng; những cột mốc như mất mát người, xung đột, kinh tế, bạo lực; những sự

kiện gây chấn động, thảm họa là những yếu tố có tác dộng mạnh, có khả năng gây

nên mất cân bằng chức năng não bộ, dẫn đến bệnh lý hoặc nặng hơn nữa là các bệnh

tâm thần (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2014).

Gia đình là cái nôi nhân cách của mỗi người, gia đình với sự đầy đủ về thành

viên, tình thương, sự giáo dục là điều kiện thuận lợi cho SKTT của mỗi người được

hoàn thiện. Ngược lại, những gia đình xảy ra nhiều biến cố, gia đình không trọn vẹn,

thiếu tình cảm dễ nảy sinh tâm lí khó khăn dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến SKTT.

Nhu cầu được hòa nhập vào cộng đồng, xã hội của giai đoạn sinh viên là khá

cao chính vì vậy khi không được đáp ứng đủ như cầu này, sinh viên dễ có những cảm

xúc tiêu cực như cảm thấy cô độc, giá trị bản thân thấp lâu dần sẽ gây khó khăn trong

việc sinh viên thiết lập các mối quan hệ xã hội, cô lập trong thế giới của riêng mình.

Yếu tố xã hội vừa tác động đến tâm lí vừa là điều kiện để SKTT của sinh viên

được khỏe mạnh, hoàn thiện. Sinh viên tác động ngược trở lại với xã hội thông qua

sự đóng góp, cống hiến của mình. Chính vì lẽ đó mối quan hệ hai chiều này phải luôn

được giữ vững ở mức cân bằng.

Tóm lại, SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM bị tác động, chi phối, ảnh hưởng

bới rất nhiều yếu tố. Trong giới hạn của nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến yếu

23

tố sinh học, yếu tố tâm lí và yếu tố xã hội. Ba yếu tố này là những yếu tố chính ảnh

hưởng trực tiếp đến SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM. Không những vậy, các yếu

tố này còn có tác động qua lại với nhau theo mô hình tâm – sinh – xã hội. Điều quan

trọng là cần nắm vững các yếu tố và tầm quan trọng của nó để có cái nhìn đúng đắn

hơn cũng như sự tập trung để xây dựng, hoàn thiện để SKTT luôn khỏe mạnh.

c. Ảnh hưởng của ĐTTM đến SKTT của sinh viên:

 Mặt tích cực của ĐTTM

 Ảnh hưởng đến tự nhận thức bản thân.

Với những tính năng của ĐTTM, sinh viên cũng có thể dễ dàng hơn trong việc

xây dựng, duy trì và khẳng định giá trị của bản thân. Thông qua những tương tác của

những người xung quanh, cách cá nhân nhìn vào bản thân mình cũng như mục tiêu

xây dựng giá trị của bản thân trong tương lai cũng rõ ràng hơn, chi tiết hơn khiến sinh

viên có được mục tiêu và động lực sống tốt hơn.

 Ảnh hưởng đến hoàn thành nhiệm vụ học tập.

Thông qua các ứng dụng của ĐTTM, sinh viên có khả năng mở rộng, tiếp thu,

trau dồi tri thức của mình phục vụ cho công việc học tập và định hướng nghề nghiệp

tương lai hoặc chăm sóc sức khỏe, kỷ năng sống. Sinh viên muốn nâng cao kiến thức,

kỹ năng nào có thể tải về những ứng dụng về mảng đó ví dụ học ngôn ngữ với:

Duolingo, HiNative, SpeakingPal…, hoặc luyện trí nhớ, tăng động lực học tập với

ứng dụng hoc24h…Không những vậy, nhờ ĐTTM sinh viên có thể tiếp thu được

nguồn kiến thức của mình thông qua chia sẻ của những người đi trước hoặc trên

những trang tìm kiếm chính thống.

Về mặt tích cực, những tiện ích của ĐTTM đem đến cho sinh viên quan trọng

nhất là nâng cao giá trị của bản thân sinh viên, giúp sinh viên có cái nhìn đúng hơn

về bản thân, hoàn thành nhiệm vụ quan trọng nhất trong giai đoạn này của sinh viên

là học tập và rèn luyện đạo đức.

 Ảnh hưởng đến xây dựng và duy trì các mối quan hệ gần gũi.

24

Duy trì những mối quan hệ gần gũi bằng các ứng dụng chúng ta có thể ghi nhớ

được những ngày kỷ niệm, những cột mốc quan trọng, thông qua những tin nhắn,

những lời động viên đúng lúc, những món quà tinh thần ý nghĩa. Với những tính năng

như gọi điện thoại hình ảnh hoặc âm thanh, trao đổi hình ảnh, email giúp kết nối của

các mối quan hệ được nhanh chóng nhờ vậy mà thường xuyên hơn, gần gũi hơn.

 Ảnh hưởng đến mở rộng các mối quan hệ xã hội.

Nhờ ĐTTM chúng ta có thể tìm kiếm bạn bè xung quanh, hoặc những nhóm

người mới có cùng sở thích, định hướng nghề nghiệp tương lai, những tiền bối trong

trường, những người có cùng chí hướng.

Một phần nhờ sử dụng ĐTTM, sinh viên có thể có được những thông tin từ

những cộng đồng tương trợ, giúp đỡ nhau trên Internet hoặc mạng xã hội nhanh chóng

và tiện lợi, từ đó có thể tham gia vào các nhóm, dùng sức của mình cống hiến cho xã

hội: các nhóm sinh viên có thể tham gia: Tiếp sức mùa thi, mùa hè xanh, ngàn hạt

giấy…

Nhìn chung, thông qua ĐTTM và những tiện ích của nó mà sinh viên có thể

nâng cao, khẳng định được giá trị của bản thân; nâng cao kiến thức, kỹ năng của mình

một cách nhanh chóng và chính xác hơn; duy trì được những mối quan hệ gần gũi và

giúp sức cho cộng đồng, xã hội thường xuyên và dễ dàng.

 Mặt tiêu cực của ĐTTM

Stress, mất ngủ, kiệt sức do kéo dài thời gian sử dụng ĐTTM.

Biểu hiện của stress là việc cá nhân có những những cảm xúc tiêu cực như

căng thẳng, lo lắng, hoang mang, đau buồn , không thể đưa ra được phản ứng chính

xác cho những tình huống xảy đến trong cuộc sống. Nặng hơn nữa, là sự trơ về mặt

cảm xúc, mất khả năng ứng phó được với các sự kiện dù là nhỏ nhất (Nguyễn Thị

Huyền, 2012). Nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời stress kéo dài rất có thể

dẫn đến trầm cảm hoặc rối loạn lo âu.

Gây nên biểu hiện stress của sinh viên nói trên vì nhờ sự tiện ích của ĐTTM

mà sinh viên dành đa phần thời gian của mình vào ĐTTM, không gian gặp gỡ, giao

lưu trò chuyện mở không còn là sự lựa chọn tối ưu của sinh viên mà thay vào đó là

sự giao tiếp thông qua các ứng dụng trên ĐTTM vì sự tiết kiệm chi phí đi lại và thời

25

gian. Sự giao tiếp mặt đối mặt hoặc cùng không gian sống với nhau không còn được

sinh viên ưu tiên (Bùi Thị Ngọc Hân, 2013). Chính vì lẽ đó mà sinh viên không còn

được giao tiếp trực tiếp với nhau, giới hạn cuộc sống chỉ xoay quanh chiếc ĐTTM,

dẫn đến tình trạng “phụ thuộc”.

Ngoài ra ĐTTM với tính tiện lợi và hấp dẫn của nó dễ khiến sinh viên không

thể điều khiển, điều chỉnh hành vi, cảm xúc của mình. Sinh viên sử dụng với tần suất

dày đặc khiến dễ dàng rơi vào tình trạng thiếu kiểm soát với những kích thích từ bên

ngoài. Dễ bị kích động bới các yếu tố xung quanh và có những hành vi sai lệch.

Xây dựng hình ảnh bản thân bằng cách dùng những tiện ích của ĐTTM nhưng

cũng vì vậy mà những giá trị chân chính không được sinh viên chú tâm đến, chạy

theo những giá trị “ảo”, cái tôi lý tưởng đi quá xa cái tôi hiện thực khiến SKTT rất dễ

mất cân bằng. Cũng vì mong muốn xây dựng hình ảnh bản thân nên người dùng bắt

buộc kiềm chế cảm xúc hoặc không biết cách thể hiện cảm xúc lành mạnh, đúng đắn

dẫn tới cá nhân sinh viên dễ dẫn tới phẫn uất, stress hoặc trầm cảm.

Nhiệm vụ chính của sinh viên là học tập cũng dễ bị ảnh hưởng, phân tán sự

tập trung bởi thời gian sử dụng ĐTTM vào nhu cầu giải trí, lướt web, tham gia mạng

xã hội chiếm phần lớn khiến sinh viên không còn đủ thời gian cho quá trình học tập

và trau dồi tri thức. Thời gian ngủ, nghĩ ngơi, ăn uống hoặc ngay cả đi vệ sinh cũng

bị chiếm bởi ĐTTM, dẫn đến tình trạng kiệt sức, mất ngủ hoặc nặng hơn là những rối

loạn cưỡng bức, rối loạn lo âu, đặc biệt có những trường hợp lo lắng khi thiếu ĐTTM,

không kiểm soát được cảm xúc và hành động của mình.

Sự giao lưu trực tiếp khiến bản thân mỗi người dễ có thể có cái nhìn đúng đắn

hơn về người khác nhưng thông qua các ứng dụng ĐTTM, những lời nói, hành động

có thể dễ bị phán đoán sai vì là giao lưu gián tiếp khiến sinh viên dễ bị lừa gạt, dễ nảy

sinh cảm xúc không còn tin tưởng vào bản thân, mất mát cả vật chất lẫn tinh thần.

Cũng chính vì nguyên nhân sử dụng nhiều ĐTTM, sinh viên cũng dễ dàng

đánh mất những mối quan hệ của cá nhân khi không còn đủ thời gian, tâm trí, kể cả

là sức khỏe cho việc chăm sóc bản thân, duy trì các mối quan hệ gần gũi hoặc tham

gia vào cộng đồng, xã hội.

26

Tóm lại, SKTT của sinh viên chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó vật

dụng gắn bó hằng ngày như ĐTTM có sự ảnh hưởng trực tiếp. Cần cân bằng và hài

hòa trong việc sử dụng ĐTTM nhằm giảm thiểu tác hại và nâng cao lợi ích, hướng

đến SKTT khỏe mạnh.

27

Tiểu kết chương 1

Lịch sử nghiên cứu đề tài cho thấy rằng, SKTT và ĐTTM là lĩnh vực nghiên

cứu rất được quan tâm hiện nay trên thế giới và cả ở Việt Nam. Có nhiều nghiên cứu

về lĩnh vực này. Việt Nam chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về ĐTTM và sự ảnh hưởng

của nó đến SKTT, các nghiên cứu tập trung vào sự ảnh hưởng những ứng dụng, tiện

ích có trong ĐTTM.

Đề tài nghiên cứu của tác giả đã xây dựng được khái niệm SKTT, chỉ ra khái

niệm ĐTTM, khái niệm sinh viên, nêu được đặc điểm của SKTT khỏe mạnh và SKTT

không khỏe mạnh, các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của sinh viên, SKTT của sinh

viên sử dụng ĐTTM từ đó nêu lên cách ứng phó với thực trạng SKTT không khỏe

mạnh của sinh viên sử dụng ĐTTM.

Khái niệm SKTT là “tình trạng tâm lí của cá nhân biểu hiện ở khả năng nhận

thức, hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, thiết lập các mối quan hệ gần gũi và hòa

nhập với xã hội.”

 SKTT khỏe mạnh là mặt tích cực của các hoạt động tâm lí, tâm thần của con

người. Mà ở đó con người duy trì và bảo vệ khả năng hài lòng với sự tự nhận thức về

bản thân, hài lòng với các mối quan hệ gần gũi và thiết lập được mối quan hệ vững

chắc với cộng đồng, xã hội.

 SKTT không khỏe mạnh chỉ trạng thái mất cân bằng của con người về mặt

tâm lí, là những điều mà con người phải gánh chịu về tinh thần từ những khó khăn

trong cuộc sống đến những rối loạn tâm lí.

Sinh viên sử dụng ĐTTM là những sinh viên đang trong quá trình lĩnh hội kiến

thức, đạo đức trong các trường đại học, cao đẳng có sử dụng ĐTTM. Sinh viên sử

dụng ĐTTM mang đầy đủ những đặc điểm của sinh viên thông thường: đủ khả năng

tự học tập, nghiên cứu và mang đặc điểm tâm sinh lý tương đối hoàn thiện.

ĐTTM là một sản phẩm mang tính cách mạng của loài người, vừa đảm bảo được

những chức năng thông tin liên lạc cơ bản của điện thoại di động vừa là trợ thủ đắc

lực hiện đại có mặt trong hầu hết các hoạt động chính của con người trong cuộc sống

và công việc.

28

 Mặt tích cực, thông qua ĐTTM và những tiện ích của nó mà sinh viên có thể

nâng cao, khẳng định được giá trị của bản thân; nâng cao kiến thức, kỹ năng của mình

một cách nhanh chóng và chính xác hơn; duy trì được những mối quan hệ gần gũi và

giúp sức cho cộng đồng, xã hội thường xuyên và dễ dàng.

 Mặt tiêu cực: vì nguyên nhân sử dụng nhiều ĐTTM, sinh viên có thể dễ dàng

đánh mất những mối quan hệ của cá nhân khi không còn đủ thời gian, tâm trí, kể cả

là sức khỏe cho việc chăm sóc bản thân, duy trì các mối quan hệ gần gũi hoặc tham

gia vào cộng đồng, xã hội.

29

Chương 2. THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN

SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Thể thức nghiên cứu

2.1.1. Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng ĐTTM của trên

địa bàn TPHCM.

2.1.2. Mẫu nghiên cứu

Chọn mẫu thuận tiên tại ba trường đại học Sư phạm TPHCM và đại học Bách

Khoa TPHCM năm học 2017-2018. Tổng số phiếu phát ra là 276 phiếu với 100%

sinh viên sử dụng ĐTTM thì có 210 phiếu hợp lệ. Phiếu hợp lệ là phiếu đảm bảo được

điều kiện người làm phiếu là đối tượng của nghiên cứu: sinh viên sử dụng ĐTTM của

ba trường đại học Sư phạm, đại học Bách Khoa và đại học Công nghệ thành phố Hồ

Chí Minh, không bỏ trống câu trả lời, trả lời đạt yêu cầu.

Bảng 2.1. Phân bố thành phần mẫu nghiên cứu

Thành phần Tần số Tỉ lệ (%) Tổng Tỉ lệ (%)

Đại học Sư phạm 68 32,38% TPHCM

Đại học Bách 78 37,15% 210 100 Trường Khoa TPHCM

Đại học Công 64 30,47% nghệ TPHCM

Nam 112 53,33% 210 100 Giới tính Nữ 98 46,67%

Quan sát số liệu bảng 2.1 thấy rằng, việc thu thập số liệu đã đạt được theo sự

lựa và mục tiêu đầu của nghiên cứu: ba trường Trường ĐHSP, đại học Bách khoa

TPHCM, đại học Công nghệ TPHCM và giới tính phân bố khá đồng đều nhau. Đối

tượng sinh viên là đối tượng dễ dàng lấy thông tin nên việc phát phiếu cũng như lựa

chọn phiếu khảo sát đúng với mục đích nghiên cứu là tương đối thuận lợi.

30

2.2. Công cụ nghiên cứu

Tổng hợp của các phương pháp nghiên cứu: trong đó phương pháp điều tra

bằng bảng hỏi là phương pháp chính, phương pháp phỏng vấn sinh viên và phỏng vấn

chuyên gia là phương pháp bổ trợ.

2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

a. Nguyên tắc thiết kế

 Dựa trên cơ sở lý luận, người nghiên cứu tiến hành chọn lọc nội dung các câu

hỏi đảm bảo giá trị về mặt nội dung.

 Thiết kế nội dung và hình thức câu hỏi phù hợp với khách thể, đối tượng và

mục đích nghiên cứu.

 Lựa chọn cách cho điểm phù hợp, đảm bảo tính tin cậy về mặt thống kê.

b. Quy trình thiết kế bảng hỏi

 Từ kết quả thu được sau khi nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn liên

quan đến đề tài; với sự trợ giúp, chỉnh sửa, góp ý của người hướng dẫn.

người nghiên cứu tiến hành thiết kế bảng hỏi thử.

 Khảo sát thử trên 20 sinh viên trường đại học Sư phạm TPHCM nhằm hoàn

thiện về hình thức, nội dung cũng như tính hệ số tin cậy của thang đo. Từ đó

chỉnh sửa những câu hỏi có vấn đề.

 Hoàn thiện bảng hỏi về nội dung, hình thức, cách diễn đạt, bố cục và khảo sát

chính thức.

c. Mô tả bảng hỏi

Bảng hỏi gồm các mục: lời chào và giới thiệu mục đích nghiên cứu, mục A

thông tin cá nhân và B là phần nội dung câu hỏi. Phần nội dung câu hỏi bao gồm 2

phần: phần 1 là thực trạng sử dụng điện thoại thông minh của sinh viên và phần 2 sức

khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh, sự phụ thuộc của sinh

viên vào ĐTTM và các biện pháp cân bằng khi phụ thuộc vào ĐTTM.

 Mục A. Thông tin khách thể khảo sát.

Phần này gồm các câu hỏi về thông tin cơ bản của khách thể khảo sát bao gồm:

trường, giới tính, việc sử dụng ĐTTM.

31

 Mục B. Nội dung khảo sát: bao gồm hai phần chính

Phần 1: Thực trạng sử dụng ĐTTM của sinh viên.

Nhóm câu hỏi thực trạng sử dụng ĐTTM của sinh viên bao gồm: Cách thức sử

dụng ĐTTM (câu 1), thời gian sử dụng ĐTTM trong một ngày (câu 2), mức độ sử

dụng ĐTTM ở trường học (câu 3) , mục đích sử dụng ĐTTM (câu 4).

Phần 2: Sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.

Gồm 3 câu hỏi.

Câu 1: Nhằm tìm hiểu thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng

ĐTTM.

A. Về tự nhận thức bản thân (gồm 10 câu hỏi nhỏ).

B. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập (gồm 8 câu hỏi nhỏ).

C. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao

gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) (gồm 8 câu hỏi nhỏ).

D. Về hòa nhập với cộng đồng xã hội (gồm 8 câu hỏi nhỏ).

Câu 2: Nhằm tìm hiểu sự phụ thuộc vào điện thoại thông minh của sinh viên

sử dụng ĐTTM. (gồm 17 câu hỏi nhỏ)

Câu 3: Tìm hiểu biện pháp nâng cao sức khỏe tâm thần, cân bằng việc sử dụng

ĐTTM cho sinh viên sử dụng ĐTTM (gồm 6 câu hỏi nhỏ).

d. Cách quy đổi điểm

Về điểm trung bình chung

Bảng 2.2. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2 –

những nhân tố của SKTT

ĐTB chung Mức độ đánh giá

1 - 1,80 Rất kém

1,81 - 2,6 Kém

2,61 - 3,4 Trung bình

3,41 - 4,2 Tốt

Rất tốt 4,21 - 5

32

Bảng 2.3. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2 –

Sức khỏe tâm thần

ĐTB chung Mức độ đánh giá

1 - 1,80 Rất không khỏe mạnh

1,81 - 2,6 Không khỏe mạnh

2,61 - 3,4 Trung bình

3,41 - 4,2 Khỏe mạnh

4,21 - 5 Rất khỏe mạnh

Bảng 2.4. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2 –

phụ thuộc

ĐTB chung Mức độ đánh giá

1 - 1,80 Phụ thuộc hoàn toàn

1,81 - 2,6 Phụ thuộc nhiều

2,61 - 3,4 Phụ thuộc

3,41 - 4,2 Ít phụ thuộc

4,21 - 5 Không phụ thuộc

Bảng 2.5. Cách quy đổi điểm trung bình chung thành mức độ trong phần 2 –

biện pháp

ĐTB chung Câu 3.1, 3.2, 3.3, 3.4, 3.5, 3.6

1 - 1,75 Không có tác dụng

1,751 - 2,50 Tác dụng ít

2,501 - 3,25 Có tác dụng

3,251 - 4 Có tác dụng nhiều

2.2.2. Phương pháp phỏng vấn

a. Mục đích.

- Bổ sung thông tin làm đầy đủ hơn bảng hỏi

33

- Bổ sung thêm thông tin để góp phần làm sáng tỏ kết quả khảo sát.

- Kiểm tra độ trung thực của các kết quả trả lời phiếu điều tra ý kiến.

- Tìm hiểu thêm thông tin về đối tượng nghiên cứu qua một số khách thể.

- Tìm thêm thông tin về biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM.

b. Cách tiến hành.

- Liên hệ với một số sinh viên để làm rõ số liệu xử lý được về sức khỏe tâm thần

của sinh viên.

- Tiến hành phỏng vấn dựa trên bảng phỏng vấn với câu hỏi đã chuẩn bị sẵn

theo mục đích nghiên cứu. Có thể sử dụng thêm những câu hỏi phát sinh tùy

theo vấn đề phát sinh trong nội dung trả lời của khách thể.

2.2.3. Phương pháp thống kê toán học

a. Mục đích.

Xử lý các kết quả định lượng thu được từ cuộc khảo sát nhằm làm cơ sở để

biện luận kết quả nghiên cứu.

b. Nội dung nghiên cứu

- Thống kê mô tả: Tính tổng, trị số trung bình, tần số, tỷ lệ phần trăm, kiểm

nghiệm T-test, kiểm nghiệm ANOVA, kiểm nghiệm tương quan Pearson.

- So sánh kết quả giữa các nhóm khách thể, các mặt khác nhau trong cùng một

chỉ báo nghiên cứu.

b. Cách thức tiến hành

Sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS để xử lý các dữ kiện thu được,

phục vụ cho việc phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu.

2.3. Kết quả nghiên cứu

2.3.1. Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh

Bảng 2.6. Tần suất sử dụng ĐTTM.

Bạn đang sử dụng ĐTTM như thế STT Tần số % Thứ hạng nào?

1 Đang sử dụng thường xuyên. 147 1 70.0

34

2 Sử dụng khi cần thiết. 53 25.2 2

3 Sử dụng nhưng không thích. 7 3.3 3

4 Sử dụng sau một thời gian ngừng. 3 1.4 4

70

60

50

40

Phần trăm

30

20

10

0

Sử dụng khi cần thiết

Đang sử dụng thường xuyên

Sử dụng nhưng không thích

Sử dụng sau một thời gian ngừng

210 100 Tổng

Biểu đồ 2.1. Tần suất sử dụng ĐTTM

Bảng 2.7. Tần suất sử dụng ĐTTM tối đa trong một ngày

STT Tần số %

Thời gian sử dụng ĐTTM tối đa trong một ngày. 1 Có thể không sử dụng. 2 3 4 1 đến 3 tiếng. 4 đến 6 tiếng. Sử dụng liên tục.

Tổng 12 76 88 34 210 5,7 36,2 41,9 16,2 100 Thứ hạng 4 2 1 3

Nhận xét:

Kết hợp hai bảng số liệu trên cũng như biểu đồ 2.1 có thể kết luận hiện nay đa

số sinh viên đang sử dụng ĐTTM một cách thường xuyên (70%). Cách đó khoảng

cách khá lớn là tần suất sinh viên sử dụng khi cần thiết (25%). Rất ít sinh viên không

thích ĐTTM (3,3%). Khi phỏng vấn, sinh viên đều trả lời mình sử dụng ĐTTM nhiều

và rất nhiều, có sinh viên còn trả lời là sử dụng ĐTMM 24/7 chỉ cần có thời gian rảnh,

35

ngoại trừ lúc ngủ, “em sử dụng ĐTTM khá là thường xuyên, gần như là vật không thể

thiếu trong các hoạt động hằng ngày”. Với sự tương đồng của 2 bảng trên, sinh viên

thời nay dành thời gian cho việc dùng ĐTTM từ “4 đến 6 tiếng” một ngày chiếm tỉ

lệ lớn nhất (41,9%), “1 đến 3 tiếng” chiếm không cao (36,2%), cũng có một bộ phận

sinh viên sử dụng ĐTTM một cách liên tục (16,2%) và chỉ có một số lượng nhỏ sinh

viên “có thể không sử dụng” (5,7%). Điều này cho thấy việc sử dụng ĐTTM đang

trở thành một nhu cầu lớn, một điều thiết yếu trong cuộc sống của sinh viên, chiếm

nhiều thời gian của các sinh hoạt bình thường khác như học tập, giải trí và sinh hoạt.

Theo kết quả so sánh giữa ba trường trong nghiên cứu này, nhìn chung tần suất sử

dụng ĐTTM tương đối đồng đều nhau. Riêng, đại học Sư phạm TPHCM có 74,3 %

phần trăm sinh viên sử dụng thường xuyên ĐTTM, đây là số phần trăm cao nhất trong

ba trường. Đặc biệt không có sinh viên nào của trường ĐH Công Nghệ TPHCM “sử

dụng nhưng không thích ĐTTM” và phần trăm sinh viên sử dụng ĐTTM liên tục cao

nhất (22,9%)

Có sự khác nhau giữa tần suất sử dụng ĐTTM của nam và nữ sinh viên. Có 81,9%

sinh viên nữ sử dụng thường xuyên, cao hơn nhiều phần trăm sinh viên nam sử dụng

ĐTTM như vậy (58,1%). Đặc biệt không có sinh viên nữ nào sử dụng ĐTTM sau một

thời gian ngừng, với nam là 2,9%. Trong một ngày, phần trăm cao nhất của sinh viên

nữ là sử dụng ĐTTM trong khoảng“4 đến 6 tiếng” (43,5%), còn ở sinh viên nam là

“1 đến 3 tiếng” (41,9%). Cuối cùng, về “sử dụng liên tục” chiếm 20% sinh viên nữ

và 12,4% nam. Từ sự so sánh này có thể kết luận được sinh viên nữ sử dụng ĐTTM

liên tục là thường xuyên hơn sinh viên nam.

Tóm lại, tần suất sinh viên sử dụng ĐTTM là thường xuyên và phần trăm cao

nhất thuộc về khoảng thời gian “4 đến 6 tiếng”. Tần xuất sử dụng của ba trường là

tương đối đồng đều nhưng có sự khác nhau giữa nam và nữ, nữ sử dụng ĐTTM

thường xuyên và liên tục hơn nam.

36

Bảng 2.8. Tần suất sử dụng ĐTTM ở trường của sinh viên sử dụng ĐTTM.

STT Tần số ĐLC Bạn có thường xuyên sử dụng ĐTTM ở trường không?

Luôn luôn. Thường xuyên

Thứ hạng 3 1 2 4 5 1 2 3 Đôi khi. 4 Hiếm khi 5 Không bao giờ.

14 94 90 10 2 210 6.7 44.8 42.9 4.8 1.0 100 Tổng

Nhận xét:

Từ kết quả trên, ta thấy sinh viên có sử dụng ĐTTM chiếm đa số ở hai mức độ

là “thường xuyên” (44.8%) và “đôi khi” (42,9%) có nghĩa là sinh viên sử dụng ĐTTM

ở ngay cả nơi dành cho việc học tập và điều đó đã trở thành thói quen có thể chi phối

cuộc sống hằng ngày. Chỉ có 4,8% sinh viên trả lời là “hiếm khi” và 1% sinh viên

“không bao giờ” sử dụng ĐTTM khi ở trường. Giữa ba trường không có sự khác biệt

về tần suất sử dụng ĐTTM trong trường. Nữ giới có 46,7% thường xuyên sử dụng

ĐTTM cao hơn ở nam là (42,9%), tuy nhiên phần trăm cao hơn không đáng kể.

Theo số liệu này, tần suất sử dụng ĐTTM ở sinh viên các trường và nam, nữ sinh

viên là khá cao và đồng đều vì vậy nếu ngoài mục đích học tập mà sinh viên vẫn sử

dụng ĐTTM.

Để có được các mục đích chính của việc sử dụng ĐTTM, người nghiên cứu đã

lấy thông tin chính từ việc phỏng vấn nhanh khoảng 20 sinh viên với câu hỏi “Bạn

dùng ĐTTM để làm gì?” và dưới đây là kết quả khảo sát chính thức.

Bảng 2.9. Mục đích sử dụng ĐTTM của sinh viên

STT Tần số % Bạn thường sử dụng ĐTTM chủ yếu vào mục đích gì?

1 2 3 4 Học tập. Giải trí Thể hiện bản thân. Giao tiếp.

146 177 13 119 455 69,5/100 84,2/100 6,1/100 56,7/100 100.0 Thứ hạng 2 1 4 3 Tổng

Nhận xét:

37

Theo bảng số liệu ta thấy, các mục đích chính khi sinh viên sử dụng ĐTTM.

Qua quan sát bảng, với 177/ 210 sinh viên sử dụng ĐTTM nhằm mục đích giải trí,

đây là một con số khá cao, đa phần các em khi có ĐTTM đều chọn giải trí là mục

đích của mình và thông qua thông tin thêm từ phỏng vấn đây cũng là một trong những

mục đích sử dụng chính của các em. ĐTTM đang là một công cụ quan trọng nhất hiện

nay để các em có thể giải trí trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau như tham gia mạng xã

hội (Facebook, Instagram…), chơi những trò chơi điện tử, xem video, xem film, nghe

nhạc…

Vị trí thứ hai xếp ngày sau đó là mục đích học tập với 146/210 sinh viên lựa chọn,

tần số này so với mẫu là một con số lớn, có nghĩa là ngoài mục đích giải trí sinh viên

còn chú trọng việc học thông qua sử dụng ĐTTM, qua phỏng vấn các em hay dùng

ĐTTM là để để chụp và ghi âm bài giảng, tìm kiếm tài liệu tham khảo ngoài ra ĐTTM

còn hỗ trợ các em rất nhiều trong việc tìm hiểu thông tin trên trang web trường, xem

lịch thi, theo dõi kết quả học tập…

Giao tiếp cũng chiếm một phần lớn trong sự lựa chọn của các bạn về mục đích sử

dụng ĐTTM có 119/210 sinh viên lựa chọn. ĐTTM là một công cụ hữu hiệu cho việc

giữ liên lạc với những người xung quanh không những thông qua gọi nghe, nhắn tin

thông thường mà thông qua các ứng dụng sự giao tiếp càng trở nên đơn giản và nhanh

chóng hơn. Chính vì vậy giao tiếp là đáp án có rất nhiều sinh viên đã lựa chọn.

Kết quả cuối cùng là về thể hiện bản thân rất ít sinh viên lựa chọn đáp án này, chỉ

13 lần lựa chọn, cho thấy rằng đối với sinh viên việc thể hiện bản thân thông qua một

chiếc điện thoại là điều hiếm thấy, lứa tuổi sinh viên chưa có sự thể hiện đẳng cấp,và

rất hiếm có sự phân biệt giai cấp, các em đa phần sống hòa đồng với nhau.

So sánh giữa các trường, phần trăm sinh viên đại học Sư phạm và đại học Hutech

sử dụng ĐTTM mục đích học tập khá cao (trên 70%). Đặc biệt sinh viên đại học

Hutech sử dụng ĐTTM với mục đích giải trí là cao nhất trong ba trường (91,4%).

Mục đích giao tiếp và thể hiện bản thân là đồng đều giữa ba trường.

Về giới tính, nữ sinh viên sử dụng ĐTTM với mục đích học tập cao hơn nam sinh

viên (71,4% > 67,6%). Mục đich giao tiếp nam sinh viên lại cao hơn nữ sinh viên

(62,9% > 50,5%), điều này có thể lý giải việc gặp gỡ, trao đổi trực tiếp của nữ sinh

38

viên cao hơn nam sinh viên, chính vì vậy nam giới cần ĐTTM vào mục đích giao

tiếp. Tuy vậy, nhìn chung sự khác biệt này cũng không lớn.

Theo quan sát của người nghiên cứu, đây là câu hỏi nhiều sự lựa chọn, đa phần

sinh viên được khảo sát sẽ chọn ba mục đích sử dụng chính của ĐTTM là giải trí, học

tập và giao tiếp chiếm với 442/455 lần chọn. Kết quả này cũng đúng với thực tế và

khảo sát của nghiên cứu.

2.3.2. Thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại

thông minh

Như trong chương 1 đã nêu, chúng tôi khảo sát SKTT của sinh viên sử dụng

ĐTTM ở các khía cạnh: tự nhận thức bản thân; hoàn thành nhiệm vụ học tập; thiết

lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân; gia đình bạn bè, đồng nghiệp và

nhận thức xã hội.

a. Về tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh

Bảng 2.10. Tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng ĐTTM

39

STT Biểu hiện ĐTB ĐLC XH

Biểu hiện tích cực

3,78 1 0,970 3 Bạn hài lòng với những giá trị bản thân

3,64 2 0.849 6 Bạn hiểu được năng lực của bản thân.

3,79 3 0,781 2 Bạn biết những thiếu sót của bản thân mình.

3,77 4 0.990 4 Bạn biết mình đang có những cảm xúc gì.

5 3,47 1,022 7

Khi có cảm xúc mạnh bạn thường để cảm xúc lắng lại rồi giải quyết vấn đề.

6 3,67 0,924 5 Bạn suy nghĩ trước khi hành động.

Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)

7 1,089 1 3,81 Bạn chán ghét bản thân mình.

8 1,270 9 3,29 Bạn hay cảm thấy thua kém so với chính bạn trước đây

3.32 9 1,189 8 Bạn hay làm quá lên cảm xúc của mình.

9 10 1,040 2,55

Bạn hay có những hành động bộc phát khiến mình phải hối hận.

ĐTB chung: 3,508

Nhận xét:

Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng trên tốt với ĐTB chung là 3,509 cho thấy

mặt bằng chung sinh viên sử dụng ĐTTM thể hiện việc tự nhận biết bản thân ở mức

tốt. Sở dĩ thực trạng tự nhận thức bản thân ở mức này vì đây là thời đại của sự phát

triển, các em có rất nhiều cơ hội như những khóa học; những công cụ hiện đại; sự chỉ

40

dẫn, khuyến khích, đánh giá từ thầy cô, những người đi trước chính vậy các em dễ

dàng nhìn nhận và khám phá bản thân mình.

Tìm hiểu cụ thể hơn về mức độ của từng biểu hiện của tự nhận thức bản thân theo

đánh giá của sinh viên sử dụng ĐTTM không có biểu hiện nào ở mức rất tốt, mức tốt

lần lượt theo thứ tự xếp hạng là không đồng ý với việc “chán ghét bản thân mình”

(ĐTB là 3.81); đồng ý với “biết những thiếu sót của bản thân mình”(ĐTB là 3,79)

và “hài lòng với những giá trị bản thân” (ĐTB là 3,78). Đây là một dấu hiệu đáng

mừng cho việc sinh viên sử dụng ĐTTM có sự tự nhận thức bản thân tốt, biết được

mình là ai, không có cảm giác tự ti, mặc cảm với bản thân mình. Điều này dễ hiểu

hơn khi càng hiện đại con người càng trở nên tự tin nắm bắt bản thân, cuộc sống của

mình.

ĐTB thấp nhất tương ứng với biểu hiện nhận thức bản thân kém nằm ở hai biểu

hiện: “Bạn có những hành động bộc phát khiến mình phải hối hận” (ĐTB 2,55) và

“bạn hay cảm thấy thua kém so với chính bạn trước đây” (ĐTB 3,29), tuy điểm trung

bình chung nằm ở mức tốt nhưng những biểu hiện tiêu cực này có ĐTB thấp như vậy

nghĩa là bản thân các em còn có nhiều sự mâu thuẫn, đặc biệt là điều chỉnh cảm xúc,

tuy có lúc các em suy nghĩ nhiều trước khi hành động nhưng cũng có những khi các

em có những hành động bộc phát, thiếu kiềm chế khiến mình phải hối hận... Tuy vậy,

các em cũng chưa đến mức chán ghét bản thân (ĐTB 3,78).

Bảng 2.11. Tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường

và giới tính

Trường Giới tính

Biểu hiện ĐHSP ĐHBK

ĐH

Nam Nữ

HUTECH

TPHCM TPHCM

Kiểm nghiệm T- Nhận địch tích cực Kiểm nghiệm ANOVA Test

Bạn hài lòng ĐTB 3,81 3,64 3,87 3,81 3,74

với những Kiểm df = 2 df=208 giá trị bản nghiệm Sig = 0,350 Sig = 0,620 thân

41

Bạn hiểu ĐTB 3,59 3,60 3,73 3,73 3,54

được năng Kiểm df = 2 df=208 lực của bản nghiệm Sig = 0,550 Sig = 0,104 thân.

Bạn biết ĐTB 3,76 3,76 3,84 3,80 3,77

những thiếu Kiểm df = 2 df=208 sót của bản nghiệm Sig = 0,757 Sig = 0,792 thân mình.

Bạn biết ĐTB 3,70 3,76 3,86 3,76 3,78

mình đang Kiểm df = 2 df=208 có những nghiệm Sig = 0,639 Sig = 0,890 cảm xúc gì.

Khi có cảm ĐTB 3,47 3,47 3,87 3,52 3,42

xúc mạnh

bạn thường

để cảm xúc Kiểm df = 2 df=208

lắng lại rồi nghiệm Sig = 1,000 Sig = 0,459

giải quyết

vấn đề.

ĐTB 3,71 3,87 3,57 3,60 3,69 Bạn suy nghĩ

trước khi Kiểm df = 2 df=208

hành động. nghiệm Sig = 0,540 Sig = 0,823

Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)

ĐTB 3,90 3,93 3,61 3,77 3,86 Bạn chán

ghét bản thân Kiểm df = 2 df=208

mình. nghiệm Sig = 0,168 Sig = 0,570

Bạn hay cảm ĐTB 3,54 3,09 3,23 3,35 3,22

thấy thua

kém so với Kiểm df = 2 df=208

chính bạn nghiệm sig = 0,84 Sig = 0,448

trước đây

42

Bạn hay làm ĐTB 3,29 3,34 3,33 3,36 3,28

quá lên cảm Kiểm df = 2 df=208 xúc của nghiệm Sig = 0,958 Sig = 0,603 mình.

Bạn hay ĐTB 2,63 2,41 2,60 2,50 2,53

những hành

động bộc Kiểm df = 2 df=208 phát khiến nghiệm Sig = 0,540 Sig = 0,843 mình phải

hối hận.

Nhận xét:

Nhìn vào số liệu ở trên ta thấy về tự nhận thức bản thân của sinh viên sử dụng

ĐTTM theo trường và theo giới tính khá tương đồng. Cụ thể như sau:

Theo trường thì lựa chọn của các em khá tương đồng và không có sự khác biệt

mang ý nghĩa thống kê. Điểm trung bình cao nhất thuộc về biểu hiện “bạn chán ghét

bản thân mình” (ĐHSP:3,90; ĐHBK: 3,93; ĐHCN:3,61) , đây là Biểu hiện được các

em lựa chọn hướng về mức không đồng ý cao nhất. Lý giải cho điều này các em hiện

nay cảm thấy tự tin về bản thân mình, biết được điểm mạnh, điểm yếu của mình nên

việc chán ghét bản thân là điều khó xảy ra. ĐTB thấp nhất của cả ba trường thuộc về

biểu hiện “Bạn có những hành động bộc phát khiến mình phải hối hận” (ĐHSP:2,63;

ĐHBK: 2,61; ĐHCN:2,60). Các em tuy có khả năng hài lòng về bản thân, tự giúp đỡ

bản thân tốt nhưng lại thiếu kỹ năng điều chỉnh, điều khiển cảm xúc và hành động

của mình.

Theo giới tính: cũng không có nhiều khác biệt giữa ĐTB của các biểu hiện về

tự nhận thức bản thân của nam và nữ sinh viên sử dụng ĐTTM. ĐTB cao và thấp nhất

tương tự các biểu hiện phân tích ở trên.

b. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng điện thoại

thông minh

Bảng 2.12. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM

43

St Biểu hiện ĐTB ĐLC XH t

Biểu hiện tích cực

Bạn có khả năng tập trung 1 3,35 0,936 4 trong suốt thời gian học.

Tìm kiếm những thử thách để

2 chinh phục trong học tập là sở 3,20 1,031 7

thích của bạn.

Việc thảo luận trong giờ học 3 3,46 1,008 3 của bạn gần đây tốt.

Chất lượng các sản phẩm học

tập (tiểu luận, bài tập, nghiên 4 3,30 1,013 5 cứu…) gần đây của bạn được

đánh giá cao.

Bạn hài lòng với việc học tập 5 3,25 1,109 6 của mình.

Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)

Bạn hay hoàn thành bài tập của 6 3,49 0.999 2 môn học trễ tiến độ.

Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó 7 0,981 1 3,61 khăn trong học tập.

Thời gian gần đây kết quả học

8 8 tập của bạn không đạt như 1,184 3,12

trước.

ĐTB chung: 3,35

Nhận xét:

Theo kết quả trên, được phép nhận xét về nhân tố hoàn thành nhiệm vụ học tập”

của sinh viên sử dụng ĐTTM đang ở mức “trung bình” nhưng nghiêng về phía “tốt”

với ĐTB chung là 3,35.

44

Lý giải cho sự phân vân của các em, ba biểu hiện trong nhóm các nhân tố tiêu

cực về việc hoàn thành nhiệm vụ học tập có các điểm trung bình không đồng đều.

Biểu hiện“thời gian gần đây kết quả học tập của bạn không đạt như trước” có ĐTB

thấp nhất (ĐTB: 3,12) nhưng biểu hiện “bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong học

tập” và “bạn hay hoàn thành bài tập của môn học trễ tiến độ” lại cao nhất. (ĐTB là

3,61 và 3,49). Tương tự, trong nhóm những nhân tố tích cực, chúng ta có thể nhận

thấy ĐTB của biểu hiện “tìm kiếm những thử thách để chinh phục trong học tập là

sở thích của bạn” nằm trong nhóm thấp (ĐTB 3,2) nhưng biểu hiện “việc thảo luận

trong giờ học của bạn gần đây tốt” lại ở mức cao (ĐTB 3,46).

Điều này có thể đưa đến nhận xét, tuy các em có nhiều có gắng trong việc tập

trung học tập, hoàn thành bài tập đúng hạn nhưng sự đánh giá về kết quả mang lại là

không cao và các em chưa có nhu cầu tìm kiểm những thử thách để chinh phục trong

học tập. Theo biểu hiện chủ quan của người nghiên cứu, các em vẫn chỉ cố gắng hoàn

thành những nhiệm vụ mình phải làm hoặc được giảng viên giao, chưa đào sâu , mở

rộng nghiên cứu nhằm tăng vốn kiến thức nên kết quả mang lại chưa đạt như mong

muốn của các em. Chính vì vậy các em còn mâu thuẫn, phân vân, lưỡng lự trong việc

hoàn thành nhiệm vụ học tập. Nhưng khả quan mà nói, dù “phân vân” trước những

biểu hiện về “hoàn thành nhiệm vụ học tập” nhưng phần trăm của việc đồng ý với

những biểu hiện tích cực và không đồng ý những biểu hiện tiêu cực là khá cao.

Bảng 2.13. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM theo

trường và theo giới tính

Trường

Giới tính

Biểu hiện

Nam

Nữ

ĐHSP TPHCM

ĐHBK TPHCM

ĐH HUTECH

Biểu hiện tích cực

Kiểm nghiện ANOVA

Kiểm nghiệm T- Test

ĐTB

3,24

3,46

3,34

3,48

3,22

Kiểm nghiệm

df=208 Sig = 0,050

df = 2

Bạn có khả năng tập trung trong suốt thời gian học.

ĐTB

3,20

3,41

3,00

3,32

3,09

Sig = 0,421

45

df=208 Sig = 0,094

Kiểm nghiệm

df = 2

Tìm kiếm những thử để thách chinh phục trong học là sở tập thích của bạn.

ĐTB

3,26

3,46

3,67

3,50

3,42

Sig = 0,059

Việc thảo luận trong giờ học của bạn gần đây tốt.

df=208 Sig = 0,539

Kiểm nghiệm

df = 2

ĐTB

3,23

3,37

3,31

3,38

3,23

Sig = 0,050

df=208 Sig = 0,277

Kiểm nghiệm

df = 2

Chất lượng các sản phẩm học tập luận, bài (tiểu tập, nghiên cứu…) gần đây của bạn được đánh giá cao.

ĐTB

3,17

3,34

3,30

3,28

3,22

Sig = 0,705

Bạn hài lòng với việc học tập của mình.

Kiểm nghiệm

df=208 Sig = 0,710

df = 2

Sig = 0,773

Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)

ĐTB

3,47

3,47

3,51

3,41

3,50

Kiểm nghiệm

df=208 Sig = 0,270

df = 2

Bạn hay hoàn thành bài tập của môn học trễ tiến độ.

ĐTB

3,59

3,81

3,57

3,70

3,61

Sig = 0,958

Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong học tập.

Kiểm nghiệm

df=208 Sig = 0,483

df = 2

ĐTB

3,19

3,00

3,19

3,04

3,21

Sig = 0,958

Kiểm nghiệm

df=208 Sig = 0,295

df = 2

Thời gian gần đây kết quả học bạn của tập không đạt như trước.

Sig = 0,565

Nhận xét:

Về hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường

và theo giới tính có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định. Cụ thể như sau:

46

Theo trường: kết quả thu được cho thấy có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê

giữa các trường về biểu hiện “việc thảo luận trong giờ học của bạn gần đây tốt” (p =

0,050). Tuy vậy, nhìn chung sinh viên giữa các trường có lựa chọn hướng về mức

đồng ý đối với những biểu hiện tích cực và không đồng ý với những biểu hiện tiêu

cực về hoàn thành nhiệm vụ học tập và các sự lựa chọn là khá tương đồng.

Theo giới tính: so sánh về nhiệm vụ hoàn thành việc học tập của nam và nữ có sự

khác biệt ở biểu hiện “bạn có khả năng tập trung trong suốt thời gian học” (p =0,050).

Trong đó ĐTB của khả năng học tập của nam cao hơn của ĐTB của nữ (ĐTB:

3,48>3,22). Các biểu hiện còn lại về học tập giữa nam và nữ tương đồng nhau, không

có sự khác biệt.

c. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh

Bảng 2.14. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao

gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp)

47

Stt Biểu hiện ĐTB ĐLC XH

Biểu hiện tích cực

1 0,968 1 4,22

Bạn cảm thấy an toàn, thoải mái khi bên cạnh những người thân của mình.

2 4,16 0,963 2

Những người thân đem lại nguồn năng lượng tích cực giúp bạn vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

3 1,036 7 3,51 Những người thân của bạn hay chủ động hẹn gặp bạn.

4 4,16 0,928 2 Bạn tôn trọng thời gian riêng của người thân.

5 4,02 0,858 3 Bạn cảm nhận được người thân tôn trọng mình.

6 3,90 0.901 5

Người thân có cảm giác vui vẻ, thư giản khi được chia sẻ và bên cạnh bạn.

7 3,98 0,896 4 Bên cạnh những người thân bạn cảm nhận được giá trị của bản thân.

Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)

8 3,65 1,123 6 Bạn hay ép buộc người thân làm theo ý mình vì muốn tốt cho họ.

ĐTB chung: 3,98

Nhận xét:

Trong nhóm những nhân tố SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM thì ĐTB của

việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao gồm gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp) có ĐTB chung là cao nhất (ĐTB 3,98), với ĐTB chung này minh

chứng cho việc các em giữ được mối quan hệ tốt với những người gần gũi từ cả hai

phía. Điều này là rất tốt và cần thiết nhất là đối với những sinh viên xa nhà cần sự

động viên, bên cạnh, giúp đỡ về mặt tinh thần các em.

48

Chi tiết hơn, các em cảm thấy rất an toàn và thoải mái khi được bên cạnh người

thân của mình, điều này được thể hiện có đến 49% các em lựa chọn “hoàn toàn đồng

ý” với nhân định này và đây cũng là biểu hiện có ĐTB cao nhất (ĐTB: 4,22). Những

người thân là những người các em có thể tin tưởng và giúp đỡ các em trong quá trình

vượt qua những khó khăn trong học tập và cuộc sống. Chính vì vậy mà khi các em có

được sự thoải mái và an toàn bên người thân, cuộc sống xa nhà của các em sẽ dễ dàng

hơn rất nhiều.

Chính vì có cảm giác an toàn và thoải mái như vậy nên như phân tích ở trên phần

trăm “hoàn toàn đồng ý” về biểu hiện “những người thân đem lại nguồn năng lượng

tích cực giúp bạn vượt qua khó khăn trong cuộc sống” cũng rất cao (44,3%), ĐTB

cũng ở mức tốt (ĐTB: 4,16). Khi gặp khó khăn các em thường hướng về nơi an toàn

và may mắn đó chính là người thân của các em.

Có một điều đáng lưu ý về việc các em yêu thương và quan tâm người thân của

mình đó là biểu hiện“bạn hay ép buộc người thân làm theo ý mình vì muốn tốt cho

họ”. Tuy nhận định này có ĐTB vẫn ở mức tốt (ĐTB: 3,65) nhưng ĐTB này là thấp

nhất trong nhóm, một số các em vẫn có suy nghĩ muốn tốt cho người thân thông qua

việc ép buộc họ là một điều có thể chấp nhận được.

Cuối cùng, về biểu hiện “Những người thân của bạn hay chủ động hẹn gặp

bạn” có ĐTB thấp nhất trong nhóm câu khảo sát về sự thiết lập mối quan hệ của sinh

viên sử dụng ĐTTM (ĐTB: 3,51). Điều này cũng đúng với thực tế và bài nghiên cứu

này vì ngoài cách gặp mặt trực tiếp, các em có rất nhiều cách để kết nối với nhau, kết

nối với gia đình thông qua chính ĐTTM và những ứng dụng của nó. Chính vì vậy mà

việc gặp mặt không có sự lựa chọn duy nhất.

Tóm lại, kết quả số liệu của nhóm câu khảo sát về thiết lập mối quan hệ thân

thiết có sự lựa chọn “hoàn toàn đồng ý” với những biểu hiện tích cực rất cao, ĐTB

cũng nghiêng về mức tốt. Đây là một dấu hiệu đáng mừng với người nghiên cứu vì

với văn hóa phương Đông, các mối quan hệ gần gũi, thân thiết đặc biệt là gia đình

luôn là điều rất thiêng liêng, cần sự vun đắp, trân trọng.

Bảng 2.15. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân theo

trường và giới tính

49

Trường Giới tính

Biểu hiện Nam Nữ ĐHSP TPHCM ĐHBK TPHCM ĐH HUTECH

Biểu hiện tích cực Kiểm nghiệm ANOVA Kiểm nghiệm T- test

ĐTB 4,24 4,14 4,27 4,11 4,32

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,713 df=208 Sig = 0,117

Bạn cảm thấy an thoải toàn, mái khi bên cạnh những người thân của mình.

ĐTB 4,11 4,01 4,34 4,12 4,19

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,117 df=208 Sig = 0,617

Những người thân lại đem nguồn năng tích lượng giúp cực vượt bạn qua khó khăn trong cuộc sống.

ĐTB 3,57 3,54 3,43 3,46 3,57

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,691 df=208 Sig=0,426

Những người thân của bạn hay động chủ hẹn gặp bạn.

ĐTB 4,16 4,00 4,31 4,10 4,22

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,134 df=208 Sig= 0,325

Bạn tôn trọng thời riêng gian của người thân.

ĐTB 3,93 4,03 4,10 4,04 4,00

50

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,496 df=208 Sig= 0,749

Bạn cảm nhận được người thân tôn trọng mình.

ĐTB 3.93 3,91 3,84 3,92 3,87

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,835 df=208 Sig= 0,647

Người thân có cảm giác vui vẻ, thư khi giản chia được sẻ và bên cạnh bạn.

cạnh ĐTB 4,06 3,89 4,00 3,97 3,99

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,517 df=208 Sig= 0,878

Bên những người thân bạn cảm nhận được giá trị của bản thân.

Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)

ĐTB 3,70 3,30 3,96 3,65 3,66

df = 2

Kiểm nghiệm df=208 Sig= 0,951 Sig=0.05

Bạn hay ép buộc người làm thân theo ý mình vì muốn tốt cho họ.

Nhận xét:

Số liệu trên cho thấy nhìn chung về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ

gần gũi – người thân của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường và giới tính là

đồng đều nhau và có những điều cần lưu ý sau:

Theo trường học: đối với biểu hiện được lựa chọn hướng về hoàn toàn đồng ý

cao nhất của sinh viên các trường là “Bạn cảm thấy an toàn, thoải mái khi bên cạnh

những người thân của mình” (ĐHSP:4,24; ĐHBK: 4,14; ĐHCN:4,27). Kết quả cho

51

thấy sinh viên ĐHCN có ĐTB hướng về mức hoàn toàn đồng ý cao nhất. Tuy nhiên

qua kiểm nghiệm cho thấy khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Các nhóm sinh

viên cho rằng cảm thấy rất thoải mái khi được ở bên cạnh người thân, bạn bè.

Theo giới tính: tương tự như với các trường sinh viên nam và nữ đều có quan

hệ với người thân tốt, khá tương đồng với nhau trong các biểu hiện. Sự lựa chọn của

cả nam và nữ sinh viên đều hướng về hoàn toàn đồng ý với những biểu hiện tích cực

và hoàn toàn không đồng ý với những biểu hiện tiêu cực về thiết lập và duy trì mối

quan hệ thân thuộc.

d. Về nhận thức xã hội của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.

Bảng 2.16. Về nhận thức xã hội

Stt Biểu hiện ĐTB ĐLC XH

Biểu hiện tích cực

1 3,72 0.079 4

2 4,05 0,908 2

3 1,111 1 4,10

4 1,115 8 3,01

5 4,01 0,938 3 Bạn cảm thấy thoải mái, phấn chấn khi được tham gia vào các hoạt động cộng đồng, xã hội. Xã hội là một tập đoàn người bao gồm những cá nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng. Bạn cảm thấy bất bình về những thiếu công bằng trong xã hội: bạo hành, bắt nạt tập thể, phân biệt chủng tộc. Bạn là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng đồng. Bạn có mong muốn đóng góp cho xã hội.

Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)

6 3,58 1,114 6

7 3,59 1,023 5

8 3,43 1,016 7 Bạn không tham gia các hoạt động cộng đồng, xã hội. Suy nghĩ của bạn là suy nghĩ của cả xã hội. Bạn cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi tham gia vào các hoạt động xã hội.

ĐTB chung: 3,68

52

Nhận xét:

Từ kết quả nghiên cứu trên, có thể kết luận về nhận thức về cộng đồng, xã hội

của sinh viên sử dụng ĐTTM đạt mức tốt với ĐTB chung là 3,68. Đa số các em có ý

thức tham gia, đóng góp vào cộng đồng, xã hội cụ thể như sau:

Các em có sự quan tâm đặc biệt với các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội.

Có đến 43,8% “hoàn toàn đồng ý” với biểu hiện “bạn cảm thấy bất bình về những

thiếu công bằng trong xã hội: bạo hành, bắt nạt tập thể, phân biệt chủng tộc”, đây là

phần trăm rất cao và biểu hiện này cũng có ĐTB chung cao nhất trong nhóm (ĐTB:

4,1)

Bên cạnh đó, các em có nhận thức đúng về sự tôn trọng từng người trong xã hội, tôn

trọng sự khác biệt, điểm trung bình của biểu hiện “xã hội là một tập đoàn người bao

gồm những cá nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng” là 4,05.

Tuy các em có nhận thức và suy nghĩ tốt về những vấn đề của xã hội nhưng việc

các em tham gia vào các nhóm, cộng đồng, xã hội còn chưa được tốt.. Một bộ phận

các em còn “cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi tham gia vào các hoạt động xã hội”

(ĐTB:3,43). Các em chưa tham gia nhiều vào các hoạt động trong cộng động, xã hội,

ĐTB của biểu hiện “ bạn là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng đồng” là thấp

nhất trong nhóm (ĐTB: 3,01), với 30,5% các em không nằm trong tổ chức, cộng

đồng. Điều này có thể lý giải, các em nhìn nhận nhiệm vụ chính của mình là học tập,

chính vì vậy việc tham gia vào các hoạt động xã hội chưa thật sự cần thiết.

Tóm lại, dù các em tham gia chưa nhiều vào các hoạt động cộng đồng và xã

hội nhưng nhận thức về xã hội của các em tương đối tốt. Cần có nhiều hoạt động,

phong trào, sự kiện để kết nối, kết hơp để các em có thể vừa hoàn thành việc học tập

và hòa đồng vào xã hộ

53

Bảng 2.17. Về nhận thức xã hội của sinh viên sử dụng ĐTTM theo trường và

theo giới tính

54

Giới tính

Biểu hiện Nam Nữ ĐHSP TPHCM Trường ĐHBK TPHCM ĐH HUTECH

Biểu hiện tích cực Kiểm nghiệm ANOVA Kiểm nghiệm T- test

3,56 3,67 3,75 3,69 3,93 ĐTB

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,54 df=208 Sig= 0,623

4,16 ĐTB 3,77 4,23 4,00 4,10

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,12 df=208 Sig= 0,405

ĐTB 3,83 3,16 4,30 3,95 4,24

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,036 df=208 Sig= 0,062

ĐTB 3,07 3,21 2,74 2,99 3,03

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,037 df=208 Sig= 0,805

ĐTB 4,10 3,94 3,99 3,93 4,09

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,594 df=208 Sig= 0,240

Bạn cảm thấy thoải mái, phấn chấn khi tham được gia vào các động hoạt đồng, cộng xã hội. Xã hội là một đoàn tập người bao gồm những cá nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng. Bạn cảm thấy bất bình về thiếu những công bằng trong xã hội: bạo hành, bắt nạt tập thể, phân biệt chủng tộc. Bạn là thành viên của các chức, tổ nhóm vì cộng đồng. Bạn có mong muốn đóng góp cho xã hội. Biểu hiện tiêu cực (đã quy đổi điểm)

55

ĐTB 3,63 3,73 3,73 3,59 3,56

df = 2 0,853 Sig=0,147 Kiểm nghiệm

ĐTB 3,69 3,40 3,69 3,42 3,76

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,162 df=208 Sig= 0,015

ĐTB 3,56 3,47 3,27 3,50 3,37

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,233 df=208 Sig= 0,378

Bạn không tham gia các động hoạt cộng đồng, xã hội. Suy nghĩ của bạn là suy nghĩ của cả xã hội. Bạn cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi tham gia vào các hoạt động xã hội.

Nhận xét:

Thực trạng nhận thức xã hội của sinh viên sử dụng ĐTTM ở ba trường và theo

giới tính có tương đồng và có điểm khác biệt, cụ thể như sau:

Theo trường: nhìn chung về nhận thức xã hội sinh viên các trường tương đối

tốt, các câu trả lời đa số hướng về đồng ý với biểu hiện tích cực, không đồng ý với

biểu hiện tiêu cực. Tuy nhiên, có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê trong biểu hiện

“bạn cảm thấy bất bình về những thiếu công bằng trong xã hội: bạo hành, bắt nạt

tập thể, phân biệt chủng tộc” giữa ba trường (p=0,036). Trong ba trường ĐTB cao

nhất thuộc về trường ĐHCN (ĐHSP: 3,83; ĐHBK: 3,16; ĐHCN: 4,30); có thể nói

sinh viên ĐHCN rất bất bình với những vấn đề nóng, tiêu cực trong xã hội. Tuy nhiên

với sự khác biệt trong biểu hiện “bạn là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng

đồng” (p=0,037); ĐTB của trường ĐHCN lại thấp nhất (ĐHSP: 3,07; ĐHBK: 3,21;

ĐHCN: 2,74) điều này có nghĩa tuy sinh viên ĐHCN quan tâm với những vấn đề

nhưng lại chưa tích cực tham gia các nhóm vì cộng đồng và xã hội. Ngoài những

điểm khác biệt nêu trên, các biểu hiện còn lại về nhận thức xã hội đều tương đồng

giữa ba trường.

Theo giới tính: sinh viên nam và nữ đều có những lựa chọn phù hợp với những

biểu hiện về nhận thức xã hội. Với ĐTB cao nhất, biểu hiện “xã hội là một tập đoàn

56

người bao gồm những cá nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng” có sự lựa chọn

hướng về mức hoàn toàn đồng ý cao. (ĐTB nam: 4,00 và nữ: 4,01). Biểu hiện “bạn

là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng đồng” có ĐTB thấp nhất ở cả hai giới

tính (ĐTB nam: 2,99 và nữ: 3,03).

Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ ở biểu hiện “suy nghĩ

của bạn là suy nghĩ của xã hội” (p=0,015), trong đó nam đồng ý với biểu hiện không

hợp lý này nhiều hơn nữ giới (ĐTB nam: 3,42 và nữ: 3,76). Lý giải cho điều này,

theo quan sát chủ quan của người nghiên cứu nữ giới có sự giao lưu suy nghĩ, cảm

xúc trong nhóm, cộng đồng, xã hội nhiều hơn chính vì vậy ở nữ giới có cái nhìn mở

hơn về sự đa dạng trong suy nghĩ của cộng đồng.

Tóm lại, nhận thức xã hội của ba trường và hai giới đều ở mức tốt tuy có điểm khác

biệt nhưng nhìn chung là tương đối đồng đều.

Thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng điện thoại thông minh.

Bảng 2.18. Thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM

Stt Nhân tố ĐTB ĐLC

Về tự nhận thức bản thân. 3,51 0,5139 1

Về hoàn thành nhiêm vụ học 3,35 0,6052 2 tập

Về việc thiết lập và duy trì các

mối quan hệ gần gũi – người 3,94 0,6049 3

thân.

4 Về nhận thức xã hội. 3,68 0,5293

Sức khỏe tâm thần 3,62 0,4279

Nhận xét:

Trong những nhân tố hình thành nên SKTT, nhân tố về “việc thiết lập và duy

trì các mối quan hệ gần gũi” đạt ĐTB cao nhất (ĐTB: 3,94) tức là hướng về mức

đồng ý với những biểu hiện tích cực và không đồng ý với những biểu hiện tiêu cực,

điều này cho thấy các em rất quan tâm đến việc duy trì, xây dựng các mối quan hệ và

đang làm tốt điều đó.

57

Về “Nhận thức xã hội” của sinh viên sử dụng ĐTTM tương đối tốt (ĐTB: 3,68),

các em bất bình với những bất công trong xã hội, quan tâm đến sự phát triển cộng

đồng tuy nhiên chưa thật sự tham gia vào các tổ chức, hoạt động một các hết mình,

nhiệt tình.

Về “tự nhận thức bản thân” các em có khả năng nhìn nhận đúng sai, điểm mạnh

điểm yếu của bản thân, chính nhờ điều đó các em có được sự tự tin, sự “hài lòng với

giá trị bản thân”. ĐTB của biểu hiện này là 3,51 đạt mức tốt.

Nhân tố “hoàn thành nhiệm vụ học tập” có ĐTB thấp nhất trong nhóm đạt ở mức

trung bình (ĐTB:3,35). Như đã nói ở trên, các em có tư duy và nỗ lực trong học tập

tuy nhiên chưa có sự đào sâu nghiên cứu cũng như mức hài lòng cao nên kết quả

ĐTB

4 3.9 3.8 3.7 3.6 3.5 3.4 3.3 3.2 3.1 3

Nhận thức xã hội

Tự nhận thức bản thân

Hoàn thành nhiệm vụ học tập

Thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi

mang lại chưa theo đúng mong muốn của các em.

Biểu đồ 2.2. Nhân tố về sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng

điện thoại thông minh

Trong những nhân tố về SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM, theo biểu đồ 2.2,

nhân tố thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi được sinh viên tự đánh giá là cao

nhất. Tuy đa phần các em xa nhà nhưng việc các em vẫn có thể duy trì mối quan hệ

tốt với người thân, xây dựng các mối quan hệ mới tốt đẹp là điều rất đáng quý. Cũng

nằm ở mức “tốt” nhưng có ĐTB thấp nhất trong những nhân tố về SKTT của sinh

viên sử dụng ĐTTM đó là nhân tố hoàn thành nhiệm vụ học tập, việc các em chưa

thực sự hài lòng nhất đó chính là kết quả học tập của mình.

58

Tóm lại, theo sự khảo sát và số liệu thu thập được có thể kết luận được SKTT

của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TP.HCM đang đạt ở mức khỏe mạnh với

ĐTB: 3,62. Đây là một tín hiệu đáng mừng SKTT khỏe mạnh các em sẽ thuận lợi

trong việc hoàn thành các hoạt động sống ở lứa tuổi thanh niên của mình.

Bảng 2.19. Thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM xét theo trường và

theo giới tính

Giới tính

Nam Nữ Biểu hiện ĐHSP TPHCM Trường ĐHBK TPHCM ĐH HUTECH

Kiểm nghiệm ANOVA Kiểm nghiệm T-test

3,5400 3,5114 3,5333 3,4829

3,4729 df = 2

df=208 Sig= 0,478

Sig=0,742 3,4071 3,2929 3,3625 3,3893 3,3190 hoàn ĐTB Kiểm nghiệm ĐTB

0,533 0,402 Kiểm nghiệm

ĐTB 3,9625 3,8536 4,0321 3,9214 3,9774

df = 2

Sig=0,213 Kiểm nghiệm df=208 Sig= 0,504

Về tự nhận thức bản thân. Về thành nhiệm vụ học tập Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân.

3,7446 3,6504 3,6417 3,7298

3,6554 df = 2 Về nhận thức xã hội df=208 Sig= 0,229

3,6350 3,6408 3,6214 3,6273

SKTT Sig=0,524 3,5972 df = 2

Sig=0,806 ĐTB Kiểm nghiệm ĐTB Kiểm nghiệm df=208 Sig= 0,921

Nhận xét:

59

Thông qua bảng số liệu trên, chúng tôi kết luận các nhân tố và SKTT của sinh

viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TPHCM đồng đều giữa các trường và hai giới,

không có sự khác biệt.

Về ĐTB của các nhân tố:

Nhân tố 1: Về tự nhận thức bản thân, trường ĐHSP có sự nhận thức về bản thân

tốt hơn hơn so với hai trường còn lại (ĐTB của ĐHSP: 3,5400; ĐHBK: 3,4729;

ĐHCN: 3,5114) và nam sinh viên có ĐTB cao hơn nữ sinh viên (ĐTB nam: 3,5333

và nữ: 3,4829).

Nhân tố 2: Về hoàn thành nhiệm vụ học tập, ĐTB cao nhất thuộc về trường

ĐHBK (ĐTB của ĐHSP: 3,2929; ĐHBK: 3,4071; ĐHCN: 3,3625). So sánh giữa hai

giới thì nam sinh viên có khả năng hoàn công việc học tập cao hơn nữ sinh viên (ĐTB

nam: 3,3893 và nữ: 3,3190).

Nhân tố 3: Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân,

trường ĐHCN có mối quan hệ gần gũi nhất với người thân, bạn bè hơn so với hai

trường còn lại (ĐTB của ĐHSP: 3,9625; ĐHBK: 3,8536; ĐHCN: 4,0321). Nữ giới

cao hơn nam giới viên (ĐTB nam: 3,9214 và nữ: 3,9774).

Nhân tố 4: Về nhận thức xã hội, trường ĐHSP có nhận thức về xã hội tốt hơn

ĐHBK và ĐHCN (ĐTB của ĐHSP: 3,7446; ĐHBK: 3,6554; ĐHCN: 3,6504). Và nữ

giới cũng tốt hơn nam giới (ĐTB nam: 3,6417 và nữ: 3,7298).

Kết quả về sự so sánh trung bình giữa các trường và giới tính tuy không lớn nhưng

có tương đồng với sự quan sát chủ quan của tác giả. Thứ 1, về nhận thức bản thân

sinh viên ĐHSP là những giáo viên tương lai nên việc hình ảnh bản thân là rất quan

trọng cho việc làm gương và giáo dục học sinh, sinh viên sau này. Tiếp theo, về hoàn

thành nhiệm vụ học tập, ĐHBK là một trong những trường đại học top đầu nên việc

học tập tốt nhất là điều dễ hiểu. Cuối cùng, về hai nhân tố giữ gìn các mối quan hệ

gần gũi và nhận thức xã hội ở nữ tốt hơn nam giới nguyên nhân thông thường nữ giới

có cách đón nhận và thể hiện cảm xúc cũng như nhu cầu gắn kết cao hơn nam giới.

Cuối cùng, về SKTT, ĐTB cao nhất ứng với SKTT tốt nhất là trường ĐHSP,

sau đó là ĐHCN và cuối cùng là ĐHBK (ĐTB của ĐHSP: 3,6350; ĐHBK: 3,5972;

ĐHCN: 3,6408), nữ giới cũng khỏe mạnh hơn nam giới về SKKT (ĐTB nam: 3,6214

60

và nữ: 3,6273). Tuy nhiên sự khác biệt, cao thấp giữa các trường và đặc biệt là giới

không đáng kể và chưa mang ý nghĩa thống kê.

Tương quan giữa các nhân tố của sức khỏe tâm thần

Từ các phân tích trên ta thấy được SKTT và 4 nhân tố SKTT của sinh viên sử

dựng ĐTTM đều ở mức tốt, đây là điều đáng mừng. Phân tích sâu hơn về các nhân

tố liệu có sự tương quan giữa các nhân tố cấu thành ĐTTM hay không và tương quan

này là thuận hay nghịch, số liệu sau đây sẽ trả lời được câu hỏi đó.

Bảng 2.20. Tương quan giữa các nhân tố của SKTT

Tương quan Pearson Nhận thức xã hội Tự nhận thức bản thân Hoàn thành nhiệm vụ học tập Thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi

1 0,541** 0,457** 0,478** r

nhận bản

0,000 0,000 0,000 Tự thức thân. Kiểm nghiệm

0,541** 1 0,296** 0,408** r

0,000 0,000 0,000 Hoàn thành nhiệm vụ học tập. Kiểm nghiệm

0,457** 0,296** 1 0,393** r

0,000 0,000 0,000 Kiểm nghiệm Thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi.

r 0,478** 0,408** 0,393** 1

Nhận thức xã hội. 0,000 0,000 0,000 Kiểm nghiệm

Nhận xét:

61

Với kết quả hệ số tương quan, ta thấy tất cả các nhân tố của SKTT đều có mối

liên hệ với nhau khá rõ ràng. Tuy nhiên, hệ số tương quan giữa các cặp nhân tố có sự

chênh lệch nhau chút ít, cụ thể như sau:

Về cặp nhân tố “tự nhận thức bản thân” và “hoàn thành nhiệm vụ học tập” có

tương quan chặt chẽ nhất trong các cặp nhân tố và tương quan thuận ở mức trung

bình (r=0,541) tức là khi sinh viên sử dụng ĐTTM nhận thức được bản thân ở mức

tốt đồng nghĩa với việc hoàn thành nhiệm vụ học tập tốt và ngược lại. Điều này có

thể hiểu được vì khi các em cả nhận được bản thân tốt các em có thể biết được những

điều bản thân mong muốn, biết định hướng, đặt mục tiêu để thực hiện điều đó và học

tập là một trong những điều góp phần nên thành công.

Ngoài cặp nhân tố “ hoàn thành nhiệm vụ học tập” và “tự nhận thức bản thân”

như ở trên đã phân tích thì việc “nhận thức xã hộii” tốt cũng giúp các em có thể hoàn

thành nhiệm vụ học tập tốt hơn và ngược lại (r=0,408) vì khi nhận thức xã hội tốt các

em có thêm nhiều nguồn thông tin đúng đắn, các em hiểu được xã hội điều đó thúc

đẩy các em hoàn thiện tri thức để có thể hòa mình vào xã hội. Ngược lại có kiến thức

tốt các em có thể giúp ích cho xã hội được nhiều hơn.

Cặp biểu hiện về “hoàn thành nhiệm vụ học tập” và “thiết lập và duy trì các mối

quan hệ” tuy có tương quan nhưng rất yếu (r=0,296).

Về cặp nhân tố “thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi” và “nhận thức xã

hội” có tương quan (r=0,393) nghĩa là khi các em xây dựng và duy trì được các mối

quan hệ gần gũi thì nhận thức xã hội của các em cũng tăng lên và ngược lại. Các mối

quan hệ gần gũi là tiền đề để các em có thể hòa mình vào cộng đồng, xã hội và khi

được tham gia vào cộng đồng, xã hội tốt đẹp các em có thêm niềm tin để tăng thêm

kết nối được với các mối quan hệ xung quanh mình.

Tương tự giữa các cặp nhân tố “tự nhận thức bản thân” và “thiết lập và duy trì

các mối quan hệ gần gũi” (r=0.,457); “tự nhận thức bản thân” và “nhận thức xã hội”

(r=0,478) cũng có tương quan thuận ở mức trung bình.

Tóm lại, các nhân tố cấu thành nên SKTT có mối tương quan thuận với nhau

tuy ở mức trung bình-yếu nhưng cũng thể hiện được mối liên hệ giữa chúng. Giữa

62

các nhân tố thì hoàn thành nhiệm vụ học tập và tự nhận thức bản thân có tương quan

mạnh nhất với nhau.

2.3.3. Thực trạng phụ thuộc vào điện thoại thông minh của sinh viên sử dụng

điện thoại thông minh

Bảng 2.21. Thực trạng phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên sử dụng ĐTTM

63

Mức độ biểu hiện (%) Stt Biểu hiện ĐTB ĐLC XH RTX TX TT HK KBG

1 8,1 13,3 24,3 35,2 19,0 3,44 1,177 9

Bạn không hoàn thành công việc vì mất thời gian sử dụng ĐTTM.

2 5,7 17,1 20,5 35,2 21,4 3,50 1,171 7

Bạn khó tập trung trong lớp vì sử dụng ĐTTM.

3 3,8 17,6 23,8 35,2 19,5 3,49 1,108 8

Bạn đau lưng hoặc đau cố vì sử dụng ĐTTM.

4 8,1 18,1 18,6 38,6 16,7 3,38 1,193 11

thể Bạn không ngủ được vì dùng ĐTTM.

5 5,2 8,6 22,9 32,9 30,5 3,75 1,136 4

Bạn không có khả năng làm bất kỳ việc gì nếu thiếu ĐTTM.

6 6,2 5,2 19,5 34,3 34,8 3,86 1,139 3

ăn Bạn không uống đúng giờ vì sử dụng ĐTTM.

7 9,5 22,4 36,2 17,1 14,8 3,05 1,171 14

Bạn chỉ cảm thấy bình thản, dễ chịu khi dùng ĐTTM.

8 4,8 14,8 34,8 24,3 21,4 3,43 1,123 10

Bạn chỉ cảm thấy tự tin khi dùng ĐTTM.

Mức độ biểu hiện (%) Stt Biểu hiện ĐTB ĐLC XH RTX TX TT HK KBG

9 3,3 4,8 25,2 32,9 33,8 3,89 1,036 2 Không có gì thú vị hơn ĐTTM.

64

5,2 17,1 21,4 31,9 24,3 3,53 1,183 6 10

Bạn luôn suy nghĩ về ĐTTM khi không giữ bên mình.

8,1 21,0 23,3 23,8 23,8 3,34 1,270 13 11

Bạn suy nghĩ: sẽ không bao giờ từ bỏ ĐTTM của mình.

9,0 12,9 11,0 33,3 33,8 3,70 1,302 5 12

Bạn mang ĐTTM vào nhà vệ sinh ngay cả khi đang vội.

14,8 29,0 19,0 22,9 14,3 2,93 1,298 15 13 Bạn đặt ĐTTM bên cạnh khi ngủ.

6,7 18,6 27,6 27,6 19,5 3,35 1,181 12 14

người Những xung quanh bạn nói rằng bạn dùng ĐTTM nhiều.

6,2 7,6 20,5 36,7 29,0 3,75 1,140 4 15

Bạn thích dùng ĐTTM hơn nói chuyện với người xung quanh.

13,8 36,2 22,9 20,0 7,1 2,70 1,149 16 16

Bạn dùng ĐTTM ngay sau khi thức dậy.

4,3 7,6 14,8 30,5 42,9 4,00 1,128 1 17

thấy cảm Bạn ĐTTM hiểu mình hơn bạn bè thật bên ngoài

ĐTB chung: 3,475

Nhận xét:

Thông qua khảo sát của nghiên cứu, sinh viên sử dụng ĐTTM hiện nay ở mức

ít phụ thuộc vào ĐTTM với ĐTB chung 3,475. Nghĩa là các em sử dụng ĐTTM

thường xuyên nhưng chưa đến mức lạm dụng. Tuy nhiên ĐTB này không nằm ở

65

mức cao, gần với giá trị phụ thuộc. Bên cạnh những biểu hiện có phần trăm lựa chọn

hiếm khi cao cũng có những biểu hiện có phần trăm của lựa chọn thường xuyên cho

những biểu hiện phụ thuộc cao cụ thể:

Biểu hiện “bạn cảm thấy ĐTTM hiểu mình hơn bạn bè thật bên ngoài” có đến

42,9% sinh viên nghiên về đáp án không bao giờ, nghĩa là tuy các em sử dụng ĐTTM

thường xuyên tuy nhiên ĐTTM không thể thay thế các mối quan hệ xung quanh các

em, các em vẫn hiểu ĐTTM vẫn chỉ là một công cụ để các em có thể thực hiện các

mục đích mà các em mong muốn. Biểu hiện này có ĐTB cao nhất (ĐTB: 4,00)

Biểu hiện “không có gì thú vị hơn ĐTTM” với 33,8% lựa chọn không bao giờ.

Tương tự như trên, các em tuy sử dụng ĐTTM với tần suất cao nhưng các em không

chỉ xem ĐTTM là thú vui duy nhất và “không có gì thú vị hơn ĐTTM” ĐTB của biểu

hiện này cao thứ 2 (ĐTB: 3,89).

Với 34,3% lựa chọn hiếm khi và 34,8% lựa chọn không bao giờ, biểu hiện “bạn

không ăn uống đúng giờ vì sử dụng ĐTTM” không nhận được nhiều sự đồng ý, có

nghĩa là việc sử dụng ĐTTM không có ảnh hưởng nhiều đến việc sinh hoạt của các

em. ĐTB: 3,86 cũng thể hiện điều đó.

Những biểu hiện thể hiện có sự phụ thuộc của các em vào ĐTTM:

Biểu hiện “chỉ cảm thấy bình thản, dễ chịu khi sử dụng ĐTTM” có 36,5 % các

em lựa chọn đôi khi và 22,4% đồng ý nghĩa là, tuy không nhiều những cũng có các

em có chỉ có cảm giác dễ chịu khi sử dụng ĐTTM mà thôi, nghĩa là các em cần ĐTTM

. Với ĐTTB 3,05 ở biểu hiện này, các em có dấu hiệu bị ĐTTM chi phối cảm xúc.

Hai biểu hiện có ĐTB thấp nhất “bạn đặt ĐTTM bên cạnh khi ngủ” (ĐTB: 2,93) và

“bạn dùng ĐTTM ngay sau khi thức dậy”(ĐTB: 2,70) đúng với thực tế quan sát cũng

như trải nghiệm của người nghiên cứu. Hai biểu hiện này có mối liên quan với nhau.

Các em dùng ĐTTM trước khi đi ngủ và ngủ dậy kiểm tra ĐTTM đã trở thành thói

quen của các em. Và mức độ phụ thuộc thể hiện rõ, đặc biệt là biểu hiện dùng ĐTTM

vào lúc thức dậy (36% đồng ý) có ĐTB thấp nhất và gần với mức phụ thuộc nhiều.

Tóm lại, dựa vào số liệu trên cho thấy sinh viên sử dụng ĐTTM ít phụ thuộc

vào ĐTTM (ĐTB: 3,475), tuy các em có những biểu hiện có ĐTB thấp về cảm xúc

nhưng những biểu hiện thể hiện về sự thay đổi về sinh hoạt thường ngày với ĐTB

66

cao. Các em tuy có xu hướng phụ thuộc vào ĐTTM về cảm xúc nhưng chưa ảnh

hưởng nhiều đến các hoạt động sống của các em.

Bảng 2.22. Thực trạng phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên sử dụng ĐTTM theo

trường và theo giới tính

Giới tính

Nam Nữ Biểu hiện ĐHSP TPHCM Trường ĐHBK TPHCM ĐH HUTECH

Kiểm nghiệm ANOVA Kiểm nghiệm T- tesr

ĐTB 3,47 3,33 3,51 3.43 3.45

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,622 df=208 Sig=0,907

ĐTB 3,70 3,14 3,64 3.35 3.64

df = 2

df=208 Sig=0,077 Kiểm nghiệm Sig=0,008

ĐTB 3,63 3,41 3,43 3.41 3.57

df = 2

Sig=0,443 df=208 Sig= 0,091 Kiểm nghiệm

ĐTB 3,43 3,29 3,41 3.28 3.48

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,739 df=208 Sig= 0,225

ĐTB 3,90 3,57 3,83 3.87 3.63

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,101 df=208 Sig= 0,129

Bạn không hoàn thành công việc vì mất thời sử gian dụng ĐTTM. khó Bạn trung tập trong lớp vì sử dụng ĐTTM. Bạn đau lưng hoặc đau cố vì sử dụng ĐTTM. Bạn không ngủ thể vì được dùng ĐTTM. Bạn không khả có năng làm bất kỳ việc gì nếu thiếu ĐTTM.

ĐTB 4,01 3,66 3,91 3.78 3.94

67

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,183 df=208 Sig= 0,304

ĐTB 3,09 2,91 3,16 2.91 3.19

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,453 df=208 Sig= 0,087

ĐTB 3,54 3,34 3,40 3.41 3.45

df = 2 df=208 Sig= 0,806 Kiểm nghiệm Sig=0,557

ĐTB 3,94 3,77 3,96 3.82 3.96

df = 2 Sig= df=208 Sig= 0,319 Kiểm nghiệm

ĐTB 3,70 3,46 3,43 3.51 3.54

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,330 df=208 Sig= 0,862

ĐTB 3,43 3,33 3,27 3.39 3.30

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,762 df=208 Sig= 0,588

ĐTB 3,74 3,61 3,71 3.37 4.03

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,772 df=208 Sig= 0,000

Bạn không ăn uống đúng giờ vì sử dụng ĐTTM. chỉ Bạn cảm thấy bình thản, dễ chịu khi dùng ĐTTM. chỉ Bạn cảm thấy tự tin khi dùng ĐTTM. Không có thú vị gì hơn ĐTTM. luôn Bạn suy nghĩ về ĐTTM khi không giữ bên mình. suy Bạn nghĩ: sẽ không bao giờ từ bỏ ĐTTM của mình. Bạn mang ĐTTM vào nhà vệ sinh ngay cả khi đang vội.

ĐTB 3,50 3,94 2,84 2.78 3.08

68

đặt

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,770 df=208 Sig= 0,099

ĐTB 3,40 3,33 3,31 3.31 3.38

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,900 df=208 Sig= 0,684

thích ĐTB 3,81 3,69 3,74 3.68 3.82

Kiểm nghiệm df = 2 Sig= df=208 Sig= 0,365

ĐTB 2,73 2,79 2,60 2.69 2.72

df = 2

sau thức Kiểm nghiệm Sig=0,621 df=208 Sig= 0,811

cảm ĐTB 4,10 3,87 4,03 3.91 4.09

df = 2

Kiểm nghiệm Sig=0,474 df=208 Sig= 0,272

3,3756 3,4824 3,5445

Bạn ĐTTM bên cạnh khi ngủ. Những người xung quanh bạn rằng nói bạn dùng ĐTTM nhiều. Bạn dùng ĐTTM hơn nói chuyện với người xung quanh. Bạn dùng ĐTTM ngay khi dậy. Bạn thấy ĐTTM hiểu mình hơn bạn bè thật bên ngoài. ĐTB chung Kiểm nghiệm

3,5681 df = 2 Sig=0,248 3,4062 df=208 Sig= 0,148

Nhận xét:

Theo như kết quả thống kê ở trên, hiện nay sinh viên của ba trường, nam và

nữ sinh viên đa phần lựa chọn hiếm khi cho những biểu hiện về sự phụ thuộc vào

69

ĐTTM, các sự lựa chọn trên là tương đối đồng đều, chỉ có một số điểm khác biệt. Cụ

thể như sau.

Theo trường: ĐHSP có ĐTB cao nhất nghĩa là sinh viên ĐHSP ít phụ thuộc nhất

vào ĐTTM, sau đó đến ĐHCN và cuối cùng là ĐHBK (ĐTB chung của ĐHSP:

3,5681; ĐHBK: 3,3756; ĐHCN: 3,4824). Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý

nghĩa thống kê.

Các biểu hiện kiểm tra sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên ba trường sự lựa

chọn tương đối đồng đều với nhau, chỉ biểu hiện “bạn khó tập trung trong lớp vì sử

dụng ĐTTM” là có sự khác biệt (p=0,008), sinh viên ĐHBK khó tập trung trong lớp

vì sử dụng ĐTTM nhiều nhất trong ba trường (ĐTB của ĐHSP: 3,70; ĐHBK: 3,14;

ĐHCN: 3,64).

Theo giới tính: xét về sự phụ thuộc vào ĐTTM của nam và nữ theo kết quả thống

kê ta thấy ĐTB của nữ cao hơn nam giới nghĩa là nữ ít phụ thuộc vào DDTTM hơn

nam (ĐTB nam: 3,4062 và nữ: 3,5445) nhưng sự khác biệt này cũng không mang ý

nghĩa thống kê.

Biểu hiện “bạn mang ĐTTM vào nhà vệ sinh ngay cả khi đang vội” có sự khác

biệt mang ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ sinh viên (p=0,00). Nhu cầu của nữ sử

dụng ĐTTM ngay cả lúc vội vào nhà vệ sinh nhiều hơn nam (ĐTB nam: 3,37 và nữ:

4,03). Ngoài biểu hiện trên, các biểu hiện khác đều tương đồng giữa nam và nữ sinh

viên.

2.3.4. Tương quan giữa sự sức khỏe tâm thần và sự phụ thuộc của sinh viên

sử dụng điện thoại thông minh trên địa bàn Hồ Chí Minh vào điện thoại thông

minh

Dựa vào những số liệu và phân tích ở trên ta có thể kết luận SKTT của sinh

viên sử dụng ĐTTM đang ở mức tốt và sinh viên ít phụ thuộc vào ĐTTM nhưng liệu

có sự tương quan giữa sự phụ thuộc vào ĐTTM và SKTT cũng như các nhân tố cấu

thành nên SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TPHCM hay không.

70

Bảng 2.23. Tương quan giữa sự SKTT và sự phụ thuộc của sinh viên sử dụng

ĐTTM trên địa bàn HCM vào ĐTTM

Thiết Hoàn lập và Tự nhận thành Nhận duy trì thức bản nhiệm thức xã SKTT các mối thân. vụ học hội quan hệ tập. gần gũi

r 0,250** 0,338** 0,163* 0,344** 0,361** Sự phụ

thuộc vào Kiểm 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000

ĐTTM nghiệm

Nhận xét:

Từ số liệu trên ta có thể biểu hiện giữa SKKT và sự phụ thuộc vào ĐTTM của

sinh viên có tương quan với nhau.

Nhân tố “hoàn thành nhiệm vụ học tập” có tương quan với “sự phụ thuộc vào

ĐTTM” (r=0,338) tuy ở mức trung bình yếu nhưng cũng thể hiện được “sự phụ thuộc

vào ĐTTM” có gây ảnh hưởng đến việc học tập của sinh viên sử dụng ĐTTM và

ngược lại các em chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập có xu hướng sử dụng ĐTTM

nhiều hơn.

“Nhận thức xã hội” và “sự phụ thuộc vào ĐTTM” cũng có tương quan ở mức

trung bình, nghĩa là khi các em có nhu cầu cao trong việc sử dụng ĐTTM đồng nghĩa

với việc các em không có nhiều hào hứng trong các hoạt động cộng đồng, xã hội.

Theo biểu hiện chủ quan của người nghiên cứu, khi các em sử dụng nhiều ĐTTM,

các em nghĩ rằng tham gia vào các nhóm, cộng đồng “ảo” là đủ việc đó cản trở các

em đến với cộng đồng “thực tế”

Hai nhân tố “tự nhận thức bản thân” và “thiết lập và duy trì các mối quan hệ

gần gũi” dường như có tương quan rất yếu và không có tương quan với “sự phụ thuộc

vào ĐTTM”

Cuối cùng SKTT và sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên trên địa bàn

TPHCM có tương quan với nhau. Nghĩa là SKTT càng tốt thì các em càng ít phụ

71

thuộc vào ĐTTM; càng phụ thuộc vào ĐTTM, SKTT của sinh viên càng kém và

ngược lại. Tuy hệ số tương quan ở mức trung bình yếu (0,361) nhưng vẫn thể hiện

được tác động qua lại giữa chúng. Điều này mang ý nghĩa có sự kiến nghị của nghiên

cứu.

2.3.5. Phòng ngừa và hỗ trợ sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh, cân bằng việc

sử dụng điện thoại thông minh cho sinh viên sử dụng điện thoại thông

minh

Nhằm giúp sinh viên có thể có được sự hài lòng về bản thân và việc học tập

của mình, duy trì được tốt những mối quan hệ của mình đồng thời tham gia tích cực

vào công tác xã hội. Nghiên cứu đưa ra những đề xuất giúp phòng ngừa và hỗ trợ

SKTT không khỏe mạnh cho sinh viên sử dụng ĐTTM với tần suất cao và có sự ảnh

hưởng đến đời sống thể chất và tinh thần cũng như giúp sinh viên sử dụng ĐTTM ở

mức bình thường phòng tránh những tác động tiêu cực của ĐTTM.

 Tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM.

Tránh việc vì sử dụng ĐTTM khiến quỹ thời gian của sinh viên trở nên eo

hẹp, không còn có thể thực hiện được các công việc khác trong cuộc sống, ảnh hưởng

đến sức khỏe thì việc xây dựng lịch là rất cần thiết.

 Mở rộng không gian giao lưu.

Với các mối quan hệ gần gũi, việc giao lưu trực tiếp là rất quan trọng, khiến

tình cảm thêm vun đắp, có thể hiểu nhau hơn và trao đến nhau cảm xúc chân thực

hơn.

 Nâng cao lòng tự trọng thông qua những giá trị đích thực.

Nắm rõ được những giá trị nào là giá trị đúng đắn, cần thiết, không chạy theo

những giá trị tầm thường, chạy theo giá trị của người khác mà quên đi bản thân mình.

 Tìm kiếm những phương thức thư giản thay thế cho ĐTTM.

Giảm sự “phụ thuộc” của bản thân vào ĐTTM thông qua những hoạt động

thư giản khác như đọc sách, gặp gỡ người thân bạn bè, tham gia hoạt động tình

nguyện, đi chùa, nhà thờ…

 Tổ chức lại giờ giấc sinh hoạt.

72

Đảm bảo thời gian nghỉ ngơi, học tâp, tham gia các hoạt động xã hội một

cách cân bằng, không để ĐTTM cản trở hoặc xáo trộn thời gian biểu.

 Tìm kiếm những động lực tích cực.

Tìm đến với bản thân những mối quan hệ gần gũi nhất mang đến cho mình

năng lượng, sự tích cực và những lời khuyên đúng đắn. Tránh hoặc loại bỏ những

nguồn năng lượng tiêu cực đến với bản thân mình.

Bảng 2.24. Biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM của sinh viên sử dụng ĐTTM

Mức độ biểu hiện (%) Stt Biện pháp ĐTB ĐLC XH KTD TDI CTD TDN

Tự xây dựng lịch sử 26,7 20,5 38,6 14,3 2,40 1,032 6 1 dụng ĐTTM

Mở rộng không gian 3,8 12,4 42,4 41,4 3,21 0,805 1 2 giao lưu.

Tìm kiếm những

3 phương thức thư giản 5,2 11,0 42,9 41,0 3,20 0,833 2

thay thế cho ĐTTM.

Nâng cao lòng tự trọng

thông qua những giá trị 8,6 22,4 40,5 28,6 2,89 0,919 5 4 đích thực bên ngoài,

không dựa vào ĐTTM.

Tổ chức lại giờ giấc

5 sinh hoạt, thời gian biểu 8,6 15,7 40,5 35,2 3,02 0,925 4

của mình.

Tìm kiếm những động 6 7,6 11,4 39,0 41,9 3,15 0,905 3 lực tích cực.

ĐTB chung: 2,981

Nhận xét:

Các biện pháp của người nghiên cứu đưa ra với sự đánh giá của sinh viên sử

dụng ĐTTM đạt ĐTB chung: 2,981 tức là có tác dụng cân bằng việc sử dụng ĐTTM.

Có thể sử dụng các biện pháp này.

73

Biện pháp: “mở rộng không gian giao lưu” được sinh viên đánh giá là có tác

dụng nhiều nhất trong nhóm (ĐTB:3,21), đây cũng đúng với chủ đích của người

nghiên cứu vì theo chủ quan của người nghiên cứu không gian sinh hoạt, giao lưu của

các em có tác động, ảnh hưởng lớn đến hành động của các em.

Tương tự, biện pháp: “tìm kiếm những phương thức thư giản thay thế cho ĐTTM”

(ĐTB:3,20) cũng được các em đánh giá cao. Phương pháp này không những có tác

dụng cân bằng việc sử dụng ĐTTM mà còn giúp các em tìm ra những niềm vui mới,

mở rộng phạm vi giao lưu, tăng thêm bạn bè…

Tuy nhiên biện pháp “tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM” theo đánh giá của sinh

viên sử dụng ĐTTM ở mức tác dụng ít (ĐTB:2,40) sẽ được xem xét có hay không

đưa vào kiến nghị của nghiên cứu này.

Bảng 2.25. Sự đồng thuận về biện pháp cân bằng việc sử dụng ĐTTM của sinh

viên sử dụng ĐTTM theo trường và theo giới tính

Trường Giới tính

ĐHSP ĐHBK ĐH Nam Nữ Biểu hiện TPHCM TPHCM HUTECH

Kiểm nghiệm T- Kiểm nghiệm ANOVA Test

Tự xây ĐTB 2.41 2.46 2.34 2.24 2.57

dựng lịch Kiểm df = 2 df=208 sử dụng nghiệm Sig=0,805 Sig= 0,019 ĐTTM

ĐTB 3.19 3.20 3.26 3.15 3.28 Mở rộng

không gian Kiểm df = 2 df=208

giao lưu. nghiệm Sig=0,858 Sig= 0,266

Tìm kiếm ĐTB 3.21 3.13 3.24 3.20 3.19

những Kiểm df = 2 df=208 phương nghiệm Sig=0,702 Sig= 0,934 thức thư

74

giản thay

thế cho

ĐTTM.

Nâng cao ĐTB 2.90 2.87 2.90 2.93 2.85

lòng tự

trọng thông

qua những

giá trị đích Kiểm df = 2 df=208

thực bên nghiệm Sig=0,978 Sig= 0,500

ngoài,

không dựa

vào ĐTTM.

Tổ chức lại ĐTB 2.99 2.97 3.11 2.92 3.12

giờ giấc

sinh hoạt, Kiểm df = 2 df=208 thời gian nghiệm Sig=0,605 Sig= 0,117 biểu của

mình.

ĐTB 3.03 3.27 3.16 3.07 3.24 Tìm kiếm

những động df = 2 df=208 Kiểm

lực tích cực. Sig=0,284 Sig= 0,170 nghiệm

2,9595 2,9833 3,0024 2,9190 3,0444 ĐTB chung

df = 2 df=208 Kiểm nghiệm Sig=0,901 Sig= 0,119

Nhận xét:

Tác động của các biện pháp người nghiên cứu đưa ra nhằm cân bằng việc sử

dụng ĐTTM của sinh viên trên địa bàn TPHCM được sự đồng ý khá cao, đồng đều

giữa ba trường và hai giới. Cụ thể:

Theo trường: ĐHCN đồng ý với những biện pháp cao nhất so với ba trường (ĐTB

chung của ĐHSP: 2,9595; ĐHBK: 2,9833; ĐHCN: 3,0024). Hai biện pháp đánh giá

75

thấp nhất là “tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM” (ĐTB của ĐHSP: 2.41; ĐHBK: 2.46;

ĐHCN: 2.34), và biện pháp” nâng cao lòng tự trọng thông qua những giá trị đích

thực bên ngoài, không dựa vào ĐTTM” (ĐTB của ĐHSP: 2.90; ĐHBK: 2.87; ĐHCN:

2.90).

Theo giới tính: Tuy không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê nhưng dựa vào

ĐTB chung ta thấy nữ sinh viên có sự đồng thuận cao hơn nam sinh viên về các biện

pháp trên (ĐTB nam: 2,9190 và nữ: 3,0444).

Tóm lại: nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm cân bằng việc sử dụng tránh ảnh

hưởng đến SKKT của sinh viên sử dụng ĐTTM là:

 Tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM.

Tránh việc vì sử dụng ĐTTM khiến quỹ thời gian của sinh viên trở nên eo

hẹp, không còn có thể thực hiện được các công việc khác trong cuộc sống, ảnh hưởng

đến sức khỏe thì việc xây dựng lịch là rất cần thiết

 Mở rộng không gian giao lưu.

Với các mối quan hệ gần gũi, việc giao lưu trực tiếp là rất quan trọng, khiến

tình cảm thêm vun đắp, có thể hiểu nhau hơn và trao đến nhau cảm xúc chân thực

hơn.

 Nâng cao lòng tự trọng thông qua những giá trị đích thực.

Nắm rõ được những giá trị nào là giá trị đúng đắn, cần thiết, không chạy theo

những giá trị tầm thường, chạy theo giá trị của người khác mà quên đi bản thân mình.

 Tìm kiếm những phương thức thư giản thay thế cho ĐTTM.

Giảm sự “phụ thuộc” của bản thân vào ĐTTM thông qua những hoạt động

thư giản khác như đọc sách, gặp gỡ người thân bạn bè, tham gia hoạt động tình

nguyện, đi chùa, nhà thờ…

 Tổ chức lại giờ giấc sinh hoạt.

Đảm bảo thời gian nghỉ ngơi, học tâp, tham gia các hoạt động xã hội một

cách cân bằng, không để ĐTTM cản trở hoặc xáo trộn thời gian biểu.

 Tìm kiếm những động lực tích cực.

76

Tìm đến với bản thân những mối quan hệ gần gũi nhất mang đến cho mình

năng lượng, sự tích cực và những lời khuyên đúng đắn. Tránh hoặc loại bỏ những

nguồn năng lượng tiêu cực đến với bản thân mình.

Ngoài ra mở rộng đề xuất một số biện pháp khác nhằm giảm sự phụ thuộc vào

ĐTTM như:

- Nâng cao giá trị gia đình trong cuộc sống của sinh viên, đặc biệt khi đa phần

sinh viên hiện nay đang xa nhà, cha mẹ nên tăng cường kỹ năng giáo dục con cái giúp

con cái có đời sống tinh thần tích cực bằng cách tham gia vào các khóa huấn luyện

kỹ năng giáo dục, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tiếp nhận thông

tin.

- Nhận biết những dấu hiệu sớm của việc phụ thuộc vào ĐTTM, tổ chức các

buổi tham vấn nhằm can thiệp khi sinh viên đã có biểu hiện của sự phụ thuộc bằng

nhiều phương pháp tham vấn – trị liệu đặc biệt là phương pháp nhận thức – hành vi

nhằm giúp sinh viên tự nhận thức vấn đề, có nguồn lực để thay đổi tích cực. Tuy

nhiên mục đích chính là tập trung nâng cao lòng tự trọng của sinh viên từ đó giảm

thiệu sự phụ thuộc vào ĐTTM. (Lê Minh Công, 2016)

77

Tiểu kết chương 2

Nghiên cứu về SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn HCM, kết

quả phân tích số liệu thống kê ở chương 2 cho biết:

 Hiện nay đa số sinh viên đang sử dụng ĐTTM một cách thường xuyên, điều

này cho thấy việc sử dụng ĐTTM đang trở thành một nhu cầu lớn, một điều thiết yếu

trong cuộc sống của sinh viên, chiếm nhiều thời gian của các sinh hoạt bình thường

khác như học tập, giải trí và sinh hoạt.

 Mục đích sử dụng ĐTTM chính của sinh viên là giải trí, học tập và giao tiếp.

 Theo sự khảo sát và số liệu thu thập được có thể kết luận được SKTT của sinh

viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TP.HCM đang đạt ở mức khỏe mạnh. Đồng thời

các nhân tố cấu thành nên SKTT có mối tương quan thuận với nhau ở mức trung

bình-yếu. Giữa các trường và giới tính của sinh viên tuy một vào biểu hiện có sự khác

biệt nhưng đa phần là đồng đều nhau.

 Sinh viên sử dụng ĐTTM ít phụ thuộc vào ĐTTM, tuy các em có những biểu

hiện có ĐTB thấp về cảm xúc nhưng những biểu hiện thể hiện về sự thay đổi về sinh

hoạt thường ngày với ĐTB cao. Các em tuy có xu hướng phụ thuộc vào ĐTTM về

cảm xúc nhưng chưa ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động sống của các em.

 Đặc biệt SKTT và sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên trên địa bàn TPHCM

có tương quan với nhau ở mức trung bình-yếu.

 Các biện pháp của người nghiên cứu đưa ra với sự đánh giá của sinh viên sử

dụng ĐTTM có sự đồng thuận tương đối cao từ sinh viên, tức là có tác dụng cân bằng

việc sử dụng ĐTTM. Có thể sử dụng các biện pháp này.

78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

 Về lý luận

Khái niệm sức khỏe tâm thần là “tình trạng tâm lí của cá nhân biểu hiện ở khả

năng tự nhận thức, hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, thiết lập các mối quan hệ gần

gũi và hòa nhập với xã hội”. Bao gồm 4 nhân tố.

 Khả năng tự nhận thức về bản thân.

Là sự hài lòng về bản thân, chấp nhận bản thân với những gì bản thân vốn như

vậy. Có suy nghĩ tích cực cả hiện tại và quá khứ của cá nhân ấy. Không những vậy

cá nhân còn có niềm tin vào những giá trị của mình. Tin tưởng bản thân có thể hoàn

thành được những nhiệm vụ trong cuộc sống.

 Hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân.

Nhiệm vụ của cá nhân là khả năng hoàn thành tốt công việc của mình, đó là khi

gặp những thách thức và khó khăn trong cuộc sống con người có được ý chí mạnh

mẽ, không bỏ cuộc, cố gắng hết sức mình để hoàn thành công việc một cách tốt nhất

có thể. Không những vậy, chấp nhận những khó khăn, vất vả gặp phải trong cuộc

sống như một điều tất yếu sẽ giúp bản thân có thể đứng vững chắc trên đôi chân của

mình, nâng cao được trình độ, chuyên môn, khả năng của mình, luôn tìm kiếm những

giá trị, những trải nghiệm mới góp phần làm cuộc sống thêm mới mẻ và đa dạng.

 Thiết lập các mối quan hệ gần gũi.

Những mối quan hệ gần gũi chính là những mối quan hệ có tác động, ảnh hưởng

đến bản thân mỗi người. Đó có thể là mối quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hoặc

tình yêu. Với SKTT khỏe mạnh con người có khả năng gần gũi, giao lưu, hòa hợp

với các mối quan hệ quan trọng của mình. Không có nghĩa là bản thân luôn cảm thấy

vui vẻ, thoải mái nhưng phần lớn thời gian sẽ bản thân và đối tác luôn trong trạng thái

tích cực, dù có những giận hờn hay giận giữ thì cách giải quyết vấn đề luôn trên tinh

thần tôn trọng lẫn nhau, luôn dành cho nhau sự tự do trong mọi quyết định và thời

gian cũng như không gian riêng.

 Hòa nhập với xã hội.

79

Sự nhìn nhận và đánh giá của bản thân về xã hội trên các phương diện: sự gắn

kết xã hội, là khả năng tạo ra những giá trị cho xã hội mình đang sinh sống; chấp nhận

xã hội, là sự cảm thông với những khó khăn trong xã hội; tiềm năng xã hội, là niềm

tin vào những khả năng của xã hội, cộng đồng có thể được phát triển lớn mạnh; đóng

góp xã hội, là sự tự nguyện đóng góp những giá trị vật chất và tinh thần vào xã hội;

hòa hợp xã hội, là sự thuộc về một cộng đồng, tập thể và xã hội.

Về thực tiễn

 Thứ 1: về thực trạng sử dụng ĐTTM của sinh viên trên địa bàn TPHCM.

Hiện nay đa số sinh viên đang sử dụng ĐTTM một cách thường xuyên, điều này

cho thấy việc sử dụng ĐTTM đang trở thành một nhu cầu lớn, một điều thiết yếu

trong cuộc sống của sinh viên, chiếm nhiều thời gian của các sinh hoạt bình thường

khác như học tập, giải trí và sinh hoạt. Mục đích sử dụng ĐTTM chính của sinh viên

là giải trí, học tập và giao tiếp.

 Thứ 2: về thực trạng SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn

TPHCM.

Theo sự khảo sát và số liệu thu thập được có thể kết luận được SKTT của sinh

viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TP.HCM đang đạt ở mức khỏe mạnh, cả 4 nhân tố:

“tự nhận thức bản thân”,“hoàn thành nhiệm vụ học tập”,“việc thiết lập và duy trì

các mối quan hệ gần gũi” và “nhận thức xã hội” đều đạt mức tốt. Đồng thời các nhân

tố cấu thành nên SKTT có mối tương quan thuận với nhau ở mức trung bình-yếu.

Giữa các trường và giới tính của sinh viên tuy một vào biểu hiện có sự khác biệt

nhưng đa phần là đồng đều nhau.

 Thứ 3: về sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên hiện nay.

Sinh viên sử dụng ĐTTM ít phụ thuộc vào ĐTTM, tuy các em có những biểu

hiện có ĐTB thấp về cảm xúc nhưng những biểu hiện thể hiện về sự thay đổi về sinh

hoạt thường ngày với ĐTB cao. Các em tuy có xu hướng phụ thuộc vào ĐTTM về

cảm xúc nhưng chưa ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động sống của các em.

SKTT và sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh viên trên địa bàn TPHCM có tương

quan với nhau. Nghĩa là SKTT càng tốt thì các em càng ít phụ thuộc vào ĐTTM; càng

80

phụ thuộc vào ĐTTM, SKTT của sinh viên càng kém và ngược lại. Tuy hệ số tương

quan ở mức trung bình yếu nhưng vẫn thể hiện được tác động qua lại giữa chúng.

3.2. Kiến nghị

 Về phía sinh viên.

- Áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa và hỗ trợ sức khỏe tâm thần không

khỏe mạnh, cân bằng việc sử dụng điện thoại thông minh cho sinh viên sử dụng điện

thoại thông minh một cách hợp lý hơn của người nghiên cứu đưa ra với sự đóng góp

và tham khảo ý kiến của chuyên gia.

- Mở rộng không gian giao lưu, với các mối quan hệ gần gũi, việc giao lưu trực

tiếp là rất quan trọng, khiến tình cảm thêm vun đắp, có thể hiểu nhau hơn và trao đến

nhau cảm xúc chân thực hơn.

- Nâng cao lòng tự trọng thông qua những giá trị đích thực, nắm rõ được những

giá trị nào là giá trị đúng đắn, cần thiết, không chạy theo những giá trị tầm thường,

chạy theo giá trị của người khác mà quên đi bản thân mình bằng cách tham gia vào

các câu lạc bộ kỹ năng sống trong trường, đọc sách kỹ năng hoặc tài liệu phát tay

chính thống.

- Tìm kiếm những phương thức thư giản thay thế cho ĐTTM, giảm sự “phụ

thuộc” của bản thân vào ĐTTM thông qua những hoạt động thư giản khác như đọc

sách, gặp gỡ người thân bạn bè, tham gia hoạt động tình nguyện, đi chùa, nhà thờ…

- Tổ chức lại giờ giấc sinh hoạt, đảm bảo thời gian nghỉ ngơi, học tâp, tham gia

các hoạt động xã hội một cách cân bằng, không để ĐTTM cản trở hoặc xáo trộn thời

gian biểu.

- Tìm kiếm những động lực tích cực, tìm đến với bản thân những mối quan hệ

gần gũi nhất mang đến cho mình năng lượng, sự tích cực và những lời khuyên đúng

đắn. Tránh hoặc loại bỏ những nguồn năng lượng tiêu cực đến với bản thân mình.

Ngoài ra mở rộng đề xuất một số biện pháp khác nhằm giảm sự phụ thuộc vào

ĐTTM như: (thêm tài liệu tham khảo)

- Nâng cao giá trị gia đình trong cuộc sống của sinh viên, đặc biệt khi đa phần

sinh viên hiện nay đang xa nhà, cha mẹ nên tăng cường kỹ năng giáo dục con cái giúp

con cái có đời sống tinh thần tích cực bằng cách tham gia vào các khóa huấn luyện

81

kỹ năng giáo dục, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tiếp nhận thông

tin.

- Nhận biết những dấu hiệu sớm của việc phụ thuộc vào ĐTTM, tổ chức các

buổi tham vấn nhằm can thiệp khi sinh viên đã có biểu hiện của sự phụ thuộc bằng

nhiều phương pháp tham vấn – trị liệu đặc biệt là phương pháp nhận thức – hành vi

nhằm giúp sinh viên tự nhận thức vấn đề, có nguồn lực để thay đổi tích cực. Tuy

nhiên mục đích chính là tập trung nâng cao lòng tự trọng của sinh viên từ đó giảm

thiệu sự phụ thuộc vào ĐTTM.

Tóm lại sinh viên hiện nay nên tránh việc lạm dụng sử dụng ĐTTM khiến quỹ

thời gian của sinh viên trở nên eo hẹp, không còn có thể thực hiện được các công việc

khác trong cuộc sống, ảnh hưởng đến sức khỏe thì việc xây dựng sử dụng lịch ĐTTM

là rất cần thiết,

 Về các đề tài nghiên cứu sau.

- Có thể áp dụng các biện pháp đã đề xuất nhằm nâng cao SKTT cho sinh viên sử

dụng ĐTTM trên địa bàn TPHCM.

- Có thể tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn về sự phụ thuộc vào ĐTTM của sinh

viên từ đó tìm ra mức độ ảnh hưởng và tìm ra nhiều phương pháp giúp giảm bớt sự

phụ thuộc đó.

- Có thể nghiên cứu sâu hơn nguyên nhân, sự liên hệ, tương quan, ảnh hưởng

giữa SKTT và ĐTTM bằng phương pháp thực nghiệm nhằm tăng độ chính xác và

cấp thiết hơn về đề tài.

82

TÀI LIỆU THAM KHẢO

APA. (2012). Change your mind about mental health, from

https://www.apa.org/helpcenter/change.aspx

Adriana Bianchi, James G Phillips. (2005). Psychological predictors of problem

mobile phone use, CyberPsychology & Behavior.

Bùi Thị Ngọc Hân. (2013). Nhận thức và thái độ về các mạng xã hội của học sinh

hệ trung cấp chuyên nghiệp trường trung cấp Đông Dương tại thành phố Hồ Chí

Minh. Luận văn thạc sĩ tâm lí học. Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh.

Jamie Chamberlin. (1/2015). At National Press Club event, psychologists call for

more resources for mental health care. Magazine Article.

Hyun-Seok Choi, Hyun-Kyung Lee, Jeong-Cheol Ha. (2012).The influence of

smartphone addiction on mental health, campus life and personal relations-Focusing

on K university students. Journal of the Korean Data and Information Science Society,

23 (5), 1005-1015.

Alexander JAM van Deursen, Colin L Bolle, Sabrina M Hegner, Piet AM

Kommers (2015). Modeling habitual and addictive smartphone behavior The role of

smartphone usage types, emotional intelligence, social stress, self-regulation, age,

and gender. Computers in Human Behavior, 45, 411-420.

Đào Văn Dũng, Đỗ Văn Dung (đồng chủ biên). (2013). Y học xã hội và xã hội

học sức khoẻ. Nxb chính trị quốc gia.

Đặng Bá Lãm – Weiss Bahr. (2007). Giáo dục, tâm lí và sức khoẻ tâm thần trẻ

em Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành. Nxb Đại học Quốc gia.

Đặng Văn Luận. (2018). Tác động của công nghệ hiện đại đến lối sống gia đình

Việt Nam. Khoa học Xã hội Việt Nam, (9), 30.

Nabil Hassan El Ghoroury. (9/2015). Self-care for the scientist. Magazine

Article.

Hồ Văn Dũng, Phùng Đình Mẫn, Zhang Wei, Li Hui Ling, Li Ni Ni. (2012). Phát

triển thang đo khuynh hướng nghiện Internet cho thanh niên Việt Nam. Tạp chí Tâm

lý học, (6), 72-81.

83

Huỳnh Văn Sơn. (2014). Thực trạng việc sử dụng Facebook của thanh thiếu niên

15-18 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học, (63), 46.

Keyes, Corey Lee M. 1998. Social well-being. Social psychology quarterly.121-140.

Kyung-Hye Hwang, Yang-sook Yoo, Ok-Hee Cho. (2012). Smartphone overuse

and upper extremity pain, anxiety, depression, and interpersonal relationships

among college students. The Journal of the Korea Contents Association, 12 (10), 365-

375.

Min Kwon, Joon-Yeop Lee, Wang-Youn Won, Jae-Woo Park, Jung-Ah Min,

Changtae Hahn, et al. (2013). Development and validation of a smartphone addiction

scale (SAS)". PloS one, 8 (2), e56936.

Yu-Kang Lee, Chun-Tuan Chang, You Lin, Zhao-Hong Cheng. (2014). The dark

side of smartphone usage: Psychological traits, compulsive behavior and

technostress. Computers in Human Behavior, 31, 373-383.

Lê Minh Công. (2012). Ứng dụng liệu pháp hành vi điều trị năm trường hợp

nghiện Internet. Tạp chí Tâm lý học, (9), 70-82.

Lê Minh Công. (2016). Nghiện Internet và tự đánh giá bản thân của học sinh

THCS. Luận án Tiến sĩ Tâm lý học chuyên ngành. Học viên Hàn lâm Khoa học Xã

hội. Học viện Khoa học Xã hội.

Mary Bronson Merki, Don Merki. (1996). Glencoe Health: a guide to wellness.

5th edition, New York: Glencoe.

Ngô Thị Mỹ Duyên. 2013. Nhận thức và thái độ đối với rối loạn SKTT của sinh

viên đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ tâm lí học, Trường

Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh.

Nguyễn Minh Hải. 2009. Nghiên cứu một số chỉ số sức khoẻ tâm thần trong hoạt

động bay của phi công quân sự. Luận văn Tiến sĩ y học. Chuyên ngành Tâm thần

học. Học viện quân y. Hà Nội.

Nguyễn Sinh Phúc. 2013. Dự thảo giáo trình đại cương chăm sóc sức khoẻ tâm

thần. Nxb Lao động – Xã hội.

84

Nguyễn Thị Hà, Trịnh Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Thị Diễm Sương (2016) Ảnh

hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến kết quả học tập của sinh viên. Hội

thảo khoa học sinh viên lần thứ IX, đại học Văn Hiến Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thị Huyền. 2012. Thực trạng hiện tượng stress trong đời sống của sinh

viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Tp. HCM.

Luận văn thạc sĩ tâm lí học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Hồ

Chí Minh.

Nguyễn Thị Thanh Hương. 2014. Mối quan hệ giữa công tác xã hội và chăm sóc

SKTT, trải nghiệm của thực tập sinh công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ cho trẻ

rối nhiễu tâm trí: gợi ý khung kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực đào tạo, chăm sóc

sức khoẻ tâm thần học đường. Kỷ yếu hội thảo tâm lí học đường lần IV. Nxb ĐH

quốc gia Hà Nội.

Nguyễn Thị Tứ (chủ biên), Lý Minh Tiên, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh

Chương. 2012. Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm. Nxb Đại học

Sư phạm TPHCM.

Antti Oulasvirta, Tye Rattenbury, Lingyi Ma, Eeva Raita. 2012. Habits make

smartphone use more pervasive. Personal and Ubiquitous Computing, 16 (1), 105-

114.

Phạm Minh Hạc. 2008. Sức khoẻ tinh thần. Tạp chí Tâm lý học. Viện Khoa học

Xã hội Việt Nam.

Phạm Thị Kim Thoa. 2013. Tự ý thức của sinh viên một số trường đại học thành

phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ tâm lí học. Trường Đại học Sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh.

Azkario Rizky Pratama, Risanuri Hidayat. 2012. Smartphone-based pedestrian

dead reckoning as an indoor positioning system. System Engineering and

Technology (ICSET), 2012 International Conference on. IEEE.

Lauren L Saling, M Haire. 2016. Are you awake? Mobile phone use after lights out.

Computers in Human Behavior, 64, 932-937.

85

Motoharu Takao, Susumu Takahashi, Masayoshi Kitamura .2009. Addictive

personality and problematic mobile phone use. CyberPsychology & Behavior, 12 (5),

501-507.

Sara Thomée, Annika Härenstam, Mats Hagberg. 2011. Mobile phone use and

stress, sleep disturbances, and symptoms of depression among young adults-a

prospective cohort study. BMC public health, 11 (1), 66.

Trần Minh Trí, Đỗ Minh Hoàng. 2013. Thực trạng sử dụng Internet và những tác

động của Internet đến sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.

Trần Thị Lệ Thu (chủ biên). 2014. Sức khỏe tâm thần trong trường học. Kỉ yếu

hội thảo khoa học toàn quốc. Nxb đại học quốc gia Tp.HCM, 40.

Vũ Dũng (Chủ biên). 2008. Từ điển tâm lí học. Nxb Từ điển Bách Khoa.

WHO. 2003. Investing in mental health. World health organization.

Wikipedia. Sinh viên. (2011). Nhận từ

https://vi.wikipedia.org/wiki/Sinh_vi%C3%.

Wikipedia. Điện thoại thông minh. (2014) from

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90i%E1%BB%87n_tho%E1%BA%A1i_th%C3

%

P1

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến.

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Khoa Tâm lý học

PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN

Thân chào bạn.

Chúng tôi hiện đang tiến hành thực hiện một nghiên cứu liên quan đến vấn đề

sinh viên sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) trên địa bàn TPHCM. Để thực

hiện được đề tài này, chúng tôi rất cần những chia sẻ của các bạn. Chúng tôi xin cam

đoan mọi thông tin bạn cung cấp đều được bảo mật và chỉ phục vụ cho mục đích

nghiên cứu. Rất mong nhận được sự hợp tác, giúp đỡ của bạn bằng cách trả lời tất cả

câu hỏi trong phiếu khảo sát này.

Xin chân thành cảm ơn!

A. Thông tin cá nhân

Xin bạn vui lòng cho biết vài điều về bản thân.

Trường của bạn? Đại học Sư phạm TPHCM

Đại học Bách Khoa TPHCM

Giới tính của bạn? Nam Nữ

Bạn có đang sử dụng Điện thoại thông minh (Smartphone) hay không?

Có.

Không.

P2

Phần 1. Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) của sinh viên.

Đánh dấu vào ô bạn cho là đúng với bản thân, có thể có nhiều sự lựa chọn.

1. Bạn sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) như thế nào.

Đang sử dụng thường xuyên.

Sử dụng khi cần thiết.

Sử dụng nhưng không thích.

Sử dụng sau một thời gian ngừng.

2. Thời gian sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) tối đa trong một ngày.

Có thể không sử dụng.

1 đến 3 tiếng.

4 đến 6 tiếng.

Sử dụng liên tục.

3. Bạn có thường xuyên sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) ở trường

không?

Luôn luôn.

Thường xuyên.

Đôi khi.

Hiếm khi

Không bao giờ.

4. Bạn thường sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) chủ yếu vào mục

đích gì?

Học tập.

Giải trí.

Thể hiện bản thân.

Giao tiếp.

Ý kiến khác ( nêu rõ mục đích sử dụng)………………………………………….

P3

Phần 2:

Câu 1. Sau đây là những câu hỏi về tình hình chung của bạn, vui lòng khoanh tròn

vào một con số ở từng dòng thể hiện câu trả lời của bạn theo quy ước sau:

Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Phân vân Đồng ý Hoàn toàn đồng ý

1 2 3 4 5

A. Về tự nhận thức bản thân.

STT Biểu hiện Mức độ

1 Bạn hài lòng với những gía trị của bản thân. 1 2 3 4 5

2 Bạn hiểu được năng lực của bản thân. 1 2 3 4 5

3 Bạn chán ghét bản thân mình. 1 2 3 4 5

4 Bạn biết những thiếu sót của bản thân mình. 1 2 3 4 5

Bạn hay cảm thấy thua kém so với chính bạn 5 1 2 3 4 5 trước đây.

6 Bạn biết mình đang có những cảm xúc gì. 1 2 3 4 5

7 Bạn hay làm quá lên cảm xúc của mình. 1 2 3 4 5

Khi có cảm xúc mạnh bạn thường để cảm xúc 8 1 2 3 4 5 lắng lại rồi giải quyết vấn đề.

Bạn có những hành động bộc phát khiến mình 9 1 2 3 4 5 phải hối hận.

10 Bạn suy nghĩ trước khi hành động. 1 2 3 4 5

P4

Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Phân vân Đồng ý Hoàn toàn đồng ý

1 2 3 4 5

B. Về hoàn thành nhiệm vụ học tập.

STT Biểu hiện Mức độ

Bạn có khả năng tập trung trong suốt thời gian 1 1 2 3 4 5 học.

Bạn hay hoàn thành bài tập của môn học trễ tiến 2 1 2 3 4 5 độ.

3 Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong học tập. 1 2 3 4 5

Tìm kiếm những thử thách để chinh phục trong 4 1 2 3 4 5 học tập là sở thích của bạn.

Thời gian gần đây kết quả học tập của bạn không 5 1 2 3 4 5 đạt như trước.

6 Việc thảo luận trong giờ học của bạn gần đây tốt. 1 2 3 4 5

Chất lượng các sản phẩm học tập (tiểu luận, bài

7 tập, nghiên cứu…) gần đây của bạn được đánh 1 2 3 4 5

giá cao.

8 Bạn hài lòng với việc học tập của mình. 1 2 3 4 5

P5

Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Phân vân Đồng ý Hoàn toàn đồng ý

1 2 3 4 5

C. Về việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần gũi – người thân (bao

gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp)

STT Biểu hiện Mức độ

Bạn cảm thấy an toàn, thoải mái khi bên cạnh 1 1 2 3 4 5 những người thân của mình.

Những người thân đem lại nguồn năng lượng tích 2 1 2 3 4 5 cực giúp bạn vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

Những người thân của bạn hay chủ động hẹn gặp 3 1 2 3 4 5 bạn.

4 Bạn tôn trọng thời gian riêng của người thân. 1 2 3 4 5

Bạn hay ép buộc người thân làm theo ý mình vì 5 1 2 3 4 5 muốn tốt cho họ.

6 Bạn cảm nhận được người thân tôn trọng mình. 1 2 3 4 5

Người thân có cảm giác vui vẻ, thư giản khi được 7 1 2 3 4 5 chia sẻ và bên cạnh bạn.

Bên cạnh những người thân bạn cảm nhận được giá 8 1 2 3 4 5 trị của bản thân.

P6

Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Phân vân Đồng ý Hoàn toàn đồng ý

1 2 3 4 5

D. Về nhận thức xã hội.

STT Biểu hiện Mức độ

Bạn cảm thấy thoải mái, phấn chấn khi được tham 1 2 3 4 5 1 gia vào các hoạt động cộng đồng, xã hội.

Bạn không tham gia các hoạt động cộng đồng, xã 1 2 3 4 5 2 hội.

Xã hội là một tập đoàn người bao gồm những cá 1 2 3 4 5 3 nhân với sự khác biệt cần được tôn trọng.

Suy nghĩ của bạn là suy nghĩ của cả xã hội. 1 2 3 4 5 4

Bạn cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi tham gia vào các 1 2 3 4 5 5 hoạt động xã hội.

Bạn thấy bất bình về những thiếu công bằng trong

6 xã hội: bạo hành, bắt nạt tập thể, phân biệt chủng 1 2 3 4 5

tộc.

Bạn là thành viên của các tổ chức, nhóm vì cộng 1 2 3 4 5 7 đồng.

Bạn có mong muốn đóng góp cho xã hội. 1 2 3 4 5 8

P7

Câu 2. Bạn hãy cho biết những biểu hiện dưới đây về sử dụng điện thoại thông minh

(ĐTTM - Smartphone) có đúng với bạn hay không? Bạn vui lòng khoanh tròn vào

một con số ở từng dòng thể hiện câu trả lời của bạn theo quy ước sau: (Min Kwon,

et al. 2013).

Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi

Không bao giờ

1 2 3 4 5

STT Biểu hiện Mức độ

Bạn không hoàn thành công việc vì mất thời gian 1 1 2 3 4 5 sử dụng ĐTTM.

2 Bạn khó tập trung trong lớp vì sử dụng ĐTTM. 1 2 3 4 5

3 Bạn đau lưng hoặc đau cố vì sử dụng ĐTTM. 1 2 3 4 5

4 Bạn không thể ngủ được vì dùng ĐTTM. 1 2 3 4 5

Bạn không có khả năng làm bất kỳ việc gì nếu 5 1 2 3 4 5 thiếu ĐTTM.

6 Bạn không ăn uống đúng giờ vì sử dụng ĐTTM. 1 2 3 4 5

Bạn chỉ cảm thấy bình thản, dễ chịu khi dùng 7 1 2 3 4 5 ĐTTM.

8 Bạn chỉ cảm thấy tự tin khi dùng ĐTTM. 1 2 3 4 5

9 Không có gì thú vị hơn ĐTTM. 1 2 3 4 5

Bạn luôn suy nghĩ về ĐTTM khi không giữ bên 10 1 2 3 4 5 mình.

Bạn suy nghĩ: sẽ không bao giờ từ bỏ ĐTTM của 11 1 2 3 4 5 mình.

Bạn mang ĐTTM vào nhà vệ sinh ngay cả khi 12 1 2 3 4 5 đang vội.

1 2 3 4 5 13 Bạn đặt ĐTTM bên cạnh khi ngủ.

P8

Những người xung quanh bạn nói rằng bạn dùng 14 1 2 3 4 5 ĐTTM nhiều.

Bạn thích dùng ĐTTM hơn nói chuyện với người 15 1 2 3 4 5 xung quanh.

16 Bạn dùng ĐTTM ngay sau khi thức dậy. 1 2 3 4 5

Bạn cảm thấy ĐTTM hiểu mình hơn bạn bè thật 17 1 2 3 4 5 bên ngoài.

Câu 3. Chọn những biện pháp phù hợp với bạn. (Vui lòng đánh dấu vào ô bạn cho

là đúng.)

Không Tác Tác Có tác STT Biện pháp Mức độ có tác dụng dụng dụng dụng ít nhiều

1 Tự xây dựng lịch sử dụng ĐTTM

2 Mở rộng không gian giao lưu.

Tìm kiếm những phương thức thư giản 3 thay thế cho ĐTTM.

Nâng cao lòng tự trọng thông qua

4 những giá trị đích thực bên ngoài,

không dựa vào ĐTTM.

Tổ chức lại giờ giấc sinh hoạt, thời gian 5 biểu của mình.

Tìm kiếm những động lực tích cực. 6

Xin chân thành cảm ơn vì đã hoàn thành xuất sắc bản khảo sát này!

P9

DÀNH CHO SINH VIÊN

Phụ lục 2: Biên bản phỏng vấn.

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Khoa Tâm lý học

BIÊN BẢN TỔNG HỢP PHỎNG VẤN

Đối tượng phỏng vấn: 5 sinh viên sử dụng ĐTTM thường xuyên.

Người thực hiện: Võ Thị Bảo Ngọc.

1. Mục đích: nhằm mục đích tìm hiểu sâu về nguyên nhân khiến sinh viên sử dụng

ĐTTM quá thường xuyên cũng như tìm ra được ảnh hưởng sâu của nó đối với cuộc

sống và công việc.

2. Cách thức phỏng vấn: Người nghiên cứu phát phiếu khảo sát, sinh viên tiến

hành trả lời. Sau đó người nghiên cứu đặt câu hỏi tìm hiểu lý do học sinh lựa chọn

câu trả lời của mình.

3. Nội dung:

Câu 1: Theo bạn tần suất sử dụng ĐTTM của mình có đang là như thế nào?

Trả lời:

Câu 2: Nguyên nhân của việc sử dụng ĐTTM với tần suất như vậy?

Trả lời:

Câu 3: Với mức độ sử dụng như vậy, ảnh hưởng của việc sử dụng ĐTTM theo bạn

là như thế nào?

Trả lời:

Câu 4: Với bản thân, bạn có những biện pháp nào nhằm nâng cao lợi ích và để

giảm thiểu tác hại của ĐTTM đến sức khỏe tâm thần của mình.

Trả lời:

Cảm ơn bạn rất nhiều.

P10

DÀNH CHO CHUYÊN GIA TRONG NGÀNH TÂM LÝ

TÂM LÝ – GIÁO DỤC

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Khoa Tâm lý học

BIÊN BẢN TỔNG HỢP PHỎNG VẤN

Đối tượng phỏng vấn: Các chuyên gia trong ngành Tâm lý – Giáo dục.

Người thực hiện: Võ Thị Bảo Ngọc.

1. Mục đích: bổ sung xây dựng những nội dung làm cơ sở lý luận trong nghiên cứu

cũng như giải thích kết quả nghiên cứu đồng thời tăng thêm những gợi mở về

những những kiến nghị có tác dụng giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe

tâm thần của sinh viên sử dụng ĐTTM.

2. Cách thức phỏng vấn:

3. Nội dung:

Câu 1: Thầy Cô có thể cho em xin ý kiến về thực trạng sử dụng ĐTTM của sinh viên

hiện nay theo quan sát của Thầy Cô không ạ?

Trả lời:

Câu 2: Sức khỏe tâm thần của sinh viên sử dụng ĐTTM theo nghiên cứu này ở mức

khỏe mạnh nhưng các bạn đang có xu hướng bị phụ thuộc nhiều vào ĐTTM, Thầy

Cô nghĩ sao về điều này ạ?

Trả lời:

Câu 3: Thầy Cô có thể cho em xin những biện pháp nhằm nâng cao SKTT của các

em sinh viên sử dụng điện thoại thông minh? Biện pháp cấm sử dụng có khả thi

không ạ?

Trả lời:

Em xin chân thành cảm ơn Thầy Cô vì buổi phỏng vấn hôm nay.

P11

Phụ lục 3: MỘT SỐ BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ SPSS.

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

210

100.0

100.0

100.0

Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh Bạn có đang sử dụng điên thoại không

Bạn sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) như thế nào.

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Đang sử dụng thường

147

70.0

70.0

70.0

xuyên.

Sử dụng khi cần thiết.

53

25.2

25.2

95.2

Sử dụng nhưng không thích.

7

3.3

3.3

98.6

Sử dụng sau một thời gian

3

1.4

1.4

100.0

ngừng.

Total

210

100.0

100.0

Thời gian sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) tối đa trong một ngày.

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Có thể không sử dụng

12

5.7

5.7

5.7

1 đến 3 tiếng

76

36.2

36.2

41.9

4 đến 6 tiếng

88

41.9

41.9

83.8

Sử dụng liên tục

34

16.2

100.0

Total

210

100.0

16.2 100.0

Bạn có thường xuyên sử dụng điện thoại thông minh (Smartphone) ở trường không?

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Luôn luôn

14

6.7

6.7

6.7

Thường xuyên

94

44.8

44.8

51.4

Đôi khi

90

42.9

42.9

94.3

Hiếm khi

10

4.8

4.8

99.0

Không bao giờ

2

1.0

100.0

Total

210

100.0

1.0 100.0

 Mục đích sử dụng ĐTTM.

Học tập

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

không

64

30.5

30.5

30.5

chọn

146

69.5

100.0

Total

210

100.0

69.5 100.0

Giải trí

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

15.7

15.7

15.7

33

Valid

không

100.0

84.3

177

chọn

84.3 100.0

100.0

210

Total

P12

Thể hiện bản thân

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

93.8

93.8

93.8

197

Valid

không

100.0

6.2

13

chọn

6.2 100.0

100.0

210

Total

Giao tiếp

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

43.3

43.3

43.3

91

Valid

không

100.0

56.7

119

chọn

56.7 100.0

100.0

210

Total

SKTT của sinh viên sử dụng ĐTTM trên địa bàn TP.HCM. Descriptive Statistics

N

Minimum Maximum

Mean

Std. Deviation

.42479

210

SKTT

1.83

4.83

3.6243

.51390

210

ban_than

1.80

4.80

3.5081

.60520

210

hoc_tap

1.25

5.00

3.3542

.60492

210

quan_he

1.38

5.00

3.9494

.52937

xa_hoi

1.88

4.75

3.6857

210 210

Valid N (listwise)

 Sự khác biệt của SKTT sinh viên sử dụng ĐTTM theo trường.

ANOVA

SKTT

Sum of Squares

df

Mean Square

F

Sig.

Between Groups

.078

2

.216

.806

Within Groups

37.636

.039 .182

Total

37.714

207 209

 Sự khác biệt của SKTT sinh viên sử dụng ĐTTM theo giới tính.

Independent Samples Test

Levene's Test for

Equality of Variances

t-test for Equality of Means

Sig. (2-

F

Sig.

t

df

tailed)

SKTT

Equal variances

.083

.773

-.099

208

.921

assumed

Equal variances

-.099

207.684

.921

not assumed

P13

Các nhân tố của SKTT sinh viên sử dụng ĐTTM.

 Sự khác biệt của các biểu hiện của nhân tố tự nhận thức bản thân theo trường.

ANOVA

Sum of

Mean

Squares

df

Square

F

Sig.

Bạn hài lòng với những gía trị của

Between Groups

1.981

2

1.054

.350

bản thân.

Within Groups

194.500

.990 .940

Total

196.481

207 209

Bạn hiểu được năng lực của bản

Between Groups

.867

2

.599

.550

thân.

Within Groups

149.629

.433 .723

Total

150.495

207 209

Bạn chán ghét bản thân mình.

Between Groups

4.229

2

1.797

.168

Within Groups

243.529

2.114 1.176

Total

247.757

207 209

Bạn biết những thiếu sót của bản

Between Groups

.343

2

.279

.757

thân mình.

Within Groups

127.014

.171 .614

Total

127.357

207 209

Bạn biết mình đang có những cảm

Between Groups

.886

2

.449

.639

xúc gì.

Within Groups

204.143

.443 .986

Total

205.029

207 209

Bạn hay làm quá lên cảm xúc của

Between Groups

.124

2

.043

.958

mình.

Within Groups

295.500

.062 1.428

Total

295.624

207 209

Khi có cảm xúc mạnh bạn thường để

Between Groups

.000

2

.000

1.000

cảm xúc lắng lại rồi giải quyết vấn đề.

Within Groups

218.329

.000 1.055

Total

218.329

207 209

Bạn có những hành động bộc phát

Between Groups

1.895

2

.875

.418

khiến mình phải hối hận

Within Groups

224.129

.948 1.083

207 209

Total

226.024

Bạn suy nghĩ trước khi hành động.

Between Groups

1.057

2

.617

.540

Within Groups

177.271

.529 .856

207 209

Total

178.329

Robust Tests of Equality of Means

Statistica

df1

df2

Sig.

Bạn hay cảm thấy thua kém

Welch

2.518

2

136.880

.084

so với chính bạn trước đây.

a. Asymptotically F distributed.

 Sự khác biệt của các biểu hiện của nhân tố tự nhận thức bản thân theo giới

P14

tính.

Independent Samples Test

Levene's Test

for Equality of

Variances

t-test for Equality of Means

Sig. (2-

F

Sig.

t

df

tailed)

Bạn hài lòng với những

Equal variances assumed

.324

.570

.497

208

.620

gía trị của bản thân.

Equal variances not assumed

.497

206.604

.620

Bạn hiểu được năng lực

Equal variances assumed

.994

.320

1.633

208

.104

của bản thân.

Equal variances not assumed

1.633

206.756

.104

Bạn chán ghét bản thân

Equal variances assumed

.651

.421

-.569

208

.570

mình.

Equal variances not assumed

-.569

207.863

.570

Bạn biết những thiếu sót

Equal variances assumed

1.162

.282

.265

208

.792

của bản thân mình.

Equal variances not assumed

.265

199.847

.792

Bạn hay cảm thấy thua

Equal variances assumed

4.599

.033

.760

208

.448

kém so với chính bạn

Equal variances not assumed

.760

203.838

.448

trước đây.

Bạn biết mình đang có

Equal variances assumed

.979

.324

-.139

208

.890

những cảm xúc gì.

Equal variances not assumed

-.139

206.565

.890

Bạn hay làm quá lên cảm

Equal variances assumed

.960

.328

.521

208

.603

xúc của mình.

Equal variances not assumed

.521

206.489

.603

Khi có cảm xúc mạnh bạn

Equal variances assumed

.039

.844

.742

208

.459

thường để cảm xúc lắng

Equal variances not assumed

.742

207.970

.459

lại rồi giải quyết vấn đề.

Bạn có những hành động

Equal variances assumed

1.110

.293

.199

208

.843

bộc phát khiến mình phải

Equal variances not assumed

.199

206.647

.843

hối hận

Bạn suy nghĩ trước khi

Equal variances assumed

1.756

.187

-.224

208

.823

hành động.

Equal variances not assumed

-.224

203.980

.823

Equal variances assumed

.083

.773

-.099

208

.921

SKTT

Equal variances not assumed

-.099

207.684

.921

 Sự khác biệt của các biểu hiện của nhân tố hoàn thành nhiệm vụ học tập theo

trường.

ANOVA

Sum of

Mean

Squares

df

Square

F

Sig.

Bạn có khả năng tập trung trong suốt

Between

1.610

2

.805

.868

.421

thời gian học.

Groups

Within Groups 192.014

.928

Total

193.624

207 209

Bạn hay hoàn thành bài tập của môn

Between

.086

2

.043

.043

.958

học trễ tiến độ.

Groups

Within Groups 208.371

1.007

Total

208.457

207 209

Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong

Between

2.600

2

1.300

1.354

.260

học tập.

Groups

Within Groups 198.714

.960

Total

201.314

207 209

Tìm kiếm những thử thách để chinh

Between

6.010

2

3.005

2.877

.059

phục trong học tập là sở thích của bạn.

Groups

Within Groups 216.186

1.044

Total

222.195

207 209

Thời gian gần đây kết quả học tập của

Between

1.610

2

.805

.572

.565

bạn không đạt như trước.

Groups

Within Groups 291.171

1.407

Total

292.781

207 209

Việc thảo luận trong giờ học của bạn

Between

6.010

2

3.005

3.017

.051

gần đây tốt.

Groups

Within Groups 206.186

.996

Total

212.195

207 209

Chất lượng các sản phẩm học tập (tiểu

Between

.724

2

.362

.350

.705

luận, bài tập, nghiên cứu…) gần đây

Groups

của bạn được đánh giá cao.

Within Groups 213.771

1.033

Total

214.495

207 209

Bạn hài lòng với việc học tập của

Between

.638

2

.319

.257

.773

mình.

Groups

Within Groups 256.486

1.239

Total

257.124

207 209

 Sự khác biệt các biểu hiện của nhân tố hoàn thành nhiệm vụ học tập theo giới

P15

tính.

Independent Samples Test

Levene's

Test for

Equality of

Variances

t-test for Equality of Means

Sig. (2-

F

Sig.

t

df

tailed)

Bạn có khả năng tập trung

Equal variances assumed

.109

.741

1.949

208

.053

trong suốt thời gian học.

Equal variances not assumed

1.949 207.452

.053

Bạn hay hoàn thành bài

Equal variances assumed

.007

.934

-1.106

208

.270

tập của môn học trễ tiến

Equal variances not assumed

-1.106 207.654

.270

độ.

Bạn dễ bỏ cuộc khi gặp

Equal variances assumed

1.23

.269

.702

208

.483

1

khó khăn trong học tập.

Equal variances not assumed

.702 207.113

.483

Tìm kiếm những thử thách

Equal variances assumed

.084

.772

1.680

208

.094

để chinh phục trong học

Equal variances not assumed

1.680 205.279

.094

tập là sở thích của bạn.

Thời gian gần đây kết quả

Equal variances assumed

1.43

.233

-1.050

208

.295

2

học tập của bạn không đạt

như trước.

Equal variances not assumed

-1.050 207.409

.295

Việc thảo luận trong giờ

Equal variances assumed

.007

.932

.615

208

.539

học của bạn gần đây tốt.

Equal variances not assumed

.615 207.998

.539

Chất lượng các sản phẩm

Equal variances assumed

.018

.895

1.090

208

.277

học tập (tiểu luận, bài tập,

Equal variances not assumed

1.090 207.936

.277

nghiên cứu…) gần đây

của bạn được đánh giá

cao.

Bạn hài lòng với việc học

Equal variances assumed

1.88

.171

.373

208

.710

8

tập của mình.

Equal variances not assumed

.373 206.045

.710

 Sự khác biệt các biểu hiện của nhân tố thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần

P16

gũi – người thân theo trường.

ANOVA

Sum of

Mean

Squares

df

Square

F

Sig.

Bạn cảm thấy an toàn, thoải mái

Between Groups

.638

2

.338

.713

khi bên cạnh những người thân

Within Groups

195.286

của mình.

.319 .943

Total

195.924

207 209

Những người thân đem lại nguồn

Between Groups

3.971

2

2.165

.117

năng lượng tích cực giúp bạn vượt

Within Groups

189.843

qua khó khăn trong cuộc sống

1.986 .917

Total

193.814

207 209

Những người thân của bạn hay chủ

Between Groups

.800

2

.370

.691

động hẹn gặp bạn.

Within Groups

223.657

.400 1.080

Total

224.457

207 209

Bạn tôn trọng thời gian riêng của

Between Groups

3.457

2

2.029

.134

người thân.

Within Groups

176.357

1.729 .852

Total

179.814

207 209

Bạn cảm nhận được người thân

Between Groups

1.038

2

.703

.496

tôn trọng mình.

Within Groups

152.886

.519 .739

Total

153.924

207 209

Người thân có cảm giác vui vẻ, thư

Between Groups

.295

2

.180

.835

giản khi được chia sẻ và bên cạnh

169.400

Within Groups

bạn.

.148 .818

Total

169.695

207 209

Bên cạnh những người thân bạn

Between Groups

1.067

2

.662

.517

cảm nhận được giá trị của bản

166.857

Within Groups

thân.

.533 .806

Total

167.924

207 209

P17

Robust Tests of Equality of Means

Statistica

df1

df2

Sig.

Bạn hay ép buộc người thân

Welch

5.418

2

135.393

.005

làm theo ý mình vì muốn tốt

cho họ.

 Sự khác biệt các biểu hiện của nhân tố thiết lập và duy trì các mối quan hệ gần

gũi – người thân theo giới tính.

Independent Samples Test

Levene's Test for

Equality of

Variances

t-test for Equality of Means

Sig. (2-

F

Sig.

t

df

tailed)

Bạn cảm thấy an toàn, thoải

Equal variances assumed

1.558

.213

-1.574

208

.117

mái khi bên cạnh những người

Equal variances not

-1.574 203.846

.117

thân của mình.

assumed

Những người thân đem lại

Equal variances assumed

.017

.897

-.501

208

.617

nguồn năng lượng tích cực giúp

Equal variances not

-.501 207.531

.617

bạn vượt qua khó khăn trong

assumed

cuộc sống

Những người thân của bạn hay

Equal variances assumed

.099

.753

-.798

208

.426

chủ động hẹn gặp bạn.

Equal variances not

-.798 207.757

.426

assumed

Bạn tôn trọng thời gian riêng

Equal variances assumed

.026

.871

-.967

208

.335

của người thân.

Equal variances not

-.967 207.205

.335

assumed

Equal variances assumed

1.854

.175

-.061

208

.951

Bạn hay ép buộc người thân

Equal variances not

-.061 205.729

.951

làm theo ý mình vì muốn tốt cho

assumed

họ.

Bạn cảm nhận được người thân

Equal variances assumed

1.342

.248

.321

208

.749

tôn trọng mình.

Equal variances not

.321 205.144

.749

assumed

Người thân có cảm giác vui vẻ,

Equal variances assumed

.001

.980

.459

208

.647

thư giản khi được chia sẻ và

Equal variances not

.459 206.736

.647

bên cạnh bạn.

assumed

Bên cạnh những người thân

Equal variances assumed

.106

.745

-.154

208

.878

bạn cảm nhận được giá trị của

Equal variances not

-.154 207.254

.878

bản thân.

assumed

 Sự khác biệt về các biểu hiện của nhân tố nhận thức xã hội theo trường.

P18

ANOVA

Sum of

Mean

Squares

df

Square

F

Sig.

4.752

2

1.932

.147

Bạn không tham gia các

Between Groups

hoạt động cộng đồng, xã

254.529

Within Groups

hội.

2.376 1.230

259.281

207 209

Total

3.810

2

1.834

.162

Suy nghĩ của bạn là suy

Between Groups

nghĩ của cả xã hội.

214.971

Within Groups

1.905 1.039

218.781

207 209

Total

3.010

2

1.465

.233

Bạn cảm thấy lo lắng, sợ

Between Groups

hãi khi tham gia vào các

212.557

Within Groups

hoạt động xã hội.

1.505 1.027

215.567

207 209

Total

8.181

2

3.388

.036

Bạn thấy bất bình về những

Between Groups

thiếu công bằng trong xã

249.914

207

4.090 1.207

Within Groups

hội: bạo hành, bắt nạt tập

258.095

Total

209

thể, phân biệt chủng tộc.

8.181

2

3.363

.037

Bạn là thành viên của các tổ

Between Groups

chức, nhóm vì cộng đồng.

251.800

Within Groups

4.090 1.216

259.981

207 209

Total

.924

2

Bạn có mong muốn đóng

Between Groups

.522

.594

góp cho xã hội.

Within Groups

183.057

.462 .884

Total

183.981

207 209 Robust Tests of Equality of Means

Statistica

df1

df2

Sig.

Bạn cảm thấy thoải mái,

Welch

2.988

2

134.903

.054

phấn chấn khi được tham

gia vào các hoạt động cộng

đồng, xã hội.

Xã hội là một tập đoàn

Welch

4.572

2

133.595

.012

người bao gồm những cá

nhân với sự khác biệt cần

được tôn trọng.

a. Asymptotically F distributed.

 Sự khác biệt về các biểu hiện của nhân tố nhận thức xã hội theo giới tính.

P19

Independent Samples Test

Levene's Test for

Equality of Variances

t-test for Equality of Means

Sig. (2-

F

Sig.

t

df

tailed)

Bạn cảm thấy thoải mái,

Equal variances assumed

.298

.586

.492

208

.623

phấn chấn khi được tham

Equal variances not

.492 206.499

.623

gia vào các hoạt động

assumed

cộng đồng, xã hội.

Bạn không tham gia các

Equal variances assumed

.289

.592

.185

208

.853

hoạt động cộng đồng, xã

Equal variances not

.185 207.588

.853

hội.

assumed

Xã hội là một tập đoàn

Equal variances assumed

1.050

.307

-.835

208

.405

người bao gồm những cá

Equal variances not

-.835 206.246

.405

nhân với sự khác biệt cần

assumed

được tôn trọng.

Suy nghĩ của bạn là suy

Equal variances assumed

.409

.523

-2.457

208

.015

nghĩ của cả xã hội.

Equal variances not

-2.457 207.493

.015

assumed

Bạn cảm thấy lo lắng, sợ

Equal variances assumed

.069

.792

.883

208

.378

hãi khi tham gia vào các

Equal variances not

.883 207.852

.378

hoạt động xã hội.

assumed

Bạn thấy bất bình về

Equal variances assumed

1.961

.163

-1.874

208

.062

những thiếu công bằng

Equal variances not

-1.874 203.962

.062

trong xã hội: bạo hành, bắt

assumed

nạt tập thể, phân biệt

chủng tộc.

Equal variances assumed

.238

.626

-.247

208

.805

Bạn là thành viên của các

Equal variances not

-.247 207.697

.805

tổ chức, nhóm vì cộng

assumed

đồng.

Bạn có mong muốn đóng

Equal variances assumed

8.776

.003

-1.178

208

.240

góp cho xã hội.

Equal variances not

-1.178 193.351

.240

assumed

P20

 Tương quan giữa sự phụ thuộc vào ĐTTM và SKTT của sinh viên.

Correlations

phu_thuoc

SKTT

1

phu_thuoc

Pearson Correlation

.361**

Sig. (2-tailed)

.000

210

N

210

SKTT

Pearson Correlation

1

.361** .000

Sig. (2-tailed)

210

N

210

**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).

 Sự đồng thuận các đề xuất cân bằng việc sử dụng ĐTTM.

Descriptive Statistics

N

Minimum Maximum

Mean

Std. Deviation

1

4

Tự xây dựng lịch sử dụng

210

2.40

1.032

ĐTTM

1

4

210

3.21

Mở rộng không gian giao

.805

lưu.

1

4

210

3.20

Tìm kiếm những phương

.833

thức thư giản thay thế cho

ĐTTM.

1

4

Nâng cao lòng tự trọng

210

2.89

.919

thông qua những giá trị đích

thực bên ngoài, không dựa

vào ĐTTM.

1

4

Tổ chức lại giờ giấc sinh

210

3.02

.925

hoạt, thời gian biểu của

mình.

1

4

Tìm kiếm những động lực

210

3.15

.905

tích cực.

1.00

4.00

2.9817

.58245

bien_phap

210 210

Valid N (listwise)