intTypePromotion=1

Suy diễn trong hội thoại tiếng Việt

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
39
lượt xem
3
download

Suy diễn trong hội thoại tiếng Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết bước đầu miêu tả, phân tích một vài đặc trưng của suy diễn trong hội thoại tiếng Việt – những suy diễn được tạo tác trong tư duy, được biểu hiện trong giao tiếp hàng ngày của người Việt; xác định sự tồn tại của suy diễn, trên cơ sở đó, đi đến phân loại và mô hình hóa suy diễn cũng như các phương thức cấu thành nên chúng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Suy diễn trong hội thoại tiếng Việt

v LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> SUY DIỄN TRONG HỘI THOẠI TIẾNG VIỆT<br /> (TRÊN CỨ LIỆU 100 TRUYỆN CƯỜI CHỌN LỌC)<br /> <br /> <br /> ĐOÀN CẢNH TUẤN*<br /> *Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,  doancanhtuana3@gmail.com<br /> Ngày nhận bài: 18/4/2018; ngày sửa chữa: 16/5/2018; ngày duyệt đăng: 20/6/2018<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Bài viết bước đầu miêu tả, phân tích một vài đặc trưng của suy diễn trong hội thoại tiếng Việt –<br /> những suy diễn được tạo tác trong tư duy, được biểu hiện trong giao tiếp hàng ngày của người<br /> Việt; xác định sự tồn tại của suy diễn, trên cơ sở đó, đi đến phân loại và mô hình hóa suy diễn<br /> cũng như các phương thức cấu thành nên chúng. Dưới con mắt của dụng học, chúng tôi đã khái<br /> quát hóa mối quan hệ giữa suy diễn với các nhân tố thuộc về ngữ cảnh cũng như cá nhân đối tượng<br /> tham gia vào giao tiếp (những yếu tố kinh nghiệm, tâm lý cá nhân). Bên cạnh đó, nhấn mạnh vai<br /> trò không chỉ của người nói hay người viết mà còn cả người nghe hay người đọc trong giao tiếp<br /> là vô cùng quan trọng.<br /> Từ khóa: cá nhân, giao tiếp, kinh nghiệm, ngữ cảnh, suy diễn<br /> <br /> <br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ cổ xưa nhất: tam đoạn luận Aristotote” (Nguyễn<br /> Đức Dân, 2005, tr.147) hoặc đồng nhất suy diễn<br /> Suy diễn là một vấn đề còn khá mới trong giới với suy luận và cho rằng suy diễn cũng vận dụng<br /> dụng học nói riêng và ngữ học nói chung. Vấn đề những quy tắc của suy luận logic nhưng còn mang<br /> suy diễn trước đó cũng đã được đề cập đến trong một số quy tắc đặc trưng riêng của nó: “Suy ý là<br /> một vài công trình nghiên cứu, tuy nhiên bị bao suy luận để biết đến cái ý của người nói. Suy ý<br /> gộp chung trong các thuật ngữ, chẳng hạn suy ý cũng vận dụng những quy tắc của suy luận logic,<br /> hay suy lý trong Nhập môn logic hình thức và logic nhưng đồng thời nó còn có một số quy tắc đặc<br /> phi hình thức (Nguyễn Đức Dân), Logic – Ngôn trưng của nó” (Hoàng Phê, 2003, tr.103),“Phép<br /> ngữ học (Hoàng Phê) hay Giáo trình Logic hình suy diễn là một suy lý gián tiếp mà tiền đề là hai<br /> thức (Bùi Thanh Quất). Nhìn chung, các tác giả phán đoán đơn” (Bùi Thanh Quất, 1994, tr.125).<br /> đều có cùng quan điểm coi suy diễn là một loại suy<br /> luận hay suy lý và xuất phát theo hướng tiếp cận Mặc dù kế thừa quan điểm của các tác giả đi<br /> của logic hình thức. Cách tiếp cận này đi theo hai trước về vấn đề này theo hướng tiếp cận logic hình<br /> chiều hướng: hoặc coi suy diễn là suy luận hay suy thức nhưng chúng tôi tập trung sâu vào phân tích<br /> lý hai tiền đề “suy diễn chính là phép suy luận hai hội thoại dựa trên cứ liệu 100 truyện cười (kết hợp<br /> tiền đề hay đó chính là hệ thống suy diễn tiền đề các thủ pháp thống kê, phân loại, so sánh – đối<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 12 Số 14 - 7/2018<br /> LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH v<br /> <br /> <br /> <br /> chiếu, đánh giá tổng hợp), để trên cơ sở đó, bước - Cục ta cục tác.<br /> đầu chỉ ra những phương thức cấu thành nên suy - Con chó kêu như thế nào?<br /> diễn, các loại suy diễn khác nhau. Đồng thời chỉ ra<br /> - Gâu gâu.<br /> những đặc trưng khái quát nhất của suy diễn trong<br /> hội thoại tiếng Việt. - Thế con bò kêu như thế nào?<br /> - “Trăm phần trăm, trăm phần trăm, trăm<br /> 2. NỘI DUNG phần trăm… Chúng tôi là những con bò”.<br /> (Khái Hưng, Tuyển tập Tiếu lâm Việt Nam)<br /> 2.1. Các phương thức cấu thành suy diễn<br /> Xét từ thực tế khách quan và theo như quy ước<br /> Qua quá trình khảo cứu, chúng tôi nhận thấy<br /> trên (a => b; c => d; e => f) thì:<br /> rằng, về bản chất, suy diễn được hình thành, tạo<br /> tác trong tư duy và được hiện thực hóa qua ngôn Con gà sẽ kêu cục ta cục tác<br /> ngữ theo hai con đường sau: a b<br /> 2.1.1. Gián tiếp giới hạn ngữ cảnh có thể tạo Con chó sẽ kêu gâu gâu<br /> sinh trong tư duy từ một diễn ngôn X nào đó (vô c d<br /> tình hiểu sai X) còn con bò sẽ kêu bò...ò...ò<br /> e f<br /> Một quá trình giao tiếp thông thường sẽ bao<br /> gồm bên phát (bên truyền đi thông điệp) và bên Tuy nhiên, trong cuộc thoại trên, đặc trưng,<br /> nhận (bên thụ đắc thông điệp). Nói khác đi, giao thuộc tính f về tiếng kêu của con bò lại là trăm<br /> tiếp là chu trình truyền và phát đi thông điệp giữa phần trăm, trăm phần trăm... Chúng tôi là những<br /> hai bên, một bên là người nói hay người viết và con bò. Từ giả thuyết đã cho, rõ ràng, các mệnh đề<br /> bên còn lại là người nghe hay người đọc. Tuy đi kèm trong các cặp tiên đề b, d, f phải là các thuộc<br /> nhiên, khi thụ đắc ngôn ngữ, người nghe (người tính đặc trưng, bản chất của sự vật, hiện tượng<br /> đọc) đi theo một quy luật suy ý riêng, dựa trên được đề cập đến, nhưng ở đây, e không suy ra f<br /> kinh nghiệm, nhận thức chủ quan của bản thân mà mà người nghe khi tiếp nhận phát ngôn từ chủ thể<br /> vô tình hiểu sai hàm ý của chủ thể tạo ra phát ngôn tạo ra phát ngôn lại suy ra một mệnh đề khác hoàn<br /> hoặc do người thuyết giải thông tin (người nghe/ toàn với chuỗi suy luận ban đầu. Quá trình lý giải<br /> người đọc) xuất phát từ một tiền đề sai. Điều đó vẫn phải tiếp tục, tại không gian, thời gian thuyết<br /> có nghĩa tuy chưa có đủ “cơ sở, căn cứ, lý lẽ xác giải thông tin, bằng kinh nghiệm thực chứng, bằng<br /> đáng” mà đã vội kết luận về nội dung của sự tình. nhận thức tương đối của bản thân. Người đối thoại<br /> Tư duy qua quá trình “khúc xạ” bởi yếu tố thuộc vẫn phải trả lời nhưng không còn tuân theo quy<br /> về bản ngã (về cá nhân) đồng nhất tất cả các hình luật logic nữa mà suy diễn sang một hướng khác.<br /> thức suy ý còn lại làm một, khiến sản sinh ra bộ<br /> phận suy ý sai, cái được gọi là suy diễn. Trở lại câu chuyện về tiếng kêu của các con<br /> vật, tại sao theo tri nhận của em nhỏ trong câu<br /> Giả sử, cho các cặp tiên đề (a; b), (c; d), (e;<br /> chuyện này, con bò lại kêu “Trăm phần trăm...<br /> f),… trong đó, các tiên đề b, d, f lần lượt là thuộc<br /> trăm phần trăm...chúng tôi là những con bò.”? Lý<br /> tính đặc trưng, bản chất của các sự vật a, c, e. Ở<br /> giải về điều này, có lẽ phải viện đến các quảng cáo<br /> các cặp tiên đề đó, hiển nhiên ta có quy ước: a =><br /> sữa trên một số phương tiện truyền thông ở Việt<br /> b; c => d; e => f<br /> Nam hiện nay. Đối với rất nhiều em nhỏ, đặc biệt<br /> Thử phân tích ví dụ dưới đây: là những em nhỏ sống ở thành phố, từ bé, các em<br /> đã không có hoặc ít có cơ hội trải nghiệm thực tế<br /> Hai em nhỏ ngồi chơi với nhau. Cậu anh hỏi: về cuộc sống ở nông thôn, ít có cơ hội được tiếp<br /> “Con gà kêu như thế nào?” xúc với các con vật nhà nông như trâu, bò, lợn,...<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 14 - 7/2018 13<br /> v LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH<br /> <br /> <br /> mà chủ yếu, nếu có, các em thường tiếp xúc với - Dù chúng tôi đã rất cố gắng can ngăn,<br /> những con vật nuôi nhỏ trong gia đình như con nhưng… chuyện tình tay ba thường kết thúc bi<br /> chó, con mèo hay con gà. Do vậy, khi hỏi các em thảm như thế đấy ạ!<br /> con chó kêu như thế nào hay con gà kêu như thế<br /> nào thì các bạn nhỏ không ngần ngại gì khi trả lời - ?!!<br /> con chó thì kêu gâu gâu, con gà thì kêu cục ta cục (Khái Hưng, Tuyển tập Tiếu lâm Việt Nam)<br /> tác. Chính từ sự thiếu trải nghiệm thực tế của các<br /> em nhỏ, các em nếu có cũng chỉ chứng kiến con Ở truyện cười trên, thực khách muốn nói tới<br /> bò trên tivi, tranh ảnh, sách báo mà chưa hề được một thực tế hiển nhiên “Trong bát phở có đến ba<br /> nghe tiếng kêu của chúng nên sau khi xem các con ruồi” mà điều đó đáng lí bất kì một nhân viên<br /> quảng cáo sữa trên tivi thì nghiễm nhiên mặc định bán hàng nào khi nghe đều nhận ra người khách<br /> rằng con bò kêu “Trăm phần trăm… trăm phần đang muốn phê bình vấn đề vệ sinh an toàn thực<br /> trăm… chúng tôi là những con bò”. Như vậy, phát phẩm của quán. Cái hàm ngôn ở đây không khó<br /> ngôn rằng một con chó thì sủa gâu gâu, một con gà nhận thấy. Câu hỏi “tại sao” chẳng qua nhằm xác<br /> sẽ kêu cục ta cục tác chắc chắn đúng nhưng không nhận thông tin và muốn nghe một lời giải thích.<br /> thể có một con bò biết nói tiếng người. Do đó, suy Rất nhanh trí, bồi bàn đã lấp liếm đi thực tế về<br /> diễn trong trường hợp này bị chính ảnh hưởng của vấn đề vệ sinh của quán anh ta bằng một lối suy<br /> kiến thức, của kinh nghiệm chi phối, tác động và diễn hết sức “có lý”. Cái có lý ấy đáng phải xem<br /> dẫn đến những khúc xạ khác nhau trong tư duy. xét. Có lý ở đây là sự hợp lý về mặt liên hệ với<br /> trực quan sinh động, hình ảnh “ba con ruồi” với<br /> 2.1.2. Trực tiếp giới hạn ngữ cảnh có thể tạo hình ảnh “tình tay ba”. Nhưng về mặt logic, suy<br /> sinh trong tư duy từ một diễn ngôn X nào đó (cố luận ấy là vô lý. Người nghe (bồi bàn) cố tình<br /> ý hiểu sai X) hiểu sai ý thực khách trong khi đó không phải<br /> cái hàm ý mà người nói (thực khách) hướng tới.<br /> Bên cạnh cách thức gián tiếp giới hạn các<br /> ngữ cảnh tình huống có thể tạo tác trong tư duy Kết thúc đoạn truyện cười ở trên, đúng với ý<br /> từ một diễn ngôn X nào đó thì suy diễn cũng có của bồi bàn (chủ thể tiếp nhận thông tin từ thực<br /> thể được hình thành do chủ thể luận giải cố tình khách), bằng cái lối suy diễn tài tình của mình, anh<br /> hiểu sai hàm ý (ý nghĩa n ẩn tàng trong phát ngôn ta đã dập tắt hội thoại, khiến cho sự tức giận của<br /> của chủ thể) của diễn ngôn bởi lẽ người luận giải thực khách không những mất đi mà còn tạo tình<br /> diễn ngôn muốn biến suy diễn thành công cụ để tiết gây cười, gây thú vị cho khách hàng của quán.<br /> đạt được mục đích của mình. Mặc dù có thể thuyết Từ đối tượng “có lỗi” do không tuân thủ vệ sinh<br /> giải được thông tin X nhưng vì động cơ Y nào đó an toàn thực phẩm mà bỗng “những kẻ gây lỗi”<br /> của anh ta nên anh ta không tuân thủ quy tắc suy biến thành những người bị động – những nạn nhân<br /> luận logic, triệt tiêu chúng đi, tạo điều kiện cho “rất tiếc vì đã gắng sức nhưng không thể can ngăn<br /> suy diễn được hình thành và được hiện thực hóa cuộc chiến bi kịch của ba con ruồi” xảy ra.<br /> thông qua ngôn ngữ. Điều này thể hiện rất rõ trong<br /> truyện cười dưới đây: Quá trình thuyết giải thông tin của bồi bàn<br /> theo như Grice trong Logic và hội thoại rõ ràng<br /> Một thực khách tức giận gọi bồi bàn đến: đã vi phạm phải ba kiểu không tôn trọng trong<br /> phương châm. Đó là chối bỏ phương châm (opt<br /> - Tại sao trong bát phở của tôi lại có đến ba<br /> out of a maxim), xúc phạm phương châm (flout) và<br /> con ruồi nằm thẳng cẳng thế này?<br /> vi phạm phương châm (violate). Sau này Grice bổ<br /> - Vâng, đây thực sự là một bi kịch thưa ông! sung thêm phạm lỗi phương châm (infring) và các<br /> nhà ngôn ngữ học bổ sung thêm kiểu treo phương<br /> - Thế à? Nhà hàng lại mất vệ sinh đến thế kia à? châm (suspend). Nếu phạm lỗi phương châm là do<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 14 Số 14 - 7/2018<br /> LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH v<br /> <br /> <br /> <br /> người nói vụng về, không tuân thủ phương châm người phát muốn truyền tải đến nhưng vì một mục<br /> một cách vô tình, không cố ý thì xúc phạm, vi đích, một động cơ cá nhân nào đó nên “anh ta” cố<br /> phạm, chối bỏ phương châm lại là những việc làm tình liên tưởng sai lệch đi để phục vụ cho mục đích<br /> có ý thức của người nói, cố ý gài đằng sau những nhất định của bản thân anh ta. Điều đó khiến cho<br /> phát ngôn trực tiếp của mình những hàm ngôn thông điệp X ban đầu trở thành một thông điệp Y<br /> nhằm tạo ra ý nghĩa không tự nhiên. nào đó – cái thông điệp mà người nói không cố<br /> tình đề cập tới.<br /> Cần lưu ý rằng, cái gọi là người nói và người<br /> nghe trong một cuộc hội thoại ở đây chỉ mang tính Như vậy, suy diễn được tạo nên bởi trong quá<br /> chất tương đối. Vai trò của chủ thể tham gia giao trình luận giải thông tin, người nhận đã gắn diễn<br /> tiếp trong một diễn ngôn luân phiên nhau, tương ngôn ban đầu với một ngữ cảnh cụ thể nào đó –<br /> tác qua lại với nhau. Quá trình luân phiên lượt lời cái ngữ cảnh mà người phát và người nhận không<br /> diễn ra, vai “người nói” hay “người nghe” thay đổi thống nhất, không hình thành trên cùng một phông<br /> tùy vào trực chỉ. nền dẫn đến hiểu sai ý của nhau. Quá trình luận<br /> giải thông tin của người phát đôi khi còn gắn với<br /> 2.2. Mô hình suy diễn nhận thức cảm tính, gắn với trải nghiệm, kinh<br /> nghiệm cá nhân. Quả đúng như R. Nisbett đã từng<br /> Từ hai phương thức cấu thành suy diễn trên, nhận định“Dường như sự khác nhau trong cách<br /> con đường hình thành nên suy diễn có thể được tiếp nhận thông tin từ môi trường xung quanh là<br /> khái quát hóa qua mô hình 1 dưới đây. Chúng tôi<br /> hệ quả của những nền văn hóa khác nhau mà con<br /> tạm gọi đó là mô hình suy diễn.<br /> người được giáo dục trong đó” (Lý Toàn Thắng,<br /> 2008, tr.185), quá trình luận giải không chỉ gắn<br /> với yếu tố cá nhân mà còn gắn với điều kiện xã hội<br /> riêng biệt, sự ảnh hưởng của những nền văn hóa<br /> khác nhau. Đó đều là những nhân tố hình thành<br /> nên suy diễn.<br /> <br /> 2.3. Phân loại suy diễn<br /> <br /> Qua khảo sát 100 truyện cười chọn lọc (những<br /> truyện cười Việt Nam có chứa yếu tố suy diễn),<br /> Mô hình 1: Mô hình suy diễn theo chúng tôi, suy diễn gồm 2 nhóm: nhóm suy<br /> diễn qua ngôn từ và nhóm suy diễn cá nhân hóa<br /> Người phát trong diễn ngôn ban đầu truyền đi tâm lý xã hội. Trong đó, nhóm suy diễn cá nhân<br /> một thông điệp X đến người nhận. Tuy nhiên, do hóa tâm lý xã hội lại được tách bạch làm 3 loại<br /> trong quá trình luận giải thông tin, người nhận nhỏ hơn: đó là suy diễn có động cơ, suy diễn qua<br /> chịu sự chi phối của các yếu tố như kinh nghiệm niềm tin và suy diễn cực đoan hóa. Kết quả thống<br /> cá nhân, yếu tố tâm lý, xã hội khác và đặc biệt là kê được thể hiện trong bảng số liệu 1.<br /> tác động của sự giới hạn nhân tố ngữ cảnh đã khiến<br /> Kết quả khảo sát cho thấy, suy diễn qua ngôn<br /> người nhận hiểu sai “thông điệp” mà người phát<br /> từ là loại suy diễn khá phổ biến, tuy nhiên chiếm<br /> muốn hướng tới.<br /> số lượng vượt trội là nhóm suy diễn cá nhân hóa<br /> Ngữ cảnh giới hạn tạo sinh suy diễn có thể do kinh nghiệm tâm lý xã hội. Trong khi nhóm suy<br /> người nhận cố tình dù đã hiểu thông điệp X mà diễn qua ngôn từ chỉ có mặt ở 32 truyện (chiếm<br /> 29,91%) thì suy diễn cá nhân hóa kinh nghiệm tâm<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 14 - 7/2018 15<br /> v LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH<br /> <br /> <br /> Bảng 1: Các loại suy diễn trong hội thoại tiếng suy một cách logic chặt chẽ bởi lẽ trong ngôn từ<br /> Việt chọn lọc (từ, ngữ, câu, diễn ngôn) có tồn tại một bộ phận gọi<br /> là ngụ ý hay ẩn ý. Ngụ ý không dễ dàng nhận ra<br /> TT Loại suy diễn Số lượng và không phải bất cứ một người nghe (người đọc)<br /> nào cũng có thể hiểu được cho nên đôi khi phát<br /> 1 Suy diễn qua ngôn từ 32 (29,91%) sinh ra những suy diễn. Thậm chí, có những kẻ dựa<br /> vào ngụ ý để lừa phỉnh những cá nhân không có<br /> Suy diễn qua năng lực thuyết giải thông tin (từ ngụ ý hình thành<br /> 30 (28,04%)<br /> Suy diễn cá niềm tin các suy diễn tiêu cực mà thực chất người nói/viết<br /> nhân hóa Suy diễn cực<br /> 2 23 (21,49%) không có ý hướng đến người nghe/đọc) nhằm đạt<br /> kinh nghiệm đoan hóa<br /> tâm lý xã hội Suy diễn có<br /> mục đích cá nhân nào đó của mình.<br /> 22 (20,56%)<br /> động cơ Trong một diễn ngôn, người nói (người viết)<br /> có sử dụng từ (ngữ, câu, diễn ngôn) nào đó có tính<br /> lý xã hội lại xuất hiện ở 75 truyện trên tổng số 100 chất đa nghĩa hay dễ gây hiểu lầm do sự mập mờ<br /> truyện cười (trong đó có 7 truyện cười chứa đựng về nghĩa thì nhất định phải sử dụng yếu tố ngữ<br /> cả hai hình thức suy diễn). Điều đó chứng tỏ rằng, cảnh cần thiết trong khi sử dụng để tránh suy diễn.<br /> suy diễn chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố tâm lý<br /> Giả sử, trong diễn ngôn, có một từ hay một ngữ<br /> xã hội, yếu tố kinh nghiệm cá nhân bên cạnh ảnh<br /> X nào đó bao gồm rất nhiều nghĩa (a1,a2,a3,a4,…,<br /> hưởng của ngôn ngữ. Các loại suy diễn này cũng<br /> an). Khi người nói hay người viết (A) sử dụng từ<br /> phần nào phản ánh tư duy của một bộ phận người<br /> (ngữ) đó với nghĩa a1 trong đúng ngữ cảnh a1của<br /> Việt và nhận thức của chúng ta về thế giới khách<br /> nó thì khi người nghe/người đọc (B) thuyết giải<br /> quan sẽ biến đổi như thế nào trong tư duy khi có thông tin, họ sẽ hiểu đúng cái nghĩa a1 ban đầu mà<br /> các nhân tố bên ngoài ngôn ngữ tác động. người nói/người viết hướng tới (suy luận logic).<br /> Riêng nhóm suy diễn qua ngôn từ, có thể được Nhưng khi người nói/người viết sử dụng từ (ngữ)<br /> hình thành do tính đa nghĩa hay mập mờ về nghĩa với nghĩa a1 mà không đặt nó trong bất cứ ngữ<br /> trong từ ngữ mà người nói (người viết) tạo ra, đồng cảnh nào hoặc khi anh ta sử dụng từ hay ngữ X<br /> nhưng lại kèm theo cả ẩn ý (ngụ ý) sẽ làm cho<br /> thời không có đủ yếu tố ngữ cảnh cần thiết để luận<br /> suy luận logic phần nào bị cản trở, tạo môi trường<br /> thuận lợi để hình thành suy diễn. Bởi lẽ, người<br /> nghe/người đọc có thể viện tới bất kì một khái<br /> niệm hay một nghĩa am nào đó thuộc về từ (ngữ)<br /> X do không có ngữ cảnh chính xác . Trên cơ sở<br /> đó, khi người nghe/người đọc (B) luận giải thông<br /> tin từ người nói/người viết (A) chính bởi không<br /> hiểu ngụ ý (ẩn ý) xuất phát từ phía A nên suy diễn<br /> để luận giải thông tin về từ/ngữ X này. Từ/ngữ X<br /> cũng có thể bị người nói phát âm sai hoặc người<br /> viết viết sai so với quy chuẩn chính tả dẫn đến khi<br /> luận giải thông tin, người nghe/người đọc dễ suy<br /> diễn khác đi so với những gì người nói/người viết<br /> đích thị muốn hướng đến. Điển hình về loại suy<br /> diễn dựa trên tính đa nghĩa của từ ngữ được minh<br /> Mô hình 2: Các nhân tố hình thành suy diễn họa thông qua ví dụ sau:<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 16 Số 14 - 7/2018<br /> LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH v<br /> <br /> <br /> <br /> Ví dụ: Mất rồi Ví dụ: người thương binh mất một chân, mất<br /> danh dự, nghỉ mất sức,…<br /> Một người sắp đi chơi xa dặn con:<br /> (4) Mất: dùng hết thời gian, công sức hoặc tiền<br /> - Ở nhà có ai hỏi thì bảo bố đi vắng nhé! của vào việc gì.<br /> Sợ con mải chơi quên mất, lại cẩn thận lấy bút Ví dụ: phải mất một hai hôm nữa mới làm xong,<br /> viết vào tờ giấy rồi bảo: mất rất nhiều công sức, mất thời gian vô ích,…<br /> <br /> - Có ai hỏi thì con cứ đưa cái giấy này! (5) Mất: không còn sống nữa, chết (một cách<br /> nói giảm nói tránh, hàm ý thương tiếc).<br /> Con cầm giấy bỏ vào túi áo. Cả ngày chẳng<br /> thấy ai hỏi. Tối đến, sẵn có ngọn đèn, nó lấy giấy Ví dụ: Ông cụ đều mất sớm, bố mẹ đã mất mấy<br /> ra xem, vô ý thế nào lại để giấy cháy mất. năm,…<br /> Khi “mất” đóng vai trò như một trợ từ:<br /> Hôm sau, có người đến chơi, hỏi:<br /> (6) Mất: biểu thị ý thương tiếc về điều không<br /> - Bố cháu có nhà không?<br /> hay đã xảy ra hoặc có thể xảy ra<br /> Nó ngẩn ngơ hồi lâu, sực nhớ ra, sờ túi không Ví dụ: quên bẵng đi mất, thế mà lại muộn mất<br /> thấy giấy, liền nói: rồi, lỡ mất cơ hội,…<br /> - Mất rồi! (7) Mất: biểu thị ý nhấn mạnh về mức độ một<br /> của tình cảm mà cảm thấy không sao kìm giữ được.<br /> Khách giật mình hỏi:<br /> Ví dụ: Buồn quá đi mất, sướng phát điên<br /> - Mất bao giờ? lên mất,…<br /> - Tối hôm qua. Chỉ một từ “mất” mà có bảy nghĩa như trên,<br /> nhưng khi sử dụng, cậu bé trong truyện lại không<br /> - Sao mà mất?<br /> cung cấp đầy đủ ngữ cảnh (chuỗi từ kết hợp bao<br /> - Cháy !!! xung quanh từ “mất” đủ làm cho nó xác định về<br /> nghĩa) để người khách đến chơi nhà luận giải<br /> (Khái Hưng, Tuyển tập Tiếu lâm Việt Nam) thông tin từ sự tình. Cái gọi là “mất” mà em bé sử<br /> dụng là với nghĩa “không có, không thấy, không<br /> Từ “mất” có một số nghĩa sau đây1: còn tồn tại nữa”, “mất rồi” ở đây là “mất” tờ giấy<br /> Nghĩa động từ: mà bố cậu bé đã đưa cho cậu ta trước khi đi xa<br /> nhà bởi cậu bé này đã làm cháy tờ giấy ấy. Ngược<br /> (1) Mất: không có, không thấy, không còn tồn lại, ông khách lại thuyết giải thông tin của sự tình<br /> tại nữa. với nghĩa “không còn sống nữa, chết” và tưởng<br /> như cậu bé dùng từ “mất” để bày tỏ sự thương<br /> Ví dụ: mất điện, mất vui, biến mất,… tiếc trước “sự ra đi đột ngột” của người bố cậu ta.<br /> Nhưng rõ ràng chính tính đa nghĩa của từ “mất”<br /> (2) Mất: không còn là của mình, thuộc về mình<br /> và sự biểu thị mập mờ của cậu bé trong truyện<br /> nữa (cái vẫn tiếp tục tồn tại).<br /> đã làm người nghe (ông khách) suy diễn với một<br /> Ví dụ: mất cái ví, mất cắp, mất tiền,… hiện thực khác bởi ông ta đã viện tới một ngữ cảnh<br /> khác khi sử dụng ngôn ngữ (cụ thể từ “mất” trong<br /> (3) Mất: không còn ở mình nữa. trường hợp này).<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 14 - 7/2018 17<br /> v LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH<br /> <br /> <br /> 3. KẾT LUẬN G. Brown, G. Yule (2002), Phân tích diễn ngôn,<br /> NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.<br /> Nhìn chung, suy diễn chính là hình thức thuyết<br /> G. Yule (2003), Dụng học, NXB Đại học Quốc<br /> giải thông tin của các chủ thể tham gia vào giao<br /> gia, Hà Nội.<br /> tiếp khi tiếp nhận một thông tin nào đó, đi ngược<br /> lại với quy luật của suy luận logic. Hay nói khác Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở Ngữ dụng học (tập 1),<br /> đi, suy diễn là cách thức liên tưởng của người nghe NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.<br /> (người đọc) khi tiếp nhận thông tin tuân theo một Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học (tập 1),<br /> số quy tắc nhất định. Suy diễn được tạo thành do NXB Giáo dục, Hà Nội.<br /> trực tiếp hay gián tiếp giới hạn ngữ cảnh có thể<br /> tạo sinh trong tư duy từ một diễn ngôn X. Với hai Nguyễn Đức Dân (2005), Nhập môn Logic hình<br /> thức và Logic phi hình thức, NXB Đại học<br /> phương thức cấu thành như vậy, suy diễn có thể<br /> Quốc gia, Hà Nội.<br /> được tách bạch ra làm hai nhóm: nhóm suy diễn<br /> qua ngôn từ và nhóm suy diễn cá nhân hóa tâm Khái Hưng (2010), Tuyển tập Tiếu lâm Việt Nam,<br /> lý xã hội (bao gồm các suy diễn qua niềm tin, suy NXB Thời đại, Hà Nội.<br /> diễn cực đoan hóa và suy diễn có động cơ)./. Hoàng Phê (2003), Logic – Ngôn ngữ học, NXB<br /> Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng.<br /> Chú thích:<br /> Bùi Thanh Quất (1994), Giáo trình Logic hình<br /> 1. Theo <br /> Lý Toàn Thắng (2008), “Thử nhìn lại một số vấn<br /> Tài liệu tham khảo:<br /> đề cốt yếu của ngôn ngữ học tri nhận”, Tạp chí<br /> A. G. Kavaliôp (1976), Tâm lý xã hội, NXB Giáo Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 24, Đại<br /> dục, Hà Nội. học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> DEDUCTION IN VIETNAMESE CONVERSATIONS<br /> (ON THE EVIDENCE OF 100 SELECTED COMIC STORIES)<br /> DOAN CANH TUAN<br /> Abstract: We initially analyzed, described the features of deduction formed through<br /> communication and in thinking, confirmed the existence of deduction and gradually came to<br /> categorize deduction as well as determine their mode of formation. In pragmatics’s perspective,<br /> we would like to generalize the relationship between deduction and the context factor as well<br /> as the factors (experience, psychology, society) belonging to the individual - the person who<br /> receives the communicative message. Moreover, we emphasized the extremely important role of<br /> both the speakers and the listeners in communication; When the speakers adhere to and apply the<br /> principles of conversation, they will fundamentally achieve their aims of communication.<br /> Keywords: context, communicate, deduction, individual, principles of coversation.<br /> Received: 18/4/2018; Revised: 16/5/2018; Accepted for publication: 20/6/2018<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 18 Số 14 - 7/2018<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2