Suy nghĩ về Hậu hiện đại
Trong những năm gần đây, một mốt thời thượng trong một số nhà văn thơ Việt
Nam trong nước và ngoài nước là sáng tác theo trào lưu “hậu hiện đại” (post-
modernist), bắt nguồn từ tư tưởng và văn hóa của các trí thức phương Tây trong
những thập niên cuối thế k20. Những tiên phong tiền v(avant-guard) đầu
tiên mong muốn khai phóng, tạo ra những cái mới, đột phá trong sáng tác để tạo ra
dòng chảy mới trong văn học, nghệ thuật Việt Nam như trước đây văn học “thơ
mới”, tiểu thuyết hiện đại thời tiền chiến đã phát sinh trong bối cảnh thay đổi
tưởng, xã hội to lớn văn hóa truyền thống Việt Nam hấp thụ từ bao thế kỷ của
nền văn minh phương đông, chyếu dựa vào Khổng Mạnh trong tầng lớp trí thức
Phật giáo trong quần chúng, đã b buộc phải thích nghi trong thế giới hiện đại
khi văn minh Tây phương ảnh hưởng mạnh mẽ từ thế kỷ 19, thì trào lưu “hậu hiện
đại”, theo họ là một bước tất yếu trong quá trình hội nhập của Việt Nam, nhất là
trong thời kỳ toàn cầu hóa đang xảy ra hiện nay.
Tuy nhiên, hiện một hố ngăn cách lớn lao giữa những nhà văn, nghệ theo
“hậu hiện đại” và tất cả những nhà văn hóa khác thuộc diện “không hậu hiện đại”
vsự đánh giá các sáng tác, nền tảng mỹ quan, tư tưởng và ngay csự hiểu biết
thế nào là “hậu hiện đại” và lịch sử tư tưởng dẫn đến triết lý “hậu hiện đại”.
Cũng xin nói trước là tôi không phải là chuyên gia nghiên cứu về “hậu hiện đại”,
nhất là “hậu hiện đại” trong bối cảnh trong văn hóa nghệ thuật Việt Nam hiện nay,
càng không phải nhà văn hay nhà thơ “hậu hiện đại”. Tôi viết bài này, dưới
nhãn quan của một người làm khoa học đã tìm hiểu vsliên hgiữa “khách
quan” khoa học và chquan” hiện đại và hậu hiện đại, không ngoài mục đích
muốn tìm hiểu và sthông hiểu giữa những nhà làm văn hoá nghệ thuật “hậu
hiện đại” và những người không hay chưa “hậu hiện đại” trong sáng tác về
tưởng, triết lý và đặc điểm chính của “hậu hiện đại” trong bối cảnh Việt Nam.
Vấn đề bản hiện nay cho sự phát triển văn học hậu hiện đại” trong văn học
Việt Nam là skhuyến khích, môi trường sđối thoại, trao đổi, tranh luận trên
các diễn đàn rộng rãi với nhiều giới làm văn hóa tham gia và sự thông hiểu dễ
dàng thế nào “hậu hiện đại”. nhiên nếu chỉ chủ tâm o độc giả đã thấm
nhuần tưởng hậu hin đại và cùng hội ý, đồng tâm trong sáng tác thì không còn
vấn đề gì nữa đáng nói. Nhưng trong bối cảnh hiện nay trong văn học trong và
ngoài nước, đã những sự va chạm giữa những nhà hậu hiện đại và chính
thống” mà nhiều nời theo hậu hiện đại cho rằng là do sự bảo thủ, sức trì quá lớn
của văn học Việt Nam so với các nước khác hơi bi quan về sự phát triển của
văn học nghệ thuật hậu hiện đại trong văn hóa Việt Nam. Đa số các nhà hậu hiện
đại đều trẻ và trình độ nhận thức cao và hđã to cho hchổ đứng riêng
trong môi trường sách báo, tạp chí và mạng hiện nay. Trong không gian đấy rất sôi
động và rất sáng tạo. Nhưng không gian ấy vẫn còn nhvà sphát tán rộng n
nếu tư tưởng hậu hiện đại được phổ cập hay phổ thông hóa trong quần chúng và
chính thế trách nhiệm của các nhà hậu hiện đại là phthông hóa thay vì phàn
nàn hay bi quan vsức trì hay trình độ nhận hiểu tiếp nhận của độc giả hiện nay.
Toàn cầu hóa thể làm cho skhó khăn này dần dần biến mất nhưng hệ quả của
toàn cầu hóa là chưa nhất quán ở nhiều nơi.
Đối với những nời mới với “hậu hiện đại” và muốn tìm hiểu về “hậu hiện đại”,
thì khi đọc các bài của các tác giả “hậu hiện đại” thì phải nói là rt khó hiểu qua
nhiều do. Một do chính là tngữ và schuyển ngữ các ttrừu tượng mang
tính triết học hay tưởng như siêu t sự (meta-narrative), phá cấu trúc
(deconstruct), cấu trúc luận (structuralism), hâu cấu trúc luận (post-
structuralism)... và ít khi giải thích hay nói rõ cốt lõi những quan niệm, triết trên
mà hàm ý người đọc đã biết rồi. do nữa là các lập luận dựa trên quá nhiều tu
tthường lập đi lập lại (rhetoric) và tngữ thời thượng của các tác giả hậu hiện
đại Tây phương các tác giả này viết cho độc giả đã ít nhất bản về lịch sử
truyền thống tưởng của văn hóa phương Tây. Đthể làm hiện đại và hu
hiện đại rõ hơn được sự thông hiểu độc giả Việt Nam, các nhà văn hậu hiện
đại nên để ý người đọc là trọng tâm chứ không phải là “văn bản”, và trong
một môi trường văn hóa khác phương Tây phải giản đơn được các quan niệm dựa
trên nguyên lý càng dhiểu càng tốt.
Hậu hiện đại (và hiện đại) nhập môn là một sự cần thiết. Hiện nay anh Bùi Văn
Nam Sơn Việt Nam hợp c với nhiều học giả để xuất bản một loạt sách dịch
về triết học nhập môn rất phthông và dhiểu. Theo tôi biết thì đã quyển sách
v “hậu hiện đại” nhập môn trong tủ sách này. Tsách tri thức hy vng sẽ
nhiều sách chi tiết hơn về triết học và lịch sử các tưởng như hiện đại, hiện sinh,
cấu trúc luận, hậu cấu trúc luận, phá cấu trúc... và các nhà triết học như L.
Wittgenstein, F. Nietszche, M. Heidegger, J. Derrida, R. Barthe, J. Sartre, A.
Camus, J. Baudrillard, J.F. Lyotard, M. Foucault ...
Bài này mục đích m tắt các ý niệm chính của hậu hiện đại theo s hiểu biết
của c giả với cách nhà khoa học tự nhiên thế thể những góc
cạnh khác với các nhà nghiên cu văn học và suy nghĩ về hậu hiện đại trong bối
cảnh Việt Nam. Đề tài thế nào hu hiện đại và chnghĩa hiện đại (modernism)
và hậu hiện đại (post-modernism) tht ra vẫn còn là đề tài tranh luận của nhiều học
giả, nhà phê bình, nghiên cứu.
Hiện đại và hu hiện đại
Hậu hiện đại, bắt nguồn từ hiện đại (modernism) với cơ sở hiện sinh và cấu trúc
luận, dựa chung trên tưởng tương đối nhưng lại phản ứng lại, không hài lòng
với sự giới hạn của hiện đại trong khuôn khổ qui luật của xã hội tưởng đóng
khung của cấu trúc luận (structuralism) về tôn giáo, giới tính, kỷ thuật, tiến bộ, cấu
trúc hội ... mà hin đại đã tiếp tục từ truyền thống lý trí của thời khai sáng. Hậu
hiện đại chủ yếu đặt trên căn bản của tưởng hậu cấu trúc luận (post-
structuralism). Trước hết hãy nói sơ về biểu tượng học, cấu trúc luận và hiện sinh
trong hiện đại.
Biểu tượng học (Semiology), cấu trúc luận, hiện sinh và hậu cấu trúc luận
Như sẽ đề cập chi tiết hơn sau, các văn bản trong thơ văn hậu hiện đại rất chú
trọng đến các biểu tượng hay kích vật mang nhiều ý nghĩa khác nhau tuỳ theo cái
nhìn, suy tư kinh nghiệm của mi người đọc. Biểu tượng là vật thể tự không
ý nghĩa nhưng khi được tiếp nhận lại mang nhiều sự triêng biệt. Biểu tượng
học (Semiology) là khoa học về các biểu tượng, các dấu (science of signs) như chữ
viết, hình ảnh, dấu ấn. R. Barthes, J. Baudrillard, hai trong số những nhà hậu hiện
đại nổi tiếng, đặc biệt chú ý đến biểu tượng học
sở của biểu tượng học là dựa vào thuyết ngôn ngữ của nhà ngôn nghọc
Thụy Sĩ, Ferdinand de Saussure vào đầu thế kỷ 20, cho rằng ngôn ngữ chỉ là ý
tưởng chứ không phải là tiêu chsự thể (referential). Mỗi từ là scấu tạo của hai
phần, hiệu cho một ý nim (signified) và âm thanh phát sinh t hiệu đó
(signifier). Không có sự liên hnào giữa hai phần này: cùng một ký hiệu cho quan
niệm, sthể y nhưng phát âm đều khác nhau tuỳ ngôn ngữ. Thứ tự tập hợp của
ngôn tcấu tạo thành các ý tưởng trừu tượng một tầng cao hơn. Các từ và tập
hợp từ ở mỗi tầng mang các chức năng khác nhau trong các tầng cấu trúc của ngôn
ngữ. Như vậy ngôn từ là hiu, biểu tượng của ý tưởng, ý niệm và ngôn nglà
hthống liên hgiữa các chức năng của các ý niệm trong một cấu trúc đầy sự liên
hđang chéo của các ý niệm, tưởng. Mỗi ngôn ngữ, gồm hiệu viết và tiếng