intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Suy nghĩ về nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
3
lượt xem
0
download

Suy nghĩ về nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tác giả nêu lên suy nghĩ về nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay, giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mục đích cao đẹp nhất của nền giáo dục Việt Nam đã được khẳng định trong Luật giáo dục do Quốc hội thông qua năm 2005 là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Suy nghĩ về nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay

Taïp chí Kinh teá - Kyõ thuaät<br /> <br /> SUY NGHĨ VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC<br /> ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC<br /> VIỆT NAM HIỆN NAY<br /> Phạm Văn Hưng*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền<br /> kinh tế phát triển. Mục đích cao đẹp nhất của nền giáo dục Việt Nam đã được khẳng định trong Luật<br /> giáo dục do Quốc hội thông qua năm 2005 là ‘‘đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có<br /> đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và<br /> chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp<br /> ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.<br /> Từ khóa: giáo dục, đào tạo, giải pháp, đổi mới<br /> <br /> THOUGHTS ON IMPROVING THE QUALITY OF UNIVERSITY<br /> EDUCATION IN THE EDUCATION INNOVATION BACKGROUND<br /> IN VIET NAM<br /> ABSTRACT<br /> The important role of education training is the key factor and the driving force of the<br /> economic development. The noblest aim of Vietnam education affirmed in the Educational<br /> Vietnamese Law passed by Congress in 2005 is ‘’To train Vietnamese people to develop their ethics,<br /> knowledge, health, aestheticism and careers comprehensively, be loyal to the ideals of national<br /> independence and socialism; form and foster personalities, qualities and abilities of citizens to meet<br /> the requirements of constructing and defending the nation.”<br /> Keywords: education, training, solutions, innovations<br /> <br /> 1. THỰC TRẠNG NỀN GIÁO DỤC<br /> VIỆT NAM.<br /> Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục<br /> Việt Nam có những bước phát triển, có những<br /> thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng<br /> vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho<br /> công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất<br /> nước. Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn<br /> chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:<br /> <br /> - Hiện nay giáo dục Việt Nam chỉ lo đào<br /> tạo số lượng sinh viên đầu ra mà quên đi vấn<br /> đề quan trọng là chất lượng đầu ra đó có đóng<br /> góp như thế nào vào sự nghiệp phát triển đất<br /> nước. Hàng loạt các kỹ sư, cử nhân ra trường<br /> nhưng thử hỏi có bao nhiêu người đạt được<br /> trình độ kỹ thuật của kỹ sư? Bao nhiêu người<br /> làm việc theo đúng ngành nghề mình đã học,<br /> đó là một sự lãng phí lớn. Trong một lần khảo<br /> <br /> * Phòng Khảo thí và ĐBCLGD, Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương.<br /> Email: Pvhung@ktkt.edu.vn, ĐT: 0168.6820.018<br /> <br /> 124<br /> <br /> Suy nghĩ về . . .<br /> <br /> sát các doanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương về<br /> chất lượng đào tạo đầu ra của sinh viên tại<br /> các trường Đại học, Cao đẳng có đáp ứng nhu<br /> cầu tuyển dụng của doanh nghiệp không? Thì<br /> khoảng 90% các doanh nghiệp đều cho rằng<br /> họ phải đào tạo lại toàn bộ các cử nhân, kỹ<br /> sư.. mới ra trường vì họ chỉ giỏi về lý thuyết<br /> nhưng khi áp dụng vào thực tế thì họ lại bỡ<br /> ngỡ. Như vậy có thể thấy rằng những kiến<br /> thức mà sinh viên học được trên ghế nhà<br /> trường chỉ là lý thuyết, giảng viên chưa cập<br /> nhật kiến thức thực tiễn tạo ra một lỗ hỏng lớn<br /> cho người học khi tốt nghiệp ra trường.<br /> - Giáo dục Việt Nam vẫn còn nhiều hạn<br /> chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục;<br /> chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến<br /> phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so<br /> với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều<br /> nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách<br /> hàng đầu.<br /> - Nội dung, chương trình, phương pháp<br /> giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm<br /> hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã<br /> hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy<br /> tính sáng tạo, năng lực thực hành của học<br /> sinh, sinh viên.<br /> - Chất lượng giáo dục có mặt bị buông<br /> lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối<br /> sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy<br /> “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề” vẫn<br /> yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức,<br /> lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ<br /> năng thực hành, kỹ năng sống…<br /> - Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều<br /> yếu kém, cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới,<br /> còn nhiều lúng túng. Đội ngũ cán bộ quản lý<br /> giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức<br /> và năng lực của một bộ phận còn thấp.<br /> - Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa<br /> theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước<br /> <br /> trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường<br /> và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa<br /> được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên<br /> cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập.<br /> 2. NGUYÊN NHÂN<br /> 2.1. Về phía người dạy:<br /> Mặc dù chất lượng và số lượng của lực<br /> lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng cao<br /> nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu<br /> mang tính thuyết giảng, làm người học tiếp<br /> thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy<br /> mang nặng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn.<br /> Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện phục<br /> vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy mà không<br /> thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp<br /> cho người học, số thời gian của giảng viên<br /> dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho<br /> nên hạn chế thời gian nghiên cứu khoa học và<br /> nghiên cứu thực tế.<br /> Giảng viên thường dạy cho sinh viên<br /> những kiến thức cụ thể, những hiểu biết mà<br /> mình tích lũy được trong kinh nghiệm giảng<br /> dạy mà không chú trọng đến việc dạy nghề<br /> cho sinh viên.Các giảng viên thường ít cập<br /> nhật kiến thức chuyên môn liên quan đến nhu<br /> cầu thực tế.Bài giảng của thầy đôi khi không<br /> còn phù hợp với tình hình xã hội hiện tại. Nếu<br /> sinh viên chỉ học ở trường, không có điều kiện<br /> va chạm với cuộc sống bên ngoài thì khả năng<br /> thích ứng với nhu cầu xã hội là thấp vì khoảng<br /> cách giữa lý thuyết và thực tế là khá xa.<br /> 2.2. Về phía người học <br /> Hiện nay, chất lượng đào tạo tại các<br /> trường THPT vẫn còn mang nặng về chỉ tiêu<br /> tốt nghiệp chưa thực sự chú trọng đến chất<br /> lượng đầu ra vì vậy chất lượng đầu vào của<br /> nhiều trường đại học, cao đẳng quá thấp, chủ<br /> yếu tập trung vào các trường xét tuyển,<br /> Tính chủ động sáng tạo trong học tập và<br /> nghiên cứu của sinh viên nhìn chung chưa cao,<br /> 125<br /> <br /> Taïp chí Kinh teá - Kyõ thuaät<br /> <br /> thiếu tư duy khoa học, đại đa số học thụ động,<br /> học theo phong trào, học cho qua “học theo<br /> hội chứng bằng cấp”, do vậy khi tốt nghiệp<br /> chưa đủ kiến thức để đáp ứng được yêu cầu<br /> của thực tế và bị thực tiễn chối bỏ.<br /> 2.3. Về chương trình đào tạo <br /> Chương trình đào tạo của chúng ta vẫn<br /> còn chậm cải tiến đổi mới, thiếu tính cập nhật,<br /> lý thuyết chưa gắn với thực tiễn, các môn học<br /> quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý,<br /> dẫn tới sinh viên học quá nhiều nhưng kiến<br /> thức lại chưa phù hợp với thực tiễn. <br /> Nội dung chương trình và sách giáo khoa<br /> chưa phù hợp, nặng về lý thuyết, chưa quan<br /> tâm đến giáo dục tình cảm và hành động cho<br /> học sinh. Ngoài ra, Bộ Giáo dục và đào tạo quy<br /> định các trường đại học phải thực hiện theo<br /> chương trình khung mà Bộ Giáo dục yêu cầu.<br /> 2.4. Phương pháp<br /> Hiện nay giảng viên tại các trường chủ yếu<br /> vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy truyền<br /> thống “thầy đọc, trò chép”. Phương pháp dạy<br /> và học hiện nay chủ yếu chạy theo chương<br /> trình, đối phó với các kỳ thì. Sự đổi mới về<br /> phương pháp giảng dạy trong các trường hiện<br /> nay chỉ mang tính hình thức. Thiết bị giảng<br /> dạy như: máy chiếu, video … chỉ là phương<br /> tiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng<br /> dạy nhưng quan trọng hơn cả là việc ý thức<br /> được giáo dục phải mang tính sáng tạo, tinh<br /> thần trách nhiệm thể hiện qua việc cải tiến<br /> về phương pháp và chương trình học thì vẫn<br /> chưa được chú trọng. <br /> 2.5. Kỹ năng mềm thiếu và yếu<br /> Bên cạnh việc thiếu kinh nghiệm làm<br /> việc thì không ít bạn trẻ đánh mất cơ hội lập<br /> nghiệp do thiếu kỹ năng mềm. Nhiều người<br /> không nhận thức đúng, đủ về vấn đề này. Hầu<br /> hết rất bị động, hiểu mơ hồ về kỹ năng mềm,<br /> vai trò của kỹ năng mềm đối với công việc<br /> <br /> của mình. Điều này khiến cho kỹ năng mềm<br /> của sinh viên hiện nay còn yếu.<br /> 3. GIẢI PHÁP<br /> Những tồn tại trên đã làm ảnh hưởng lớn<br /> đến chất lượng giáo dục mà nguyên nhân<br /> chính vẫn là tư duy của người dạy, người học<br /> và cơ chế quản lý chưa phù hợp đã tạo những<br /> “Sản phẩm” chất lượng kém vừa thiếu kiến<br /> thức, kỹ năng nghề nghiệp, phương pháp làm<br /> việc vừa kém về năng lực nhận thức, tư duy<br /> và phương pháp nghiên cứu khoa học, xã hội<br /> không thừa nhận và rồi “Sản phẩm” của giáo<br /> dục đào tạo đại học không có chỗ đứng trên<br /> thị trường, người học xong đại học khó hoặc<br /> không tìm được việc làm. <br /> Mục tiêu giáo dục của ta hiện nay là “Nâng<br /> cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân<br /> tài ”. Vì vậy, muốn thực hiện được mục tiêu<br /> giáo dục đề ra chúng ta cần phải có những giải<br /> pháp để nâng cao chất lượng giáo dục:<br /> - Thứ nhất: Tăng lương giáo viên<br /> Hiện nay, theo bảng thống kê khảo sát cho<br /> thấy rằng với thang bảng lương đang áp dụng,<br /> ngành giáo dục thật khó để thu hút được đội<br /> ngũ giáo viên giỏi. bởi khi ra trường một sinh<br /> viên học về kỹ thuật, hay thương mại, kinh tế<br /> nếu làm cho một doanh nghiệp tư nhân trong<br /> nước cũng có thể có mức lương khởi điểm từ<br /> 4 - 5 triệu đồng/tháng, và nếu làm cho các tổng<br /> công ty, tập đoàn lớn hay các doanh nghiệp có<br /> vốn đầu tư nước ngoài thì mỗi tháng bình quân<br /> có thể thu nhập từ 8 - 10 triệu đồng, thậm chí<br /> hơn nữa. Với mức lương đó, nhìn vào thang<br /> bảng lương giáo dục, người thầy không khỏi<br /> chạnh lòng. Bởi vì, một giảng viên có thâm<br /> niên 10 năm kinh nghiệm tại các trường đại<br /> học lớn của Việt Nam cũng không thể có được<br /> mức lương ngang bằng một sinh viên vừa tốt<br /> nghiệp đại học, làm cho doanh nghiệp có vốn<br /> đầu tư nước ngoài. So sánh nhỏ này cho thấy<br /> 126<br /> <br /> Suy nghĩ về . . .<br /> <br /> chừng nào chúng ta chưa thay đổi hệ thống<br /> thang bảng lương ngành giáo dục, chừng đó<br /> chúng ta vẫn không thể có được đầu vào tốt<br /> cho ngành sư phạm.<br /> Như vậy xét về mặt kinh tế, chi phí chúng<br /> ta đánh mất trong tương lai cho vấn đề này sẽ<br /> còn cao hơn rất nhiều so với việc tăng lương<br /> cho giáo viên. Vì một giáo viên kém ảnh<br /> hưởng đến hàng trăm người, và thậm chí ảnh<br /> hưởng đến cả nhiều thế hệ. Như vậy, phải tăng<br /> lương thì ngành giáo dục mới có cơ hội chiêu<br /> mộ được người tài.<br /> - Thứ hai: Tiếp tục đổi mới nội dung,<br /> phương pháp giáo dục<br /> Ngành giáo dục chúng ta phải từng<br /> bước đổi mới nội dung sách giáo khoa, loại<br /> bỏ những kiến thức không  thiết thực, bổ<br /> sung  những nội dung cần thiết  theo hướng<br /> bảo đảm kiến thức cơ bản, cập nhật những<br /> tiến bộ khoa học, công nghệ, tăng nội dung<br /> công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục  kỹ<br /> thuật tổng hợp và năng lực thực hành.<br /> Đổi mới phương pháp giảng dạy áp dụng<br /> phương pháp “Dạy ít, học nhiều”, chúng ta<br /> cần tập trung nâng cao chất lượng học tập của<br /> sinh viên bằng cách tạo thêm nhiều “khoảng<br /> trống” trong chương trình học để giáo viên có<br /> thể thực hiện những kế hoạch giảng dạy riêng,<br /> cùng sinh viên định hình một môi trường giáo<br /> dục riêng và bồi dưỡng nghiệp vụ.<br /> Với mô hình “Dạy ít, học nhiều” thì kiểu<br /> học vẹt, học vì thành tích và phong cách<br /> giảng dạy “dành cho với tất cả mọi người”<br /> sẽ bị loại bỏ. Thay vào đó, sinh viên sẽ chủ<br /> động hơn trong học tập, khám phá tri thức<br /> thông qua các thí nghiệm, trải nghiệm thực tế,<br /> học các kỹ năng sống và xây dựng nhân cách<br /> nhờ chiến lược đào tạo hiệu quả và sáng tạo.<br /> Ngoài ra, sinh viên cũng có thêm nhiều cơ hội<br /> học tập và rèn luyện toàn diện để phát triển<br /> <br /> tư duy, nhân cách và những tố chất để thành<br /> công trong tương lai.<br /> Mô hình “Dạy ít, học nhiều” được thực<br /> hiện từng bước một chứ không phải là một<br /> bước chuyển đột ngột. Một ví dụ về việc thực<br /> hiện mô hình này là sự ra đời của chương<br /> trình “Project Work” vào năm 2000, cho phép<br /> sinh viên học cách làm việc nhóm và áp dụng<br /> kiến thức vào thực tế.<br /> Project Work là một phương pháp đào tạo,<br /> theo đó các môn học sẽ được tích hợp, kết<br /> nối với nhau giúp sinh viên khám phá sự gắn<br /> kết và thống nhất giữa chúng. Project Work sẽ<br /> giúp sinh viên phát triển kỹ năng trong 4 lĩnh<br /> vực sau:<br /> • Áp dụng kiến thức: Sinh viên được học<br /> các kỹ năng nghiên cứu cơ bản, áp dụng<br /> và lưu chuyển kiến thức giữa các môn học<br /> khác nhau và tạo mối liên hệ giữa chúng.<br /> • Truyền thông: Sinh viên học cách truyền<br /> đạt ý tưởng một cách rõ ràng và hiệu quả.<br /> • Hợp tác: Sinh viên phát triển các kỹ năng<br /> xã hội thông qua các bài tập làm việc<br /> nhóm nhằm đạt mục tiêu chung.<br /> • Học tập độc lập: Sinh viên phải chịu trách<br /> nhiệm và tự quản lý sự học của mình, phát<br /> triển thái độ học tập và nghiên cứu tích cực.<br /> Theo mô hình mới này, người học phải là<br /> người chủ động trong quá trình học; giáo viên<br /> chỉ đóng vai trò hướng dẫn, khuyến khích và<br /> hỗ trợ. Mô hình học tập tích cực bao gồm 4<br /> yếu tố sau:<br /> • Học sinh chịu trách nhiệm và tự quản lý<br /> việc học của mình. Họ phải xác định mục<br /> tiêu học tập rõ ràng và biết phải làm gì để<br /> thực hiện mục tiêu đó, cũng như xây dựng<br /> tiêu chuẩn đánh giá chất lượng học cho<br /> riêng mình.<br /> • Học sinh biết đưa ra chiến lược học<br /> tập hiệu quả. Họ biết cách học, cải tiến<br /> 127<br /> <br /> Taïp chí Kinh teá - Kyõ thuaät<br /> <br /> phương pháp học và áp dụng kiến thức<br /> một cách sáng tạo.<br /> • Học sinh biết hợp tác với bạn bè. Họ hiểu<br /> rằng học tập là một hoạt động xã hội, rằng<br /> mỗi người có một quan điểm khác nhau<br /> về cùng một vấn đề, và việc trao đổi ý<br /> kiến, chia sẻ kiến thức sẽ làm cho việc<br /> học thêm phong phú và chất lượng.<br /> • Học sinh luôn được khuyến khích trong<br /> suốt quá trình học. Họ thấy được niềm vui<br /> và sự hứng khởi cũng như lợi ích của việc<br /> học tập.<br /> Bên cạnh đó, vai trò của giáo viên cũng sẽ<br /> thay đổi: Giáo viên chỉ là người hướng dẫn.<br /> Họ tạo một môi trường học tập trong đó học<br /> sinh hợp tác với nhau để giải quyết vấn đề và<br /> thực hiện những nhiệm vụ thực tế. Giáo viên<br /> là người cùng học với học sinh chứ không<br /> phải người cung cấp lời giải.<br /> Đây không chỉ là sự thay đổi về chính<br /> sách giáo dục mà còn là sự thay đổi căn bản<br /> về phẩm chất và tư duy của cả thầy và trò. Kế<br /> hoạch này thật sự rất khó thực hiện nếu xã hội<br /> vẫn còn quá coi trọng điểm số và thành tích.<br /> - Tăng cường cơ sở vật chất cho các<br /> trường học, đưa Tin học vào quản lý và Đổi<br /> mới công tác quản lý giáo dục:<br /> Thay thế, bổ sung cơ sở vật chất và thiết<br /> bị cho các trường phổ thông, trường dạy nghề,<br /> trường đại học. Tích cực đưa Tin học vào<br /> giảng dạy, thay đổi phương pháp dạy học theo<br /> hướng tích cực.<br /> Hiện nay  ngành giáo dục đang lệ thuộc<br /> nhiều vào các  lực lượng  khác ngoài ngành,<br /> ví dụ tỉ lệ tốt nghiệp, tỉ lệ lên lớp,  lưu ban ….<br /> “bệnh thành tích”  đang làm cho ngành mất đi<br /> tính độc lập, chủ động, thậm chí quản lý nhân<br /> sự ở các ngành học phổ thông cũng không phải<br /> thuộc ngành giáo dục quản lý. Nên có định<br /> hướng quản lý ngành giáo dục theo ngành dọc<br /> <br /> toàn bộ, độc lập chỉ đạo về chuyên môn, nhân<br /> sự, ngân sách, thanh tra kiểm tra, kể cả xây<br /> dựng cơ bản, cơ sở vật chất  thì ngành mới<br /> chủ động  thay đổi phương pháp giáo dục .<br /> Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về<br /> giáo dục trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh cải cách<br /> hành chính giáo dục. Thống nhất một đầu mối<br /> quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý theo<br /> pháp quyền trên cơ sở một hệ thống pháp luật<br /> giáo dục đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ giữa<br /> các Bộ, ngành, địa phương và triệt để phân cấp<br /> quản lý giáo dục; tăng quyền tự chủ và trách<br /> nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục, nhất là<br /> các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề<br /> nghiệp. Tăng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo<br /> dục trong toàn ngành ở tất cả các cấp quản lý<br /> nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh<br /> tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.<br /> Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra<br /> giáo dục; chuyển dần quản lý nhà nước về<br /> giáo dục nặng về hành chính sang quản lý<br /> chất lượng và từ quản lý nhà nước theo cách<br /> kiểm soát sang giám sát mọi hoạt động giáo<br /> dục. Nâng cao vai trò các tổ chức xã hội nghề<br /> nghiệp giáo dục như Hội Giáo chức, Hội<br /> Khuyến học, liên hiệp hội các trường ngoài<br /> công lập… trong phát triển giáo dục.<br /> Bộ giáo dục và đào tạo nên giao cho các<br /> Trường tự chủ trong việc biên soạn chương<br /> trình khung. Chương trình khung của Bộ là<br /> chương trình chuẩn để các trường dựa vào<br /> đó tự thiết kế chương trình cho mình, như thế<br /> mỗi trường đại học sẽ có chương trình đặc<br /> thù mang thế mạnh riêng. Đối với những môn<br /> chuyên ngành, trường sẽ giao cho khoa chủ<br /> động xây dựng chương trình. Như vậy chương<br /> trình giảng dạy sẽ hữu dụng hơn vì dựa vào<br /> nhu cầu thực tế của xã hội và trình độ của sinh<br /> viên, khoa sẽ điều chỉnh và cải tiến chương<br /> trình học một cách khoa học và kịp thời.<br /> 128<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản