intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Suy nghĩ về vai trò của hậu phương Thanh Hóa (1965-1968) qua trận chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng (3-4/4/1965)

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
8
lượt xem
0
download

Suy nghĩ về vai trò của hậu phương Thanh Hóa (1965-1968) qua trận chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng (3-4/4/1965)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên tuyến đường vận chuyển từ Bắc vào Nam, cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá) có một vị trí trọng yếu. Vì vậy, ngày 3-4/4/1965, Đế quốc Mỹ cho máy bay đánh phá cầu Hàm Rồng. Trong 2 ngày chiến đấu, quân dân xứ Thanh: tiêu diệt 47 máy bay địch và bảo vệ cầu an toàn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Suy nghĩ về vai trò của hậu phương Thanh Hóa (1965-1968) qua trận chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng (3-4/4/1965)

Nguyễn Đại Đồng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 87(11): 75 - 80<br /> <br /> SUY NGHĨ VỀ VAI TRÒ HẬU PHƯƠNG THANH HOÁ (1965-1968) QUA TRẬN<br /> CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ CẦU HÀM RỒNG (3-4/4/1965)<br /> Nguyễn Đại Đồng*, Nguyễn Minh Tuấn<br /> Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Trên tuyến đƣờng vận chuyển từ Bắc vào Nam, cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá) có một vị trí trọng<br /> yếu. Vì vậy, ngày 3-4/4/1965, Đế quốc Mỹ cho máy bay đánh phá cầu Hàm Rồng. Trong 2 ngày<br /> chiến đấu, quân dân xứ Thanh: tiêu diệt 47 máy bay địch và bảo vệ cầu an toàn. Thắng lợi này<br /> khẳng định, nhân dân Thanh Hoá có thể đánh bại mọi âm mƣu phá hoại của kẻ thù, bảo vệ an toàn<br /> hậu phƣơng và tuyến đƣờng vận chuyển huyết mạch từ Bắc vào Nam; đồng thời Thanh Hoá còn<br /> làm tròn nghĩa vụ hậu phƣơng với tiền tuyến miền Nam trong việc bảo đảm giao thông thông suốt,<br /> vận chuyển hàng hoá, cung cấp ngƣời cho chiến trƣờng.<br /> Từ khoá: Hàm Rồng, Đế quốc Mỹ, Chiến tranh phá hoại, Hậu phương.<br /> <br /> <br /> Vào ngày 3-4 tháng 4 năm 1965, quân dân<br /> Thanh Hóa đã đánh bại âm mƣu phá hoại cầu<br /> Hàm Rồng của đế quốc Mỹ. Qua trận chiến<br /> đấu bảo vệ cầu, chúng ta thấy đƣợc vai trò<br /> quan trọng của hậu phƣơng Thanh Hoá trong<br /> cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc. Đặc<br /> biệt trong giai đoạn 1965-1968.<br /> ÂM MƢU ĐÁNH PHÁ CẦU HÀM RỒNG<br /> CỦA ĐẾ QUỐC MỸ<br /> Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trƣớc nguy cơ<br /> phá sản hoàn toàn chiến lƣợc “Chiến tranh đặc<br /> biệt”, Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn, đã chọn<br /> con đƣờng tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh<br /> bằng việc thực hiện chiến lƣợc “Chiến tranh<br /> cục bộ”, đƣa quân Mỹ ào ạt vào miền Nam<br /> Việt Nam đồng thời sử dụng sức mạnh không<br /> quân và hải quân đánh phá miền Bắc nhằm:<br /> “- Phá tiềm lực kinh tế và quốc phòng, phá công<br /> cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.<br /> - Ngăn chặn nguồn chi viện từ bên ngoài vào<br /> miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam.<br /> - Uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí chống<br /> Mỹ cứu nƣớc của nhân dân ta ở cả hai miền<br /> đất nƣớc” [12, 1038].<br /> Trong báo cáo của mình, Bộ trƣởng Quốc<br /> phòng Mỹ Mác-na-ma-ra xác định: “Mục tiêu<br /> chính của chúng ta (Mỹ) là giảm bớt việc<br /> <br /> <br /> thâm nhập ngƣời và hàng tiếp tế từ Bắc vào<br /> Nam cũng nhƣ tăng thêm tổn phí cho việc<br /> này. Ném bom miền Bắc, đồng thời sẽ nâng<br /> cao tinh thần của Việt Nam (ngụy) là những<br /> ngƣời đang bị ép mạnh về quân sự” [5,39].<br /> Trong đó, Mỹ chú ý đến các tỉnh thuộc quân<br /> khu IV (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,<br /> Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế). Do những tỉnh này là địa bàn chiến<br /> lƣợc, là cầu nối liền giữa miền Bắc với miền<br /> Nam và Trung, Hạ Lào. Trên địa bàn chiến<br /> lƣợc của quân khu IV “…Thanh Hóa là quan<br /> trọng nhất. Bởi vì Thanh Hóa là hậu phƣơng<br /> trực tiếp của mặt trận Bình - Trị - Thiên và<br /> Lào” [1, 8]. Trong các đƣờng vận chuyển qua<br /> Thanh Hóa vào Nam, cầu Hàm Rồng đƣợc<br /> xem là vị trí quan trọng nhất, do ở đây tập<br /> trung cả 2 tuyến đƣờng bộ và đƣờng sắt. Mỗi<br /> ngày có tới 10 ngàn chiếc xe qua lại, khối<br /> lƣợng hàng hóa và ngƣời tập trung ở đây rất<br /> lớn. Một đặc điểm là Cầu Hàm Rồng và ga thị<br /> xã Thanh Hoá chỉ cách nhau khoảng 3km<br /> theo đƣờng chim bay. Do vậy, giới quân sự<br /> Mỹ cho rằng chỉ cần sử dụng lực lƣợng không<br /> quân nhƣng đánh đƣợc cả 2 nơi. Theo tính<br /> toán của Mỹ: từ Hà Nội đến đƣờng mòn Hồ<br /> Chí Minh có 60 điểm tắc, trong đó Hàm Rồng<br /> đƣợc xem là “điểm tắc lý tƣởng”. Vì đây là<br /> “đầu nút của khu vực cán xoong”.<br /> <br /> Tel: 0976 045727, Email: daidongdhkh@gmail.com.vn<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 75<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Đại Đồng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Trong cuộc họp chiều ngày 10.2.1965, Hội<br /> đồng an ninh quốc gia Mỹ đã “nhất trí đề nghị<br /> một phản ứng nhanh chóng kịp thời. Mục tiêu<br /> đề nghị ném bom là hai doanh trại Bắc Việt<br /> và một chiếc cầu quan trọng ở phía nam Hà<br /> Nội 75 dặm” (tức là cầu Hàm Rồng). Trong<br /> đó, Tƣ lệnh Mỹ ở Thái Bình Dƣơng là<br /> Grân-sáp đã đề nghị Nhà Trắng dùng siêu<br /> pháo đài bay B52 đánh cầu Hàm Rồng.<br /> Tổng thống Giôn-xơn không chấp nhận đề<br /> nghị đó mà dự định phƣơng án đánh phá Hàm<br /> Rồng bằng lực lƣợng không quân hỗn hợp.<br /> Những ngày cuối tháng 3.1965, máy bay Mỹ<br /> đã trinh sát thăm dò lực lƣợng ta ở Hàm<br /> Rồng. Đặc biệt, chiều tối ngày 2.4.1965, một<br /> chiếc máy bay bay vào sát cầu trinh sát lần<br /> cuối, chuẩn bị cho trận đánh phá vào sáng<br /> ngày 3.4.1965.<br /> QUÂN VÀ DÂN THANH HÓA CHUẨN BỊ<br /> VÀ TỔ CHỨC CHIẾN ĐẤU<br /> Chuẩn bị chiến đấu<br /> Trƣớc âm mƣu của địch, ngày 26.2.1965,<br /> Quân khu ủy và Bộ tƣ lệnh quân khu III họp<br /> bàn các phƣơng án chuẩn bị đánh trả cuộc<br /> chiến tranh phá hoại bằng không quân và<br /> hải quân của Mỹ.<br /> Để bảo vệ cầu Hàm Rồng, Bộ chỉ huy mặt<br /> trận Hàm Rồng đã xây dựng ở phía Nam hai<br /> cụm hỏa lực của lực lƣợng phòng không quốc<br /> gia. Đây là lần đầu tiên trên một mặt trận<br /> chống chiến tranh phá hoại, chúng ta có chủ<br /> trƣơng và có kế hoạch đƣa bộ đội chủ lực, bộ<br /> đội địa phƣơng, dân quân tự vệ cùng phối hợp<br /> chiến đấu và cũng là lần đầu tiên ta sử dụng<br /> quân chủng chính quy: phòng không - không<br /> quân và hải quân ra trận.<br /> Nhƣ vậy, cùng với nhân dân cả nƣớc nói<br /> chung, nhân dân Thanh Hoá đã khẩn<br /> trƣơng, chủ động, tự tin và quyết tâm cùng<br /> với đồng bào cả nƣớc giáng trả kẻ thù<br /> những đòn trừng trị đích đáng.<br /> Chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng (3- 4.4.1965)<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 87(11): 75 - 80<br /> <br /> Trong kế hoạch đánh phá miền Bắc, Hàm<br /> Rồng đƣợc coi là mục tiêu quan trọng đầu<br /> tiên trong kế hoạch đánh phá của địch. Để<br /> thực hiện mục đích đánh sập cầu, đế quốc Mỹ<br /> đã không từ bỏ một thủ đoạn quỷ quyệt nào<br /> và chúng đã sử dụng một khối lƣợng phƣơng<br /> tiện máy bay và vũ khí lớn hòng biến Hàm<br /> Rồng thành đống sắt vụn trong chớp nhoáng.<br /> Về phía ta, bộ đội và các lực lƣợng bảo vệ<br /> Hàm Rồng đã đề cao cảnh giác một mặt theo<br /> dõi định chặt chẽ, mặt khác kiên nhẫn giữ bí<br /> mật hỏa lực chờ thời cơ giáng cho địch đòn<br /> quyết định bất ngờ.<br /> Tối 2.4.1965, Bộ Tổng tƣ lệnh Quân đội<br /> Nhân dân Việt Nam điện thông báo cho Bộ<br /> Tƣ lệnh Quân khu III: “Địch sẽ đánh lớn vào<br /> Hàm Rồng ngày 3 tháng 4”[6, 25]. Bộ Tƣ<br /> lệnh quân khu III điện thông báo xuống Bộ<br /> chỉ huy mặt trận Hàm Rồng. Bức điện nhấn<br /> mạnh: “Phải đánh chắc, đánh trúng, bắn rơi<br /> tại chỗ nhiều máy bay địch, bảo vệ đƣợc mục<br /> tiêu, tiết kiệm đạn dƣợc…” [7, 61].<br /> Thực hiện mệnh lệnh đó, đồng chí trung tá<br /> Thái Tứ - tỉnh đội trƣởng Thanh Hóa chỉ huy<br /> cụm chiến đấu Hàm Rồng đã nhanh chóng<br /> đƣa lực lƣợng vào vị trí chuẩn bị chiến đấu.<br /> Mờ sáng 3.4.1965, đế quốc Mỹ cho máy bay<br /> đánh phá cầu Đò Lèn (Hà Trung), cầu Cun<br /> (Nông Cống), cầu Đông, cầu Đại Thủy, ga<br /> Văn Trai (thuộc huyện Tĩnh Gia). Với kế<br /> hoạch đánh phá trên, đế quốc Mỹ âm mƣu<br /> cắt đứt sự chi viện từ hai tuyến quan trọng<br /> này nhằm cô lập Hàm Rồng và tập trung sức<br /> đánh phá dứt điểm Hàm Rồng. Đúng 13h,<br /> cuộc tấn công Hàm Rồng bắt đầu. Từng tốp<br /> máy bay địch nhƣ F8, F105 thay nhau công<br /> kích liên tục.<br /> Các đơn vị dân quân tự vệ Hàm Rồng, Nam<br /> Ngạn, Hoằng Hóa trang bị vũ khí chủ yếu là<br /> súng trƣờng K44, một ít súng trung liên và<br /> đại liên liên tục tấn công quân địch, hất<br /> <br /> 76<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Đại Đồng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> chúng lên cao để bộ đội cao xạ và không<br /> quân ta tiêu diệt.<br /> Sau hơn 4h tổ chức tấn công liên tục, không<br /> quân Mỹ đã huy động 102 lần tốp máy bay,<br /> 360 lần chiếc mở 14 đợt tấn công đánh phá<br /> Hàm Rồng với 2 loại máy bay hiện đại chủ<br /> yếu là F100 và F105, nhƣng đế quốc Mỹ<br /> không thực hiện đƣợc mục đích.<br /> Đến 17h11”, sau khi bị bắn cháy 17 chiếc<br /> máy bay, địch phải chấm dứt cuộc đánh phá<br /> trong ngày.<br /> Trƣớc thất bại đau đớn của ngày đầu đánh<br /> phá Hàm Rồng, từ tƣớng lĩnh đến binh sĩ Mỹ<br /> vừa tức tối vừa lo sợ. Ở Nhà Trắng, L.Giônxơn điên đầu với những tổn thất quá lớn đó.<br /> Sau khi cân nhắc, L.Giôn-xơn chỉ thị cho<br /> Grân-sáp “phải làm cho Bắc Việt Nam biết<br /> thế nào là không lực Hoa Kỳ” và hạ lệnh<br /> “Tiếp tục đánh phá các mục tiêu với mức độ<br /> lớn hơn, không chỉ bằng máy bay của hải<br /> quân mà cả máy bay của không quân, tập<br /> trung lực lƣợng lớn tấn công từ hai phía là<br /> chủ yếu tạo thành gọng kìm thép cắt đứt bằng<br /> đƣợc cầu Hàm Rồng”[1, 39].<br /> Sau khi nhận lệnh của Nhà Trắng và Lầu<br /> Năm góc, viên Tƣ lệnh không quân Mỹ ở<br /> Việt Nam và Thái Lan đã tính toán và đƣa ra<br /> kế hoạch<br /> - Tập trung lực lƣợng máy bay F105, một loại<br /> máy bay cƣờng kích đƣợc cải tiến hiện đại<br /> nhất để đánh cầu Hàm Rồng.<br /> - Đồng thời dùng loại bom MK117 (340kg)<br /> với số lƣợng gấp đôi, gấp ba ngày 3 tháng 4<br /> và ném bom theo kiểu gieo hạt vào mục tiêu<br /> với mục đích không trúng quả nọ sẽ trúng quả<br /> kia, dùng thêm cả loại bom bi “quả dứa” và<br /> “quả ổi”. Kết hợp tăng thêm loại rốc két<br /> L.A.U cỡ 127mm. Toàn bộ kế hoạch của Mỹ<br /> là dựa vào ƣu thế vũ khí, kỹ thuật. Ý đồ của<br /> chúng là dồn sức để đánh sập cầu Hàm Rồng.<br /> Về phía ta, Bộ Tổng tƣ lệnh quyết định điều<br /> động Đoàn Tam Đảo (sƣ đoàn 350) tăng<br /> cƣờng cho Hàm Rồng. Vào lúc 7h26 phút,<br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 87(11): 75 - 80<br /> <br /> ngày 4/4, máy bay địch tấn công trung đoàn<br /> 234 đang trên đƣờng cơ động từ Nghệ An ra<br /> và tập trung đánh phá khu vực bến phà Ghép nơi xe pháo đang qua sông hòng tiêu hao lực<br /> lƣợng ta và ngăn chặn sự chi viện cho Hàm<br /> Rồng. Khi trận phà Ghép vừa kết thúc. Vào<br /> lúc 10h2 phút, nhiều tốp máy bay địch từ sân<br /> bay Đà Nẵng, Cò-Rạt (Thái Lan), Hạm đội 7<br /> ào ào kéo đến đánh phá Hàm Rồng với hy<br /> vọng cầu Hàm Rồng sẽ trở thành túi đựng<br /> bom của chúng.<br /> Nắm đƣợc âm mƣu của địch, ta một mặt tăng<br /> cƣờng hỏa lực cho trận địa, mặt khác sử dụng<br /> pháo cao xạ 57ly của Đoàn Tam Đảo chặn<br /> đánh vòng ngoài. Trên tất cả các hƣớng ngay<br /> từ lúc còn xa mục tiêu, chúng đã bị đánh chặn<br /> với lƣới lửa phòng không ba thứ quân, nhiều<br /> tầng, nhiều lớp với nhiều hƣớng khác nhau ở<br /> mọi độ cao từ xa đến gần, đã làm cho đội hình<br /> chiến đấu của địch bị rối loạn từ xa và không<br /> thực hiện đƣợc mƣu đồ của chúng.<br /> Trƣớc tình hình đó, Tƣớng Bờ-Lắc-Boóc<br /> buộc phải kết thúc trận đánh sớm hơn dự kiến<br /> - 4h chiều trận chiến đấu kết thúc. Thêm một<br /> ngày nữa quân dân xứ Thanh bắn cháy 30<br /> máy bay Mỹ.<br /> Tổng kết qua 2 ngày thử lửa đầu tiên (3-4/4),<br /> các lƣợng lƣợng vũ trang bảo vệ cầu cùng với<br /> quân và dân địa phƣơng Hàm Rồng, Nam<br /> Ngạn, Hoằng Hóa bắn rơi 47 máy bay Mỹ,<br /> diệt và bắt sống nhiều giặc lái (trong 2 ngày<br /> này: “chúng đã sử dụng tới 174 lần tốp, 450<br /> chiếc. Trên địa bàn Thanh Hóa địch đã ném<br /> 627 quả bom phá, 58 quả bom nổ chậm gồm<br /> các loại từ 50 đến 1000kg. Riêng Hàm Rồng<br /> địch bổ nhào 85 lần, ném 350 quả bom, cắt<br /> bom bắn phá 80 lần (gần 60% tổng số). Bắn<br /> 149 quả đạn rốc két gồm các loại từ<br /> 75milimét đến 127milimét” [1, 45]). Tuy<br /> nhiên, giữa mƣa bom bão đạn của kẻ thù, cầu<br /> Hàm Rồng vẫn đứng vững, hiên ngang nối<br /> đôi bờ sông Mã.<br /> Chiến thắng mùng 3-4.4.1965 là trận thắng<br /> lớn đầu tiên của nhân dân Thanh Hoá. Thắng<br /> lợi này góp phần bảo vệ cầu Hàm Rồng, bảo<br /> 77<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Đại Đồng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> vệ tuyến đƣờng huyết mạch nối liền từ Bắc<br /> vào Nam. Chiến thắng này chứng tỏ ý chí,<br /> quyết tâm đánh Mỹ của nhân dân Thanh Hóa.<br /> Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tƣ lệnh gửi thƣ<br /> khen ngợi, trong thƣ có đoạn viết: “Đó là 2<br /> ngày chiến thắng giòn giã nhất, lớn nhất kể từ<br /> ngày 5/8/1964 đến nay. Là 2 ngày chiến đấu<br /> liên tục, đánh rất quyết liệt, phối hợp rất chặt<br /> chẽ, giữa các lực lƣợng vũ trang, giữa bộ đội<br /> với dân quân địa phƣơng. Chiến công vẻ vang<br /> của các đồng chí là biểu hiện rực rỡ của ý chí<br /> sắt đá “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm<br /> lƣợc” để cứu nƣớc, cứu nhà của quân và dân<br /> ta. Đó là đòn trừng phạt nặng nề làm cho địch<br /> hoảng hồn khiếp sợ”[3, 1].<br /> Nói về thất bại trong 2 ngày này, đế quốc Mỹ<br /> đã phải thú nhận: đây là “những giờ phút đen<br /> tối nhất của không lực Hoa Kỳ”[5, 145].<br /> VAI TRÕ HẬU PHƢƠNG THANH HOÁ<br /> GIAI ĐOẠN 1965-1968<br /> Đánh bại âm mƣu phá hoại cầu Hàm Rồng<br /> của đế quốc Mỹ, bảo vệ an toàn tuyến đƣờng<br /> vận chuyển từ Bắc vào Nam qua cầu Hàm<br /> Rồng của quân dân xứ Thanh. Những sự kiện<br /> này khẳng định vai trò quan trọng của hậu<br /> phƣơng với tuyền tuyến, mà Thanh Hoá là<br /> hậu phƣơng trực tiếp của tiền tuyến lớn, trƣớc<br /> hết là của Trị Thiên và Lào.<br /> Trong vòng 4 năm (1965-1968) trên địa bàn<br /> Thanh Hoá, đế quốc Mỹ đã huy động 36.461<br /> lần tốp, 66.274 lần chiếc, đánh phá 12.073<br /> trận vào 3.936 điểm, sử dụng gần 15 vạn tấn<br /> bom đạn, khi tập trung ồ ạt, lúc đánh nhỏ,<br /> đánh lén vào tất cả các mục tiêu kể cả trƣờng<br /> học, bệnh viện, nhà thƣơng…gây cho Thanh<br /> Hoá nhiều thiệt hại. Cùng với đánh phá bằng<br /> không quân, Mỹ đã huy động 618 lần chiếc tàu<br /> biệt kích, 1.052 lần chiếc tàu tuần dƣơng hạm<br /> và khu trục hạm, bắn phá 119 trận, 20.209 quả<br /> đạn đại bác vào 324 địa điểm. Tăng cƣờng các<br /> hoạt động chiến tranh tâm lý, gián điệp, biệt<br /> kích vây bắt ngƣ dân khai thác tình báo, gây cơ<br /> sở gián điệp, phá hoại trật tự trị an.<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 87(11): 75 - 80<br /> <br /> Thấm nhuần đƣờng lối chiến tranh nhân dân,<br /> Đảng bộ Thanh Hoá đã chủ trƣơng xây dựng<br /> Thanh Hoá thành một hậu phƣơng vững<br /> mạnh, làm tròn nghĩa vụ hậu phƣơng lớn cho<br /> tiền tuyến miền Nam và cho nƣớc bạn Lào.<br /> Trong những đóng góp của hậu phƣơng<br /> Thanh Hoá cho tiền tuyến, đặc biệt nổi bật là<br /> trên mặt trận giao thông vận tải và công tác<br /> tuyển quân phục vụ chiến đấu ở chiến trƣờng.<br /> Trên mặt trận giao thông vận tải<br /> Một mặt trận chiến đấu không kém phần ác<br /> liệt chống cuộc chiến tranh phá hoại của giặc<br /> Mỹ là mặt trận giao thông vận tải. Vì một<br /> trong những mục tiêu đánh phá miền Bắc của<br /> Mỹ là cắt đứt con đƣờng vận chuyển từ Bắc<br /> vào Nam.<br /> Nói chuyện với nhân dân Nam Ngạn, đồng<br /> chí Lê Duẩn, Bí thƣ thứ nhất Ban chấp hành<br /> Trung ƣơng Đảng cho rằng: “Trong việc chi<br /> viện cho miền Nam thì khu Bốn là quan<br /> trọng, mà Thanh Hoá lại càng quan trọng,<br /> Thanh Hoá là cầu nối”, “Thanh Hoá là hậu<br /> phƣơng trực tiếp của tiền tuyến lớn, trƣớc hết<br /> là của Trị Thiên và Lào”[6, 148]. Nhận thấy<br /> tầm quan trọng của hậu phƣơng Thanh Hoá,<br /> Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã xác định: Bảo đảm<br /> giao thông vận tải là một trong 3 nhiệm vụ có<br /> tính chiến lƣợc của địa phƣơng. Ngày<br /> 14/5/1965, Uỷ ban hành chính tỉnh quyết<br /> định thành lập Ban bảo đảm giao thông,<br /> đồng chí Đặng Văn Bôi làm trƣởng ban.<br /> Ban giao thông vận tải có nhiệm vụ nghiên<br /> cứu, chỉ đạo công tác giao thông vận tải,<br /> đặc biệt là phục vụ quốc phòng.<br /> Ngày 9/6/1965, Tỉnh uỷ Thanh Hoá thành lập<br /> Ban cung cấp quốc phòng và tổ chức phòng<br /> tránh, đồng chí Hoàng Văn Hiều đƣợc cử làm<br /> Trƣởng ban. Ban có nhiệm vụ chỉ đạo việc<br /> thực hiện toàn bộ công tác xây dựng và cung<br /> cấp cơ sở vật chất phục vụ chiến đấu, phòng<br /> tránh cho nhân dân. Tính đến tháng 12/1965,<br /> Tỉnh huy động đƣợc 1.870.917 công phục vụ<br /> chiến đấu và bảo đảm giao thông<br /> <br /> 78<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Đại Đồng và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Năm 1967 là năm đế quốc Mỹ tập trung đánh<br /> phá quyết liệt vào hệ thống giao thông vận tải<br /> - chiếm 78% tổng số đánh phá trong tỉnh và<br /> bằng 168% so với năm 1966. Cũng là năm<br /> khối lƣợng hàng vận chuyển của tỉnh bảo đảm<br /> đạt 100% kế hoạch: “Năm 1966, thực hiện<br /> đƣợc 1.304.762 tấn/1.460.400 tấn đạt 89% kế<br /> hoạch (vận tải B: 62.284 tấn/62.000 tấn, vận<br /> tải C: 3.923/3.900 tấn)1. Năm 1967, khối<br /> lƣợng Trung ƣơng giao tăng 1,5-2 lần năm<br /> 1966 đã thực hiện đƣợc: vận tải B đạt 117%,<br /> vận tải C đạt 104%, bằng 168% so với năm<br /> Vận tải B: vận chuyển hàng hoá cho chiến<br /> trường miền Nam.<br /> Vận tải C: vận chuyển hàng hoá giúp nước<br /> bạn Lào<br /> Vận tải A: vận chuyển phục vụ địa bàn<br /> miền Bắc<br /> B1: chiến trường Quân khu V.<br /> 1966, vận tải A3: đạt 100,2%... Kế hoạch xếp<br /> dỡ đạt 111,8% bằng 147% so với năm 1966,<br /> năng xuất bình quân 4.880kg/ngƣời/ngày. Đột<br /> xuất lên 10-20 tấn/ngƣời/ngày”[6, 159].<br /> Số lƣợng xe phục vụ cho vận chuyển cũng<br /> ngày một tăng. Ngày 31/10/1968, có 2.216<br /> xe, ngày 8/11/1968 có 3.500 xe. Đến tháng<br /> 3/1969, đã vận chuyển đến đội 700 đƣợc<br /> 1.373 tấn, đến B1 đƣợc 840 tấn4. Nhiều đơn<br /> vị cá nhân đạt năng suất cao từ 106-228% kế<br /> hoạch. Điển hình nhƣ các anh Ngọ, Nguyệt,<br /> Tƣởng, Tu, Tƣờng thƣờng xuyên đạt 400500kg đến 650kg/chuyến với cự ly vận<br /> chuyển gần 13 km.<br /> Ngày 9/12/1968, thành lập đoàn vận tải Điện<br /> Biên 2, đồng chí Bùi Văn Cao làm trƣởng<br /> đoàn cùng với hơn 500 chiến sĩ công ty<br /> thuyền nan, 150 thanh niên xung phong và 1<br /> đại đội ô tô vƣợt Trƣờng Sơn vào phục vụ<br /> chiến dịch. Nhớ lời dặn của đồng chí Lê<br /> Duẩn: “Dù có phải hy sinh vài ngàn ngƣời,<br /> Thanh Hoá cũng phải bảo đảm vận chuyển<br /> hàng hoá, ăn bữa cơm, bữa cháo chúng ta<br /> cũng phải chịu đựng để miền Nam đánh<br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 87(11): 75 - 80<br /> <br /> thắng”[6,163], nhân dân xứ Thanh đã vƣợt<br /> qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.<br /> Cùng với các lực lƣợng vận tải, hơn 8.000<br /> thanh niên xung phong ở đội 287, 47, công<br /> nhân công ty xếp dỡ, lái tàu, lái thuyền đã<br /> dũng cảm cứu kho tàng, hàng hoá, phƣơng<br /> tiện trong lúc bom đạn. Tính đến ngày<br /> 31/12/1968, các lực lƣợng này cùng nhân dân<br /> đã vớt đƣợc 21.647 tấn đạn dƣợc, hàng hoá<br /> cứu đƣợc 212 ô tô, 205 thuyền các loại. Nhân<br /> dân giành hàng triệu ngày công để sửa đƣờng,<br /> làm đƣờng, đã trữ 78.789m3 đá, 108.721m3<br /> đất, góp 50.007 cây gỗ, 58.529 cây tre phục vụ<br /> giao thông. Nhờ những đóng góp to lớn, nên<br /> khó khăn sau khi địch địch đánh phá đƣợc giải<br /> quyết kịp thời. Hàng hoá đạn dƣợc đƣợc<br /> chuyển chở ra tiền tuyến liên tục ngày đêm.<br /> Hoàn thành việc tuyển quân phục vụ<br /> chiến trường<br /> Công tác động viên tuyển quân đã đƣợc các<br /> cấp bộ đảng, các ngành, các đoàn thể quan<br /> tâm, không chỉ chuẩn bị lực lƣợng cho những<br /> đợt tuyển quân mà còn chủ động đáp ứng yêu<br /> cầu lớn khi chiến trƣờng cần. Hàng năm,<br /> Thanh Hoá đều hoàn thành và vƣợt chỉ tiêu<br /> Quân khu giao. Đặc biệt năm 1968, chỉ tiêu<br /> Quân khu giao 30.000 thanh niên nhập ngũ,<br /> tỉnh đã tuyển 31.121 ngƣời-gấp 3 lần năm<br /> 1967 và bằng số quân động viên vào quân đội<br /> của tỉnh trong 10 năm hoà bình (1954-1964).<br /> Qua 4 năm (1965-1968), số lƣợng ngƣời nhập<br /> ngũ tăng 1,5 lần so với 9 năm kháng chiến<br /> chống Pháp: 84.390 ngƣời (1965-1968); trong<br /> chống Pháp là 56.792 ngƣời. Đặc biệt, có 20<br /> vạn lá đơn tình nguyện “Ba sẵn sàng” và 32<br /> vạn lá đơn đăng ký “Ba đảm đang”.<br /> Tính đến tháng 12/1968, toàn tỉnh có 43% gia<br /> đình có ngƣời đi bộ đội: trong tỉnh có 18.889<br /> gia đình có 2 đến 3 con đi bộ đội, 400 gia<br /> đình có 4–7 ngƣời đi bộ đội [13].<br /> Với kết quả đã đạt đƣợc (1965-1968) trên lĩnh<br /> vực giao thông vận tải và việc tuyển quân<br /> phục vụ chiến trƣờng. Hậu phƣơng Thanh<br /> Hoá đã khẳng định đƣợc vai trò quan trọng<br /> 79<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản