intTypePromotion=3

Tác động của biến đổi khí hậu lên tính đa dạng sinh học trong các khu đất ngập nước và bảo tồn thiên nhiên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Chia sẻ: Ro Ong K Loi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
30
lượt xem
6
download

Tác động của biến đổi khí hậu lên tính đa dạng sinh học trong các khu đất ngập nước và bảo tồn thiên nhiên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung bài viết trình bày khái quát các nguy cơ tiềm năng đe dọa tính đa dạng sinh học ở trong các khu đất ngập nước và bảo tồn thiên nhiên ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long do các tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng cũng như các hệ thống công trình ở thượng nguồn khu vực.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tác động của biến đổi khí hậu lên tính đa dạng sinh học trong các khu đất ngập nước và bảo tồn thiên nhiên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Diễn đàn “Bảo tồn Đa dạng Sinh học và Biến đổi Khí hậu”, Thảo cầm viên Saigon, 22/5/2010<br /> --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------<br /> <br /> TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC<br /> TRONG CÁC KHU ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ BẢO TỒN THIÊN NHIÊN<br /> VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG<br /> (Impacts of Climate Change to the Biodiversity<br /> in the Wetlands and Natural Conservation Areas of the Mekong River Delta)<br /> Lê Anh Tuấn<br /> Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ<br /> E-mail: latuan@ctu.edu.vn<br /> Tóm tắt<br /> Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu cuối cùng của lưu vực sông Mekong trước<br /> khi chảy ra biến. Dựa vào định nghĩa về đất ngập nước theo Công ước Ramsar (1971), ĐBSCL<br /> được xem là vùng đất ngập nước lớn nhất Việt Nam xấp xỉ 4 triệu ha diện tích. Vùng này là nơi<br /> có tính đa dạng sinh học phong phú. Đồng bằng có khoảng 280,000 ha rừng có thể phân làm 2<br /> nhóm theo phân lọại sinh thái rừng đất ngập nước của Tổ chức Lương Nông (FAO, 1994): đất<br /> ngập nước rừng tràm và đất ngập nước rừng sát ven biển. Toàn khu vực có 11 khu đất ngập nước<br /> tự nhiên cần được bảo tồn. Các khu đất ngập nước này đang bị nguy cơ đe doạ bởi các yếu tố đe<br /> doạ hệ sinh thái đất ngập nước bao gồm việc tháo nước hay san lấp các khu vực đất ngập nước<br /> của con người, thay đổi các điều kiện thuỷ văn trong khu vực đất ngập nước, bị thoái hoá dần do<br /> các ô nhiễm không có nguồn và do sự xâm chiếm của các sinh vật ngoại lai. Hiện nay, quần thể<br /> thực vật đất ngập nước còn bị đe doạ bởi các ảnh hưởng của vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu và<br /> sự dâng lên của nước biển. Sự hình thành các công trình trên hệ thống sông Mekong ở thượng<br /> nguồn như đập nước – hồ chứa của các nhà máy thủy điện, các khu công nghiệp, các khu dân cư<br /> tập trung ở dọc theo bờ sông làm mất dần diện tích và chất lượng sinh học ở các khu đất ngập<br /> nước và rừng ngập nước khiến sự đa dạng sinh học của các thực vật vùng đất này bị đe dọa suy<br /> giảm.<br /> Bài báo cáo này khái quát các nguy cơ tiềm năng đe dọa tính đa dạng sinh học ở trong các khu<br /> đất ngập nước và bản tồn thiên nhiên ở vùng ĐBSCL do các tác động của hiện tượng biến đổi<br /> khí hậu và nước biển dâng cũng như các hệ thống công trình ở thượng nguồn khu vực. Cuối cùng<br /> là các đề xuất về chính sách ứng phó nhằm giảm thiểu các nguy cơ và bảo vệ các hệ sinh thái<br /> quý giá của vùng này.<br /> Từ khóa: Biến đổi khí hậu, Đa dạng sinh học, Đất ngập nước, Bảo tồn thiên nhiên.<br /> <br /> ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 1<br /> “Tác động của Biến đổi Khí hậu lên tính Đa dạng Sinh học trong các khu Đất ngập nước và Bảo<br /> tồn Thiên nhiên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, Lê Anh Tuấn<br /> <br /> Diễn đàn “Bảo tồn Đa dạng Sinh học và Biến đổi Khí hậu”, Thảo cầm viên Saigon, 22/5/2010<br /> -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------1.<br /> BỐI CẢNH KHU VỰC<br /> Đồng bằng sông Cửu Long là vùng hạ lưu cuối cùng của sông Mekong trước khi đổ ra biển<br /> Đông và vịnh Thái Lan. Đồng bằng nằm trọn vẹn trong khu vực Châu Á gió mùa, khí hậu nóng<br /> và ẩm. Đất của vùng ĐBSCL hình thành chủ yếu là do sự bồi tụ phù sa sông Mekong với diện<br /> tích tự nhiên rộng trên 4 triệu hecta. Toàn đồng bằng có hơn 2,1 ha là đất canh tác, chủ yếu là<br /> canh tác lúa và nuôi trồng thủy sản. Dân số vùng đồng bằng là hơn 18,6 triệu người (2009) sống<br /> tập trung dọc theo các nguồn nước như vùng ven sông Hậu và sông Tiền, vùng trũng tứ giác<br /> Long Xuyên – Hà Tiên, vùng Đồng Tháp Mười, vùng ven biển và vùng lõm bán đảo Cà Mau.<br /> Mỗi năm, từ tháng 5 đến tháng 10, vùng ĐBSCL nhận được từ 1.800 – 2.200 mm lượng mưa rơi.<br /> Kết hợp giữa lũ trên sông chính, lượng nước tràn từ biên giới Campuchea, mưa tại chỗ và ảnh<br /> hưởng của thủy triều biển Đông và vịnh Thái Lan khiến nhiều nơi vùng ĐBSCL bị ngập nước,<br /> dao động trong khoảng 1,2 – 1,9 triệu ha. Dọc theo 600 km vùng ven biển, thủy triều đã đẩy<br /> nước mặn vào làm khoảng 500.000 ha đất bị nhiễm mặn. Ngoài ra, vùng ĐBSCL còn có 2 triệu<br /> ha đất nhiễm phèn. Có thể nói, gần như toàn bộ ĐBSCL là một vùng đất ngập nước lớn nhất Việt<br /> Nam (Tuan và Wyseure, 2007), trong đó nhiều kiểu hình đất ngập nước rất đa dạng khác nhau.<br /> Nếu so sánh với tổng diện tích đất ngập nước ở Việt Nam, ước lượng vào khoảng 5.810.000<br /> hecta (Dực, 1998; Scott, 1989), thì diện tích đất ngập nước ở ĐBSCL chiếm từ 65 -70% diện tích<br /> đất ngập nước toàn quốc. Hình 1 là bản đồ các khu đất rừng ngập nước ở ĐBSCL, trên bản đồ có<br /> ghi tên 11 vùng đất ngập nước cần được bảo tồn theo tổ chức Birdlife International (1999), chi<br /> tiết ở Bảng 1.<br /> <br /> Hình 1: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhân, 1997)<br /> <br /> ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 2<br /> “Tác động của Biến đổi Khí hậu lên tính Đa dạng Sinh học trong các khu Đất ngập nước và Bảo<br /> tồn Thiên nhiên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, Lê Anh Tuấn<br /> <br /> Diễn đàn “Bảo tồn Đa dạng Sinh học và Biến đổi Khí hậu”, Thảo cầm viên Saigon, 22/5/2010<br /> -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Bảng 1: Môi trường sống của 10 khu đất ngập nước ưu tiên bảo tồn (Birdlife International, 1999)<br /> Kiểu môi<br /> trường sống<br /> Vùng trồng<br /> đước<br /> Vùng đước<br /> tái sinh<br /> Vùng đước<br /> lâu năm<br /> Bãi bùn<br /> Đầm lầy<br /> dừa nước<br /> Vùng định cư<br /> và canh nông<br /> Vùng đầm lầy<br /> mở<br /> Đồng cỏ<br /> Đồng cỏ xen<br /> tràm<br /> <br /> Tổng (ha)<br /> <br /> Tràm<br /> Chim<br /> <br /> Láng<br /> Sen<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> Bãi<br /> Bồi<br /> <br /> Đất<br /> Mũi<br /> <br /> 2.344<br /> <br /> 3.077<br /> <br /> 5.421<br /> <br /> 748<br /> <br /> 1.134<br /> <br /> 1.882<br /> <br /> 771<br /> <br /> 711<br /> <br /> 1.504<br /> <br /> 1.050<br /> <br /> 2.554<br /> <br /> 646<br /> <br /> 720<br /> <br /> 283<br /> <br /> 486<br /> <br /> 519<br /> 1.022<br /> <br /> 2.012<br /> <br /> 12.140<br /> <br /> 222<br /> <br /> 727<br /> <br /> 2.101<br /> <br /> 1.019<br /> <br /> 1.366<br /> 47<br /> <br /> 154<br /> <br /> 557<br /> <br /> 2.225<br /> <br /> 519<br /> <br /> 90<br /> <br /> 20<br /> <br /> 520<br /> <br /> 23 21.027<br /> <br /> 1.721<br /> <br /> 8.509<br /> <br /> 85<br /> <br /> 379<br /> <br /> 3.609<br /> <br /> 2.621<br /> 14.303<br /> <br /> 429<br /> <br /> 881<br /> <br /> 7.238<br /> <br /> 1.606<br /> <br /> 71<br /> <br /> 71<br /> <br /> 510<br /> <br /> 955<br /> <br /> 5.500<br /> <br /> 2.309<br /> <br /> 3.188<br /> <br /> 568<br /> <br /> 581<br /> <br /> 2.099<br /> <br /> 62<br /> <br /> 5.066<br /> <br /> 861<br /> <br /> 1.644<br /> <br /> 4.123<br /> <br /> 5.525<br /> <br /> 1.872<br /> <br /> 1.040<br /> <br /> Tràm trồng<br /> Tràm trưởng<br /> thành<br /> <br /> Diện tích các vùng đất ngập nước bảo tồn (ha)<br /> Lung<br /> Vồ<br /> U Minh Hà<br /> Trà Tỉnh<br /> Ngọc<br /> Dơi<br /> Thượng Tiên<br /> Sư Đội<br /> Hoàng<br /> <br /> 2.713 10.992<br /> <br /> 22.918<br /> <br /> 14.388<br /> <br /> 970<br /> <br /> 5.514<br /> 16.255<br /> <br /> 7.740<br /> <br /> 3.280 77.299<br /> <br /> ĐBSCL có 280.000 ha rừng có thể phân làm 2 nhóm theo sinh thái rừng đất ngập nước (FAO,<br /> 1994): đất ngập nước rừng tràm và đất ngập nước rừng sát ven biển. Vùng ĐBSCL có khoảng 22<br /> khu vực đất rừng ngập nước tập trung (cả nước ngọt và nước mặn) có giá trị cao trong hệ sinh<br /> thái khu vực. Các khu rừng ngập nước là nơi lưu trữ carbon, giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ nguồn<br /> nước, điều hòa khí hậu và cung cấp dưỡng chất cho hệ sinh thái. Trong các khu rừng ngập mặn,<br /> thống kê có 38/46 loài cây có giá trị kinh tế, phổ biến là các loài mắm trắng, đước, bần trắng, bần<br /> chua, vẹt tách, dà quánh, dà vôi, giá, cóc vàng, dừa nước. Các vùng này là nơi cư trú cho nhiều<br /> loài cá và động vật thủy sinh ven biển. Tại các khu rừng tràm nội địa, có thể thống kê có đến 77<br /> loài cây tràm hiện diện. Sự gia tăng dân số, ước tính mức tăng 2,3% tạo nên một áp lực lên hệ<br /> sinh thái nhiệt đới và tài nguyên khu vực. Suốt 2 thập niên vừa qua, nhiều khu rừng ngập mặn đã<br /> bị tàn phá để dành chỗ cho việc nuôi trồng thủy sản, chủ yếu là nuôi tôm, các loài cá và nghêu<br /> sò. Nhìn chung, các vùng đất ngập nước quan trọng đang bị đe dọa do khai thác thiếu tái tạo và<br /> quản lý yếm kém. Một nghiên cứu ước tính cứ mỗi hecta đất rừng ngập mặn bị tàn phá có thể<br /> gây tổn thất chừng 0,7 tấn cá vùng ven biển hằng năm (Hang and An, 1999).<br /> 2.<br /> XU THẾ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG<br /> Nhiều nghiên cứu và phân tích khoa học trong các năm qua cho thấy khí hậu ở vùng ĐBSCL<br /> đang có những biểu hiện thay đồi trong quá khứ đện tại hiện tại và sẽ tiếp tục thay đổi trong<br /> tương lai. Vùng ĐBSCL được xác nhận là nơi chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và<br /> ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 3<br /> “Tác động của Biến đổi Khí hậu lên tính Đa dạng Sinh học trong các khu Đất ngập nước và Bảo<br /> tồn Thiên nhiên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, Lê Anh Tuấn<br /> <br /> Diễn đàn “Bảo tồn Đa dạng Sinh học và Biến đổi Khí hậu”, Thảo cầm viên Saigon, 22/5/2010<br /> -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------nước biển dâng (IPCC, 2001, 2007). Cán cân tài nguyên nước ở vùng ĐBSCL sẽ có những thay<br /> đổi có ý nghĩa trong tương lai (ADB, 1994; MONRE, 2003). Hanh và Furukawa (2007) đã chỉ ra<br /> các bằng chứng cho thấy mực nước biển trung bình đo được tại Vũng Tàu (Biển Đông) đã gia<br /> tăng 25 cm trong 20 năm qua; sự dâng lên nước biển trong khu vực cũng gây nên hiện tượng sạt<br /> lở ven biển. Quan sát cũng cho thấy hiện tượng sạt lở ven biển xảy ra suốt 60 km dọc theo khu<br /> vực Gành Hào. Rủi ro ở ĐBSCL, bao gồm cả hạn hán và lũ lụt, sẽ gia tăng với các trận mưa có<br /> cường độ cao và các ngày hạn kéo dài (Peter và Greet, 2008). Dựa vào kết quả phân tích và chi<br /> tiết hóa qua mô hình PRECIS, Supparkorn (2008) đã cảnh báo hạn hán sẽ nặng nề hơn ở các<br /> vùng ven biển Việt Nam trong mùa khô. Điều này đồng hành với sự gia tăng xâm nhập mặn vào<br /> vùng ven biển. Tuan and Supparkorn (2009), qua sự hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí<br /> hậu – Đại học Cần Thơ (Việt Nam) và Trung tâm START vùng Đông Nam Á, Đại học<br /> Chulalongkorn (Thái Lan) cho thấy so với số liệu khí hậu nền của thập niên 1980, sang thập niên<br /> 2030, nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-35°C lên 35-37°C; lượng<br /> mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 - 15/5) sẽ giảm chừng 10-20% và biên ngập lũ vào tháng 9 – tháng 10<br /> có xu thế mở rộng về phía bán đảo Cà Mau. Áp thấp nhiệt đới và bão có khuynh hướng gia tăng<br /> vào cuối năm và số trận bão lốc đổ bộ trực tiếp vào vùng ven biển ĐBSCL sẽ có xu thế gia tăng.<br /> Bảng 2 cho thấy xu thế các yếu tố khí hậu xuất hiện trong tương lai ở ĐBSCL.<br /> Bảng 2: Xu thế thay đổi khí hậu và các thiên tai khác ở ĐBSCL trong 3 thập kỷ sắp tới<br /> Yếu tố khi hậu<br /> Xu thế<br /> Khu vực bị tác động chủ yếu<br /> Nhiệt độ max, min, trung bình mùa khô<br /> <br /> An Giang, Đồng Tháp, Long An,<br /> Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiên Giang<br /> <br /> Số ngày nắng nóng trên 35°C mùa khô<br /> <br /> Các vùng giáp biên giới với<br /> Cambodia, vùng Tây sông Hậu<br /> <br /> Lượng mưa đầu mùa (tháng 5, 6, 7)<br /> Lượng mưa cuối mùa (tháng 8, 9, 10)<br /> <br /> Toàn đồng bằng SCL<br /> Các vùng ven biển ĐBSCL<br /> <br /> Lốc xoáy – gió lớn – sét<br /> <br /> Các vùng ven biển, hải đảo ĐBSCL<br /> <br /> Mưa lớn bất thường (> 100 mm/ngày)<br /> <br /> Các vùng ven biển bán đảo Cà Mau,<br /> vùng giữa sông Tiền và sông Hậu<br /> <br /> Áp thấp nhiệt đới và bão ven biển<br /> <br /> Các vùng ven biển bán đảo Cà Mau,<br /> vùng giữa sông Tiền và sông Hậu<br /> <br /> Lũ lụt (diện tích ngập và số ngày ngập)<br /> <br /> Vùng Tứ giác Long Xuyên – Hà<br /> Tiên, vùng Đồng Tháp mười, vùng<br /> giữa sông Tiền và sông Hậu<br /> <br /> Nước biển dâng - Xâm nhập mặn<br /> Sạt lở<br /> <br /> Các tỉnh ven biển<br /> Các tỉnh ven biển, vùng giữa sông<br /> Tiền và sông Hậu<br /> <br /> Tác động của triều cường<br /> <br /> Toàn đồng bằng<br /> <br /> Sự thay đổi mực nước ngầm<br /> <br /> Toàn đồng bằng<br /> <br /> ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 4<br /> “Tác động của Biến đổi Khí hậu lên tính Đa dạng Sinh học trong các khu Đất ngập nước và Bảo<br /> tồn Thiên nhiên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, Lê Anh Tuấn<br /> <br /> Diễn đàn “Bảo tồn Đa dạng Sinh học và Biến đổi Khí hậu”, Thảo cầm viên Saigon, 22/5/2010<br /> -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------3.<br /> TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC KHU<br /> ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ BẢO TỒN THIÊN NHIÊN<br /> Đất ngập nước có nhiều chức năng quan trọng trong cân bằng nguồn nước, kiểm soát lũ lụt, bổ<br /> sung nguồn nước ngầm, xử lý nước thải, bảo tồn sự đa dạng sinh học và cung ứng các điều kiện<br /> thuận lợi cho sự phát triển rừng. Sự hiện hữu các vùng đất ngập nước có ý nghĩa tích cực về mặt<br /> xã hội - văn hóa và nhiều cơ hội cho các nghiên cứu và giáo dục môi trường sinh thái (Tuấn et.al,<br /> 2009). Các vùng bảo tồn đất ngập nước tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long có tính đa dạng<br /> sinh học cao nhưng rất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố thời tiết cực đoan và khí hậu<br /> thay đổi. Sự dâng mực nước trong tương lai làm cho các nguồn dinh dưỡng và đặc tính sinh –<br /> hóa – lý của dòng chảy thay đổi cũng sự hiện tượng ngập thay đổi sẽ là mối đe dọa mới cho các<br /> hệ sinh thái khu vực. Một số các tác động này lên sự tổn thương về đa dạng sinh học các vùng<br /> đất ngập nước có thể phỏng đoán như phân tích ở Bảng 3.<br /> Bảng 3: Một số tác động do biến đổi khí hậu lên tính đa dạng sinh học vùng đất ngập nước<br /> Các tổn thương về đa dạng sinh học<br /> Xu thế biến đổi<br /> Tác động lên<br /> đất ngập nước tự nhiên<br /> khi hâu<br /> đặc điểm tự nhiên<br /> • Khô hạn<br /> Cây khô và chết nhiều hơn<br /> • Thiếu nước ngọt<br /> Nguy cơ cháy rừng lớn<br /> Nhiệt độ<br /> Sự tăng trưởng thực vật chậm lại<br /> • Bốc hơi cao<br /> tăng cao<br /> Nguồn cá giảm sút<br /> • Nước ngầm sụt giảm<br /> Muỗi, sâu bệnh, chuột gia tăng số lượng<br /> • Phèn xuất hiện<br /> Nguồn lương thực bị sút giảm<br /> • Nhiễm mặn cao hơn<br /> Chu kỳ sinh học bị thay đổi<br /> • Thiếu mưa đầu vụ<br /> Lượng mưa<br /> Ảnh hưởng sự ra hoa và kết trái của thực vật<br /> • Tăng mưa cuối vụ<br /> phân bố bất<br /> Cây con bị hư hại<br /> • Mưa lớn bất thường<br /> thường<br /> Dòng chảy thay đổi<br /> • Ngập úng cục bộ<br /> Nguồn lương thực bị sút giảm<br /> Xáo trộn hệ sinh thái<br /> • Xâm nhập mặn sâu hơn<br /> Nhiều loài động và thực vật nước lợ và<br /> • Thu hẹp diện tích đất<br /> Nước biển dâng<br /> nước ngọt có thể bị chết<br /> • Xâm thực – xói lở mạnh<br /> Một số vùng đất rừng sát bị hủy diệt<br /> • Triều cường lớn hơn<br /> Nguồn lương thực bị sút giảm<br /> • Tàn phá vùng ven biển<br /> Rừng bị tàn phá, gãy đổ<br /> • Đẩy nước mặn vào sâu<br /> Các vườn chim bị hư hại và giảm sút<br /> Bão - lốc xoáy<br /> Một số động vật rừng bị tiêu diệt<br /> • Ngập úng cục bộ<br /> Giảm chất lượng đất và nước<br /> • Ô nhiễm sau bão tăng<br /> Biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác sẽ tác động không chỉ ở khu vực<br /> ĐBSCL mà còn ảnh hưởng lên toàn bộ lưu vực sông Mekong làm tình hình thêm nghiêm trọng.<br /> Do nhu cầu phát triển kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và sức ép dân số, … khiến<br /> các nước ở thượng nguồn sông Mekong sẽ quyết tâm đẩy mạnh việc khai thác nguồn nước sông<br /> Mekong. Các đập thủy điện, công trình chuyển nước sông cho các vùng khô hạn, sự hình thành<br /> các khu công nghiệp, khu dân cư dọc theo 2 bờ sông sẽ làm tình hình thêm nghiêm trọng. Hệ quả<br /> là dòng chảy sông Mekong sẽ thất thường hơn, mùa khô càng ít nước và mùa lũ sẽ nặng nền hơn,<br /> ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 5<br /> “Tác động của Biến đổi Khí hậu lên tính Đa dạng Sinh học trong các khu Đất ngập nước và Bảo<br /> tồn Thiên nhiên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, Lê Anh Tuấn<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản