BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN --------(cid:1)(cid:1)(cid:2)(cid:3)(cid:3)--------

NGUYỄN THỊ THƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN

HÀ NỘI, NĂM 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN --------(cid:1)(cid:1)(cid:2)(cid:3)(cid:3)--------

NGUYỄN THỊ THƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: KINH TẾ ĐẦU TƯ

Mã số: 9310105

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM VĂN HÙNG

HÀ NỘI, NĂM 2020

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi

phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2020

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thương

ii

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận án xin trân trọng cảm ơn tập thể Ban Lãnh đạo và các Thầy, Cô giáo trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Đầu tư, Viện Đào tạo Sau đại học của Trường. Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS.

Phạm Văn Hùng, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận án này. Tác giả cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể Bộ môn Kinh tế đầu tư đã luôn tạo điều kiện thuận lợi và ủng hộ tác giả trong suốt thời gian hoàn thành luận án.

Tác giả luận án xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng các cấp đã

chia sẻ và đóng góp những ý kiến thiết thực nhất để tác giả có thể hoàn thiện luận án.

Tác giả luận án xin chân thành cảm ơn gia đình, bè bạn và đồng nghiệp đã luôn chia sẻ, ủng hộ, tạo điều kiện và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và

nghiên cứu để có thể hoàn thành luận án này.

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2020

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thương

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... i

LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii

MỤC LỤC .................................................................................................................... iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................. vi

DANH MỤC BẢNG .................................................................................................. viii

DANH MỤC HÌNH ....................................................................................................... x

DANH MỤC PHỤ LỤC ............................................................................................... xi

PHẦN GIỚI THIỆU CHUNG ...................................................................................... 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI .... 9

1.1. Các nghiên cứu nước ngoài ................................................................................ 9

1.1.1. Tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư ........... 9

1.1.2. Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư 13

1.1.3. Tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư .......... 15

1.2. Các nghiên cứu trong nước .............................................................................. 16

1.2.1. Tác động của FDI tới xuất khẩu ở Việt Nam ................................................ 16

1.2.2. Tác động của FDI tới nhập khẩu ở Việt Nam ............................................... 18

1.3. Khoảng trống nghiên cứu ................................................................................. 18

1.4. Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 19

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI XUẤT NHẬP KHẨU Ở NƯỚC NHẬN ĐẦU TƯ ................ 20

2.1. Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư ......................................................................................... 20

2.1.1. Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài ...................................................... 20

2.1.2. Khái quát về xuất nhập khẩu ......................................................................... 25

2.1.3. Kênh truyền dẫn tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư . 29

2.2. Kinh nghiệm quốc tế trong việc tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư .......................... 42

2.2.1. Kinh nghiệm của các nước ............................................................................ 42

2.2.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam .............................................................. 47

2.3. Đề xuất khung nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam ..................................................................................... 49

iv

2.3.1. Khung nghiên cứu về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam ..... 49

2.3.2. Đề xuất mô hình đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam .............................................................................................................. 50

2.4. Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 58

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1988-2018 ......... 60

3.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018 ......................................................................................................... 60

3.1.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018 ......... 60

3.1.2. Thực trạng xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018 ...................... 66

3.2. Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018 ................................................................................. 71

3.2.1. Thực trạng tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam ........ 71

3.2.2. Thực trạng tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam ................................................................................................................. 99

3.2.3. Thực trạng tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam ... 112

3.2.4. Tóm tắt kết quả phân tích tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018 .............................................................................................. 118

3.3. Kết quả kiểm định và ước lượng mô hình đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam ................................................................ 130

3.3.1. Kết quả kiểm định ....................................................................................... 130

3.3.2. Kết quả ước lượng tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở

Việt Nam ............................................................................................................... 131

3.3.3. Tóm tắt kết quả ước lượng tác động của FDI tới kim ngạch nhập khẩu ở Việt Nam ............................................................................................................... 136

3.4. Tiểu kết chương 3 ............................................................................................ 136

CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM ................................... 138

4.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước về dòng vốn FDI ........................................ 138

4.1.1. Bối cảnh quốc tế .......................................................................................... 138

4.1.2. Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới của Việt Nam ...................................... 140

4.2. Định hướng phát triển xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2030 ....... 143

4.2.1. Định hướng phát triển xuất khẩu ................................................................. 143

v

4.2.2. Định hướng phát triển nhập khẩu ................................................................ 144

4.3. Quan điểm tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam ..................................................................... 145

4.4. Giải pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam ..................................................................... 148

4.4.1. Giải pháp điều chỉnh chính sách thu hút FDI nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu theo hướng tích cực148

4.4.2. Giải pháp tạo lập các điều kiện thuận lợi để phát huy được tối đa những tác

động lan toả tích cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa ................................ 151

4.4.3. Giải pháp giải quyết các nguyên nhân gây ra các tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam ............................................................................. 157

4.4.4. Giải pháp tăng cường sự tham gia sâu hơn của các DN nội địa Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI ............................................................. 160

4.4.5. Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập về đầu tư và thương mại .............................................................. 162

4.5. Tiểu kết chương 4 ............................................................................................ 163

KẾT LUẬN ................................................................................................................ 164

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN ................................................................................................................... 166

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 167

DANH MỤC PHỤ LỤC ............................................................................................ 176

vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

A. Tiếng Việt

TT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

Cán cân thương mại 1 CCTM

Chuyển giao công nghệ 2 CGCN

CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá 3

Công nghiệp hỗ trợ 4 CNHT

Doanh nghiệp 5 DN

Doanh nghiệp Nhà nước 6 DNNN

Doanh nghiệp tư nhân 7 DNTN

Doanh nghiệp FDI 8 DN FDI

Khoa học - Công nghệ 9 KHCN

Kim ngạch nhập khẩu 10 KNNK

Kim ngạch xuất khẩu 11 KNXK

Kim ngạch xuất nhập khẩu 12 KNXNK

Kinh tế tư nhân 13 KTTN

Ngân hàng thương mại 14 NHTM

Ngân sách Nhà nước 15 NSNN

Trách nhiệm hữu hạn 16 TNHH

B. Tiếng Anh

Nghĩa đầy đủ TT Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

1 ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á

2 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of South East Asian Nations

APA Advance Pricing Agreement Thỏa thuận xác định giá trước 3

BCC Business Cooperation Contract Hợp đồng hợp tác kinh doanh 4

BOT Building - Operating - Transfering Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao 5

BTO Building - Transfering - Operating Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh 6

BT Building -Transfering Xây dựng - Chuyển giao 7

vii

Nghĩa đầy đủ TT Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

CAGR Compounded Annual Growth Rate Tốc độ tăng trưởng hàng năm kép 8

CIEM 9 Central Institute for Economic Management Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

European Union Liên minh Châu Âu EU 10

Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI 11

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội 12

Gross Output Giá trị sản xuất GO 13

Intermediate Comsumption Chi phí trung gian IC 14

ILO International Labour Organization Tổ chức Lao động Quốc tế 15

IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Thế giới 16

Hiệp hội Da, Giầy-Túi xách Việt Nam 17 LEFASO Vietnam Leather, Footwear and Handbag Association

18 MNC Multinational Corporation Công ty đa quốc gia

19 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Organization for Economic Cooperation and Development

ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức 20

PPP Public - Private Partnership Hợp tác công - tư 21

R&D Research & Development Nghiên cứu và phát triển 22

TFP Total Factor Productivity Năng suất yếu tố tổng hợp 23

TNC Transnational Corporation Công ty xuyên quốc gia 24

25 UNCTAD United Nations Conference on Trade and Development Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển

USD United States Dollar Đô la Mỹ 26

VA Value Added Giá trị tăng thêm 27

28 VCCI Vietnam Chamber of Commerce and Industry Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

VPSF Vietnam Private Sector Forum Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 29

WB World Bank Ngân hàng Thế giới 30

Tổ chức Thương mại Thế giới

31 WTO World Trade Organization

viii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Các trường hợp tăng VA của hàng hoá xuất khẩu ........................................ 39

Bảng 2.2: Thống kê mô tả số liệu .................................................................................. 56

Bảng 3.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018 .................... 61

Bảng 3.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo ngành .................................. 62

Bảng 3.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức đầu tư ................. 63

Bảng 3.4: 10 địa phương thu hút FDI lớn nhất tại Việt Nam ........................................ 64

Bảng 3.5: 10 nhà đầu tư FDI lớn nhất tại Việt Nam ..................................................... 65

Bảng 3.6: KNXK, KNNK và CCTM của Việt Nam giai đoạn 1988-2018 ................... 66

Bảng 3.7: 10 nhóm hàng có KNXK cao nhất năm 2018 ............................................... 68

Bảng 3.8: 10 nhóm hàng có KNNK cao nhất năm 2018 ............................................... 69

Bảng 3.9: KNXK theo châu lục, khối nước và một số thị trường lớn năm 2018 .......... 70

Bảng 3.10: KNNK theo châu lục, khối nước và một số thị trường lớn năm 2018 ........ 70

B.ản.g. 3.11: Xuất khẩu. c.ủa. kh.u. vực. FD.I. và cả nước giai đoạn 2000-2018 ................... 72

Bảng 3.12: Sức mạnh cạnh tranh của các loại hình DN ở Việt Nam ............................ 73

Bảng 3.13: KNXK hàng dệt may Việt Nam vào 10 thị trường lớn nhất năm 2018 ...... 76

Bảng 3.14: Phương thức đổi mới công nghệ của các DN nội địa ngành dệt may ......... 82

B.ản.g. 3.15: KNNK. c.ủa. kh.u. vực. FD.I. và cả nước .......................................................... 90

Bảng 3.16: Tỷ trọng tổng KNXNK của khu vực FDI và cả nước ................................. 97

Bảng 3.17: Cán cân thương mại của Việt Nam theo khu vực kinh tế ........................... 98

Bảng 3.18: FDI và KNXK của ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam ........................... 100

Bảng 3.19: Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam ...................................... 101

Bảng 3.20: Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2010 ............. 102

Bảng 3.21: Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2015-2018 ............. 103

Bảng 3.22: Cơ cấu các nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007-2018 ... 107

Bảng 3.23: Tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng KNNK của Việt Nam giai đoạn 1990-2006 . 108

Bảng 3.24: Tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng KNNK của Việt Nam giai đoạn 2007-2018 .... 109

Bảng 3.25: Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2010 ............. 110

Bảng 3.26: Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2018 ........... 111

Bảng 3.27: Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam giai đoạn 2008-2018 ............. 114

ix

Bảng 3.28: Ba thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành dệt may và da giày Việt Nam năm 2018 ..................................................................................................................... 116

Bảng 3.29: Năm chủ đầu tư FDI - thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam giai đoạn 1995-2006 ........................................................................................................... 117

B.ản.g. 3.30: Năm c.h.ủ đầu. tư FDI - Th.ị trườn.g. n.h.ập kh.ẩu. lớn. n.h.ất c.ủa. Vi.ệt N.a.m. g.i.a.i. đoạn. 2007-2018 ........................................................................................................... 118

Bảng 3.31: Xếp hạng cạnh tranh toàn cầu về chất lượng hạ tầng giao thông ............. 128

Bảng 3.32: Kết quả kiểm định Hausman các mô hình ................................................ 130

Bảng 3.33: Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam .................. 131

Bảng 3.34: Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam .................. 132

Bảng 3.35: So sánh kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO .......................................................................... 134

Bảng 3.36: So sánh kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO .......................................................................... 135

x

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Khung nghiên cứu về tác động của FDI tới xuất khẩu ở Việt Nam .............. 49

Hình 2.2: Khung nghiên cứu về tác động của FDI tới nhập khẩu ở Việt Nam ............. 50

Hình 3.1: Quá trình chuyển giao tri thức từ DN FDI sang DN xuất khẩu nội địa ........ 86

Hình 3.2: Lao động làm việc trong các loại hình DN ở Việt Nam ............................... 86

Hình 3.3: 10 m.ặt h.àn.g. n.h.ập kh.ẩu. c.h.ủ yếu. c.ủa. các khu vực kinh tế. n.ăm. 2018 ............ 92

Hình 3.4: Tỷ lệ nội địa hoá trong ngành chế biến chế tạo của các DN Nhật Bản tại các quốc gia .......................................................................................................................... 93

Hình 3.5: Các giai đoạn phát triển của ngành CNHT ................................................. 127

Hình 4.1: 20 ngành có đầu tư FDI hàng đầu theo tốc độ tăng trưởng của ASEAN .... 140

Hình 4.2: Những thay đổi về cách tiếp cận trong thu hút FDI thế hệ mới .................. 141

Hình 4.3: Những thay đổi về chính sách trong thu hút FDI thế hệ mới ...................... 142

xi

DANH MỤC PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1 Số liệu nghiên cứu của các đối tác ........................................................ 176

PHỤ LỤC 2 Số liệu nghiên cứu của Việt Nam .......................................................... 182

PHỤ LỤC 3 Thống kê mô tả số liệu ......................................................................... 183

PHỤ LỤC 4 Giả thuyết nghiên cứu về tác động của các biến kiểm soát khác tới KNXK và KNNK trong mô hình ................................................................................. 184

PHỤ LỤC 5 Thực trạng FDI tại Việt Nam giai đoạn 1988-2018 .............................. 185

PHỤ LỤC 6 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK .. 187

PHỤ LỤC 7 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK trước WTO ................................................................................................................... 187

PHỤ LỤC 8 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK sau WTO ...................................................................................................................... 188

PHỤ LỤC 9 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNNK .. 188

PHỤ LỤC 10 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNNK trước WTO ................................................................................................................... 189

PHỤ LỤC 11 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNNK sau WTO ...................................................................................................................... 189

PHỤ LỤC 12 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam .............. 190

PHỤ LỤC 13 Giải thích kết quả ước lượng tác động của các biến kiểm soát trong mô hình tới KNXK ở Việt Nam ........................................................................................ 191

PHỤ LỤC 14 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam .............. 192

PHỤ LỤC 15 Giải thích kết quả ước lượng tác động của các biến kiểm soát trong mô hình tới KNNK ở Việt Nam ........................................................................................ 192

PHỤ LỤC 16 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam trước WTO .. 194

PHỤ LỤC 17 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam sau WTO ....... 194

PHỤ LỤC 18 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam trước WTO ....... 195

PHỤ LỤC 19 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam sau WTO195

PHỤ LỤC 20 Danh sách chuyên gia tham vấn ............. Error! Bookmark not defined.

1

PHẦN GIỚI THIỆU CHUNG

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) đang được xem là một động lực quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. FDI không chỉ gia tăng tiềm lực về vốn, gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế, tạo việc làm cho xã hội mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến, nâng cao khả năng cạnh tranh và tiếp cận thị trường quốc tế, đặc biệt là thúc đẩy các hoạt động ngoại thương của nước tiếp nhận đầu tư. Tại Việt Nam, sau khi thực hiện chính sách Đổi mới (1986) và chính thức ban hành Luật đầu tư nước ngoài (1987), nền kinh tế đã đạt được những thành tựu đáng kể, đặc biệt là những kết quả ấn tượng về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dòng FDI vào Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ và luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư xã hội, từ 26,67 tỷ USD (chiếm 24,32%) trong giai đoạn 1991 - 2000 lên 69,47 tỷ USD (chiếm 22,75%) trong giai đoạn 2001-2010 và trong giai đoạn 2011 - 2018, FDI đã chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư xã hội (Tư Hoàng, 2013; Bộ Công Thương, 2019). Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007 đã tạo ra nhiều cơ hội mới cho đầu tư cả trong và ngoài nước, đồng thời cũng là một thách thức mới cho Việt Nam. Do đó, cần phải hiểu rõ được vai trò của nguồn vốn FDI trong nền kinh tế, để từ đó đề ra được những chính sách thích hợp nhằm thu hút FDI và tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực FDI.

Cùng với sự gia tăng của nguồn vốn FDI, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng diễn ra rất sôi động và đạt được những thành tựu đáng kể. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, bước vào đầu thập niên của thế kỷ XXI (năm 2001), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ ở con số khiêm tốn hơn 30 tỷ USD. Sau sáu năm (năm 2007) tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đã đạt con số 100 tỷ USD, sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Bốn năm sau (năm 2011) quy mô xuất nhập khẩu đã tăng gấp đôi đạt con số 200 tỷ USD. Và đến hết năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã chinh phục mức 480 tỷ USD. Đặc biệt, năm 2018 là năm thứ 3 liên tiếp, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam có thặng dư (xuất siêu). Cụ thể, theo thống kê của Tổng cục Hải quan thì trong năm 2018, Việt Nam đạt mức thặng dư kỷ lục lên gần 6,8 tỷ USD, con số tương tự của năm 2017 là 2,11 tỷ USD và năm 2016 là 1,78 tỷ USD. Có thể thấy, trong 5 năm gần nhất thì cán cân thương mại của Việt Nam có 4 năm có thặng dư thương mại và chỉ duy nhất năm 2015 có thâm hụt cán cân thương mại. Trong năm 2018, Việt Nam có thặng dư cán cân thương mại với 150 nước, vùng lãnh thổ đối tác và có thâm hụt với 85 nước, vùng lãnh thổ (Tổng cục Hải quan, 2018).

2

Hiện nay, tất cả 63 tỉnh/thành phố của Việt Nam đều có sản phẩm xuất khẩu. Trong đó, “Câu lạc bộ” các địa bàn đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên đã có tới 29 thành viên. Việt Nam đã có các thị trường xuất siêu lớn như Hoa Kỳ, Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất, Anh, Campuchia, Hồng Kông, Hà Lan, Nhật Bản, Đức, Tây Ban Nha, Australia, Áo, Italy, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ. Việt Nam đã trở thành một quốc gia xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, hàng dệt may, điện thoại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, giầy dép các loại… thành công mà trước đây không ai có thể nghĩ đến. Xuất khẩu tăng mạnh đã góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá… Đối với Việt Nam, xuất khẩu đã trở thành lối ra, là động lực của tăng trưởng kinh tế (Bộ Công Thương, 2018 và 2019)

Nhìn chung, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng ghi nhận trong việc thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế toàn cầu. Câu hỏi đặt ra là: Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam? Những nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển và có điều kiện tương đồng như Việt Nam đã chỉ ra ba nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển mạnh của hoạt động xuất nhập khẩu bao gồm: (i) kết quả của việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh nền kinh tế thị trường và tự do hóa thương mại (Lasdy, 1992); (ii) sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có định hướng xuất khẩu (Findlay & cộng sự, 1994); (ii) việc tiếp nhận khối lượng lớn FDI cùng với tốc độ phát triển nhanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Chen Chunlai, 1997).Trong ba nguyên nhân trên, hai nguyên nhân đầu đã được nghiên cứu rộng rãi và phân tích dưới nhiều góc độ. Nguyên nhân thứ ba, tác động của dòng vốn FDI tới hoạt động xuất nhập khẩu, mặc dù nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhưng chưa được phân tích một cách thích đáng, đặc biệt là những nghiên cứu thực chứng cho trường hợp của Việt Nam.

Thực tế hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong những năm qua cũng đã cho thấy sự đóng góp quan trọng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DN FDI) chiếm tới trên 71% và gần 60% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu cả nước. Các mặt hàng xuất nhập khẩu dẫn đầu đều có sự góp mặt của các DN FDI. Ngoài việc các DN FDI thực hiện xuất khẩu cho chính mình, các DN này còn giúp chuyển giao công nghệ, tri thức, phát triển nguồn nhân lực, từ đó góp phần nâng cao cơ hội và khả năng xuất khẩu cho các DN trong nước. Ngoài ra, việc liên kết sản xuất giữa các DN FDI và các DN trong nước cũng giúp cải thiện khả năng sản xuất của các DN nội địa, từ đó làm tăng khả năng xuất khẩu và giảm nhập khẩu của Việt Nam. Thêm vào đó, sự xuất hiện của các DN FDI cũng góp phần làm giảm nhập khẩu nhờ việc thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá của chính các DN này.

3

Có thể nói, sự có mặt của các DN FDI đã có vai trò rất quan trọng trong việc

thúc đẩy sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Đây là những tác động lan toả tích cực của FDI tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Tuy nhiên, không phải lúc nào các tác động lan toả tích cực đó cũng diễn ra hoặc được phát huy một cách tối đa như kỳ vọng. Hơn nữa, tác động tích cực nhiều song tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu cũng không ít. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khai thác tối đa những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Muốn vậy, phải có những phân tích,

đánh giá khách quan và xác thực về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu, chỉ ra được những tác động tích cực cũng như những tác động tiêu cực, nguyên nhân dẫn tới những tác động tiêu cực và cản trở việc phát huy tối đa tác động tích cực, từ đó có

quan điểm, giải pháp phù hợp, trúng và hiệu quả trong việc tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam” để nghiên cứu.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Luận án tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp để tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ của nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã nêu trên, luận án thực hiện các nhiệm

vụ nghiên cứu cụ thể sau:

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư, từ đó lựa chọn khung lý thuyết và mô hình đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

- Chỉ ra các kênh tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI tới xuất nhập khẩu ở

nước nhận đầu tư nói chung và Việt Nam nói riêng.

- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

- Phân tích và đánh giá thực trạng tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt

Nam giai đoạn 1988-2018.

4

- Kiểm định và ước lượng mô hình đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu ở Việt Nam. Bên cạnh đó, đánh giá ảnh hưởng của việc Việt Nam gia nhập WTO đến tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu ở Việt Nam.

- Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và phân tích, luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở

Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam thông qua ba khía cạnh tác động: (1) tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (2) tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (3) tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

+ Với việc sử dụng phương pháp định tính, luận án đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trên cả ba khía cạnh: (1) tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (2) tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (3) tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

+ Với việc sử dụng phương pháp định lượng, do hạn chế về mặt thời gian và số liệu, luận án chỉ lượng hoá tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu (KNXK) và kim ngạch nhập khẩu (KNNK) ở Việt Nam nhằm minh chứng một phần cho những phân tích định tính đã được thực hiện trước đó. Bên cạnh đó, mô hình định lượng cũng được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của việc Việt Nam gia nhập WTO đến tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam.

- Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong giai đoạn 1988-2018. Các định hướng, quan điểm và giải pháp được đề xuất đến năm 2030.

4. Câu hỏi nghiên cứu

Luận án được thực hiện để trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

• FDI tác động như thế nào tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam? • FDI tác động như thế nào tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam? • FDI tác động như thế nào tới thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam?

5

5. Phương pháp nghiên cứu

Nhằm thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp các

phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Phương pháp này được sử dụng để thu thập dữ liệu thứ cấp, từ các nguồn như sách, báo, niên giám thống kê, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, các báo cáo của của Bộ Công Thương, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Bộ Kế hoạch và Đầu tư…, các số liệu trên các website của các bộ, ban, ngành, các cơ quan báo chí trong và ngoài nước. Tất cả các dữ liệu sau khi thu thập được đều được xắp xếp, điều chỉnh và phân loại một cách hợp lý.

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tác giả luận án sử dụng phương pháp này để phân tích sự biến động của các đối tượng nghiên cứu bằng dãy số, chỉ số thời gian phản ánh tình hình biến động của các đối tượng nghiên cứu. Từ đó, đánh giá mức độ tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Từ việc phân tích từng nội dung cụ thể về FDI, xuất nhập khẩu và đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam, luận án tổng hợp và chỉ rõ những tác động tích cực và những tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

- Phương pháp mô hình hoá: Phương pháp này được sử dụng nhằm làm rõ hơn những những phân tích định tính bằng các hình vẽ cụ thể, làm cho các vấn đề trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn.

- Phương pháp phân tích kinh tế lượng: Tác giả áp dụng mô hình kinh tế lượng với số liệu mảng để lượng hoá tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam. Kế thừa mô hình trọng lực có chỉnh sửa và bổ sung cho phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, tác giả đã đánh giá và ước lượng mức độ tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam.

6. Đóng góp mới của luận án

6.1. Những điểm mới về lý luận

Trên cơ sở lý luận về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư, luận án tập trung phân tích tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam thông qua các kênh tác động trực tiếp và gián tiếp trên ba khía cạnh: (i) tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (ii) tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (iii) tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Luận án có một số đóng góp mới về lý luận, cụ thể:

(1) FDI tác động trực tiếp tới KNXK và KNNK của Việt Nam. FDI làm tăng KNXK của Việt Nam do xuất khẩu của các DN FDI nhưng cũng làm tăng KNNK của Việt Nam do nhập khẩu của chính các DN FDI. Xuất khẩu của các DN FDI tăng mạnh

6

nhưng nhập khẩu đầu vào để sản xuất hàng hoá xuất khẩu của các DN FDI cũng tăng nhanh tương ứng. Do đó, FDI chưa cho thấy tác động tích cực rõ ràng tới việc làm tăng giá trị gia tăng (VA) và tỷ lệ nội địa hoá cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, chủ động về công nghệ, đầu vào sản xuất, các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (CNHT), tham gia vào chuỗi cung ứng của các DN FDI sẽ giúp tăng cường được tác động tích cực và hạn chế được tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu, góp phần tăng VA và tỷ lệ nội địa hoá cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam.

(2) Thông qua các kênh tác động gián tiếp (tác động tràn) như tạo áp lực cạnh tranh, chuyển giao công nghệ, di chuyển lao động và chuyển giao tri thức, FDI vừa tác động tích cực vừa tác động tiêu cực tới KNXK của Việt Nam. DN FDI tạo áp lực cạnh tranh, chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức cho các DN nội địa, từ đó làm tăng khả năng và giá trị xuất khẩu của các DN nội địa, cộng hưởng làm tăng KNXK của Việt Nam. Tuy nhiên, trong trường hợp các DN FDI tạo ra áp lực cạnh tranh quá gay gắt, chuyển giao công nghệ lạc hậu và thu hút tối đa nguồn nhân lực chất lượng cao từ các DN nội địa, FDI lại tác động tiêu cực, làm giảm sức mạnh cạnh tranh, giảm quy mô và cơ hội xuất khẩu của các DN nội địa.

(3) Trong dài hạn, FDI có tác động trực tiếp làm giảm KNNK của Việt Nam nhờ thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá được sản xuất bởi chính các DN FDI. Bên cạnh đó, thông qua tác động lan toả về công nghệ và tri thức từ các DN FDI, trong dài hạn, Việt Nam có thể tự chủ được công nghệ, đầu vào sản xuất và các sản phẩm CNHT thay vì phải nhập khẩu từ bên ngoài. Đây được xem là tác động tích cực của FDI tới nhập khẩu của Việt Nam. Do đó, nâng cao khả năng hấp thụ công nghệ và tri thức từ FDI sẽ giúp tăng cường được tác động tích cực của FDI tới việc làm giảm KNNK của Việt Nam.

(4) Sự xuất hiện của các DN FDI trong ngành chế biến chế tạo và một số lĩnh vực công nghệ cao đã góp phần chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế và một số mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu. Bên cạnh đó, dòng vốn FDI cũng góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hoá nhập khẩu Việt Nam một cách tích cực (theo đúng định hướng nhập khẩu của Việt Nam): tăng tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất và giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng trong cơ cấu hàng hoá nhập khẩu. Do đó, định hướng thu hút FDI vào các ngành theo mục tiêu phát triển của từng giai đoạn cụ thể sẽ giúp tăng cường tác động tích cực của FDI tới việc nâng cao chất lượng cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam.

(5) FDI tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam thông qua các kênh: thúc đẩy thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nước chủ đầu tư, mạng lưới phân phối của các TNCs và kênh thông tin thị trường xuất nhập khẩu

7

của các TNCs. Bên cạnh đó, sự thay đổi cơ cấu nhà đầu tư FDI sẽ dẫn tới sự thay đổi cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi một quốc gia đầu tư FDI vào Việt Nam càng nhiều thì quy mô và giá trị xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và quốc gia đó sẽ càng tăng. Do vậy, điều chỉnh cơ cấu nhà đầu tư FDI sẽ giúp Việt Nam có được các đối tác thương mại chiến lược, từ đó sẽ giúp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu.

(6) Kế thừa mô hình lực hấp dẫn, luận án đã xây dựng mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam. Kết quả ước lượng cho thấy, FDI có tác động thuận chiều tới KNXK và FDI có tác động ngược chiều tới KNNK (trong dài hạn) ở Việt Nam. Kết quả định lượng đã củng cố thêm cho những phân tích định tính về tác động tích cực của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam. Thêm vào đó, với việc lượng hoá mức độ tác động của FDI tới KNXK và KNNK trong hai giai đoạn trước và sau gia nhập WTO, luận án đã chứng minh được việc gia nhập WTO làm tăng mức độ tác động tích cực của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam. Vì vậy, tăng cường và nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế sẽ góp phần tăng cường tác động tích cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

6.2. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án

Luận án đã chỉ ra rằng FDI vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Một số tác động tích cực và tiêu cực là rất rõ ràng, tuy nhiên một số tác động tích cực của FDI tới xuất nhập khẩu lại chưa được như kỳ vọng. Những tác động tích cực bao gồm: (1) FDI góp phần làm tăng KNXK và góp phần cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam; (2) FDI góp phần thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá của chính các DN FDI; (3) FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam theo hướng tích cực, làm tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế; (4) FDI giúp mở rộng phạm vi thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam. Những tác động tích cực chưa được như kỳ vọng bao gồm: (1) Tác động lan toả tích cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh và kênh CGCN còn rất hạn chế; (2) Kỳ vọng về tác động lan toả tích cực của FDI tới giảm KNNK của Việt Nam thông qua kênh CGCN và chuyển giao tri thức vẫn chưa đạt được; (3) Tác động tích cực của FDI tới chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam thông qua tăng tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao còn rất hạn chế; (4) Tác động tích cực của FDI tới việc tăng giá trị gia tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam còn chưa đáng kể; (5) Tác động tích cực của FDI tới việc chuyển dịch cơ cấu hàng hoá nhập khẩu Việt Nam thông qua giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng còn chậm. Những tác động tiêu cực bao gồm: (1) FDI làm tăng KNNK Việt Nam do nhập khẩu của các DN FDI; (2) Thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh,

8

FDI có tác động tiêu cực tới các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa; (3) FDI gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám” của các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam thông qua kênh di chuyển lao động; (4) Việc nhận CGCN chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc có thể gây ra những tác động tiêu cực tới xuất khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Theo quan điểm của tác giả luận án, để tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian tới cần tập trung vào một số giải pháp sau: (1) Giải pháp điều chỉnh chính sách thu hút FDI nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu theo hướng tích cực; (2) Giải pháp tạo lập các điều kiện thuận lợi để phát huy được tối đa những tác động lan toả tích cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa; (3) Giải pháp giải quyết các nguyên nhân gây ra các tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (4) Giải pháp tăng cường sự tham gia sâu hơn của các DN nội địa Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI; (5) Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập về đầu tư và thương mại.

Ngoài phần giới thiệu chung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội

dung của luận án được chia thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ cở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất

nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

Chương 3: Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập

khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018

Chương 4: Quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường tác động tích cực và hạn chế

tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

9

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các nghiên cứu nước ngoài

1.1.1. Tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

Tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu

Các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới đã đã làm rõ tác động của FDI tới xuất khẩu ở nước nhận đầu tư bằng những nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều quốc gia khác nhau. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng FDI có tác động tới xuất khẩu ở nước nhận đầu tư thông qua kênh tác động tực tiếp và hàng loạt các kênh truyền dẫn tác động như kênh tạo áp lực cạnh tranh, kênh chuyển giao công nghệ, kênh di chuyển lao động và chuyển giao tri thức, kênh liên kết giữa DN FDI và DN nội địa… Thông qua đó, xuất khẩu hàng hoá của nước nhận đầu tư gia tăng do: (i) xuất khẩu của chính các DN FDI hoạt động tại nước nhận đầu tư; (ii) khả năng xuất khẩu của các DN nội địa tăng nhờ những tác tác động lan toả tích cực từ FDI (Aitken & Hansen & Harrison, 1997; Blomstrom & Kokko, 2003; Bwalya, 2006; Gorg & Greenaway, 2004; Greenaway & Kneller, 2004; Günther Jutta, 2002; Kneller & Pisu, 2007; Nakamura, 2002; Sun, 2009; Wagner, 2007; Wang & Blomstrom, 1992).

DN FDI với lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, bí quyết quản lý đã tạo sức ép đáng kể buộc các buộc các DN xuất khẩu nội địa phải thay đổi cách thức quản lý, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Dưới sự gia tăng cạnh tranh và phải chống đỡ cạnh tranh, các DN xuất khẩu nội địa buộc phải hoạt động hiệu quả hơn, phải cải tiến, áp dụng công nghệ mới sớm hơn, do đó, năng lực và giá trị xuất khẩu của các DN trong nước gia tăng, cộng hưởng làm tăng giá trị xuất khẩu của nước nhận đầu tư (Blomstrom & Kokko, 1998; Kokko & Tansini & Zejan, 1996; Kokko & cộng sự, 2001; Wang & Blomstrom, 1992).

Nghiên cứu bởi Aitken & cộng sự (1997) tại Mexico trong giai đoạn 1986-1990 đã tìm ra tác động tích cực của MNCs tới khả năng của các DN nội địa khi tham gia vào thị trường xuất khẩu. Tương tự, Greenaway & cộng sự (2004) phân tích trường hợp nước Anh trong giai đoạn 1992-1996 và quan sát thấy tác động tích cực của các MNCs trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng khả năng xuất khẩu của DN nội địa. Kết quả khẳng định rằng các DN nội địa được học hỏi bởi hoạt động R&D của MNCs và quá trình hoạt động của các MNCs làm gia tăng năng lực cạnh tranh và bắt buộc các DN nội địa phải tăng năng suất lao động để tồn tại. Kết quả là các DN nội địa nâng cao năng lực sản xuất, tăng quy mô và giá trị xuất khẩu. Trong một nghiên cứu

10

thực chứng ở nước Anh giai đoạn 1998-2002, Greenaway & Kneller (2008) đã chỉ ra rằng sự có mặt của các DN FDI tại Anh đã làm xuất hiện thêm các DN xuất khẩu mới tại nước này, tạo thêm nhiều áp lực cạnh tranh và có tác động tích cực tới xuất khẩu của nước Anh.

DN FDI còn mang đến công nghệ sản xuất, kỹ năng, trình độ quản lý tiên tiến… mà các DN trong nước có thể tiếp nhận thông qua kênh CGCN. Việc liên kết sản xuất và kinh doanh giữa các DN trong nước với các DN FDI góp phần làm gia tăng xuất khẩu của các DN này do học hỏi được trong quá trình liên kết với các DN FDI. Đồng thời, lao động tại các DN này cũng được đào tạo các kỹ năng để có thể sản xuất và xuất khẩu hàng hoá đạt tiêu chuẩn của các DN FDI (CIEM, 2011).

Kokko (1994) khẳng định khả năng hấp thụ cộng nghệ và trình độ công nghệ của các DN nội địa là các nhân tố ảnh hưởng tới việc xuất hiện các tác động tràn tích cực của FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa. Hamida (2011) cũng khẳng định điều này và làm rõ hơn bằng các nghiên cứu thực chứng trong các ngành khác nhau. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong ngành chế biến chế tạo các DN trong nước với trình độ công nghệ cao thu được nhiều lợi ích từ tác động lan toả của FDI nhờ sự gia tăng cạnh tranh hơn so với các DN trong nước với trình độ công nghệ trung bình và thấp.

Kaufmann (1997), Fosfuri & cộng sự (2001) và Glass & Saggi (2002) cũng đã chỉ ra rằng các DN trong nước có thể tiếp cận và nhận chuyển giao tri thức từ các DN FDI do có sự di chuyển lao động từ khu vực FDI sang khu vực kinh tế trong nước. Tác động này xuất hiện khi những lao động được đào tạo để làm việc trong các DN FDI chuyển tới làm việc cho các DN nội địa hoặc tự thành lập DN mới. Những lao động này sẽ áp dụng những kiến thức và kinh nghiệm sản xuất hàng hoá xuất khẩu đã học hỏi được ở các DN FDI vào việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu tại các DN trong nước, từ đó nâng cao cơ hội và khả năng xuất khẩu hàng hoá cho các DN này (Hamida & Gugler, 2009; Todo & cộng sự, 2009).

FDI thường được phân loại theo hình thức đầu tư, gồm có FDI theo chiều dọc và FDI theo chiều ngang (Fukao & Amano, 1998). Trong FDI theo chiều dọc, động lực để tiến hành FDI là nhằm tìm kiếm nguồn cung nguyên vật liệu đầu vào cần thiết cho các quy trình sản xuất hàng hoá cuối cùng của các nhà đầu tư. Ngược lại, hình thức FDI theo chiều ngang là việc tiến hành xây dựng các nhà máy, sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ tương tự ở nước đi đầu tư tại nước nhận đầu tư. Clare (1996) chỉ ra rằng dòng vốn FDI có thể tác động tích cực tới hoạt động xuất khẩu của các DN nội địa trong các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên liệu thô (upstream industry) và nguyên liệu đã qua chế biến (downstream industry) thuộc cùng một chuỗi giá trị (cả thượng nguồn và hạ nguồn) thông qua các liên kết dọc. Trong khi đó, Kokko & cộng sự (2001) và Alvarez & Lopez (2008) lại chỉ ra tác động tích cực của FDI tới xuất

11

khẩu của các DN trong nước thông qua các mối liên kết ngang, đồng thời khẳng định FDI có tác động tích cực thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các DN trong nước hoạt động trong cùng một lĩnh vực.

Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu chứng minh FDI không có tác động hoặc tác động tiêu cực tới xuất khẩu của nước nhận đầu tư như nghiên cứu của Barrios & cộng sự (2003) cho trường hợp của Tây Ban Nha, nghiên cứu của Aitken & Harrison (1999) cho trường hợp của Venezuela, nghiên cứu của Djankov & Hoekman (2000) cho trường hợp của Cộng hoà Séc, nghiên cứu của Bernard & Jensen (2004) cho trường hợp của Mỹ. Nghiên cứu về tác động tràn của FDI tới hoạt động xuất khẩu của Tây Ban Nha giai đoạn 1990-1998, Barrios & cộng sự (2003) đã không tìm được bằng chứng để chứng minh rằng FDI có tác động lan toả tích cực tới hoạt động xuất khẩu của các DN nội địa Tây Ban Nha trong giai đoạn này. Bernard & Jensen (2004) cũng chỉ ra rằng FDI không có tác động lan toả tới xuất khẩu của các DN trong ngành chế tạo của Mỹ. Đây cũng là kết luận của một số nghiên cứu khác của Lutz &cộng sự (2003) và Greenaway & cộng sự (2004).

Như vậy, kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của “tác động tràn xuất khẩu” cho nhiều kết quả khác nhau và chưa có sự đồng nhất. Các tác động này phụ thuộc rất nhiều vào loại hình FDI và sự khác biệt về chiến lược kinh doanh giữa DN nội địa và MNCs (Kneller & Pisu, 2007). Mặt khác, các nghiên cứu về tác động tràn của FDI tập trung chủ yếu vào phân tích trong phạm vi một quốc gia, thường là quốc gia thu hút chỉ một loại FDI nhất định với nhiều tác động tràn tiềm năng khác nhau. Vì lí do này, phân tích sự ảnh hưởng của tác động tràn thường đứng dưới góc nhìn chưa bao quát và còn thiếu tính áp dụng rộng rãi cho các quốc gia khác (Javorcik & Spatareanu, 2008).

Tác động của FDI tới kim ngạch nhập khẩu

Nhìn chung, sự tác động của FDI tới nhập khẩu ở nước nhận đầu tư không nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như đối với xuất khẩu. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng ở giai đoạn đầu khi tiến hành đầu tư (trong ngắn hạn), FDI làm tăng nhập khẩu, ngược lại trong dài hạn, FDI có thể làm giảm nhập khẩu của nước nhận đầu tư.

Nghiên cứu của Penelope Pacheco (2005) đã chỉ ra rằng ngay sau khi các MNCs được thành lập ở nước sở tại, họ sẽ nhập một số loại đầu vào nhất định (thường là những linh kiện cơ bản và hàng hoá trung gian được sản xuất tại trụ sở chính ở nước đầu tư) để đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng theo yêu cầu của thị trường quốc tế. Do đó, dòng vốn FDI làm tăng nhu cầu nhập khẩu. Chani & cộng sự (2014) cũng khẳng định FDI có thể làm tăng nhập khẩu đầu vào sản xuất vì phần lớn đầu vào sản xuất của các ngành công nghiệp dịch vụ đều liên quan đến công nghệ cao mà các nước nhận đầu tư chưa sản xuất được, phải phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu. Do đó, dòng FDI từ những nước cung cấp đầu vào cho nước nhận đầu tư thường hấp dẫn và được tập trung thu hút hơn.

12

Theo Yasir Khan & cộng sự (2018), tồn tại mối quan hệ dương giữa FDI và nhập khẩu ở nước nhận đầu tư trong ngắn hạn. Nghĩa là, trong ngắn hạn FDI sẽ làm tăng nhập khẩu ở nước nhận đầu tư và ngược lại. Jayakumar & cộng sự (2014) cũng cho rằng, ở giai đoạn đầu tư ban đầu, các DN FDI có xu hướng nhập khẩu thiết bị, máy móc, thiết bị lắp đặt và các chuyên gia không có sẵn hoặc không đáp ứng được tiêu chuẩn của các DN FDI ở nước sở tại. Điều này làm cho nhập khẩu ở nước sở tại tăng. Các nghiên cứu của Tabassum & cộng sự (2012), Muhammad & cộng sự (2014) cũng đã chỉ ra FDI làm tăng nhập khẩu từ bên ngoài vào nước nhận đầu tư.

Xét về hình thức, FDI thường được chia thành FDI theo chiều dọc và FDI theo chiều ngang (Fukao & Amano, 1998). Theo Franco & cộng sự (2010), tác động của FDI tới nhập khẩu ở nước nhận đầu tư, theo cách tiếp cận này, phụ thuộc rất nhiều vào hình thức đầu tư. FDI theo chiều ngang sẽ làm gia tăng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ các quốc gia đi đầu tư sang các quốc gia nhận đầu tư. Trong khi đó, Inui & Seki (1997) chỉ ra rằng FDI theo chiều ngang đồng thời xuất hiện hai xu hướng: (i) gia tăng nhập khẩu các hàng hoá trung gian cho sản xuất và (ii) tăng xuất khẩu các hàng hoá cuối cùng từ các nước tiếp nhận đầu tư do sự chuyển dịch địa điểm sản xuất.

Một cách phân chia khác chi tiết hơn của Eiteman & cộng sự (1995) thì động cơ của các doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm: (1) FDI tìm kiếm thị trường, (2) FDI tìm kiếm nguồn nguyên liệu, (3) FDI tìm kiếm hiệu quả sản xuất, (4) FDI tìm kiếm lợi thế nhân lực và (5) FDI tìm kiếm an toàn chính trị. Trong đó, FDI tìm kiếm nguồn nguyên liệu, FDI tìm kiếm an toàn chính trị và FDI tìm kiếm lợi thế nhân lực có tác động thuận chiều rõ rệt tới xuất khẩu, trong khi đó, đối với FDI tìm kiếm thị trường và FDI tìm kiếm hiệu quả sản xuất tại tác động thuận chiều rất rõ ràng tới nhập khẩu của nước nhận đầu tư, thậm chí còn khiến cho các nước này rơi vào tình trạng nhập siêu.

Một số nghiên cứu cho thấy tác động của FDI tới nhập khẩu của nước nhận đầu tư phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Dunning (1979) đã đưa ra mô hình OLI nhằm lí giải hành vi đầu tư của các quốc gia và các MNCs. Theo đó, một quốc gia sẽ tiếp nhận FDI, đi đầu tư FDI, sản xuất trong nước để xuất khẩu hay nhập khẩu phụ thuộc vào các lợi thế chủ sở hữu, lợi thế về địa điểm và lợi thế nội bộ hoá của quốc gia mình với quốc gia định đầu tư. Cụ thể, nếu một quốc gia không có nhiều lợi thế về sở hữu (ownership advantages), lợi thế về vị trí (location advantages) hoặc lợi thế về nội bộ hoá (internalization advantages) thì có thể cân nhắc việc nhập khẩu hàng hoá, máy móc để đáp ứng nhu cầu trong nước. Phát triển lý thuyết này, Liu & cộng sự (2001) chỉ ra rằng hầu hết các MNCs đều thành lập tại các quốc gia phát triển. Các công ty này dần dần mở các công ty con của mình tại các quốc gia kém phát triển hơn nhằm tận dụng những lợi thế so sánh của quốc gia này như lao động, tài nguyên giá rẻ. Do vậy, FDI và tình hình nhập khẩu tồn tại đồng thời với nhau và có tác động thúc đẩy lẫn nhau [68]. Aizenman & Noy (2006) bổ sung thêm yếu tố độ mở của thị trường và độ

13

vững mạnh của thị trường tài chính, là những yếu tố có ảnh hưởng tới tác động của FDI đối với nhập khẩu của quốc gia nhận đầu tư.

Pfafermayr (1996) sử dụng số liệu thu thập từ các DN FDI chỉ ra rằng FDI có tác động bổ sung, thúc đẩy lượng nhập khẩu. Fukakaku & Mello (2000) bổ sung thêm rằng các tác động này có xu hướng mạnh hơn khi luồng FDI được đầu tư vào các nước Nam Á so với vào các nước cùng trình độ phát triển ở Châu Mĩ Latinh. Các nghiên cứu của Do & Levchenko (2004), Lane & Ferretti (2004), Rose & Spiegel (2004) và Swenson (2004) còn chỉ ra rằng sự gia tăng của dòng vốn FDI không chỉ thúc đẩy thương mại quốc tế mà còn làm gia tăng năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) của nước nhận đầu tư. Tác động tràn này của FDI sẽ làm tăng năng suất lao động, khiến hàng hoá sản xuất ra nhiều hơn và kết quả là hoạt động thương mại quốc tế cũng sôi động hơn (Drifield & Love, 2007).

Những nghiên cứu khác nhau về mô hình, thời gian và phạm vi nghiên cứu cũng đưa ra một số kết luận trái ngược. Nghiên cứu của Belderbos & Sleuwaegen (1998) chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa FDI và nhập khẩu của một số ngành và đưa ra kết luận hai hoạt động này kìm hãm nhau. Bổ sung quan điểm trên, khi nghiên cứu một số ngành công nghiệp tại 13 nước đang phát triển, Svensson (1998) đã chứng minh FDI vào các ngành tạo ra hàng hoá cuối cùng có tác động ngược chiều tới nhập khẩu, trong khi FDI vào các ngành tạo ra hàng hoá trung gian lại thúc đẩy hoạt động này. FDI vào các ngành tạo ra hàng hoá cuối cùng làm giảm nhập khẩu của nước nhận đầu tư vì hàng hoá nhập khẩu được thay thế bằng hàng hoá cuối cùng được sản xuất bởi chính các DN FDI. Khi nghiên cứu về tác động của FDI tới hoạt động xuất nhập khẩu của Indonesia, Muhammad Albahi (2016) cũng chỉ ra rằng FDI có tác động tích cực đến nhập khẩu, làm giảm nhập khẩu của nước nhận đầu tư trong dài hạn. Nghiên cứu cũng chỉ ra nhập khẩu của Indonesia còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như tăng trưởng kinh tế, điều kiện của nền kinh tế quốc tế, tỷ giá hối đoái...

1.1.2. Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu

Có thể nói, không có nhiều nghiên cứu trên thế giới phân tích một cách rõ ràng về tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của nước nhận đầu tư. Chưa có một nghiên cứu riêng biệt về tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá nhập khẩu mà FDI chỉ được phân tích là một trọng những yếu tố tác động tới việc chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu ở nước nhận đầu tư.

Hoekman & Djankov (1997) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định đến cơ cấu hàng hoá xuất khẩu ở các nước thuộc khu vực Trung và Đông Âu. Nghiên cứu phân tích các yếu tố có tác động tới sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và tập

14

trung vào cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của khu vực Trung và Đông Âu giai đoạn 1990- 1995. Các yếu tố được xem xét bao gồm nhập khẩu các hàng hoá đầu vào trung gian, FDI, trao đổi theo hợp đồng thầu phụ (subcontracting). FDI là một trong các biến độc lập của mô hình trong đó nhấn mạnh tới hình thức liên doanh của FDI. Kết quả kiểm định không cho thấy vai trò quan trọng của FDI đối vớ sự thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của khu vực này trừ nước Phần Lan. Nguyên nhân được giải thích là do dòng FDI vào khu vực Trung và Đông Âu có đặc điểm điển hình là chỉ tập trung cho lĩnh vực dịch vụ và phân phối, trong khi đó nghiên cứu này là xem xét tới tác động của FDI tới chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu.

Nghiên cứu của Bin Xu & Jiangyong Lu (2006) về tác động của FDI tới chất lượng hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc được tiến hành trong giai đoạn 1998-2005. Nghiên cứu sử dụng các biến độc lập là tỷ trọng FDI trong GDP, GDP thực tế đầu người, tỷ trọng đầu ra của sản phẩm mới (R&D), tỷ lệ tiền lương trung bình và tỷ trọng sản lượng đầu ra của các DN FDI. Kết luận là các DN FDI và các DN khác có mức độ sở hữu nhỏ hơn là yếu tố quyết định đến chất lượng cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc. Tuy nhiên, vai trò của FDI tới sự thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu về số lượng chưa được nghiên cứu này nói đến và sự thay đổi về chất lượng cũng chưa rõ nét.

Zhang & Liu (2008) đã chỉ ra FDI có tác động tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Hàn Quốc và Trung Quốc theo hướng thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng chế biến và hàm lượng công nghệ cao. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ kết luận FDI có tác động tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Hàn Quốc và Trung Quốc mà chưa làm rõ về tác động của FDI tới sự thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của hai nước này.

Bin Xu & Jiangyong Lu (2009) cũng đã nghiên cứu về tác động của FDI, processing trade tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và sự thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc. Điểm mạnh của nghiên cứu này là các tác giả đã xem xét tác động của FDI tới chất lượng của cơ cấu hàng hoá xuất khẩu để trả lời câu hỏi tại sao Trung Quốc lại có sự gia tăng mạnh mẽ về chất lượng trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu so với thế giới trong giao đoạn 2000-2005. Kết luận của nghiên cứu là cả hai yếu tố FDI và processing trade đều có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng của cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc.

Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá nhập khẩu

Nghiên cứu của Penelope Pacheco (2005), Jayakumar & cộng sự (2014), Chani & cộng sự (2014), Khan & cộng sự (2018), Tabassum & cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng FDI có tác động trực tiếp tới làm thay đổi cơ cấu hàng nhập khẩu của nước nhận đầu tư theo hướng tăng tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất thông qua kênh nhập khẩu máy móc, thiết bị và các nguyên phụ liệu đầu vào sản xuất của các DN FDI. Thực tế này xảy ra ở hầu hết các nước nhận đầu tư trong thời kỳ đầu, đặc biệt là ở các nước đang

15

phát triển. Hầu hết các DN FDI đều phải nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu đầu vào sản xuất từ bên ngoài do trong nước chưa đáp ứng được. Điều này làm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của nước nhận đầu tư. Bên cạnh đó, nếu các DN FDI phải nhập khẩu công nghệ cần thiết (do trong nước chưa sản xuất được), điều này cũng làm cho tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất trong cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của nước nhận đầu tư của nước nhận đầu tư tăng (Muhammad Albahi, 2016; Muhammad & cộng sự, 2014; Selma, 2013).

Bên cạnh đó, Penelope Pacheco (2005), Jayakumar & cộng sự (2014) cũng đã khẳng định rằng khi có sự tham gia của các DN FDI, thay vì nhập khẩu, các nước này sẽ tiêu dùng hàng hoá được sản xuất tại nước mình bởi chính các DN FDI. Như vậy, FDI có tác động trực tiếp tới cơ cấu hàng nhập khẩu, làm thay đổi cơ cấu hàng nhập khẩu của nước nhận đầu tư theo hướng giảm tỷ trọng hàng tiêu dùng thông qua kênh thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hoá được sản xuất bởi chính các DN FDI tại nước nhận đầu tư.

1.1.3. Tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

Tác động tới phạm vi thị trường xuất nhập khẩu

Nghiên cứu của WTO (1996) về thương mại và FDI đã chỉ ra rằng hầu hết các nước chủ đầu tư đều trở thành đối tác thương mại của nước nhận đầu tư do những ràng buộc về đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thêm vào đó, nhà đầu tư sẽ tận dụng các lợi thế tại nước nhận đầu tư để sản xuất hàng hoá và xuất khẩu ngược trở lại chính quốc do chi phí sản xuất đắt đỏ trong nước. Do đó, càng có nhiều nhà đầu tư thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nước thì phạm vi thị trường xuất nhập khẩu của nước đó càng được mở rộng. Bên cạnh đó, theo Lionel Fontagné (1999), thông qua mạng lưới phân phối rộng lớn của các MNCs trên toàn thế giới, h.àn.g. h.óa. c.ủa. c.ác. n.ước. nhận đầu tư c.ó th.ể th.âm. n.h.ập một cách d.ễ d.àn.g. h.ơn. vào th.ị trườn.g. của các quốc gia trên th.ế g.i.ới, kể cả c.ả n.h.ữn.g. th.ị trườn.g. kh.ó tín.h., đòi. h.ỏi. kh.ắt kh.e. về c.h.ất lượn.g. h.àn.g. h.óa. n.h.ư. th.ị trườn.g.. M.ỹ, N.h.ật B.ản., E.U…...

Aitken & cộng sự (1997) cũng chỉ ra rằng DN FDI thường có mặt ở nhiều quốc gia và hoạt động theo mạng lưới phân phối của các MNCs. Do đó, chính các DN FDI sẽ là người cung cấp tốt nhất và nhanh nhất các thông tin về thị trường xuất khẩu ở nước ngoài, về khách hàng nước ngoài, về các kênh phân phối hàng hoá trên thị trường nước ngoài… Thông qua liên kết sản xuất và kinh doanh với các DN FDI, các DN xuất khẩu trong nước sẽ có cơ hội có được những thông tin về thị trường nước xuất khẩu và từ đó có thể tiếp cận được với các thị trường xuất khẩu.

Tác động tới cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu

Tác động của FDI tới việc thay đổi cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của nước nhận đầu tư hầu như chưa nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cả trên thế giới và Việt Nam. Luận án kỳ vọng sẽ làm rõ được sự tác động này ở Việt Nam.

16

1.2. Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về tác động lan toả của FDI tới nền kinh tế Việt Nam đã được thực hiện khá nhiều. Những nghiên cứu này đã làm sâu sắc thêm lý luận và thực tiễn về tác động lan toả từ FDI tới nền kinh tế Việt Nam. Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Tuệ Anh & cộng sự (2006) về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Lê Quốc Hội (2008) về tác động lan toả công nghệ từ FDI, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Minh (2009) về tác động của FDI tới tăng trưởng năng xuất ở một số ngành của công nghiệp chế tác ở Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Đào Văn Thanh (2013) về tác động tràn của FDI tới các doanh nghiệp nội địa ngành dệt may Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Đặng Quý Dương (2014) về tác động của FDI tới ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Trịnh Minh Tâm (2016) về tác động của FDI tới đổi mới công nghệ ở Việt Nam. Các nghiên cứu này đều kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, phân tích một cách chi tiết, cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh về tác động lan toả của FDI tới nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa đề cập tới khía cạnh xuất nhập khẩu, đặc biệt là đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập khẩu, một hoạt động kinh tế rất quan trọng của Việt Nam hiện nay.

1.2.1. Tác động của FDI tới xuất khẩu ở Việt Nam

Đến nay ở Việt Nam mới chỉ có một số ít nghiên cứu thực chứng của các tác giả Nguyễn Thanh Xuân & Yuqing Xing (2007), Sajid Anwar & Nguyễn Phi Lân (2011), Nguyễn Bích Ngọc (2016) về tác động của FDI tới xuất khẩu.

Nguyễn Thanh Xuân & Yuqing Xing (2008) đã chỉ ra rằng FDI có tác động tích cực tới xuất khẩu của Việt Nam. Theo đó, trung bình nếu FDI của một quốc gia vào Việt Nam tăng lên 1% sẽ làm gia tăng xuất khẩu của Việt Nam vào quốc gia đó thêm 0,13%. Nghiên cứu cũng chỉ ra việc giữ tiền Đồng yếu là một trong những nguyên nhân quan trọng thúc đẩy gia tăng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1990-2004. Thông qua một loạt kiểm định, nghiên cứu cho thấy tác động của Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và một số quốc gia tới xuất khẩu cũng có sự khác biệt rõ ràng. Trong khi FTA với Mỹ thúc đẩy mạnh mẽ lượng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này thì chưa đủ căn cứ để kết luận FTA với các nước ASEAN thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam với các nước trong khối. Mặc dù, nghiên cứu đã đề cập đến các Hiệp định thương mại tự do khi đánh giá sự tác động của FDI tới xuất khẩu của Việt Nam, tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ phân tích tác động của FDI tới xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2004. Do vậy, nghiên cứu chưa đánh giá được sự tác động của FDI tới toàn bộ hoạt động ngoại thương của Việt Nam (bao gồm cả xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại) và chưa chỉ ra được ảnh hưởng của việc Việt Nam gia nhập WTO tới việc tiếp cận nguồn vốn FDI và tác động của nguồn vốn này tới xuất nhập khẩu và cán cân thương mại ở Việt Nam.

17

Nghiên cứu dưới góc nhìn “tác động tràn xuất khẩu” của FDI, Sajid Anwar & Nguyễn Phi Lân (2011) áp dụng các lý thuyết về kinh doanh quốc tế để kiểm chứng sự tồn tại của các tập đoàn nước ngoài có thể có lợi cho các DN nội địa thông qua mối liên hệ đa DN (inter - firm linkages). Sử dụng mô hình ước lượng hai bước của Heckman, bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động của các DN FDI có tác động thuận chiều rõ rệt tới (1) hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp nội địa, (2) lợi nhuận từ việc xuất khẩu của các doanh nghiệp nội địa. Nói cách khác, tác động tràn của FDI đối với xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu đối với FDI theo chiều ngang và khu vực dịch vụ cung ứng hàng hóa. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng FDI theo chiều ngang có ảnh hưởng tích cực, rõ rệt tới xuất khẩu của mọi DN nội địa trong khi hoạt động cung ứng hàng hóa chỉ có ảnh hưởng tới những DN có trình độ khoa học hạn chế. Hiệu ứng xuất khẩu sẽ mạnh hơn nếu DN nước ngoài đi đầu tư là DN có định hướng xuất khẩu. Cụ thể, các DN này tạo ra môi trường cạnh tranh khiến cho các DN trong nước luôn phải vận động, từ đó lượng hàng hóa sản xuất và xuất khẩu cũng tăng lên. Kết quả đề xuất các nhân tố khác nên được xem xét trong mối quan hệ này là (i) năng lực công nghệ của DN nội địa, (ii) cấu trúc DN nội địa, (iii) chiến lược của DN nội địa, (iv) yếu tố địa lý của DN nước ngoài. Điểm mới của nghiên cứu này là góc nhìn quản trị kinh doanh, tập trung vào hoạt động của các DN. Tuy nhiên, sự không sẵn có về mặt số liệu và việc sử dụng dữ liệu mảng chéo là một hạn chế của nghiên cứu, có thể dẫn đến sự sai lệch không mong muốn về kết quả nghiên cứu. Nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các kiểm định về mức độ tác động lan toả của FDI tới các DN nội địa mà chưa chỉ rõ kênh tác động, các điều kiện để tạo ra tác động lan toả từ FDI tới xuất khẩu của các DN này. Ngoài ra, nghiên cứu mới chỉ xem xét ảnh hưởng của FDI tới xuất khẩu mà chưa xem xét tác động này tới nhập khẩu và xuất khẩu ròng của Việt Nam.

Với việc sử dụng mô hình kinh tế lượng, Nguyễn Bích Ngọc (2016) đã chỉ ra rằng FDI có tác động lan toả tích cực tới xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng tác động lan toả của FDI tới xuất khẩu của ngành này là tác động gián tiếp thông qua các kênh truyền dẫn tác động chứ không tác động trực tiếp. Điểm mạnh của nghiên cứu là đã áp dụng mô hình kinh tế lượng, đưa ra những kết luận rất thuyết phục về tác động lan toả từ FDI tới xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ đánh giá tác động của FDI tới xuất khẩu của một ngành mà chưa đánh giá được tác động của FDI tới toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Các nghiên cứu tiêu biểu tại Việt Nam hầu hết đều chỉ ra mối liên hệ bổ sung giữa dòng FDI và xuất khẩu. Điều này cũng phù hợp với kết quả của các nghiên cứu quốc tế, khi dòng vốn FDI tại Việt Nam có xu hướng tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ cũng như hàng loạt chính sách ưu đãi của Nhà nước nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Sự cách biệt rõ rệt về năng lực công nghệ, năng lực sản xuất và chất lượng nguồn nhân lực

18

cũng có thể khiến cho Việt Nam trở thành đất nước “nền xuất khẩu” để cho MNCs tới thực hiện đầu tư, tiến hành sản xuất và xuất khẩu sang các quốc gia khác (như trường hợp của Trung Quốc).

1.2.2. Tác động của FDI tới nhập khẩu ở Việt Nam

Nghiên cứu thực chứng về mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam chưa được thực hiện nhiều. Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ đánh giá tác động của FDI tới xuất khẩu, trong khi đó, nhập khẩu cũng là một hoạt động kinh tế quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến cán cân thương mại của Việt Nam thì lại chưa được quan tâm thích đáng.

Tính đến thời điểm hiện tại mới chỉ có một nghiên cứu thực chứng về mối quan hệ của FDI và nhập khẩu và cán cân thương mại ở Việt Nam, đó là nghiên cứu của Sajid Anwar & Nguyễn Phi Lân (2011). Nghiên cứu đã xem xét mối quan hệ giữa: (i) FDI với xuất khẩu; (ii) FDI với nhập khẩu; (iii) FDI với xuất khẩu ròng của Việt Nam với 19 đối tác thương mại lớn nhất giai đoạn 1990-2007. Nghiên cứu này được chia thành ba giai đoạn: (1) trước khủng hoảng tài chính Châu Á (1990-1997), (2) trong khủng hoảng tài chính châu Á (1998-2000), (3) hậu khủng hoảng tài chính (2001-2007). Bằng việc sử dụng mô hình lực hấp dẫn, các tác giả đã chỉ ra mối quan hệ bổ sung giữa FDI và xuất nhập khẩu: FDI vào Việt Nam thúc đẩy cả xuất khẩu và nhập khẩu. Ngược lại, cả xuất khẩu và nhập khẩu lại thúc đẩy việc thu hút FDI. Tác động của FDI tới xuất khẩu ròng là thuận chiều trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính nhưng lại không rõ ràng trong hai giai đoạn trước. Việc phân chia giai đoạn nghiên cứu này thành ba giai đoạn nhỏ hơn là rất đúng đắn và giúp đánh giá được tốt mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Mặt khác, kết quả nghiên cứu về tác động tiêu cực của điều kiện địa lý trong cán cân thương mại và tác động tích cực của thu nhập trung bình đến xuất nhập khẩu là một điểm mới trong nghiên cứu.

Nhìn chung, cho đến nay chưa có nghiên cứu về tác động của FDI tới hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam trên cả ba khía cạnh: (i) tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu; (ii) tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu; (iii) tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu. Các nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu hoặc hoạt động xuất khẩu của một ngành cụ thể ở Việt Nam.

1.3. Khoảng trống nghiên cứu

Trên cơ sở tiến hành tổng quan các nghiên cứu nước ngoài và trong nước có

liên quan đến đề tài, tác giả đã chỉ ra được ba khoảng trống nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, về nội dung nghiên cứu, hầu hết các nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu trong nước đều mới chỉ đánh giá tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam. Vì vậy, khoảng trống về nội dụng mà luận án kỳ vọng lấp đầy bao gồm: Một là, đánh giá tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và thị trường xuất khẩu ở Việt

19

Nam, từ đó có cái nhìn tổng quan về tác động của FDI tới hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam. Hai là, đánh giá tác động của FDI tới nhập khẩu ở Việt Nam trên cả ba khía cạnh: tác động của FDI tới KNNK, tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá nhập khẩu và tác động của FDI tới thị trường nhập khẩu ở Việt Nam. Việc đánh giá tác động của FDI tới nhập khẩu sẽ cho thấy một bức tranh toàn diện về tác động của FDI tới hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam, giúp chỉ ra được đóng góp thực sự của FDI đối với hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Thứ hai, về phương pháp nghiên cứu, tác giả sẽ kết hợp cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng để đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Phương pháp định lượng được áp dụng để lượng hoá tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam, minh chứng một phần cho những nhận định được rút ra ở phần phân tích định tính. Thêm vào đó, luận án tiến hành xem xét ảnh hưởng của việc gia nhập WTO đến tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam.

Thứ ba, về bối cảnh nghiên cứu, trong các nghiên cứu trước về đánh giá tác động của FDI tới hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam, các tác giả hầu hết mới chỉ nghiên cứu giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO (có thể công bố sau 2007 nhưng số liệu nghiên cứu phần lớn vẫn là trước năm 2007). Tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu đầy đủ hơn với bối cảnh được cập nhật đến hết năm 2018 nhằm đánh giá một cách toàn diện về FDI, về xuất nhập khẩu cũng như tác động của FDI tới nhập khẩu ở Việt Nam.

1.4. Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã tiến hành tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, từ đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu cho đề tài cả về nội dung, phương pháp và bối cảnh nghiên cứu.

Nhìn chung, việc phân tích tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Tuy nhiên, những nghiên cứu này đa phần đều được thực hiện ở các nước có trình độ phát triển hơn Việt Nam hoặc ở những nền kinh tế có hệ thống thể chế rất phát triển, hệ thống thông tin minh bạch, số liệu thống kê sẵn có và đầy đủ. Những nghiên cứu về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam là không nhiều và mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tác động của FDI tới xuất khẩu của một ngành hay của toàn bộ nền kinh tế chủ yếu ở giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO. Tác động của FDI tới nhập khẩu ở Việt Nam hầu như chưa được nghiên cứu. Chính vì vậy, việc tác giả thực hiện đề tài “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam” đã đảm bảo được tính mới cho nghiên cứu.

20

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI XUẤT NHẬP KHẨU Ở NƯỚC NHẬN ĐẦU TƯ

2.1. Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

2.1.1. Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1.1.1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu. tư trực. ti.ếp n.ước. n.g.oài. (FD.I. - Fore.i.g.n. D.i.re.c.t I.n.ve.stm.e.n.t) là h.ìn.h. th.ức. đầu.

tư rất ph.ổ b.i.ến. c.ủa. đầu. tư qu.ốc. tế. Vì vậy, có rất nhiều khái niệm về FDI.

Th.e.o Qu.ỹ ti.ền. tệ th.ế g.i.ới., “Đầu. tư trực. ti.ếp n.ước. n.g.oài. là h.oạt độn.g. đầu. tư được. th.ực. h.i.ện. n.h.ằm. đạt được. n.h.ữn.g. lợi. íc.h. lâu. d.ài. c.ủa. m.ột d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp tại. m.ột n.ước. kh.ác. (n.ước. n.h.ận. đầu. tư), kh.ôn.g. ph.ải. tại. n.ước. m.à d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp đa.n.g. h.oạt độn.g. (n.ước. đi. đầu. tư) với. m.ục. đíc.h. qu.ản. lý c.ó h.i.ệu. qu.ả và g.i.àn.h. qu.yền. qu.ản. lý th.ực. sự d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp tại. n.ước. ti.ếp n.h.ận. đầu. tư” (IMF, 1993).

Th.e.o Tổ c.h.ức. h.ợp tác. và ph.át tri.ển. ki.n.h. tế, “Đầu. tư trực. ti.ếp n.ước. n.g.oài. là h.oạt độn.g. đầu. tư được. th.ực. h.i.ện. n.h.ằm. th.i.ết lập c.ác. m.ối. qu.a.n. h.ệ ki.n.h. tế lâu. d.ài. với. m.ột d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp, đặc. b.i.ệt là n.h.ữn.g. kh.oản. đầu. tư m.a.n.g. lại. kh.ả n.ăn.g. tạo ản.h. h.ưởn.g. đối. với. vi.ệc. qu.ản. lý d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp đó b.ằn.g. c.ác.h.: (i) th.àn.h. lập h.oặc. m.ở rộn.g. m.ột d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp h.oặc. m.ột c.h.i. n.h.án.h. th.u.ộc. toàn. qu.yền. qu.ản. lý c.ủa. c.h.ủ đầu. tư; (ii) m.u.a. lại. toàn. b.ộ d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp đã c.ó; (iii) th.a.m. g.i.a. vào m.ột d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp m.ới.; (iv) c.ấp tín. d.ụn.g. d.ài. h.ạn.”. OE.C.D. c.ũn.g. đưa. ra. địn.h. n.g.h.ĩa. về FD.I. tươn.g. tự n.h.ư I.M.F. Tu.y n.h.i.ên., OE.C.D. c.ó qu.a.n. n.i.ệm. rất rộn.g. về n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài.. Th.e.o qu.a.n. đi.ểm. c.ủa. OE.C.D., n.h.à đầu. tư trực. ti.ếp n.ước. n.g.oài. là m.ột d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp c.ó tư c.ác.h. ph.áp n.h.ân. h.oặc. kh.ôn.g. c.ó tư c.ác.h. ph.áp n.h.ân., tron.g. đó n.h.à đầu. tư sở h.ữu. ít n.h.ất 10% c.ổ ph.i.ếu. h.oặc. c.ó qu.yền. b.i.ểu. qu.yết. Đi.ểm. m.ấu. c.h.ốt c.ủa. đầu. tư trực. ti.ếp là c.h.ủ địn.h. th.ực. h.i.ện. qu.yền. ki.ểm. soát c.ôn.g. ty. Tu.y n.h.i.ên., kh.ôn.g. ph.ải. tất c.ả c.ác. qu.ốc. g.i.a. đều. sử d.ụn.g. m.ức. 10% làm. m.ốc. xác. địn.h. FD.I.. Trên. th.ực. tế, c.ó n.h.ữn.g. trườn.g. h.ợp tỷ lệ sở h.ữu. tài. sản. tron.g. d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp c.ủa. n.h.à đầu. tư n.h.ỏ h.ơn. 10% n.h.ưn.g. h.ọ vẫn. được. qu.yền. qu.ản. lý và đi.ều. h.àn.h. d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp, tron.g. kh.i. ở m.ột số qu.ốc. g.i.a. kh.ác., tỷ lệ n.ày lớn. h.ơn. 10%, n.h.à đầu. tư vẫn. c.h.ỉ là n.h.à đầu. tư g.i.án. ti.ếp (OECD, 2008).

H.ội. n.g.h.ị Li.ên. h.i.ệp qu.ốc. về Th.ươn.g. m.ại. và Ph.át tri.ển. địn.h. n.g.h.ĩa. “Đầu. tư trực. ti.ếp n.ước. n.g.oài. là đầu. tư c.ó m.ối. li.ên. h.ệ, lợi. íc.h. và sự ki.ểm. soát lâu. d.ài. c.ủa. m.ột ph.áp n.h.ân. h.oặc. th.ể n.h.ân. (n.h.à đầu. tư trực. ti.ếp n.ước. n.g.oài. h.oặc. c.ôn.g. ty m.ẹ) đối. với. m.ột d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp ở m.ột n.ền. ki.n.h. tế kh.ác. (d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp FD.I. h.oặc. c.h.i. n.h.àn.h. n.ước.

21

n.g.oài.)”. Th.e.o U.N.C.TA.D., FD.I. b.a.o g.ồm. b.a. b.ộ ph.ận.: vốn. đầu. tư c.ổ ph.ần., th.u. n.h.ập tái. đầu. tư, c.ác. kh.oản. va.y tron.g. n.ội. b.ộ c.ôn.g. ty. Vốn. đầu. tư c.ổ ph.ần. là c.ổ ph.ần. c.ủa. n.h.à đầu. tư trực. ti.ếp n.ước. n.g.oài. m.u.a. từ d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp c.ủa. n.ước. ti.ếp n.h.ận. đầu. tư (kh.ôn.g. ph.ải. c.ổ ph.ần. c.ủa. d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp tron.g. n.ước. tại. n.ước. đi. đầu. tư). Th.u. n.h.ập tái. đầu. tư là c.ổ tức. kh.ôn.g. được. c.h.u.yển. c.h.o n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. m.à được. g.i.ữ lại. n.h.ằm. m.ục. đíc.h. tái. đầu. tư. C.ác. kh.oản. va.y tron.g. n.ội. b.ộ c.ôn.g. ty là c.ác. kh.oản. va.y n.g.ắn. h.ạn. và d.ài. h.ạn. g.i.ữa. c.ôn.g. ty m.ẹ và c.ôn.g. ty th.àn.h. vi.ên (U.N.., 1996).

Tổ c.h.ức. Th.ươn.g. m.ại. th.ế g.i.ới đưa. ra. kh.ái. n.i.ệm.::“Đầu. tư trực. ti.ếp n.ước. n.g.oài. xảy ra. kh.i. m.ột n.h.à đầu. tư từ m.ột n.ước. (n.ước. c.h.ủ đầu. tư) c.ó được. tài. sản. ở m.ột n.ước. kh.ác. (n.ước. nhận đầu. tư) c.ùn.g. với. qu.yền. qu.ản. lý tài. sản. đó”. Theo WTO, quyền quản lý là căn cứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Khi đó nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty” (WTO, 1996).

Các nhà kinh tế Việt Nam khi nghiên cứu về FDI đều đi theo cách tiếp cận nguồn vốn, coi FDI là một trong các nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Lu.ật Đầu. tư. 2014 của Việt Nam định nghĩa về FDI: “Đầu. tư trực. ti.ếp n.ước. n.g.oài. là vi.ệc. n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. đưa. vào Vi.ệt N.a.m. vốn. b.ằn.g. ti.ền. m.ặt h.oặc. b.ất kỳ tài. sản. n.ào để ti.ến. h.àn.h. c.ác. h.oạt độn.g. đầu. tư và qu.ản. lý h.oạt độn.g. đầu. tư th.e.o qu.y địn.h. c.ủa. Lu.ật n.ày và c.ác. qu.y địn.h. ph.áp lu.ật kh.ác. c.ó li.ên. qu.a.n”. Tron.g. đó, n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. được. h.i.ểu. là tổ c.h.ức. ki.n.h. tế, c.á n.h.ân. n.ước. n.g.oài. đầu. tư vào Vi.ệt N.a.m. . (Quốc hội, 2014).

2.1.1.2. Các hình thức cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Như vậy, FDI được hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỷ theo cách tiếp cận khác nhau. Theo tác giả, FDI là vi.ệc. n.h.à đầu. tư nước ngoài. đưa. vốn. b.ằn.g. ti.ền. h.oặc. b.ất kỳ tài. sản. n.ào vào qu.ốc. g.i.a. khác để được. qu.yền. sở h.ữu. và qu.ản. lý h.oặc. qu.yền. ki.ểm. soát m.ột th.ực. th.ể ki.n.h. tế tại. qu.ốc. g.i.a. đó với. m.ục. ti.êu. tối. đa. h.oá lợi. n.h.u.ận.. FDI là một hình thức đầu tư quốc tế mà nước tiếp nhận đầu tư không chỉ kỳ vọng vào lượng vốn đầu tư mà còn kỳ vọng vào những tác động tràn tích cực do dòng vốn này mang lại. Đây là loại hình di chuyển vốn quốc tế mà người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành việc sử dụng vốn đầu tư.

a. Theo hình thức sở hữu

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (B.C.C. - B.u.si.n.e.ss C.oope.ra.ti.on. C.on.tra.c.t): BCC là văn. b.ản. ký kết g.i.ữa. h.a.i. h.oặc. n.h.i.ều. b.ên. để ti.ến. h.àn.h. đầu. tư ki.n.h. d.oa.n.h. tại. n.ước. n.h.ận. đầu. tư, tron.g. đó qu.y địn.h. rõ qu.yền. lợi., trác.h. n.h.i.ệm. và ph.ân. c.h.i.a. kết qu.ả ki.n.h. d.oa.n.h. c.h.o m.ỗi. b.ên. th.e.o tỷ lệ g.óp vốn. h.oặc. th.e.o th.ỏa. th.u.ận. g.i.ữa. c.ác. b.ên. m.à kh.ôn.g. th.àn.h. lập m.ột ph.áp n.h.ân. m.ới.. Với. đặc. đi.ểm. kh.ôn.g. th.àn.h. lập pháp nhân m.ới., B.C.C. c.ó th.ể g.i.úp và c.h.i. ph.í tron.g. vi.ệc. th.àn.h. lập ph.áp n.h.ân. m.ới. c.ũn.g. c.ác. n.h.à đầu. tư ti.ết ki.ệm.. th.ời. g.i.a.n

22

n.h.ư tổ c.h.ức. vận. h.àn.h. sa.u. kh.i. n.ó được. th.àn.h. lập. Tuy nhiên, cũng c.h.ín.h. vì kh.ôn.g. th.àn.h. lập m.ột pháp nhân m.ới., d.ự án. đầu. tư sẽ g.ặp kh.ó kh.ăn. kh.i. th.ực. h.i.ện. c.ác. h.ợp đồn.g. ph.ục. vụ c.h.o BCC. vì kh.ôn.g. c.ó c.on. d.ấu. ri.ên.g..

DN liên doanh: DN liên doanh là DN được. th.àn.h. lập trên. c.ơ sở h.ợp đồn.g. li.ên. d.oa.n.h. được. ký g.i.ữa. h.a.i. h.oặc. n.h.i.ều. b.ên. h.oặc. trên. c.ơ sở m.ột H.i.ệp địn.h. được. ký kết g.i.ữa. C.h.ín.h. ph.ủ n.ước. nhận đầu tư. và C.h.ín.h. ph.ủ đi đầu tư. để ti.ến. h.àn.h. đầu. tư ki.n.h. d.oa.n.h. tại nước nhận đầu tư. Tron.g. h.ợp đồn.g. li.ên. d.oa.n.h. ph.ân. địn.h. rõ trác.h. n.h.i.ệm. và ph.ân. c.h.i.a. kết qu.ả ki.n.h. d.oa.n.h. c.h.o m.ỗi. b.ên.. M.ỗi. b.ên. li.ên. d.oa.n.h. c.h.ỉ c.h.ịu. trác.h. n.h.i.ệm. tron.g. ph.ạm. vi. ph.ần. vốn. g.óp vào vốn. ph.áp địn.h. c.ủa. DN.

DN 100% vốn đầu tư nước ngoài: DN 100% vốn. đầu. tư n.ước. n.g.oài. là DN th.u.ộc. sở h.ữu. c.ủa. n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài., d.o n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. th.àn.h. lập tại. nước nhận đầu tư.. N.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. tự qu.ản. lý và tự c.h.ịu. trác.h. n.h.i.ệm. về kết qu.ả ki.n.h. d.oa.n.h.. DN 100% vốn. đầu. tư n.ước. n.g.oài. h.oạt độn.g. th.e.o sự đi.ều. h.àn.h. qu.ản. lý c.ủa. c.h.ủ đầu. tư n.ước. n.g.oài. theo pháp luật của nước nhận đầu tư.

BOT, BTO và BT: B.OT (B.u.i.ld.i.n.g. - Ope.ra.ti.n.g. - Tra.n.sfe.ri.n.g.) là h.ìn.h. th.ức. đầu. tư được. ký g.i.ữa. c.ơ qu.a.n. c.ó th.ẩm. qu.yền. c.ủa. n.ước. nhận đầu tư và n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. để xây d.ựn.g. c.ôn.g. trìn.h. kết c.ấu. h.ạ tần.g. và ki.n.h. d.oa.n.h. tron.g. m.ột th.ời. g.i.a.n. n.h.ất địn.h. để th.u. h.ồi. vốn. và c.ó lợi. n.h.u.ận. h.ợp lý, h.ết th.ời. h.ạn. n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. c.h.u.yển. g.i.a.o toàn. b.ộ c.ôn.g. trìn.h. đó c.h.o n.ước. nhận đầu tư. Đối với hình thức BTO, sa.u. kh.i. xây d.ựn.g. xon.g. c.ôn.g. trìn.h. n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. c.h.u.yển. g.i.a.o lại. c.h.o n.ước nhận đầu tư và được. n.ước. nhận đầu tư d.àn.h. c.h.o qu.yền. ki.n.h. d.oa.n.h. c.ôn.g. trìn.h. đó h.oặc. c.ôn.g. trìn.h. kh.ác. tron.g. m.ột th.ời. g.i.a.n. đủ để h.oàn. lại. toàn. b.ộ vốn. đầu. tư và c.ó lợi. n.h.u.ận. th.oả đán.g. về c.ôn.g. trìn.h. đã được. xây d.ựn.g. và c.h.u.yển. g.i.a.o. Đối với hình thức BT, sa.u. kh.i. xây d.ựn.g. xon.g. c.ôn.g. trìn.h., n.h.à đầu. tư c.h.u.yển. g.i.a.o lại. c.h.o n.ước. nhận đầu tư và được. C.h.ín.h. ph.ủ n.ước. nhận đầu tư th.a.n.h. toán. b.ằn.g. ti.ền. h.oặc. b.ằn.g. tài. sản. n.ào đó tươn.g. xứn.g. với. vốn. đầu. tư đã b.ỏ ra. và m.ột tỷ lệ lợi. n.h.u.ận. h.ợp lý.

Công ty cổ phần: C.ôn.g. ty c.ổ ph.ần. FD.I. là c.ôn.g. ty c.ó c.ác. c.ổ đôn.g. n.ước. n.g.oài. và tron.g. n.ước. (c.ổ đôn.g. c.ó th.ể là c.á n.h.ân. h.oặc. tổ c.h.ức.) n.h.ưn.g. c.ổ đôn.g. n.ắm. qu.yền. c.h.i. ph.ối. c.ó qu.ốc. tịc.h. n.ước. n.g.oài., đây là h.ìn.h. th.ức. DN h.i.ện. đại.. Tu.y đều. là DN c.ó vốn. h.ỗn. h.ợp son.g. DN c.ổ ph.ần. FD.I. c.ó c.ơ c.ấu. tổ c.h.ức. và c.ác.h. th.ức. h.oạt độn.g. rất kh.ác. so với. DN li.ên. d.oa.n.h..

Công ty mẹ - con: H.old.i.n.g. c.om.pa.n.y là m.ột c.ôn.g. ty sở h.ữu. vốn. tron.g. m.ột c.ôn.g. ty kh.ác. ở m.ức. đủ để ki.ểm. soát h.oạt độn.g. qu.ản. lý và đi.ều. h.àn.h. c.ôn.g. ty đó th.ôn.g. qu.a. vi.ệc. g.ây ản.h. h.ưởn.g. h.oặc. lựa. c.h.ọn. th.àn.h. vi.ên. h.ội. đồn.g. qu.ản. trị. H.old.i.n.g. c.om.pa.n.y được. th.àn.h. lập d.ưới. d.ạn.g. c.ôn.g. ty c.ổ ph.ần. và c.h.ỉ g.i.ới. h.ạn. h.oạt độn.g. c.ủa. m.ìn.h. tron.g. vi.ệc. sở h.ữu. vốn., qu.yết địn.h. c.h.i.ến. lược. và g.i.ám. sát h.oạt độn.g. c.ủa. c.ác. c.ôn.g. ty c.on..

23

b. Theo hình thức thâm nhập

Đầu tư mới (GI - Greenfield Investment): Đầu tư mới là hình thức các chủ đầu tư thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua việc xây dựng các DN mới. Đây chính là kênh đầu tư chủ yếu của các nước phát triển và các nước đang phát triển. FDI theo hình thức đầu tư mới bao gồm các hình thức cụ thể sau: Hợp đồng hợp tác kinh

doanh, DN liên doanh, DN 100% vốn đầu tư nước ngoài, BOT, BTO và BT, công ty cổ phần, công ty mẹ - con…

Mua lại và sáp nhập (M&A - Mergers and Acquisitions): M.&A. là h.ìn.h. th.ức.

FD.I. tron.g. đó h.a.i. h.a.y n.h.i.ều. công ty c.ó vốn. FD.I. đa.n.g. h.oạt độn.g. sáp n.h.ập vào n.h.a.u.

h.oặc. m.ột công ty n.ày (c.ó th.ể đa.n.g. h.oạt độn.g. ở n.ước. n.h.ận. đầu. tư h.a.y n.ước. n.g.oài.) m.u.a.

lại. m.ột công ty c.ó vốn. FD.I. ở n.ước. n.h.ận. đầu. tư. Có 3 loại M&A: (1) M.&A. th.e.o c.h.i.ều.

n.g.a.n.g.::: xảy ra. kh.i. hai c.ôn.g. ty h.oạt độn.g. tron.g. c.ùn.g. m.ột lĩn.h. vực. sản. xu.ất ki.n.h. d.oa.n.h.

m.u.ốn. h.ìn.h. th.àn.h. m.ột c.ôn.g. ty lớn. h.ơn. để tăn.g. kh.ả n.ăn.g. c.ạn.h. tra.n.h., m.ở rộn.g. th.ị trườn.g.

c.ủa. c.ùn.g. m.ột loại. m.ặt h.àn.g. m.à trước. đó hai c.ôn.g. ty c.ùn.g. sản. xu.ất; (2) M.&A. th.e.o

c.h.i.ều. d.ọc. xảy ra. kh.i. hai c.ôn.g. ty h.oạt độn.g. ở hai lĩn.h. vực. kh.ác. n.h.a.u. n.h.ưn.g. c.ùn.g. c.h.ịu.

sự c.h.i. ph.ối. c.ủa. m.ột c.ôn.g. ty m.ẹ. Loại. h.ìn.h. M.&A. n.ày th.ườn.g. xảy ra. ở m.ột c.ôn.g. ty

xu.yên. qu.ốc. g.i.a.; (3) M.&A. th.e.o h.ướn.g. đa. d.ạn.g. h.oá h.a.y kết h.ợp xảy ra. kh.i. c.ác. c.ôn.g. ty

lớn. ti.ến. h.àn.h. sáp n.h.ập với. n.h.a.u. với. m.ục. ti.êu. tối. th.i.ểu. h.oá rủi. ro và trán.h. th.i.ệt h.ại. kh.i.

m.ột c.ôn.g. ty tự th.âm. n.h.ập th.ị trườn.g..

c. Theo mục đích đầu tư

FDI tìm kiếm tài nguyên: FDI tìm kiếm tài nguyên là hình thức nguyên thuỷ mà

các MNNs đầu tư vào các nước đang phát triển. Hình thức này sẽ tạo ra thương mại

gắn với hình thức bán thành phẩm (hoặc sản phẩm đầu ra), đồng thời có tác động thúc

đẩy thương mại thông qua thông qua nhập khẩu tư liệu sản xuất từ nước đi đầu tư và

xuất khẩu bán thành phẩm (hoặc thành phẩm) từ nước nhận đầu tư.

FDI tìm kiếm thị trường: FDI tìm kiến thị trường là hình thức đầu tư sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm tại thị trường của nước nhận đầu tư. Hình thức này là động cơ

chính của FDI vào lĩnh vực sản xuất của các nước phát triển trong những năm 1960 -

1970, thời kỳ thịnh vượng của công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu.

FDI tìm kiếm hiệu quả: FDI tìm kiếm hiệu quả là hình thức đầu tư trong đó nhà

đầu tư phân bổ công đoạn sản xuất ở nước ngoài nhằm tối ưu hoá quá trình sản xuất.

Hình thức cổ điển nhất của dạng đầu tư này là tìm kiếm các nguồn lao động chi phí

thấp tại các nước đang phát triển bằng cách đặt cơ sở sản xuất tại khu vực có nguồn

lao động rẻ.

24

2.1.1.3. Chỉ tiêu phản ánh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước nhận đầu tư

FDI tìm kiếm tài sản chiến lược: FDI tìm kiếm chiến lược xuất hiện ở giai đoạn phát triển cao của quá trình toàn cầu hoá khi nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm khả năng R&D. Ví dụ, đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc vào lĩnh vực điện tử của Mỹ.

a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô vốn FDI

Đây là các chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh quy mô vốn FDI bao gồm các chỉ tiêu về

số lượng dự án FDI, hiện trạng vốn FDI và vốn FDI bình quân.

Về số lượng dự án FDI: bao gồm các chỉ tiêu như số dự án đăng ký, số dự án thực hiện, số dự án FDI tăng vốn, số dự án giải thể trước thời hạn, số dự án hết hạn, số dự án còn hiệu lực.

Về hiện trạng vốn FDI: bao gồm các chỉ tiêu như vốn FDI đăng ký, vốn FDI thực hiện, vốn FDI thực hiện tăng thêm, vốn FDI giải thể trước thời hạn, vốn FDI hết hạn, vốn FDI còn hiệu lực. Khi đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập

khẩu, tác giả sử dụng chỉ tiêu vốn FDI thực hiện trong cả phân tích định tính và định lượng.

Về vốn FDI bình quân: bao gồm các chỉ tiêu vốn FDI đăng ký bình quân một dự án, vốn FDI thực hiện bình quân một dự án, vốn FDI thực hiện tăng thêm bình quân một dự án, vốn FDI hết hạn bình quân một dự án, vốn FDI còn hiệu lực bình quân một dự án. Trong luận án, tác giả không sử dụng các chỉ tiêu vốn FDI

bình quân.

b. Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn FDI

Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn FDI bao gồm cơ cấu vốn FDI theo ngành, cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư, cơ cấu vốn FDI theo địa bàn đầu tư và cơ cấu vốn FDI theo đối tác đầu tư.

Cơ cấu vốn FDI theo ngành: Là tỷ trọng vốn FDI của các ngành trong tổng vốn

FDI của cả nước.

Cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư: Là tỷ trọng vốn FDI theo các hình thức

đầu tư trong tổng vốn FDI của cả nước.

Cơ cấu vốn FDI theo địa bàn đầu tư: Là tỷ trọng vốn đầu tư của từng địa bàn

(vùng hoặc tỉnh/thành) trong tổng vốn FDI của cả nước.

Cơ cấu vốn FDI theo đối tác đầu tư: Là tỷ trọng vốn FDI từ các quốc gia/vùng

lãnh thổ trên thế giới trong tổng vốn FDI của cả nước.

25

2.1.2. Khái quát về xuất nhập khẩu

2.1.2.1. Khái niệm về xuất nhập khẩu

Theo Luật Thương mại Việt Nam (2005): “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.

2.1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh về xuất nhập khẩu của một quốc gia

Theo Luật Thương mại Việt Nam (2005): “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.

a. Các chỉ tiên phản ánh về số lượng của xuất nhập khẩu

Kim ngạch xuất khẩu: KNXK của một quốc gia là lượng tiền thu được từ xuất khẩu các hàng hóa, dịch vụ của quốc gia đó tính trong một thời gian nhất định thường là tháng, quý hoặc năm.

Kim ngạch nhập khẩu: KNNK của một quốc gia là lượng tiền xuất ra để nhập khẩu các hàng hóa, dịch vụ từ các nước khác tính trong một thời gian nhất định thường là tháng, quý hoặc năm.

Tổng Kim ngạch xuất nhập khẩu: Tổng KNXNK của một quốc gia là tổng giá trị của KNXK và KNNK của quốc gia đó tính trong một thời gian nhất định thường là tháng, quý hoặc năm.

Cán cân thương mại (CCTM): CCTM ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu). Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, CCTM thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, CCTM thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, CCTM ở trạng thái cân bằng.

b. Các chỉ tiên phản ánh về chất lượng của xuất nhập khẩu

b1. Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu: Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu là tổng thể các nhóm hàng, các mặt hàng xuất khẩu trong toàn bộ KNXK với vị trí, tỷ trọng tương ứng và mối liên hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.

Chất lượng của rổ hàng hoá xuất khẩu của một quốc gia được xác định bằng tỷ trọng của giá trị xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng lao động cao (labour - intensive products) so với các mặt hàng có hàm lượng vốn cao (capital - intensive products) trong tổng giá trị hàng xuất khẩu hoá của quốc gia đó (Mayer & Wood, 2001). Trong đó, các mặt hàng có hàm lượng vốn cao được xác định là các mặt hàng có giá trị gia

26

tăng cao (high value added products) thường bao gồm các mặt hàng có hàm lượng chế biến, hàm lượng công nghệ và chất xám cao. Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của một quốc gia được coi là có chất lượng là một cơ cấu mà trong đó tỷ trọng các mặt hàng chế biến cao hay giá trị gia tăng cao chiếm ưu thế trong tổng thể cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của quốc gia đó.

Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu: Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu là tổng thể các nhóm hàng, các mặt hàng nhập khẩu trong toàn bộ KNNK với vị trí, tỷ trọng tương ứng và mối liên hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.

Chất lượng của rổ hàng hoá nhập khẩu của một quốc gia được xác định bằng tỷ trọng của giá trị nhập khẩu nh.óm. h.àn.g. c.ần. n.h.ập kh.ẩu. so với nhóm h.àn.g. c.ần. ki.ểm. soát và n.h.óm. h.àn.g. c.ần. h.ạn. c.h.ế n.h.ập kh.ẩu. (Theo phân loại của B.ộ C.ôn.g. Th.ươn.g.). Tuy nhiên, cách phân loại này của Bộ Công Thương chỉ mang tính tương đối bởi mỗi quốc gia sẽ có cách phân loại khác nhau dựa theo những quan điểm và tiêu thức khác nhau. Theo cách phân loại trên, cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của một quốc gia được coi là có chất lượng là một cơ cấu mà trong đó tỷ trọng các mặt hàng thuộc nhóm hàng cần nhập khẩu chiếm ưu thế cao trong cơ cấu hàng nhập khẩu của quốc gia đó.

b2. Thị trường xuất nhập khẩu

Thị trường xuất nhập khẩu của một quốc gia được thể hiện thông qua hai chỉ

tiêu, đó là phạm vi thị trường xuất nhập khẩu và cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu.

Phạm vi thị trường xuất nhập khẩu: Phạm vi thị trường xuất nhập khẩu của một quốc gia là tập hợp các quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại quốc tế với quốc gia đó.

Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu: Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của một quốc gia là sự phân bổ giá trị KNXNK theo nước, nền kinh tế và khu vực lãnh thổ thế giớI với tư cách là thị trường tiêu thụ.

2.1.2.3. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới xuất nhập khẩu

Thị trường xuất nhập khẩu xét theo lãnh thổ thế giới thường được chia ra nhiều khu vực khác nhau: thị trường châu Á, Bắc Mỹ, Đông Nam Á, EU... Do đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống khác nhau nên các thị trường có những đặc điểm không giống nhau về cung, cầu, giá cả và đặc biệt là những quy định về chất lượng.

a. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới xuất khẩu

Chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động xuất khẩu của Nhà nước: Đây là nhân tố không chỉ tác động đến hoạt động xuất khẩu ở hiện tại, mà còn cả trong tương lai. Việc khuyến khích hoạt động xuất khẩu được thể hiện ở các chính sách, các biện pháp liên quan đến việc tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho

27

xuất khẩu, hỗ trợ tài chính cho các DN tham gia xuất khẩu. Tuy nhiên, không phải lúc nào Nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu. Bởi vì, việc tự do hoàn toàn đối với xuất khẩu nhiều khi mang lại thiệt hại rất lớn cho quốc gia.

Năng lực cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá xuất khẩu: Năng lực cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá xuất khẩu ảnh hưởng rất lớn tới xuất khẩu của một quốc gia. (1) Năng lực công nghệ: Một quốc gia có trình độ khoa học công nghệ phát triển, có khả năng tạo ra được nhiều loại mặt hàng đa dạng, chất lượng tiêu chuẩn quốc tế, hình thức mẫu mã đảm bảo thẩm mỹ cao và giá cả phải chăng thì đây là điều kiện thuận lợi rất lớn cho hoạt động xuất khẩu và ngược lại. (2) Năng lực nhân sự: Một quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào và có trình độ chuyên môn cao là điều kiện thuận lợi để thực hiện hoạt động sản xuất hàng hoá xuất khẩu. (3) Năng lực tài chính: Một quốc gia có tiềm lực tài chính mạnh sẽ mạnh tay hơn trong việc đầu tư vào các lĩnh vực mới, đầu tư

nghiên cứu đổi mới và phát triển công nghệ ứng dụng vào hoạt động sản xuất xuất khẩu, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động sản xuất xuất khẩu.

Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là giá cả của ngoại tệ tính theo đồng nội tệ, hay quan hệ so sánh về giá trị giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Trong hoạt động xuất khẩu, các DN xuất khẩu phải quan tâm đến yếu tố này vì nó liên quan đến việc thu đổi ngoại tệ

sang nội tệ của DN, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xuất khẩu. Nếu tỷ giá hối đoái lớn hơn tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu thì có thể thực hiện hoạt động xuất khẩu. Ngược lại, nếu tỷ giá hối đoái mà nhỏ hơn tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu thì không nên xuất khẩu.

Khoảng cách địa lý giữa các nước: Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải, tới thới gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng

xuất khẩu… Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia cũng có ảnh hưởng tới hoạt động thương mại song phương giữa hai quốc gia đó.

Dòng vốn FDI: Đối với các quốc gia đang phát triển, thiếu vốn để phát triển thì các dòng vốn nước ngoài đặc biệt là dòng vốn FDI có vai trò rất quan trong trong phát triển kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, vốn FDI nói chung và khu vực FDI nói riêng của một quốc gia có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu của quốc gia đó.

Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế: Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia cũng có ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu của quốc gia đó. Hội nhập kinh tế tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh, mà muốn tận dụng được thì phải thông qua buôn bán ngoại thương. Quan hệ giữa hội nhập quốc tế và hoạt động ngoại thương là quan hệ hữu cơ với nhau. Khi hội nhập càng mạnh mẽ

28

thì ngoại thương cần được tự do hoá, xoá bỏ độc quyền. Do đó, hoạt động ngoại thương được quan tâm vào bậc nhất ở tất cả mọi quốc gia.

Cơ sở hạ tầng trong nước: Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng của một quốc gia bao gồm trình độ phát triển của hệ thống giao thông vận tải và trình độ phát của hệ thống thông tin liên lạc của quốc gia đó. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng của một quốc gia có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu, có thể tăng cường hoặc hạn chế năng lực giao dịch, mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng cường hoặc hạn chế các dịch vụ vận chuyển hàng hoá xuất khẩu của quốc gia đó.

Tình hình phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu: Tình hình phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu có ảnh hưởng đến nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng xuất khẩu, do đó có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu nói riêng và quốc gia xuất khẩu nói chung. Các nhân tố phản ánh sự phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu nhập của dân cư, tình hình lạm phát, tình hình lãi suất, trong đó nhân tố GDP có ảnh hưởng lớn nhất và thường được xem xét nhất.

Chính sách thương mại của các thị trường xuất khẩu: Chính sách thương mại của các thị trường xuất khẩu có thể làm hạn chế hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường đó. Một quốc gia có chính sách thương mại tự do sẽ giúp cho hoạt động xuất khẩu của DN sang thị trường quốc gia đó được thực hiện một cách dễ dàng hơn và thường mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ngược lại, một quốc gia có chính sách thương mại khắt khe thì sẽ tạo ra nhiều khó khăn cho DN khi thực hiện xuất khẩu sang thị trường này.

b. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới nhập khẩu

Chính sách quản lý vĩ mô và quan hệ kinh tế quốc tế của Nhà nước: Tuỳ từng thời kỳ phát triển của đất nước mà Chính phủ ban hành các chính sách vĩ mô quản lí hoạt động nhập khẩu. Các chính sách mà các chính phủ thường đưa ra và tác động trực tiếp tới hoạt động nhập khẩu là việc dựng nên các hàng rào nhằm bảo hộ nền sản xuất còn yếu sức cạnh tranh trong nước. Các công cụ mà thường sử dụng là công cụ thuế quan và công cụ phi thuế quan.

Sự phát triển kinh tế của đất nước: Sự phát triển kinh tế có ảnh hưởng đến nhu cầu và khả năng thanh toán đối với hàng hoá nhập khẩu, do đó có ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của một quốc gia. Các nhân tố phản ánh sự phát triển kinh tế của một quốc gia là GDP, thu nhập của dân cư, tình hình lạm phát, tình hình lãi suất, trong đó nhân tố GDP có ảnh hưởng lớn nhất và thường được xem xét nhất.

Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái có tác động rất lớn tới hoạt động nhập khẩu vì nó là cơ sở để so sánh giá cả của hàng hoá trong nước với thế giới, đồng thời phục vụ

29

cho sự vận động của tiền tệ và hàng hoá giữa các quốc gia, các DN nhập khẩu theo dõi và căn cứ vào tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và ngoại tệ để đẩy mạnh hay hạn chế hoạt động của mình. Khi đồng nội tệ bị mất giá thì hoạt động nhập khẩu là không có lợi và so với trước DN phải trả nhiều tiền hơn cho một đơn vị hàng hoá và ngược lại khi đồng nội tệ tăng giá thì hoạt động nhập khẩu là có lợi và so với trước DN phải trả ít tiền hơn cho một đơn vị hàng hoá.

Dòng vốn FDI: FDI có thể làm tăng nhập khẩu do DN FDI phải nhập khẩu thiết bị, công nghệ và nguyên vật liệu đầu vào mà trong nước chưa sản xuất được. Bên cạnh đó, DN FDI cũng có thể phải nhập khẩu các sản phẩm của ngành CNHT mà trong nước chưa sản xuất được. Do đó, FDI có thể làm tăng nhập khẩu của nước nhận đầu tư trong ngắn hạn. Trong dài hạn, FDI có thể làm giảm nhập khẩu của nước nhận đầu tư do các DN FDI sản xuất được hàng hoá có thể thay thế hàng nhập khẩu. Thêm vào đó, nhờ tác động lan toả tích cực về công nghệ và tri thức từ DN FDI, nước nhận đầu tư có thể sản xuất và chế tạo được thiết bị, công nghệ và nguyên vật liệu đầu vào trước đây phải nhập khẩu.

Cơ sở hạ tầng: Hoạt động nhập khẩu diễn ra có thuận lợi hay không phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ sở hạ tầng của một quốc gia. Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm có hệ thống giao thông vận tải, sân bay, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc và hệ thống tài chính ngân hàng. Một nước có cơ sở hạ tầng phát triển là cơ sở để phát triển các hoạt động nhập khẩu bởi cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng là việc giảm thiểu các chi phí trong hoạt động kinh doanh của DN, tạo điều kiện để các DN nâng cao được hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình.

Khoảng cách địa lý giữa các quốc gia: Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải, tới thới gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng nhập khẩu… Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia cũng có ảnh hưởng tới hoạt động thương mại song phương giữa hai quốc gia đó.

2.1.3. Kênh truyền dẫn tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

2.1.3.1. Kênh truyền dẫn tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

a. Tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu

a1. Kênh tác động trực tiếp

FDI tác động trực tiếp tới KNXK ở nước nhận đầu tư do các DN FDI thực hiện hoạt động xuất khẩu. FDI hiện nay có xu hướng hướng về xuất khẩu hơn là nhằm vượt qua những hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước nhập khẩu hàng hoá. Đồng thời với xu hướng đó là sự phát triển ngày càng mạnh của các công ty xuyên quốc gia (TNCs).

30

Các TNCs này thường được hình thành từ các nước phát triển với phạm vi tiêu thụ hàng hoá rộng lớn khắp toàn cầu. Các TNCs có xu hướng hình thành nhiều chi nhánh ở nhiều quốc gia, tiến hành hoạt động gia công hàng hoá ở các nước có điều kiện đầu tư thuận lợi, nhất là những nước đang phát triển với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, nhân công rẻ và mặt bằng sản xuất lớn, sau đó xuất khẩu sang các thị trường khác. Như vậy, sự xuất hiện của các DN FDI hay các chi nhánh của các TNCs với mục tiêu hướng về xuất khẩu làm tăng khả năng xuất khẩu của khối các DN FDI nói riêng và toàn bộ nền kinh tế của nước nhận đầu tư nói chung.

Đặng Quý Dương (2014) chỉ ra rằng FDI có tác động trực tiếp thúc đẩy xuất khẩu của ngành công nghiệp chế tác bởi hoạt động xuất khẩu của chính các DN FDI với các lợi thế lớn về năng suất, công nghệ, tài chính, quy mô, thị trường và kênh phân phối. Xuất khẩu của các ngành tăng sẽ làm cho tổng KNXK của nước nhận đầu tư tăng.

a2. Kênh tác động gián tiếp

FDI có tác động gián tiếp tới KNXK ở nước nhận đầu tư thông qua việc góp phần cải thiện và nâng cao khả năng xuất khẩu của các DN trong nước. Nguyễn Bích Ngọc (2017) đã chỉ ra FDI vào ngành chế biến chế tạo ở nước sở tại có tác động cải thiện năng lực xuất khẩu của các DN trong ngành, từ đó quy mô xuất khẩu của ngành cũng thay đổi, cộng hưởng làm thay đổi quy mô xuất khẩu cả nước.

FDI góp phần cải thiện và nâng cao khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư,

từ đó tăng quy mô KNXK của nước nhận đầu tư thông qua các kênh tác động sau:

(1) Kênh tạo áp lực cạnh tranh đối với các DN xuất khẩu nội địa

Thứ nhất, DN FDI với lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, bí quyết quản lý… đã tạo sức ép đáng kể buộc các buộc các DN xuất khẩu trong nước phải thay đổi cách thức quản lý, nâng cao năng lực công nghệ, nâng cao trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Dưới sự gia tăng của cạnh tranh và phải chống đỡ cạnh tranh, các DN xuất khẩu trong nước buộc phải hoạt động hiệu quả hơn và phải cải tiến và áp dụng công nghệ mới sớm hơn (Wang & Blomstrom, 1992; Kokko & cộng sự 1996 và 2001; Blomstrom Magnus & Kokko, 1998). Đây là tác động tích cực rất quan trọng mà các DN FDI có thể tạo ra cho nền kinh tế của nước nhận đầu tư nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước nói riêng. Dưới áp lực bị gia tăng cạnh tranh và phải chống đỡ cạnh tranh, các DN xuất khẩu trong nước buộc phải hoạt động hiệu quả hơn và phải cải tiến hoặc áp dụng công nghệ mới sớm hơn (Kokko, A., 1994 và 1996). Do đó, FDI có thể dẫn tới cải thiện năng lực sản xuất khẩu của các DN trong nước, từ đó, làm tăng xuất khẩu của nước nhận đầu tư.

DN FDI có lợi thế là vượt qua rào cản tiềm ẩn khi thâm nhập một thị trường

31

mới. Những thuận lợi về vốn, tài chính, R&D và sự độc quyền công nghệ đã là tăng cạnh tranh trong nền kinh tế của nước chủ nhà, đặc biệt là trong hoạt động xuất khẩu (Gorg, Holger & Eric Strobl, 2001). Tăng cạnh tranh sẽ làm cho một lực lượng lớn các DN xuất khẩu nội địa hoạt động kém hiệu quả buộc phải đầu tư vào vốn con người và nguồn lực bổ sung, nhằm nâng cao năng suất để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp FDI. Sự thâm nhập của các DN FDI có thể phá vỡ cấu trúc thị trường độc quyền không hiệu quả của một số DN trong nước. Ngoài ra, nếu môi trường cạnh tranh ở nước sở tại là rất cao, các DN FDI cũng phải đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và giữ thị phần. Do đó, tác động lan toả tích cực của dòng vốn này sẽ tăng lên (Đào Văn Thanh, 2013).

Chính bởi những áp lực cạnh trên, các DN trong nước nói chung và các DN xuất khẩu nói riêng buộc phải đầu tư cải tiến, nâng cấp công nghệ, gia tăng chuyên môn hoá sản xuất, đầu tư đào tạo nguồn nhân lực để có thể cạnh tranh và xuất khẩu sản phẩm do sự xuất hiện của các DN FDI tại thị trường nước nhận đầu tư (Karpaty & Lundberg, 2004; Haskel & cộng sự, 2007; Buckley & cộng sự, 2007; Hamida, 2011). Như vậy, sự có mặt của các DN FDI tạo tác động lan toả tích cực tới các DN xuất khẩu nội địa, góp phần cải thiện năng lực xuất khẩu của các DN này, từ đó làm tăng KNXK của nước nhận đầu tư.

Thứ hai, FDI có thể tác động tiêu cực đến các DN trong nước, mà tác động này có thể đủ lớn để triệt tiêu những tác động tràn tích cực của FDI (Aitken & Harrison, 1999).

Sự có mặt của các DN FDI với những lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, bí quyết quản lý… có thể chia sẻ hoặc lấy mất thị trường của các DN trong nước, gồm cả thị trường đầu vào và đầu ra: (i) áp lực các nguồn lực đầu vào cho sản xuất, trở nên khan khiếm hơn đối với các DN trong nước do phải chia sẻ với các DN FDI; (ii) áp lực về đầu ra cho sản phẩm, trở nên khó khăn hơn cho các DN trong nước do phải chia sẻ thị trường cả nội địa và xuất khẩu với các DN FDI (Nguyễn Bích Ngọc, 2016). Đồng thời, với sự xuất hiện của các DN FDI với trình độ công nghệ cao hơn, thị trường sẽ xuất hiện thêm phân khúc thị trường có nhu cầu về sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao (technology-intensive product) và sản phẩm có hàm lượng chất xám cao (brain-intensive product) nên áp lực cạnh tranh càng lớn hơn đối với các DN trong nước. Khi sức ép cạnh tranh quá lớn, các DN xuất khẩu trong nước không thể đứng vững được trong lĩnh vực mà họ đang tham gia, họ buộc phải cắt giảm sản xuất, phải thay đổi kế hoạch kinh doanh và thậm chí phải rời bỏ thị trường hoặc chuyển sang lĩnh vực kinh doanh mới. Vì vậy, trong cùng một ngành công nghiệp, hầu hết các DN xuất khẩu nội địa sẽ gặp bất lợi trong cạnh tranh với các DN FDI (Aitken & Harrison, 1999).

32

Như vậy, áp lực cạnh tranh được tạo ra bởi các DN FDI đối với các DN xuất khẩu nội địa vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực đến KNXK của nước nhận đầu tư.

(2) Kênh CGCN và hoạt động R&D

Công nghệ là yếu tố quyết định khả năng phát triển và tốc độ sản xuất hàng hoá của mọi quốc gia, do đó nâng cao trình độ công nghệ là một trong những tiêu chí hàng đầu nhằm phát triển hoạt động sản xuất, đặc biệt là hoạt động sản xuất xuất khẩu. Tuy nhiên, để nâng cao trình độ công nghệ của một quốc gia không những cần nhiều vốn mà còn đòi hỏi một trình độ phát triển nhất định. Do vậy, đây là một yêu cầu tương đối khó đối với các quốc gia đang phát triển với quy mô vốn nhỏ và trình độ phát triển thấp. FDI chính là một nguồn vốn đầu tư quan trọng để nâng cao trình độ công nghệ của các nước này với những lợi ích lớn mà họ được nhận thông qua việc CGCN và các hoạt động R&D của các DN FDI.

Thứ nhất, kênh CGCN từ các DN FDI thông qua liên kết sản xuất

CGCN là một kênh tác động tràn tích cực của FDI tới xuất khẩu của nước nhận đầu tư. Đây là một tác động rất được mong đợi đối với các nước nhận đầu tư nói chung và các DN xuất khẩu trong nước nói riêng, đặc biệt là tại các nước đang phát triển, nơi mà trình độ công nghệ còn lạc hậu. Khác với CGCN thuần tuý, trong CGCN qua FDI, các chủ thể (bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao) trực tiếp tham gia quản lý và sử dụng công nghệ được chuyển giao nên đều chịu tác động của quá trình chuyển giao đó. Hoạt động CGCN qua FDI được thực hiện nhiều nhất bởi các DN FDI và đối tác tiếp nhận nhiều nhất là các doanh nghiệp trong nước ở các nước đang phát triển. CGCN qua FDI là giải pháp ít tốn kém, phù hợp với nguồn vốn hạn chế của các quốc gia đang phát triển.

Bên cạnh vốn, các DN FDI còn mang đến công nghệ sản xuất, kỹ năng, trình độ quản lý tiên tiến… mà các DN trong nước có thể tiếp nhận thông qua kênh CGCN. Việc liên kết sản xuất và kinh doanh giữa các DN trong nước với các DN FDI góp phần làm gia tăng xuất khẩu của các DN này do học hỏi được trong quá trình liên kết với các DN FDI. Đồng thời, lao động tại các DN này cũng được đào tạo các kỹ năng để có thể sản xuất và xuất khẩu hàng hoá đạt tiêu chuẩn của các DN FDI (Gorg & Greenaway, 2004).

Mức độ liên kết giữa các DN trong cùng một ngành tăng sẽ làm gia tăng CGCN giữa các DN trong ngành đó do DN FDI phải phối hợp và hướng dẫn các DN khác trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu theo các tiêu chuẩn và quy trình của mình [78]. Quá trình học hỏi giúp các DN nội địa cải tiến được công nghệ sản xuất hàng hoá xuất khẩu của chính mình, từ đó có thể nâng cao được khả năng xuất khẩu của các DN nội địa, từ đó làm tăng KNXK của toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, mức độ lan toả và chuyển giao công nghệ từ các DN FDI sang các DN nội địa còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực hấp thụ và tiếp thu của chính các DN này.

33

CGCN qua FDI có 3 loại: (i) CGCN trong nội bộ DN là hình thái CGCN giữa các MNCs với công ty con tại nước ngoài, tức DN FDI; (ii) CGCN giữa DN FDI và DN nội địa hoạt động trong cùng ngành nghề (chuyển giao ngang); (iii) chuyển giao hàng dọc giữa các DN, trong đó DN FDI CGCN sang các DN nội địa sản xuất các sản phẩm trung gian cung cấp cho DN FDI, hoặc trường hợp DN trong nước dùng sản phẩm của DN FDI để sản xuất ra thành phẩm cuối cùng [28]. Trong cả hai trường hợp (ii) và (iii), công nghệ được chuyển giao từ DN FDI sang DN trong nước, đây là tác động tràn rất tích cực, rất quan trọng nên được các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm. Các DN trong nước nói chung và các DN xuất khẩu nói riêng khi nhận được CGCN từ các DN FDI với trình độ tiên tiến hiện đại hơn sẽ có thể nâng cao được năng suất, chất lượng sản phẩm, từ đó có cơ hội và giá trị xuất khẩu cao hơn, làm tăng tổng KNXK cả nước.

Thứ hai, hoạt động R&D của các DN FDI

Một hoạt động khác có thể kích thích tác động tích cực thông qua CGCN là việc thực hiện có hiệu quả hoạt động R&D mà các DN FDI tiến hành ở các nước sở tại. Hoạt động R&D của các DN FDI thường rất chuyên sâu nhưng hầu hết đều tập trung ở các công ty mẹ. Do đó, các tác động tràn từ R&D thường được tạo ra từ bên ngoài của nước nhận đầu tư và được đưa vào nước nhận đầu tư thông qua hoạt động FDI (Blomstrom & cộng sự, 1999). Bên cạnh đó, các DN FDI lớn có thể tiến hành các hoạt động R&D tại nước tiếp nhận đầu tư. Cả hai trường hợp đều có tác động lan toả tích cực về công nghệ tới các DN xuất khẩu trong nước, góp phần nâng cao khả năng sản xuất xuất khẩu của các DN này, từ đó nâng cao KNXK của nước nhận đầu tư.

(3) Kênh di chuyển lao động và chuyển giao tri thức

Thứ nhất, các DN trong nước có thể tiếp cận và nhận chuyển giao tri thức từ các DN FDI do có sự di chuyển lao động từ các DN FDI sang các DN này. Tác động này xuất hiện khi những lao động được đào tạo và làm việc tại các DN FDI có thể chuyển đến làm việc cho các DN trong nước hoặc tự thành lập DN mới. Di chuyển lao động cũng là một kênh tác động quan trọng của FDI tới các DN trong nước nói chung và các DN xuất khẩu nói riêng. Lý thuyết việc làm đã dự đoán tác động tích cực của sự hiện diện của các DN FDI đến năng suất của các DN trong nước thông qua các kênh di chuyển lao động (Kaufmann, 1997; Fosfuri & cộng sự, 2001; Glass & Saggi, 2002). Những lao động này mang đến DN mới nơi họ làm việc những kiến thức và kinh nghiệm về sản xuất hàng xuất khẩu của các DN FDI nơi mà họ từng làm việc trước đó. Việc vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm về sản xuất hàng hoá xuất khẩu của nguồn lực di chuyển này sẽ tạo điều kiện để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực sản xuất xuất khẩu trong nước, từ đó giúp cải thiện năng lực xuất khẩu của các DN trong nước, và qua đó cải thiện năng lực xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế.

34

Thứ hai, sự di chuyển lao động không phải chỉ diễn ra một chiều từ các DN FDI sang các DN trong nước mà còn có chiều ngược lại. Một bộ phận lao động sau một thời gian tích luỹ kinh nghiệm khi làm việc trong các DN trong nước có thể chuyển tới làm việc cho các DN FDI. Các DN FDI có thể thu hút người lao động tốt từ các DN trong nước bằng cách đáp ứng mức lương cao hơn (Sinani & Meyer, 2004). Đây là hiện tượng chảy máu chất xám của các DN trong nước. Hiện tượng này có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN trong nước. Tuy nhiên, các ảnh hưởng của di chuyển lao động đối với hiệu quả của DN trong nước là khó đánh giá (Saggi, 2002).

b. Tác động của FDI tới kim ngạch nhập khẩu

b1. Kênh tác động trực tiếp

FDI có tác động trực tiếp tới KNNK của nước nhận đầu tư thông qua các kênh sau: (1) thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá của chính các DN FDI; (2) DN FDI nhập khẩu thiết bị, công nghệ, đầu vào sản xuất mà trong nước chưa đáp ứng được; (3) DN FDI nhập khẩu sản phẩm CNHT mà trong nước chưa sản xuất được. Như vậy, thông qua các kênh tác động trực tiếp, FDI vừa có thể làm tăng vừa có thể làm giảm nhập khẩu ở nước nhận đầu tư.

(1) Thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá của chính các DN FDI

Đây là tác động tích cực của FDI tới KNNK của nước nhận đầu tư. Penelope Pacheco (2005) chỉ ra rằng FDI được thu hút vào nước sở tại để sản xuất những hàng hoá mà nước đó phải nhập khẩu. Nói cách khác, FDI sẽ làm giảm nhập khẩu tại nước nhận đầu tư nhờ thay thế hàng nhập khẩu bằng chính hàng hoá được sản xuất bởi các DN FDI. Nếu FDI tập trung vào thay thế nhập khẩu các ngành công nghiệp, FDI có tác động tích cực đến nhập khẩu vì hàng hóa là nhập khẩu trước đó sẽ được sản xuất tại nước sở tại bởi chính các DN FDI (Jayakumar & cộng sự, 2014).

Các DN FDI thường hoạt động trong nhiều lĩnh vực, do đó hàng hoá và dịch vụ mà các DN này cung cấp cũng rất phong phú và đa dạng, có thể đáp ứng được hầu hết mọi nhu cầu của người tiêu dùng. Khi chưa có sự xuất hiện của các DN FDI, nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển, có thể ph.ải. n.h.ập kh.ẩu. m.ột số m.ặt hàng do tron.g. n.ước. c.h.ưa. có khả năng sản xuất. Cùng với sự xuất hiện của các DN FDI, nhập khẩu của nước nhận đầu tư sẽ giảm do hàng hoá phải nhập khẩu trước đây có thể được thay thế bằng hàng hoá do chính các DN FDI sản xuất. Đây là một tác động tích cực của FDI tới nhập khẩu, giúp làm giảm KNNK và cải thiện CCTM ở nước nhận đầu tư.

(2) DN FDI nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ, đầu vào sản xuất

Kênh tác động trực tiếp này của FDI lại làm tăng KNNK của nước nhận đầu tư. FD.I. là m.ột h.ìn.h. th.ức. d.i. c.h.u.yển. n.g.u.ồn. lực. g.i.ữa. c.ác. qu.ốc. g.i.a.. C.ác. n.g.u.ồn. lực. n.ày kh.ôn.g.

35

c.h.ỉ tồn. tại. d.ưới. d.ạn.g. ti.ền. tệ m.à c.òn. là n.h.ữn.g. m.áy m.óc. th.i.ết b.ị c.ôn.g. n.g.h.ệ, n.g.u.yên. phụ li.ệu. đầu vào sản xuất m.à n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. c.h.u.yển. vào n.ước. n.h.ận. đầu. tư để ti.ến. h.àn.h. sản. xu.ất ki.n.h. d.oa.n.h.. Vi.ệc. d.i. c.h.u.yển. n.h.ữn.g. n.g.u.ồn. lực. sản. xu.ất n.ày vào n.ước. n.h.ận. đầu. tư đồn.g. n.g.h.ĩa. với. vi.ệc. n.ước. nhận đầu tư sẽ n.h.ập kh.ẩu. n.h.ữn.g. h.àn.g. h.óa. n.ày. N.h.ư vậy, c.ùn.g. với. sự g.i.a. tăn.g. FD.I., KNNK. c.ủa. n.ước. nhận đầu tư c.ũn.g. tăn.g. lên..

Ngay sau khi các MNC thành lập ở nước sở tại, họ sẽ nhập một số loại đầu vào nhất định (thường là những linh kiện cơ bản và hàng hoá trung gian được sản xuất tại trụ sở chính ở nước đầu tư) để đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng theo yêu cầu của thị trường quốc tế. Do đó, dòng vốn FDI làm tăng nhu cầu nhập khẩu (Penelope, 2005; Jayakumar & cộng sự, 2014). Chani & cộng sự (2014) cũng đã chỉ ra rằng FDI có thể làm tăng nhập khẩu đầu vào sản xuất vì phần lớn đầu vào sản xuất của các ngành công nghiệp dịch vụ đều liên quan đến công nghệ cao mà các nước nhận đầu tư chưa sản xuất được, phải phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu. Do đó, trong dài hạn, dòng FDI từ những nước cung cấp đầu vào cho nước nhận đầu tư thường hấp dẫn và được tập trung thu hút hơn. Theo Khan & cộng sự (2018), tồn tại mối quan hệ dương giữa dòng FDI và nhập khẩu ở nước nhận đầu tư trong ngắn hạn. Trong ngắn hạn, FDI sẽ làm tăng nhập khẩu ở nước nhận đầu tư và ngược lại (Nakamura, 2002; Tabassum & cộng sự, 2012). FDI tìm kiếm hiệu quả nhập khẩu từ bên ngoài vào nước nhận đầu tư (Muhammad & cộng sự, 2014; Selma, 2013).

Ở c.ác. n.ước. đa.n.g. ph.át tri.ển. c.òn. ở trìn.h. độ c.ôn.g. n.g.h.ệ th.ấp, tác. độn.g. n.ày kh.á lớn. d.o n.h.à đầu. tư h.ầu. n.h.ư sẽ ph.ải. n.h.ập toàn. b.ộ d.ây c.h.u.yền. sản. xu.ất và n.g.u.yên. li.ệu. b.ởi. nguồn cung trong nước chưa đáp ứng được.. FDI làm tăng KNNK của nước nhận đầu tư thực chất là do sự gia tăng nhập khẩu của khu vực FDI. Các DN FDI, đặc biệt là các DN sản xuất và kinh doanh hàng hoá liên quan đến công nghệ, khi mới vào thường phải nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, thậm chí là nguồn nhân lực chất lượng cao do ở trong nước chưa sản xuất và đáp ứng được. N.h.ư vậy, c.ùn.g. với. sự g.i.a. tăn.g. FD.I., KNNK của khu vực FDI cũng tăng và do đó KNNK của nước nhận đầu tư c.ũn.g. tăn.g. lên..

(3) DN FDI nhập khẩu các sản phẩm CNHT trong nước chưa sản xuất được

CNHT có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, nó trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, giúp tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa quốc gia. Ở tầm vĩ mô, phát triển CNHT giúp giảm nhập khẩu đầu vào sản xuất, qua đó hạn chế các căng thẳng về thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế (nhất là CCTM) cũng như ngoại tệ đối với những nước phải nhập khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu khi thu hút FDI, các nước nhận đầu tư đặc biệt là các nước đang phát triển, thường chưa thể sản xuất được các sản phẩm CNHT phù hợp với yêu cầu của các DN FDI. Vì vậy, các DN FDI phải nhập khẩu từ chính quốc hoặc từ các nước khác để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này làm tăng KNNK của khu vực FDI và do đó làm tăng tổng KNNK của nước nhận đầu tư.

36

b2. Kênh tác động gián tiếp

FDI có thể tác động tích cực, làm giảm KNNK của nước nhận đầu tư thông qua

các kênh tác động gián tiếp sau:

(1) Tác động tràn thông qua các liên kết ngược giữa DN FDI và DN nội địa

làm tăng khả năng cung cấp đầu vào sản xuất của các nhà cung cấp trong nước

Các liên kết ngược được định nghĩa là mối liên kết giữa các DN FDI và các nhà cung cấp đầu vào hoặc nguyên liệu thô. Tác động tràn này có thể xảy ra thông qua một số cơ chế. Thứ nhất, lợi ích năng xuất của các DN trong nước nhận được từ việc CGCN trực tiếp hoặc hỗ trợ công nghệ của các MNCs. Bằng cách này, các DN FDI có thể khuyến khích đổi mới và nâng cao chất lượng của các nhà cung cấp trong nước. Thứ hai, các DN trong nước buộc phải đạt yêu cầu về chất lượng sản phẩm và thời gian giao hàng của các MNCs, do đó khuyến khích các nhà cung cấp trong nước cải thiện quá trình sản xuất, công nghệ và phương pháp giao hàng (Javorcik, 2004). FDI có thể góp phần cải tiến công nghệ của các nhà cung cấp trong nước hoặc thúc đẩy sự phát triển của các nhà cung cấp tiềm năng bằng cách cung cấp hỗ trợ kỹ thuật hoặc hỗ trợ các nhà cung cấp này (World Bank, 1997). Như vậy, thông qua các liên kết ngược, FDI góp phần thúc đẩy sự phát triển của các nhà cung cấp trong nước, giảm nhập khẩu đầu vào cho nước nhận đầu tư.

Bên cạnh đó, nhờ tác. độn.g. lan toả c.ủa. CGCN và chuyển giao tri thức từ các DN FDI, trìn.h. độ sản. xu.ất c.ủa. c.ác. DN nội địa. sẽ được. c.ải. th.i.ện., ti.ến. tới. tự sản. xu.ất được. .máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu đầu vào, thậm chí là có thể cải tiến và tạo ra công nghệ mới mà trước đây ph.ải. n.h.ập kh.ẩu.. Tác động này của FDI sẽ làm giảm KNNK của nước nhận đầu tư. Đây là tác động tích cực quan trọng và rất được mong đợi của FDI tới nhập khẩu nói riêng và hoạt động xuất nhập khẩu nói chung ở nước nhận đầu tư.

(2) Kênh thu hút thêm các DN FDI vệ tinh, phát triển ngành CNHT trong nước

Tự chủ về công nghệ và đầu vào sản xuất giúp các nước có thể chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao được năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, có cơ hội và điều kiện để lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng và từ đó có thể phát huy tối đa những tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu cũng như nền kinh tế đất nước. Tự chủ về công nghệ và đầu vào sản xuất cũng giúp các nước có thể nâng cao tỷ lệ nội địa hoá và giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu của mình, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu theo hướng tích cực và cải thiện CCTM.

Khi các DN FDI di chuyển hoạt động sản xuất hàng hoá toàn cầu sẽ kéo theo chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN này di chuyển theo. Sự có mặt của các DN FDI có thể kéo theo sự xuất hiện của các DN FDI vệ tinh tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư. Đó có thể là các DN trong nước, các DN FDI khác -

37

các DN sản xuất vệ tinh theo các DN FDI vào thị trường của nước nhận đầu tư (Nguyễn Bích Ngọc, 2017).

2.1.3.2. Kênh truyền dẫn tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

Thực tế cho thấy, hầu hết các DN vệ tinh là các nhà sản xuất cung ứng sản phẩm trung gian cho quá trình sản xuất hàng hoá, phần lớn thuộc các ngành CNHT. Sự xuất hiện của các DN FDI vệ tinh này cung cấp các sản phẩm CNHT mà trước đây phải nhập khẩu cho cả các DN FDI và các DN xuất khẩu nội địa, góp phần hạn chế phải nhập khẩu các sản phẩm CNHT từ bên ngoài, từ đó làm giảm KNNK của khu vực FDI và cả nước, đồng thời cũng làm tăng giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hoá cho hàng hoá xuất khẩu của nước nhận đầu tư (Zhang & Liu, 2008). Đây cũng là một tác động tích cực rất được kỳ vọng của FDI tới nhập khẩu của nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển với sự phát triển của các ngành CNHT trong nước còn ở trình độ thấp.

a. Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu

Có thể nói, tác động của FDI tới việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu ở nước nhận đầu tư thể hiện ở việc thu hút FDI để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng nâng cao chất lượng của cơ cấu hàng xuất khẩu ở nước này. Theo Mayer & Wood (2001), chất lượng của rổ hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia được xác định bằng tỷ trọng của xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng lao động cao (labour-intensive products) và các mặt hàng có hàm lượng vốn cao (capital - intensive products) trong tổng xuất khẩu hàng hóa của quốc gia đó (Mayer & Adrian, 2001). FDI có thể tác động tới việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu ở nước nhận đầu tư theo hướng nâng cao chất lượng, thể hiện:

Thứ nhất, tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế, các mặt hàng có hàm

lượng công nghệ chất xám cao

FDI có thể làm tăng chất lượng rổ hàng hoá xuất khẩu của nước nhận đầu tư thông qua việc làm tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế, các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao trong rổ hàng hoá xuất khẩu của quốc gia đó [9]. Tác động này làm tăng chất lượng xuất khẩu ở nước nhận đầu tư vì đây là các mặt hàng có giá trị gia tăng cao và mang lại lợi ích trong dài hạn khi mà các mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều nguồn lực tự nhiên (lao động phổ thông, tài nguyên thiên nhiên…) bị mất dần lợi thế. Điều này có nghĩa là cần tăng cường thu hút đầu tư vào công nghệ sản xuất, chế biến các mặt hàng mà FDI chính là nguồn vốn với lợi thế về công nghệ, trình độ quản lý và kinh nghiệm mở rộng thị trường (Bùi Thuý Vân, 2011).

38

Dòng FDI vào các lĩnh vực chế biến chế tạo và lĩnh vực công nghệ cao ở nước nhận đầu tư sẽ có tác động nâng cao năng lực xuất khẩu của các DN trong các ngành này, từ đó làm tăng quy mô xuất khẩu của các ngành này ở nước nhận đầu tư do (1) bản thân các DN FDI trong các ngành này thực hiện hoạt động sản xuất xuất khẩu hoặc/và (2) tác động lan toả về công nghệ và tri thức từ các DN FDI góp phần thúc đẩy xuất khẩu của các DN nội địa trong các ngành này ở nước sở tại. Như vậy, nhờ sự xuất hiện của dòng vốn FDI trong các lĩnh vực chế biến chế tạo và công nghệ cao, quy mô xuất khẩu của các ngành này sẽ tăng, và do đó tỷ trọng các mặt hàng chế biến, chế biến sâu, các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật công nghệ và chất xám cao trong tổng KNXK của nước nhận đầu tư cũng sẽ tăng lên (Nguyễn Bích Ngọc, 2017).

N.h.ìn. vào h.ướn.g. c.h.u.yển. d.ịc.h. c.ơ c.ấu. h.àn.g. h.óa. xu.ất kh.ẩu. c.ủa. c.ác. n.ước. đa.n.g. ph.át tri.ển. c.ó th.ể th.ấy rõ h.ơn. đi.ều. n.ày. H.ầu. h.ết c.ác. n.ước. đa.n.g. ph.át tri.ển. đều. trải. qu.a. 3. g.i.a.i. đoạn…: Giai đoạn 1: Ngành nông nghiệp c.òn. c.h.i.ếm. vị trí c.h.ủ đạo, sản. ph.ẩm. th.ô và sơ c.h.ế c.h.i.ếm. g.ần. n.h.ư toàn. b.ộ KNXK.; Giai đoạn 2: N.h.ờ sự ph.át tri.ển. c.ủa. ngành c.ôn.g. n.g.h.i.ệp c.h.ế b.i.ến. c.h.ế tạo, sản. ph.ẩm. th.ô d.ần. n.h.ườn.g. c.h.ỗ c.h.o. n.h.óm. h.àn.g. c.ôn.g. n.g.h.i.ệp c.h.ế b.i.ến. c.h.ế tạo n.h.ư h.àn.g. d.ệt, qu.ần. áo, m.áy m.óc., th.i.ết b.ị c.ôn.g. n.g.h.i.ệp… trong cơ cấu hàng xuất khẩu; Giai đoạn 3: C.ác. n.ước. n.ày đạt được. trìn.h. độ c.ôn.g. n.g.h.ệ c.a.o, c.h.ú trọn.g. tới. xu.ất kh.ẩu. m.áy m.óc. th.i.ết b.ị c.ôn.g. n.g.h.i.ệp, đặc. b.i.ệt là th.i.ết b.ị đi.ện. tử, vi.ễn. th.ôn.g, những sản phẩm có hàm lượng công nghệ chất xám cao..

Th.ực. tế c.h.o th.ấy, sự c.h.u.yển. d.ịc.h. c.ơ c.ấu. h.àn.g.. xu.ất kh.ẩu. c.ủa. c.ác. n.ước. đa.n.g. ph.át tri.ển. trong mỗi giai đoạn. h.a.y sự c.h.u.yển. đổi. từ g.i.a.i. đoạn. n.ày sa.n.g. g.i.a.i. đoạn. ti.ếp th.e.o n.h.a.n.h. h.a.y c.h.ậm. c.h.ịu. tác. độn.g. lớn. c.ủa. nguồn vốn FDI.. FD.I. vào m.ột n.ước. c.ó c.ơ c.ấu. n.h.ư th.ế n.ào (về n.g.àn.h., về trìn.h. độ c.ôn.g. n.g.h.ệ c.ủa. chủ đầu tư, về m.ục. đíc.h. đầu. tư…) sẽ c.ó tín.h. qu.yết địn.h. tươn.g. đối. đến. c.ơ c.ấu. h.àn.g. xu.ất kh.ẩu. của nước đó. Những tác động này có thể nhận thấy rõ nhất ở hoạt động xuất khẩu của các nước đã thành công trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI như Trung Quốc và Hàn Quốc. So với các nước có cùng điểm xuất phát, hai nước này đã nhanh chóng loại bỏ cơ cấu hàng xuất khẩu ở giai đoạn 1 để chuyển sang giai đoạn 2. Thời gian dừng lại ở giai đoạn 2 của hai nước này cũng ngắn hơn so với các nước khác và nhanh chóng chuyển sang giai đoạn 3. Đóng góp vào thành tựu xuất khẩu của các nước này, bên cạnh chiến lược xuất nhập khẩu, chiến lược và định hướng thu hút FDI đã có vai trò vô cùng quan trọng (Zhang & Liu, 2008).

Thứ hai, việc tập trung FDI phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các mặt hàng mặt hàng chế biến - tinh chế, các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao sẽ mang lại giá trị gia tăng cao

Đây là một tác động rất tích cực và quan trọng của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất

39

khẩu mà các nước tiếp nhận FDI đều mong muốn có được để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững cho hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên, việc nâng cao giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu là không đơn giản vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, đặc biệt là các chi phí trung gian. Chi phí trung gian sẽ dẫn đến giá thành của hàng hoá xuất khẩu cao, điều này không những ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu mà còn làm giảm giá trị gia tăng mang lại từ hàng hoá xuất khẩu đó.

Theo Bùi Thuý Vân (2011), VA của hàng hoá xuất khẩu có thể tăng là do: (i) số lượng của hàng hoá xuất khẩu tăng; (ii) giá của hàng hoá xuất khẩu tăng; (iii) giá mua vào của các hàng hoá trung gian (đầu vào cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu) giảm. Các trường hợp làm tăng VA của hàng hoá xuất khẩu được mô tả trong bảng 2.1.

Bảng 2.1: Các trường hợp tăng VA của hàng hoá xuất khẩu

(Giả định các yếu tố khác không đổi)

Nguyên nhân chủ yếu

Khả năng xảy ra

Trường hợp tăng VA

Do nhu cầu của thị trường tăng

Số lượng của hàng hoá xuất khẩu tăng

- Cũng chỉ tăng có giới hạn trong một thời gian nhất định chứ không thể tăng mãi và mức độ rủi ro cũng rất cao

- Do biến động tăng của thị trường

- Có thể có nhưng không bền vững

Giá của hàng hoá xuất khẩu tăng

- Do tăng hàm lượng chế biến của sản phẩm, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm

- Chắc chắn và bền vững hơn vì (đương nhiên một sản phẩm đã chế biến sẽ có giá bán cao hơn những sản phẩm cùng loại mà xuất thô hoặc sơ chế và sản phẩm có chất lượng cao hơn thì giá bán sẽ cao hơn

- Do biến động của thị trường

- Khó xảy ra do xu hướng tăng lên của giá cả thị trường thế giới vối với nguyên vật liệu vào và tình trạng ngày càng khan hiếm và cạn kiệt tài nguyên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới

Giá mua vào của các hàng hoá trung gian (đầu vào cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu) giảm

- Khả năng xảy ra cao hơn nếu ngành CNHT trong nước phát triển, đặc biệt đối với các ngành hàng là mục tiêu thúc đẩy cho xuất khẩu.

- Do hàng hoá trung gian đầu vào được cung cấp ngay ở thị trường trong nước nên giảm các chi phí liên quan như vận tải, thuế nhập khẩu, bảo hiểm, nguyên liệu, nhân công… thay vì phải nhập khẩu từ nước ngoài.

Nguồn: Bùi Thuý Vân (trang 31) và bổ sung của tác giả

40

b. Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá nhập khẩu

Thứ nhất, tăng tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất trong cơ cấu hàng nhập khẩu

FDI có tác động trực tiếp tới cơ cấu hàng nhập khẩu của nước nhận đầu tư theo hướng tăng tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất thông qua kênh nhập khẩu máy móc, thiết bị và các nguyên phụ liệu đầu vào sản xuất của các DN FDI. Thực tế này xảy ra ở hầu hết các nước nhận đầu tư trong thời kỳ đầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Hầu hết các DN FDI đều phải nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu đầu vào sản xuất từ bên ngoài do trong nước chưa đáp ứng được (Chani & cộng sự, 2014; Jayakumar & cộng sự, 2014; Khan & cộng sự, 2018; Penelope Pacheco, 2005; Tabassum & cộng sự, 2012). Điều này làm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của nước nhận đầu tư. Sự tác động này được cho là tích cực bởi chiều hướng chuyển dịch làm tăng tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất và do đó giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng trong cơ cấu hàng nhập khẩu ở nước nhận đầu tư.

Bên cạnh đó, nếu các DN FDI quyết định đầu tư sản xuất các mặt hàng công nghệ cao để xuất khẩu sang các nước khác (khá phổ biến ở các DN FDI), sẽ dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu hàng nhập khẩu của nước nhận đầu tư. Để phục vụ cho nhu cầu sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, các DN FDI phải nhập khẩu công nghệ cần thiết (do trong nước chưa sản xuất được), điều này cũng làm cho tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất trong tổng KNNK của nước nhận đầu tư tăng (Muhammad Albahi, 2016; Nakamura, 2002; Selma, 2013).

Thứ hai, giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng trong cơ cấu hàng nhập khẩu

Ở hầu hết các nước nhận đầu tư, khi chưa. c.ó sự xuất hiện của các DN FD.I., hàng tiêu dùng sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng KNNK do nhiều mặt hàng tiêu dùng trong nước chưa sản xuất được. Khi có sự tham gia của các DN FDI, thay vì nhập khẩu, các nước này sẽ tiêu dùng hàng hoá được sản xuất tại nước mình bởi chính các DN FDI (Đào Văn Thanh, 2013; Đặng Quý Dương, 2014). Như vậy, FDI có tác động trực tiếp tới cơ cấu hàng nhập khẩu của nước nhận đầu tư, làm giảm tỷ trọng hàng tiêu dùng thông qua kênh thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hoá được sản xuất bởi chính các DN FDI tại nước nhận đầu tư.

Thêm vào đó, thông qua kênh CGCN và tri thức từ FDI sang khu vực kinh tế trong nước, các DN trong nước cũng có thể sản xuất được những mặt hàng tiêu dùng mà trước đây phải nhập khẩu. Như vậy, FDI có tác động làm giảm tỷ trọng hàng tiêu dùng trong cơ cấu hàng nhập khẩu. Đây là một tác động rất tích cực của FDI tới chất lượng cơ cấu hàng hoác nhập khẩu của nước nhận đầu tư.

41

Thứ ba, thay đổi tỷ trọng các sản phẩm CNHT trong cơ cấu hàng nhập khẩu

Trong thời kỳ đầu khi mới thu hút FDI, các nước nhận đầu tư hầu như phải nhập khẩu các sản phẩm CNHT để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN FDI do trong nước chưa sản xuất được. Đây là một tác động tiêu cực tới chất lượng của cơ cấu hàng nhập khẩu, làm giảm giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hoá hàng xuất khẩu của nước nhận đầu tư.

2.1.3.3. Kênh truyền dẫn tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

Tuy nhiên trong dài hạn, các DN FDI có thể sẽ thu hút thêm các DN FDI vệ tinh sản xuất các sản phẩm CNHT. Thêm vào đó, nhờ tác động lan toả tích cực về công nghệ và tri thức, ngành CNHT trong nước phát triển, các DN trong nước cũng có thể sản xuất và cung ứng các sản phẩm CNHT. Tác động này sẽ làm giảm tỷ trọng các sản phẩm CNHT trong cơ cấu hàng nhập khẩu. Đây là một tác động tích cực rất được mong đợi của FDI vì nó làm tăng chất lượng xuất nhập khẩu của nước nhận đầu tư (Bùi Thuý Vân, 2011; Đào Văn Thanh, 2013; Nguyễn Bích Ngọc, 2017).

a. Tác động tới phạm vi thị trường xuất nhập khẩu

FDI có thể mở rộng phạm vi thị trường xuất nhập khẩu của nước nhận đầu tư thông qua các kênh: (1) FDI có khả năng thúc đẩy thương mại quốc tế giữa nước nhận đầu tư và các nước chủ đầu tư; (2) mạng lưới phân phối của các TNCs; (2) kênh thông tin thị trường xuất nhập khẩu.

Thứ nhất, FD.I. c.ó kh.ả n.ăn.g. th.úc. đẩy th.ươn.g. m.ại. quốc tế g.i.ữa. nước nhận đầu tư

và các n.ước. c.h.ủ đầu. tư

Hầu hết các nước chủ đầu tư đều trở thành đối tác thương mại của nước nhận đầu tư do những ràng buộc về đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nước nhận đầu tư phải nhập khẩu đầu vào cho quá trình sản xuất của DN FDI do trong nước chưa đáp ứng được. Thêm vào đó, nhà đầu tư sẽ tận dụng các lợi thế tại nước nhận đầu tư để sản xuất hàng hoá và xuất khẩu ngược trở lại chính quốc do chi phí sản xuất đắt đỏ trong nước. Do đó, càng có nhiều nhà đầu tư thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nước thì phạm vi thị trường xuất nhập khẩu của nước đó càng được mở rộng (WTO, 1996). Như vậy, FDI có khả năng thúc đẩy thương mại quốc tế giữa nước nhận đầu tư và các nước chủ đầu tư.

Thứ hai, thông qua mạng lưới phân phối của các TNCs

N.h.ìn. c.h.u.n.g,. FD.I. g.i.úp m.ở rộn.g. ph.ạm. vi. thị trường xuất nhập khẩu c.ủa. n.ước. n.h.ận. đầu. tư, n.h.ất là th.ị trườn.g. xu.ất kh.ẩu. b.ởi. xu. h.ướn.g. ph.át tri.ển. c.ủa. FD.I. tron.g. g.i.a.i. đoạn. n.ày đa.n.g. là FD.I. h.ướn.g. về xu.ất kh.ẩu.. Ngoài mục tiêu là thị trường nước nhận đầu tư, FDI hiện nay còn có mục tiêu là xuất khẩu sang thị trường nước đi đầu tư và đặc biệt là thị trường các nước thứ ba (Lionel Fontagné, 1999; Nguyễn Bích Ngọc,

42

2017). Th.ôn.g. qu.a. FD.I., h.àn.g. h.óa. c.ủa. c.ác. n.ước. nhận đầu tư c.ó th.ể th.âm. n.h.ập d.ễ d.àn.g. h.ơn. vào th.ị trườn.g. th.ế g.i.ới. b.ởi. b.ên. c.ạn.h. c.ác. lợi. th.ế về vốn. và c.ôn.g. n.g.h.ệ, c.ác. DN n.ước. n.g.oài. đã c.ó m.ột m.ạn.g. lưới. th.ị trườn.g. rộn.g. lớn.. H.àn.g. h.óa. c.ủa. nước nhận đầu tư. c.ó th.ể qu.a. m.ạn.g. lưới. n.ày xâm. n.h.ập vào c.ả n.h.ữn.g. th.ị trườn.g. kh.ó tín.h., đòi. h.ỏi. kh.ắt kh.e. về c.h.ất lượn.g. h.àn.g. h.óa. n.h.ư kh.u. vực. th.ị trườn.g. c.ác. n.ước. ph.át tri.ển. g.ồm. M.ỹ, N.h.ật B.ản., E.U.…

Thứ hai, kênh thông tin thị trường xuất nhập khẩu

Theo Aitken & cộng sự (1997), DN FDI thường có mặt ở nhiều quốc gia và hoạt động theo mạng lưới phân phối của các TNCs. Do đó, chính các DN FDI sẽ là người cung cấp tốt nhất và nhanh nhất các thông tin về thị trường xuất khẩu ở nước ngoài, về khách hàng nước ngoài, về các kênh phân phối hàng hoá trên thị trường nước ngoài… Thông qua liên kết sản xuất và kinh doanh với các DN FDI, các DN xuất khẩu trong nước sẽ có cơ hội có được những thông tin về thị trường nước xuất khẩu và từ đó có thể tiếp cận được với các thị trường xuất khẩu.

Như vậy, FDI không chỉ giúp mở rộng phạm vi thị trường xuất nhập khẩu, thị phần cho các DN trong nước mà còn giúp mở rộng phạm vi thương mại quốc tế của nước nhận đầu tư. Mặt khác, việc tiếp cận thị trường xuất khẩu thông qua liên kết sản xuất và kinh doanh với các DN FDI sẽ làm giảm chi phí nghiên cứu và thâm nhập thị trường xuất khẩu của các DN xuất khẩu trong nước, từ đó làm tăng hiệu quả và giá trị xuất khẩu của các DN này và cuối cùng sẽ lan toả làm tăng giá trị xuất khẩu của cả nước (Greenaway & cộng sự, 2004; Nguyễn & Anwar, 2011).

b. Tác động tới cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu

Thị trường xuất nhập khẩu chủ lực của một quốc gia có thể sẽ thay đổi thông qua sự thay đổi của cơ cấu nhà đầu tư FDI tại quốc gia này. Thông thường, các nhà đầu tư sẽ trở thành những đối tác thương mại của nước nhận đầu tư (WTO, 1996). Thực tế ở nhiều nước cho thấy, quy mô đầu tư càng lớn thì giá trị thương mại song phương giữa nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư cũng sẽ càng lớn. Các nhà đầu tư lớn sẽ trở thành những đối tác thương mại chủ lực và chiến lược thay cho những đối tác truyền thống của nước nhận đầu tư. Như vậy, FDI có tác động làm thay đổi cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu chủ lực của nước nhận đầu tư.

2.2. Kinh nghiệm quốc tế trong việc tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư

2.2.1. Kinh nghiệm của các nước

Tác giả luận án lựa chọn hai quốc gia đó là Trung Quốc và Thái Lan để nghiên cứu về kinh nghiệm trong việc tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu. Tác giả luận án lựa chọn Trung Quốc và Thái Lan để

43

2.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

nghiên cứu vì hai quốc gia này đều nằm ở Châu Á, có nhiều nét tương đồng về kinh tế, về văn hoá xã hội với Việt Nam. Bên cạnh đó, xuất phát điểm của hai nền kinh tế này khi bắt đầu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng khá tương đồng với Việt Nam. Do đó, nghiên cứu kinh nghiệm từ hai quốc gia này sẽ giúp tác giả rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích và phù hợp với Việt Nam trong việc tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu.

Trung Quốc là một trong những quốc gia thành công trong việc thu hút FDI cho quá trình CNH-HĐH đất nước. Từ đầu những năm 1980, Trung Quốc đã xuất hiện trong danh sách 10 nước đang phát triển đứng đầu thế giới về thu hút FDI. Trong thời kỳ đầu cải cách mở cửa, Trung Quốc thành lập 4 đặc khu kinh tế, mở cửa 14 thành phố ven biển, đẩy mạnh thu hút vốn và kỹ thuật của nước ngoài với những ưu đãi về thuế, đất đai và lao động… Trong giai đoạn này, FDI của Trung Quốc chủ yếu đầu tư vào các ngành gia công, chế tạo, sử dụng nhiều lao động. Sau khi gia nhập WTO vào cuối năm 2001, chính sách thu hút FDI của Trung quốc có sự điều chỉnh phù hợp với các quy định của WTO với việc từng bước mở cửa thu hút FDI vào các ngành dịch vụ, bất động sản, tiền tệ… Trong giai đoạn 2010-2020. Trung quốc nêu rõ quan điểm thu hút FDI vào các ngành kỹ thuật cao, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Trung Quốc cũng tiến hành sửa đổi bổ sung “Danh mục hướng dẫn ngành nghề đầu tư nước ngoài”, đồng thời cho phép chính quyền địa phương phê chuẩn dự án đầu tư từ 100 triệu USD đến 300 triệu USD. Kinh nghiệm tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu của Trung Quốc thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, ưu tiên thu hút FDI định hướng xuất khẩu vào ngành công nghiệp điện tử

Với việc cải cách chính sách đáng kể, nguồn nhân lực dồi dào, chi phí lao động thấp và thị trường khổng lồ, ngành công nghiệp điện tử của Trung Quốc đã hấp dẫn rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài với những khoản đầu tư rất lớn để xây dựng nền tảng về công nghệ và hạ tầng cho việc sản xuất và phát triển các sản phẩm điện tử để xuất khẩu. Bằng việc kích thích tốt tác động của FDI tới xuất khẩu của ngành công nghiệp điện tử, Trung Quốc đã trở thành nước xuất khẩu sản phẩm điện tử số 1 thế giới. Để kích thích tác động của FDI tới xuất khẩu của ngành công nghiệp điện tử, Trung Quốc đã tận dụng những lợi ích từ việc chuyển giao công nghệ và tri thức bằng việc liên doanh liên kết với các hãng điện tử lớn trên thế giới như HP, IBM, Digital, Toshiba, Samsung… Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của

44

IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL- Thompson Electronics, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy. Qua thời gian, Trung quốc đã xây dựng và phát triển được các thương hiệu riêng và xuất khẩu rất lớn ra thị trường thế giới.

Thứ hai, chú trọng phát triển ngành CNHT, đặc biệt là CNHT phục vụ xuất

khẩu ngay khi bắt đầu thu hút FDI

Để trở thành cường quốc điện tử, xuất khẩu sản phẩm điện tử số 1 thế giới, Chính phủ Trung Quốc đã chú trọng phát triển CNHT. CNHT phục vụ ngành công nghiệp điện tử của Trung Quốc đã nghiên cứu và sản xuất được các phụ tùng linh kiện nhựa, kim loại, nguyên vật liệu bao bì đóng gói, vỏ thùng máy... Việc thiết lập được một mạng lưới cung cấp khép kín không những làm tăng tỷ lệ nội địa, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh của các DN Trung Quốc mà còn hấp dẫn được các nhà đầu tư nước ngoài, thu hút được một lượng khổng lồ vốn FDI vào ngành công nghiệp điện tử và các ngành công nghiệp khác. Sự phát triển lớn mạnh của ngành CNHT điện tử là tiền đề quan trọng giúp Trung Quốc có thể thu hút FDI vào ngành công nghiệp điện tử, đồng thời giúp tăng giá trị xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu của ngành này. Để trở thành cường quốc điện tử, ngay từ khi mới xây dựng, Chính phủ Trung Quốc đã chú trọng phát triển CNHT trên nền tảng các ngành chế tạo khuôn mẫu, rèn, đúc, ép nhựa… với hàng triệu lao động tay nghề cao, hàng ngành doanh nghiệp CNHT rất phát triển. Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN FDI trong ngành, đồng thời giảm nhập khẩu sản phẩm CNHT, nâng cao giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu. Đây là một trong những bài học thành công của Trung Quốc trong việc tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu.

Thứ ba, đặc biệt chú trọng đến công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho

hoạt động sản xuất của các ngành có định hướng xuất khẩu

Chính phủ Trung Quốc cũng rất chú trọng đến công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho các ngành có định hướng xuất khẩu. Điều này giúp đội ngũ người lao động ở Trung Quốc có thể nhanh chóng tiếp cận được với công nghệ và tri thức mới cũng như các thị trường xuất khẩu từ các DN FDI. Từ đó nâng cao khả năng xuất khẩu của ngành điện tử nói riêng và xuất khẩu của cả nền kinh tế Trung Quốc nói chung.

Thứ tư, ưu đãi về thuế và lãi suất vay vốn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nội địa, chú trọng phát triển xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước song song với thu hút FDI

Các chính sách ưu đãi về thuế, vay vốn lãi xuất thấp có thể giúp các doanh

45

2.2.1.2. Kinh nghiệm của Thái Lan

nghiệp sản xuất xuất khẩu nội địa của Trung Quốc có thể giảm chi phí sản xuất kinh doanh, đồng thời tăng được lượng vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ nguồn nhân lực… giúp gia tăng khả năng xuất khẩu cho các doanh nghiệp nội địa, từ đó tăng giá trị nhập khẩu đồng thời giảm nhẩp khẩu của Trung Quốc.

FDI luôn được coi là một trong những nhân tố kích thích quan trọng đối với nền kinh tế Thái Lan. Chính phủ Thái Lan ngay từ khi bắt đầu thu hút FDI đã xây dựng một chính sách ưu đãi để vừa có thể tăng cường thu hút nguồn vốn này vừa có thể phát huy được lợi thế của nguồn vốn này. Ngay từ giai đoạn 1959 - 1971, Thái Lan đã thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế thay thế hàng nhập khẩu. Thái Lan đã sớm có chủ trương giảm dần đầu tư từ Chính phủ, khuyến khích đầu tư tư nhân. Năm 1959, Thái Lan đã thành lập Bộ Đầu tư và năm 1960 đã ban hành Đạo Luật đầu tư. Giai đoạn 1972 - 1996, Bộ Đầu tư Thái Lan đã ban hành chính sách thu hút chuyên gia, lao động chất lượng cao từ bên ngoài với những ưu đãi về đất, việc làm để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu. Từ năm 2005, chính sách thu hút FDI của Thái Lan có sự chuyển biến theo hướng đầu tư chọn lọc với chính sách ưu tiên các nhà đầu tư trong nước trong việc hỗ trợ phát triển các loại hình dịch vụ phi sản xuất và các loại hình dịch vụ tài chính. Để có thể tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu và đạt được những thành tực đáng kể như hiện nay, Thái Lan đã thực hiện các biện pháp hiệu quả sau:

Thứ nhất, thực hiện chính sách phát triển kinh tế tạo nền tảng xuất khẩu tốt

trước khi thu hút FDI

Thái Lan đã rất chú trọng tới việc tạo nền tảng tốt cho hoạt động xuất khẩu để dòng FDI có thể phát huy tối đa được tác động lan toả tích cực tới xuất khẩu của nước này. Vì vậy, song song với việc xây dựng chính sách thu hút FDI, ưu tiên thu hút FDI có định hướng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu, Thái Lan đã thực hiện chính sách phát triển kinh tế trong nước để có thể tạo nên một nền tảng xuất khẩu tốt. Cụ thể: (1) CNHT phát triển, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất xuất khẩu các DN FDI, mặt khác góp phần hạn chế nhập khẩu các sản phẩm CNHT (điều xảy ra ở hầu hết các nước nhận đầu tư) và tăng tỷ lệ nội địa và giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu của Thái Lan; (2) Nguồn nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản phục vụ cho hoạt động sản xuất xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN FDI. Đồng thời, cũng giúp cho các DN FDI thực hiện hiệu quả hoạt động R&D tại Thái Lan. Đây là điều kiện tiên quyết giúp cải thiện năng suất lao động và nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu của Thái Lan, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh

46

của hàng hoá Thái Lan trên thị trường xuất khẩu. Đây cũng là điều kiện giúp cho Thái Lan thu hút được những dự án FDI công nghệ cao vào nước này; (3) Các doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp CNHT phục vụ xuất khẩu được ưu tiên về vốn. Vốn là tiền đề quan trọng để các doanh nghiệp có điều kiện đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, tiếp cận thị trường xuất khẩu, từ đó có thể nâng cao khả năng xuất khẩu và cải thiện kết quả xuất khẩu; (4) Cơ sở hạ tầng phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nội địa cũng như các DN FDI. Sự phát triển đồng bộ từ hệ thống giao thông vận tải, hệ thống ngân hàng, hệ thống thông tin liên lạc, các dịch vụ logistics… giúp hàng hoá của Thái Lan dễ dàng tiếp cận khách hàng nước ngoài đồng thời cũng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào Thái Lan; (5) Môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch là điều kiện hấp dẫn để thu hút nhà đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu. Môi trường kinh doanh có ý nghĩa quan trọng và mang tính quyết định tới thành công của Thái Lan trong việc tận dụng FDI làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất xuất khẩu trong nước.

Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa việc phát triển sản xuất xuất khẩu trong nước

với chính sách thu hút và điều chỉnh FDI

Kinh nghiệm của Thái Lan là sự kết hợp chặt chẽ giữa việc phát triển sản xuất

xuất khẩu trong nước với chính sách thu hút và điều chỉnh FDI để dòng vốn FDI phát huy tối đa tác dụng trong việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá xuất khẩu của Thái Lan. Đặc trưng cơ bản về quản lý kinh tế của Chính phủ Thái Lan là rất xem trọng khu vực kinh

tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Tăng cường thu hút FDI nhưng vẫn chú trọng và tập trung phát triển kinh tế của khu vực tư nhân. Đây là một trong những bài học thành công của Thái Lan trong việc phát huy vai trò của dòng vốn FDI để thúc đẩy phát triển khu vực

kinh tế tư nhân trong nước. Từ một nền kinh tế nông nghiệp, Thái Lan đã trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu chủ chốt của thế giới. Hiện nay, Thái Lan là nhà sản xuất ô tô lớn nhất khu vực ASEAN và đang hướng đến top 10 trên toàn cầu. Rất nhiều

các hãng ô tô lớn trên thế giới đã đặt nhà máy tại Thái Lan như Ford, General Motors, BMV, Mitsubishi, Mazda, Toyota, Nissan, Honda, Yamaha, Suzuki, Isuzu… Không chỉ công nghiệp ô tô, công nghiệp điện tử của Thái Lan cũng rất phát triển. Thái Lan hiện là nhà sản xuất ổ cứng lớn thứ hai thế giới, cung cấp tới 40% sản lượng cho thế giới chỉ sau Trung Quốc.

Thứ ba, vai trò điều tiết của Chính phủ Thái Lan trong việc hướng FDI tác

động tích cực tới triển xuất khẩu

Ngay từ khi mới bắt đầu thu hút FDI, Chính phủ Thái Lan đã có chính sách

47

chọn lọc FDI theo hướng phát triển kinh tế hướng đến xuất khẩu. Việc thu hút và sử

dụng FDI luôn được kiểm soát và điều chỉnh để không chệch hướng mục điêu đã đặt ra ban đầu. Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan đã đặc biệt coi trọng việc phát triển ngành CNHT, việc đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn. Chính phủ Thái Lan cũng đã ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng từ hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống sân bay, cảng biển, hệ thống ngân hàng tài chính và bảo hiểm… tạo nền tảng tốt cho hoạt động xuất khẩu. Môi trường đầu tư kinh doanh cũng đã được Chính phủ Thái Lan

coi trọng cải thiện, minh bạch hoá và tạo các điều kiện tốt nhất cho hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.

Với những biện pháp hiệu quả làm trên, Thái Lan đã rất thành công trong việc kích

thích tác động lan toả tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu, trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu lớn nhất trong khu vực và trên thế giới.

2.2.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua nghiên cứu thực tiễn về tăng cường tác động tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu của Trung Quốc và Thái Lan - là những quốc gia khá tương đồng với Việt Nam về điều kiện sản xuất, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

Một là, phát triển ngành CNHT trong nước

CNHT trong nước phát triển sẽ tạo điều kiện thu hút FDI. Đồng thời, CNHT trong nước phát triển cũng tạo điều kiện để các DN FDI và các DN nội địa liên kết

với nhau trong sản xuất và thương mại, từ đó giảm nhập khẩu đầu vào cho các DN FDI và tăng giá trị nội địa cho hàng hoá xuất khẩu. Đây là một bài học kinh nghiệm lớn cho Việt Nam.

Hai là, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao

Nguồn nhân lực có chất lượng cao sẽ giúp cho các DN FDI cũng như các DN nội địa nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao tính cạnh trạnh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế, dẫn tới nâng cao

khả năng xuất khẩu. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực có chất lượng cao sẽ giúp các DN nội địa có thể tiếp cận nhanh hơn và hấp thụ tốt hơn công nghệ và tri thức khi liên kết sản xuất và kinh doanh với các DN FDI, từ đó nâng cao năng lực sản xuất xuất khẩu của các DN trong nước, đồng thời giảm nhập khẩu từ nước ngoài.

Nghiên cứu thực tiễn trường hợp của Trung Quốc và Thái Lan đã thấy rõ bài học kinh nghiệm này.

48

Ba là, khuyến khích các DN FDI liên kết chặt chẽ với các DN nội địa

Việc liên kết chặt chẽ giữa DN FDI và DN nội địa là tiền đề cơ bản để nước nhận đầu tư có thể tiếp cận và hấp thụ được công nghệ và tri thức từ các DN FDI. Thái Lan đã cho thấy sự thành công trong việc tận dụng FDI như một đòn bẩy kích thích sự phát triển công nghệ của các DN nội địa thông qua việc bắt buộc tỷ lệ nội địa hoá nhất định đối với hàng hoá xuất khẩu. Điều này buộc các DN FDI và các DN nội địa phải liên kết với nhau trong sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Đây là một bài học kinh nghiệm lớn cho Việt Nam nếu muốn nâng cao giá trị nội địa của hàng hoá xuất khẩu.

Bốn là, phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng

Cả Trung Quốc và Thái Lan đều rất chú trọng tới việc phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng để thu hút FDI cũng như tạo tiền đề để phát huy tối đa tác động của nguồn vốn này tới hoạt động xuất nhập khẩu. Bài học ở hai nước cho thấy, cơ sở hạ tầng phát triển giúp các quốc gia thu hút mạnh mẽ nguồn vốn FDI đồng thời giúp cắt giảm chi phí vận chuyển, giao dịch quốc tế trong hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.

Năm là, lựa chọn công nghệ và đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài

Công nghệ hiện đại, tiên tiến sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho nước nhận đầu tư so với công nghệ thấp và lạc hậu. Đối tác đầu tư đến từ những nền kinh tế phát triển, có công nghệ nguồn sẽ tạo điều kiện tăng cường những tác động tràn tích cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư thông qua CGCN và chuyển giao tri thức. Do đó, việc xác định nguồn công nghệ và đối tác đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với nước nhận đầu tư trong việc tăng cường những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư. Đây cũng được coi như một bài học cho Việt Nam trong việc lựa chọn nguồn công nghệ và xác định đối tác chiến lược trong thu hút FDI.

Sáu là, điều tiết và định hướng dòng FDI vào Việt Nam theo mục tiêu phát triển

kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể

Thái Lan đã cho thấy sự thành công trong việc điều tiết và định hướng dòng FDI theo mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn thông qua các chính sách thu hút và sử dụng FDI rất hợp lý và phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Việc lựa chọn cũng như điều tiết dòng FDI theo các mục tiêu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn phát triển cụ thể sẽ giúp nước nhận đầu tư phát huy được tốt nhất những tác động tích cực của FDI tới phát triển kinh tế nói chung và phát triển hoạt động xuất khẩu nói riêng bởi vì mỗi quốc gia đều có những mục tiêu phát triển khác nhau theo từng thời kỳ,

49

từng giai đoạn phát triển khác nhau. Đây là một bài học kinh nghiệm rất hữu ích đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Bảy là, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và minh bạch

Một môi trường kinh doanh thuận lợi và minh bạch luôn tạo ra sức hút rất lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời, cũng giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu được thực hiện một cách dễ dàng hơn. Cả hai nước Trung Quốc và Thái Lan đều ý thức rõ được vấn đề này. Họ đã tiến hành cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư trong nước từ rất sớm. Điều này đã góp phần quan trọng trong việc thu hút FDI và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu ở cả hai quốc gia này.

2.3. Đề xuất khung nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam

2.3.1. Khung nghiên cứu về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam

Trực tiếp

DN FDI thực hiện hoạt động sản xuất XK

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở các nước nhận đầu tư, tác giả mô hình hoá và đề xuất khung nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong hình 2.1 và 2.2.

KNXK

FDI

Tạo áp lực cạnh tranh đối với các DN XK nội địa

Cơ cấu hàng XK

Xuất khẩu

Chuyển giao công nghệ và hoạt động R&D

Chuyển giao tri thức và di chuyển lao động

Thị trường XK

Thông tin thị trường XK

Gián tiếp

Hình 2.1: Khung nghiên cứu về tác động của FDI tới xuất khẩu ở Việt Nam

Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất

Trực tiếp

50

Thay thế nhập khẩu bằng hàng hoá của các DN FDI

KNNK

DN FDI nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ, đầu vào sản xuất

DN FDI nhập khẩu sản phẩm CNHT trong nước chưa sản xuất được

Cơ cấu hàng NK

FDI

Nhập khẩu

Thị trường NK

Liên kết ngược giữa DN FDI và DN trong nước làm tăng khả năng cung cấp đầu vào sản xuất của các DN nội địa

Thu hút thêm DN FDI vệ tinh vào phát triển ngành CNHT trong nước

Gián tiếp

Hình 2.2: Khung nghiên cứu về tác động của FDI tới nhập khẩu ở Việt Nam

Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất

2.3.2. Đề xuất mô hình đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam

Mục tiêu luận án là đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam

trên cả ba khía cạnh: (1) tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu; (2) tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu; (3) tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và số liệu, trong phần phân tích định lượng, tác giả chỉ xây dựng khung nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam nhằm minh chứng một phần cho những kết quả thu được từ phân tích định tính. Đây là một hạn chế của nghiên cứu, tác giả kỳ vọng sẽ hoàn thiện ở những nghiên cứu mà tác giả sẽ thực hiện tiếp theo.

2.3.2.1. Mô hình đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam

51

Mô hình trọng lực (Gravity model) vốn được sử dụng trong vật lý học, để giải thích cho lực hấp dẫn giữa các vật thể. Tuy nhiên, mô hình này đã được biến đổi và áp dụng vào kinh tế để đánh giá tác động của các dòng đầu tư quốc tế tới hoạt động xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự phù hợp của mô hình trọng lực trong việc đánh giá tác động này như Anderson (1979), Bergstrand (1985), Jing Xiao (2009). Và cũng có nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng mô hình này để đánh giá tác động của FDI tới KNXK ở nước nhận đầu tư như Timbergen (1962), Poyhonen (1963), Linnemann (1966), Erdem & Nazlioglu (2008). Theo đó, phương trình của mô hình trọng lực gốc được viết dưới dạng:

Yγk Nξk Nεk dµk Uijk Mijk =ααααkYβk

Trong đó:

• Mijk là lượng vốn hoặc giá trị các yếu tố phục vụ cho sản xuất thứ k được

chuyển từ quốc gia i đến quốc gia j

• Yi và Yj là tổng thu nhập quốc dân của quốc gia i và j • Ni và Nj là dân số của quốc gia i và quốc gia j (biến số này có được thay đổi

thành các số liệu khác cho phù hợp với mục đích nghiên cứu)

• Dij là khoảng cách địa lý giữa quốc gia i và quốc gia j • Uijk là logarit của sai số với E(lnUijk) = 0

Mô hình trọng lực thường sử dụng dạng logarit cho các biến (ngoại trừ biến giả) bởi lẽ nó xuất phát từ hàm sản xuất hàng hoá. Theo đó, các biến số này thường có xu hướng phân phối xác suất có hình dáng lệch phải nên cần logarit số liệu để hàm phân phối xác suất có dạng gần giống với phân phối chuẩn hơn. Theo Bergstrand (1985) thì “hàm logarit của các biến trong mô hình trọng lực giải thích rằng dòng vốn từ quốc gia i tới quốc gia j ảnh hưởng bởi cả 2 yếu tố: quy mô của thị trường quốc gia i và quy mô thị trường quốc gia j. Trong các nghiên cứu khác nhau, tuỳ bối cảnh của quốc gia nghiên cứu, các yếu ảnh hưởng đến độ mạnh-yếu của tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở quốc gia nhận đầu tư sẽ khác nhau. Các tác giả có thể đưa vào hoặc bỏ bớt một số biến độc lập để phù hợp với phạm vi nghiên cứu của mình. Ngoài ra, quy mô nền kinh tế (thường đo lường thông qua dân số và GDP) được nghiên cứu gộp lại thành GDP bình quân đầu người để làm cho mô hình đơn giản, bớt cồng kềnh hơn mà vẫn đảm bảo đại diện được cho ý nghĩa về độ lớn của các nền kinh tế.

52

Mô hình trọng lực được áp dụng để đánh giá tác động của FDI tới cả KNXK và KNNK vì cả hai hoạt động này đều được xây dựng dựa trên cùng hàm cầu (cầu xuất khẩu và cầu nhập khẩu). Trong luận án này, tác giả tập trung xem xét mối quan hệ giữa FDI với KNXK và KNNK thông qua tương quan thương mại và đầu tư song phương lẫn đa phương. Cụ thể, tác động đa phương tức là tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018 sẽ được trình bày trong phần phân tích định tính thông qua các bảng, biểu, đồ thị. Tác động song phương được nghiên cứu dựa trên số liệu của Việt Nam và 10 đối tác thương mại - đầu tư lớn nhất của Việt Nam tính đến hết năm 2016. Tác động song phương này được xây dựng dựa trên thực tế rằng có một tương quan giữa FDI song phương với hoạt động xuất-nhập khẩu song phương. Cụ thể, khi Việt Nam nhận FDI từ quốc gia A thì sẽ có xu hướng nhập khẩu trang thiết bị máy móc từ chính quốc gia đó, điều này khiến cho tác động của FDI đến KNNK của Việt Nam có thể mang dấu dương. Tuy nhiên, vì nhà máy của quốc gia A đã sản xuất tại Việt Nam nên nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu từ nước A sẽ giảm xuống, điều này khiến cho tác động của FDI tới nhập khẩu có thể mang dấu âm. Tuỳ tình hình của từng quốc gia mà ảnh hưởng nào sẽ mạnh hơn dẫn đến dấu của tác động trên cũng không thống nhất trong các nghiên cứu tiền nhiệm mà tác giả đã tham khảo. Tương tự như vậy với tác động của FDI tới KNXK luôn tồn tại cả hai xu hướng tác động thuận chiều và nghịch chiều. Mô hình định lượng trong luận án này đi tìm câu trả lời dựa trên số liệu được thu thập tại Việt Nam và nó phản ánh tình hình của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu của số liệu.

Trong nghiên cứu này, tác giả đã kế thừa từ mô hình trọng lực có biến đổi của Magalhaes & Africano (2007), Zhang & Li (2007), Zhang & Song (2000), Jing Xiao (2009) và có điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh của Việt Nam. Đối với Việt Nam, tác giả cho rằng cầu xuất khẩu và nhập khẩu đều chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các yếu tố: (1) vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI thực hiện); (2) GDP bình quân đầu người của Việt Nam; (3) GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác; (4) khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và quốc gia đối tác; (5) tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và đồng tiền của quốc gia đối tác. Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam như sau:

Ln(EXPit) = β0 + β1ln(FDIit) + β2ln(GDPPCit) + β3ln(VNGDPPCt) + β4ln(RERit)

+ β5(Distancei) + it0

Ln(IMPit) = β0 + β1ln(FDIit) + β2ln(GDPPCit) + β3ln(VNGDPPCt) + β4ln(RERit)

+ β5(Distancei)+ it0

Trong đó:

• EXPit: KNXK của Việt Nam vào quốc gia đối tác i trong năm t

53

• IMPit: KNNK của Việt Nam từ quốc gia đối tác i trong năm t • FDIit: Vốn FDI thực hiện tại Việt Nam của quốc gia đối tác i trong năm t • GDPPCit: Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người của quốc gia đối tác

i trong năm t

• VNGDPPCt: Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người của Việt Nam trong

năm t

• Distancei: Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và quốc gia đối tác i • RERit: Tỷ giá hối đoái giữa đồng VND và đồng tiền của quốc gia đối tác i

trong năm t

• it0: Sai số

2.3.2.2. Mô tả các biến trong mô hình

Khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút FDI và hoạt động xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư, tác giả nhận thấy rằng mức độ hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng tới cả việc thu hút FDI và hoạt động xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư. Vì vậy, tác giả luận án mong muốn đánh giá được sự ảnh hưởng của mức độ hội nhập kinh tế quốc tế đến tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007 đánh dấu sự hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu rộng và toàn diện nhất. Theo nhận định của tác giả, việc gia nhập WTO làm thay đổi mức độ tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam, và làm giảm mức độ tác động của các biến độc lập khác như GDP bình quân đầu người, khoảng cách địa lý và tỷ giá hối đoái. Do đó, tác giả sẽ tiến hành ước lượng sự tác động của FDI và các biến độc lập khác tới KNXK và KNNK ở Việt Nam trong hai giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO (giai đoạn 1995-2006 và giai đoạn 2007-2016) để chứng minh cho nhận định này.

Mô hình trọng lực ban đầu được xây dựng để lý giải cho nguyên nhân vì sao lại xuất hiện quan hệ thương mại giữa song phương giữa các quốc gia (Breuss & Egger, 1997). Ý tưởng về mô hình này được lấy từ lý thuyết lực hấp dẫn của Newton. Theo đó, lực hấp dẫn sẽ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như trọng lực (thể hiện qua khối lượng) và khoảng cách giữa hai vật E=MC2. Áp dụng vào trong mô hình kinh tế để đánh giá tương lực của quan hệ thương mại giữa hai quốc gia sẽ ảnh hưởng bởi các yếu tố như độ lớn của nền kinh tế (quy mô thị trường, dân số, tổng thu nhập quốc nội,…) và khoảng cách (sẽ được đo lường thông qua các con số như khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển hoặc chi phí chuyển đổi tiền tệ…).

Nhiều nhà kinh tế học đã phát triển thêm mô hình trọng lực này để giải thích tương quan giữa nhiều yếu tố trong kinh tế học và cuộc sống như Greenaway (2002) khi nói về khả năng thu hút khách du lịch tại các quốc gia châu Âu hay Borrmann,

54

Keller (2005) khi đánh giá mối quan hệ giữa Đức với các quốc gia Trung Âu. Theo đó, nhiều nhà nghiên cứu đã dùng nó để đánh giá mối quan hệ giữa FDI và thương mại quốc tế giữa các quốc gia (Africano, 2004; Egger, 2000; Breton, 2002).

Biến FDI là một trong những nhân tố quan trọng, nó đại diện cho quy mô trong mô hình trọng lực. Khi thống kê, người ta thường dùng hai số liệu về FDI là FDI đăng ký và FDI thực hiện. Trong luận văn này, tác giả sử dụng số liệu về FDI thực hiện. Bởi lẽ, FDI thực hiện mới phải ánh chính xác lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực tế mà Việt Nam hấp thụ được. Thực tế cho thấy rất nhiều các nhà đầu tư sau một thời gian không hoàn thiện được quá nhiều các thủ tục giấy tờ hành chính nên đã rút lui (trong những năm gần đây tình trạng này đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là khi luật đầu tư 2014 ra đời tạo ra môi trường đầu tư khá thông thoáng).

Biến GDPPC và VNGDPPC được sử dụng để so sánh quy mô nền kinh tế giữa Việt Nam với quốc gia đối tác i. Theo đó, nếu quy mô của 2 nền kinh tế càng lớn thì lực hấp dẫn giữa các quốc gia này là càng lớn. Điều này được chứng minh qua việc hơn 70% luồng vốn FDI và thương mại quốc tế song phương được di chuyển qua lại giữa các quốc gia phát triển, có sức mạnh kinh tế tương đương nhau. Có một số nghiên cứu sử dụng các biến như quy mô dân số hoặc GDP bình quân đầu người để tính toán. Trong luận án, tác giả lựa chọn GDP bình quân đầu người của Việt Nam và các quốc gia đối tác để đại diện cho biến quy mô dân số và GDP của Việt Nam và của các quốc gia đối tác.

Biến khoảng cách địa lý (Distance) là một trong hai biến quan trọng trong mô hình. Nhiều nghiên cứu sử dụng những số liệu khác nhau để đo lường khoảng cách này như: (1) khoảng cách giữa hai cảng lớn nhất của hai quốc gia; (2) Khoảng cách giữa thủ đô của hai quốc gia; (3) khoảng cách hàng không giữa hai quốc gia. Tuỳ sự sẵn có về mặt số liệu mà các nghiên cứu sẽ sử dụng số liệu khác nhau nhưng về bản chất thì chúng đều đo khoảng cách giữa hai quốc gia nghiên cứu. Trong luận án, tác giả sử dụng khoảng cách giữa hai thủ đô của hai quốc gia nghiên cứu. Theo đó, khoảng cách giữa Việt Nam với quốc gia đó đại diện cho chi phí vận chuyển hàng hoá tương ứng.

Biến tỷ giá hối đoái (RER) là một biến được nhiều nghiên cứu đưa vào như một biến đại diện cho sự sai khác về khoảng cách giữa các quốc gia (ở đây khoảng cách được hiểu là khoảng cách về giá cả hàng hoá) (Egger and Peter, 2000; Evenett and Simon, 2002). Khi tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam với đồng tiền của quốc gia khác tăng giá nghĩa rằng 1 đồng Việt Nam có thể đổi được nhiều đồng ngoại tệ của quốc gia đó. Điều này khiến cho hàng hoá của Việt Nam sẽ đắt hơn tương đối so với quá khứ khi bán tại thị trường quốc gia đó. Điều này có thể khiến cho hàng hoá Việt Nam mất đi lợi thế cạnh tranh về giá và khiến lượng xuất khẩu giảm đi. Tuy nhiên, nếu đồng

55

2.3.2.3. Phương pháp kiểm định và ước lượng

a. Phương pháp kiểm định

Việt Nam tăng giá đồng nghĩa với việc hàng hoá nhập khẩu sẽ rẻ đi tương đối. Do vậy, lượng hàng hoá nhập khẩu từ quốc gia/vùng lãnh thổ i vào Việt Nam cũng sẽ tăng lên.

Đối với số liệu mảng, các nghiên cứu trước thường sử dụng 2 phương pháp bao gồm: (i) mô hình ước lượng tác động cố định (FEM); (ii) mô hình ước lượng tác động ngẫu nhiên (REM). Tuỳ theo đặc trưng của từng bộ số liệu của từng nước mà phương pháp ước lượng này sẽ hiệu quả hơn phương pháp kia. Luận án sử dụng kiểm định Hausman để chọn ra mô hình ước lượng hiệu quả hơn.

Nếu giả thuyết mô hình là mô hình tác động cố định và ước lượng mô hình

bằng phương pháp LSDV thì sẽ tìm được véc tơ b là ước lượng của véc tơ β.

Nếu giả thuyết mô hình là mô hình tác động ngẫu nhiên và ước lượng mô hình

ˆβ] ta có Var[b -

ˆβ] = Var[ b] + Var[

ˆβ] - 2Cov[ b,

bằng phương pháp GLS thì ta tìm được véc tơ

ˆβ là ước lượng của véc tơ β. ˆβ] ˆβ] - Var[

ˆβ] = Cov[ b,

ˆβ] = 0

Xét véc tơ [b -

ˆH = Var[b -

ˆβ), ˆβ]

Hausman đã chứng minh được: Cov[ (b - ˆβ] = Var[ b] - Var[ Đặt

Ta cần kiểm định cặp giả thuyết:

H0: Mô hình phù hợp là mô hình tác động ngẫu nhiên

-1ˆH [b -

ˆβ] ~

2( kχ − 1)

2χ = [b -

H1: Mô hình phù hợp là mô hình tác động cố định

ˆβ]’ Khi đó với số liệu mẫu cụ thể và với mức ý nghĩa α cho trước mà

1)

χ

χ>

2 q s

2 ( kα

Wald đã chứng minh được:

b. Phương pháp ước lượng

thì ta bác bỏ H0.

Tác giả áp dụng mô hình hồi quy OLS với số liệu mảng bởi những ưu điểm của

loại số liệu và phương pháp này trong phân tích bộ số liệu vĩ mô dạng thứ cấp.

Thứ nhất, giải quyết vấn đề thiếu hụt quan sát. Bởi lẽ, số liệu mảng xem xét cả không gian và thời gian của số liệu nên có thể đảm bảo rằng số lượng quan sát tối thiểu lớn hơn 30, đủ cho các thủ tục kiểm định.

Thứ hai, số liệu mảng cung cấp một cái nhìn toàn diện khi phân tích không chỉ quy mô, biến động mà còn cả cơ cấu của các biến độc lập và biến phụ thuộc của mô hình. Điều này cũng giúp cho những phân tích định tính trở nên rõ ràng hơn.

2.3.2.4. Số liệu nghiên cứu

a. Thống kê mô tả số liệu

56

Luận án sử dụng mô hình số liệu mảng (panel data) để đánh giá tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam. Tính đến thời điểm 2018, Việt Nam đã có mối quan hệ thương mại với khoảng 200 quốc gia trên thế giới (GSO, 2018). Trong đó có khoảng 70 quốc gia có giá trị kim ngạch song phương đạt trên 100 triệu USD. Tuy

nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả xem xét 10 quốc gia có lượng FDI và thương mại song phương lớn nhất với Việt Nam, bao gồm: Maylaysia, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ và Úc. Việc giới hạn phạm vi nghiên cứu này bởi lý do: 10 quốc gia này chiếm hơn 90% lượng vốn FDI vào Việt

Nam và hơn 80% giá trị thương mại song phương của Việt Nam với thế giới. Do vậy, việc xem xét 10 quốc gia cũng đảm bảo tính đại diện và không khiến cho số lượng số liệu thu thập quá lớn gây cản trở cho nghiên cứu. Số liệu được thu thập trong giai đoạn

1992-2016. Tất cả số liệu được liệt kê ở trên về KNXK, KNNK, FDI, GDP... đều được tính bằng đơn vị USD và lấy giá tham chiếu năm 2000 để loại bỏ yếu tố trượt giá.

Số liệu cụ thể của nghiên cứu được tác giả liệt kê trong Phụ lục 1, Phụ lục 2 và được thống kê trong Phụ lục 3. Bảng 2.2 dưới đây là tóm tắt thống kê mô tả số liệu (số

lượng quan sát, trung bình, sai số chuẩn, tối đa, tối thiểu) của các biến số của mô hình nghiên cứu của luận án.

Bảng 2.2: Thống kê mô tả số liệu

Biến Số quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Tối thiểu Tối đa

KNXK 220 4507.241 7594.644 61.5 50018.8

KNNK 220 3498.497 5526.98 9.1 38449.7

FDI 220 53497.53 87186.18 2396.91 506161

GDPPC VNGDPPC Distance 220 220 220 0.024349 0.0009741 3485.016 0.0188921 0.0006528 3726.694 0.0006201 0.0555242 0.0002768 0.0021922 13813.37 808.89

RER 220 5096.752 6232.215 9.467427 21935

Nguồn: Thống kê mô tả số liệu nghiên cứu của tác giả

Số lượng quan sát của nghiên cứu là 220, phù hợp và đủ lớn để có thể tiến hành các bước phân tích tiếp theo. Các số liệu thống kê khác cũng không có gì bất thường và đều có thể sử dụng trong các phân tích thống kê có liên quan. Sau khi phân tích sơ bộ về thống kê mô tả của các biến số, tác giả tiến hành lấy logarit cơ số tự nhiên (ln) của các biến số. Sở dĩ nghiên cứu làm điều này vì hai nguyên nhân: (i) vì mô hình

57

b. Nguồn thu thập số liệu

nghiên cứu gốc xuất phát từ hàm sản xuất và hàm cầu nên đều có số mũ, do vậy thông qua việc biến đổi mô hình gốc đều xuất hiện ln trong phương trình; (ii) hầu hết các nghiên cứu có xử lý số liệu thương mại và đầu tư đều sử dụng logarit cơ số tự nhiên vì kết quả sẽ được giải thích qua các tỷ lệ phần trăm (yếu tố này tăng 1% thì yếu tố kia thay đổi bao nhiêu %). Việc giải thích các tương quan kinh tế thông qua con số % là hợp lý và dễ được chấp nhận hơn nhiều so với con số tuyệt đối khi phân tích hàm tuyến tính.

Trong điều kiện hiện nay, việc tiếp cận với nguồn số liệu vĩ mô của Việt Nam tương đối khó khăn. Thêm vào đó, có khá nhiều các cơ quan thống kê và thường thì số liệu thống kê được các cơ quan công bố thường không thống nhất và ít nhiều có sự sai lệch. Chính vì vậy, tác giả đã thu thập số liệu từ nhiều nguồn, sau đó tiền hành so sánh, đối chiếu và tổng hợp ra bộ số liệu chuẩn nhất cho nghiên cứu. Cụ thể:

- Số liệu về lượng FDI đăng ký và thực hiện tại Việt Nam từ các quốc gia đối tác đầu tư được tác giả thu thập từ các nguồn Tổng cục Thống kê (http://www.gso.gov.vn), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (http:/www.mpi.gov.vn) và tham chiếu với số liệu của Ngân hàng thế giới WB (http://data.worldbank.org).

- Số liệu về KNXK và KNNK của Việt Nam với các quốc gia đối tác đã được tác giả thu thập từ Tổng cục Thống kê (http://www.gso.gov.vn), Tổng cục Hải quan (http:/www.customs.gov.vn) và tham chiếu với số liệu của Ngân hàng thế giới WB (http://data.worldbank.org).

- Số liệu về GDP, quy mô dân số, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã được tác giả thu thập từ Tổng cục Thống kê (http://www.gso.gov.vn) và tham chiếu với số liệu của Ngân hàng thế giới WB (http://data.worldbank.org).

- Số liệu về GDP, quy mô dân số, GDP bình quân đầu người của các quốc gia đối tác đã được tác giả thu thập từ chuyên trang số liệu của Ngân hàng thế giới WB (http://data.worldbank.org). Sở dĩ tác giả luận án lựa chọn số liệu từ WB bởi lẽ WB là một tổ chức có uy tín, có quan hệ với rất nhiều quốc gia trên thế giới. Nguồn số liệu từ WB cũng được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu kinh tế vĩ mô trên thế giới và tại Việt Nam.

- Số liệu về tỷ giá hối đoái giữa đồng VND và các ngoại tệ của các quốc gia đối tác được thu thập ở chuyên trang số liệu điện tử của Quỹ tiền tệ thế giới IMF (http://data.imf.org) với lý do tương tự như với số liệu từ WB.

- Số liệu về khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và các quốc gia đối tác được lấy từ website https://www.distancefromto.net. Khoảng cách được tính từ Hà Nội (thủ đô của Việt Nam) đến thủ đô của các quốc gia. Trên thực tế, một số nghiên cứu lấy khoảng cách từ cảng lớn nhất của quốc gia A tới cảng lớn nhất của quốc gia B. Tuy nhiên, để đơn giản hoá thì trong luận án này, khoảng cách giữa các thủ đô được sử dụng.

2.3.2.5. Giả thuyết nghiên cứu về tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam

58

Mô hình kinh tế lượng được sử dụng để ước lượng tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam trong sự tác động tổng thể của các biến kiểm soát khác như GDP bình quân đầu người của Việt Nam, GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác, khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và các quốc gia đối tác, tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và đồng tiền của các quốc gia đối tác.

Căn cứ vào một số nghiên cứu của các quốc gia tương tự như Zhang & Li

(2007); Jing Xiao (2009), nghiên cứu kỳ vọng sẽ chỉ ra:

H1: Lượng FDI của quốc gia đối tác i vào Việt Nam có tác động thuận chiều tới

KNXK của Việt Nam vào quốc gia đối tác i.

H2: Lượng FDI của quốc gia đối tác i vào Việt Nam có tác động thuận chiều (trong ngắn hạn) và ngược chiều (trong dài hạn) tới KNNK của Việt Nam từ quốc gia đối tác i.

Ngoài ra, để đánh giá ảnh hưởng của việc gia nhập WTO tới tác động của FDI

tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam, tác giả luận án có giả thuyết:

H3: Việc gia nhập WTO làm thay đổi mức độ tác động của FDI tới KNXK và

KNNK của Việt Nam.

Đối với các biến số kiểm soát của mô hình (GDP bình quân đầu người của Việt Nam, GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác, khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và các quốc gia đối tác, tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và đồng tiền của các quốc gia đối tác), căn cứ vào các nghiên cứu của Brugstrand (1985), Brun & cộng sự (2005), tác giả đưa ra một số giả thuyết nghiên cứu được chi tiết tại Phụ lục 4.

2.4. Tiểu kết chương 2

Trong chương 2, luận án đã khái quát các vấn đề cơ bản về FDI và xuất nhập khẩu của một quốc gia, từ đó cung cấp một bức tranh tổng quan nhất về hai đối tượng nghiên cứu này.

Chương 2 của luận án đã chỉ ra các kênh tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI tới xuất nhập khẩu của nước nhận đầu tư. FDI tác tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam thông qua cả kênh tác động trực tiếp và kênh tác động gián tiếp.

Đối với xuất khẩu, FDI có thể tác động trực tiếp tới xuất khẩu ở nước nhận đầu tư thông qua hoạt động xuất khẩu của chính các DN FDI. Bên cạnh kênh tác động trực tiếp, FDI còn có tác động gián tiếp tới xuất khẩu của nước nhận đầu tư thông qua các kênh tác động tràn như: (i) kênh tạo áp lực cạnh tranh đối với các DN xuất khẩu nội địa; (ii) kênh CGCN và hoạt động R&D; (iii) kênh chuyển giao tri thức và di chuyển

59

lao động; (iv) kênh thông tin về thị trường xuất khẩu cho các DN xuất khẩu nội địa.

Đối với nhập khẩu, FDI tác động trực tiếp tới nhập khẩu ở Việt Nam thông qua hoạt động nhập khẩu của các DN FDI. FDI cũng có thể trực tiếp tác động làm giảm nhập khẩu ở Việt Nam nhờ (i) thay thế hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam bằng hàng hoá được sản xuất bởi các DN FDI. Mặt khác, FDI có thể làm cho xuất khẩu tăng nhưng kéo theo là sự gia tăng nhập khẩu của chính các DN FDI thông qua các kênh: (ii) DN FDI nhập khẩu thiết bị, công nghệ, đầu vào sản xuất mà trong nước chưa đáp ứng được; (iii) DN FDI nhập khẩu sản phẩm CNHT trong nước chưa sản xuất được. Khi những tác động lan toả tích của của FDI phát huy đủ mạnh, FDI cũng có thể làm giảm nhập khẩu của Việt Nam thông qua các kênh tác động gián tiếp như: (i) tác động tràn thông qua các liên kết ngược giữa DN FDI và DN trong nước làm tăng khả năng cung cấp đầu vào sản xuất của các nhà cung cấp trong nước; (ii) sự có mặt của các DN FDI sẽ tạo điều kiện hu hút thêm DN FDI vệ tinh, phát triển ngành CNHT trong nước, từ đó có thể giảm nhập khẩu các sản phẩm CNHT, góp phần làm giảm nhập khẩu, thay đổi cơ cấu hàng nhập khẩu đồng thời nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu ở Việt Nam.

Chương 2 đã tiến hành nghiên cứu thực tiễn về kinh nghiệm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu của hai quốc là Trung Quốc và Thái Lan, từ đó rút ra được 7 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam: (1) Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước; (2) Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao; (3) Khuyến khích các DN FDI liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp nội địa trong sản xuất hàng hoá xuất khẩu; (4) Phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng; (5) Lựa chọn công nghệ và đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài; (6) Điều tiết và định hướng dòng FDI vào Việt Nam theo mục tiêu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể; (7) Tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và minh bạch.

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở các nước nhận đầu tư, trong chương 2 của luận án tác giả đề xuất khung nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Tác giả cũng đã đề xuất mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam nhằm minh chứng một phần cho những nhận định trong phần phân tích định tính. Đây là một hạn chế của luận án, tác giả kỳ vọng sẽ hoàn thiện ở những nghiên cứu tiếp theo.

60

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1988-2018

3.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018

3.1.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018

3.1.1.1. Quy mô vốn và số dự án

Sa.u.. 31 n.ăm. thu hút vốn đầu tư nước ngoài., Vi.ệt N.a.m. đã đạt được. rất n.h.i.ều. th.àn.h. tựu. tron.g. m.ọi. m.ặt c.ủa. đất n.ước.. Từ m.ột qu.ốc. g.i.a. th.u.ần. n.ôn.g. lạc. h.ậu., Việt Nam

đã c.ó n.h.ữn.g. b.ước. c.h.u.yển. m.ìn.h. rõ rệt và đa.n.g. ph.át tri.ển. th.e.o h.ướn.g. CNH-HĐH. Đón.g. g.óp vào th.àn.h. c.ôn.g. đó. không thể không kể tới vai trò quan trọng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài .(FD.I).. N.h.ờ c.ó n.g.u.ồn. vốn. n.ày, Vi.ệt N.a.m. đã c.ó n.ăn.g. lực.

sản. xu.ất n.h.ữn.g. sản. ph.ẩm. c.ôn.g. n.g.h.i.ệp h.a.y n.ân.g. c.a.o n.ăn.g. su.ất la.o độn.g. n.h.ờ áp d.ụn.g. n.h.ữn.g. ph.ươn.g. ph.áp sản. xu.ất, ph.ươn.g. th.ức. qu.ản. lý h.i.ện. đại..

Để có được bức tranh tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam có hiệu lực (năm

1988), tác giả đã thống kê và tổng hợp các chỉ tiêu phản ánh vốn FDI như số dự án, vốn đăng ký, vốn thực hiện, tỷ lệ vốn đăng ký/vốn thực hiện, vốn đăng ký bình quân/dự án, tốc độ tăng trưởng vốn đăng ký và vốn thực hiện giai đoạn 1988-2018 trong bảng 3.1.

Số liệu thống kê trong bảng 3.1 cho thấy kể từ khi bắt đầu thu hút FDI đến hết năm 2018, Việt Nam đã thu hút được 29.643 dự án với tổng vốn đăng ký là 413,486 tỷ USD, tổng vốn thực thực hiện là 190,33 tỷ USD, chiếm 46,03% tổng vốn đăng ký. Số liệu thống kê cũng cho thấy FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2018 trải qua nhiều

biến động thăng trầm. Sự biến động của dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988- 2018 và nguyên nhân của những biến động được tác giả mô tả và phân tích chi tiết trong Phụ lục 5.

Mặc dù có nhiều biến động trong giai đoạn 1988-2018, nhưng dòng vốn FDI vào Việt Nam rõ ràng có xu hướng tăng theo thời gian. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký chỉ đạt 46,03% trong cả giai đoạn 1988-2018. Con số này nói lên rằng Việt Nam mới chỉ hấp thụ được 46,03% vốn FDI đăng ký. Như vậy, Việt Nam

chưa phát huy được tối đa vai trò của nguồn vốn FDI. Để có thể tăng tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với vốn đăng ký nhằm phát huy tối đa vai trò của nguồn vốn này đối với phát triển kinh tế, Việt Nam cần phải hoàn thiện chính sách thu hút FDI kết hợp với

61

chính sách quản lý và sử dụng hiệu quả, đồng thời phải tìm ra các biện pháp để có thể

nâng cao khả năng hấp thụ nguồn vốn này.

Bảng 3.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018

Vốn đăng ký

Vốn thực hiện

Năm

Số dự án

Quy mô (Tỷ USD)

Quy mô (Tỷ USD)

Vốn đăng ký bình quân/dự án (Tỷ USD)

Tốc độ tăng (%)

Tốc độ tăng (%)

0,343 0,527 0,735 1,285 2,077 2,829 4,263 7,925 9,635 5,955 4,873 2,282 2,762 3,265 2,993 3,173 4,535 6,840 12,005 21,348 71,727 23,107 19,887 15,619 16,348 22,352 21,922 24,120 26,890 37,100 36,369 413,486

53,80 39,73 74,69 61,76 36,21 50,65 85,95 21,58 -38,19 -18,17 -53,17 21,03 18,21 -8,33 5,98 42,94 50,86 75,50 77,84 235,98 -67,78 -14,03 -21,38 4,67 36,73 -0,95 10,03 11,51 38,00 -1,97

Tỷ lệ vốn thực hiện/vốn đăng ký (%) 33,32 27,69 39,51 52,56 35,23 30,49 55,03 48,26 110,77 86,81 68,15 96,34 85,83 59,72 48,25 34,15 37,63 16,03 43,28 55,31 70,43 63,98 53,17 61,05 60,12 58,76 47,72 52,52 46,03

0,0093 0,0079 0,0069 0,0144 0,0106 0,0103 0,0115 0,0191 0,0259 0,0171 0,0171 0,0070 0,0071 0,0059 0,0037 0,0040 0,0056 0,0071 0,0122 0,0138 0,0613 0,0191 0,0161 0,0131 0,0127 0,0146 0,0119 0,0114 0,0103 0,0138 0,0116

0,428 0,575 34,35 94,43 1,118 2,241 100,45 24,59 2,792 5,23 2,938 11,54 3,277 -28,23 2,352 7,48 2,528 -5,14 2,398 -7,21 2,225 29,62 2,884 -5,58 2,723 -0,55 2,708 21,86 3,300 24,24 4,100 95,96 8,034 43,14 11,500 -13,04 10,001 10,01 11,000 0,00 11,001 -4,91 10,460 9,94 11,500 7,39 12,350 17,41 14,500 8,97 15,800 10,76 17,500 9,14 19,100 190,330

37 1988 67 1989 107 1990 152 1991 196 1992 274 1993 372 1994 415 1995 372 1996 349 1997 285 1998 327 1999 391 2000 555 2001 808 2002 791 2003 811 2004 970 2005 987 2006 1.544 2007 1.171 2008 1.208 2009 1.237 2010 1.191 2011 1.287 2012 1.530 2013 1.843 2014 2.120 2015 2.613 2016 2.741 2017 2018 3.147 Tổng 29.643

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tổng hợp của tác giả

3.1.1.2. Cơ cấu đầu tư

62

a. Theo ngành

Kết quả thu hút FDI theo ngành ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018 đối với các

dự án FDI còn hiệu lực được thống kê trong bảng 3.2.

Bảng 3.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo ngành

(Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2018)

TT

Chuyên ngành

Số dự án

Tỷ trọng (%)

1 Công nghiệp chế biến, chế tạo

13.306

Vốn đăng ký (Tỷ USD) 195,911 57,48

2 Hoạt động kinh doanh bất động sản

760

57,933 17,00

3 Sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa

119

23,093

6,78

4 Dịch vụ lưu trú và ăn uống

734

12,026

3,53

5 Xây dựng

1.593

10,092

2,96

6 Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy

3.535

6,837

2,01

7 Vận tải kho bãi

740

4,963

1,46

8 Khai khoáng

108

4,904

1,44

9 Giáo dục và đào tạo

458

4,341

1,27

10 Thông tin và truyền thông

1.884

3,604

1,06

11 Nông nghiêp, lâm nghiệp và thủy sản

491

3,456

1,01

12 Nghệ thuật, vui chơi và giải trí

133

3,420

1,00

13 Hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ

2.795

3,306

0,97

14 Cấp nước và xử lý chất thải

70

2,659

0,78

15 Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội

142

1,971

0,58

16 Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ

386

0,970

0,28

17 Hoạt động dịch vụ khác

137

0,715

0,21

18 Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

58

0,644

0,19

5

0,008

0,00

19 Hoạt đông làm thuê các công việc trong các hộ gia đình

N.g.u.ồn.: Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tính toán của tác giả

Trong giai đoạn 1988-2018, ngành thu hút FDI lớn nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo với 13.306 dự án, tổng vốn đăng ký là 195,911 tỷ USD, chiếm 57,48%. Tính đến hết năm 2018, có tới 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có dự án FDI đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam. Dẫn đầu là Nhật Bản với trên 1.300 dự án, đạt trên 30 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm trên 22% tổng vốn FDI vào ngành chế biến chế tạo, tiếp theo là Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… Trong số 24 ngành thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam, một số ngành đã thu hút FDI rất ấn tượng như: ngành công nghiệp điện, điện tử; ngành dệt may; ngành da giày;

63

ngành sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất; ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; ngành công nghiệp sản xuất kim loại.

Ngành thu hút FDI lớn thứ hai là kinh doanh bất động sản với 760 dự án, đạt 57,933 tỷ USD, chiếm 17% tổng vốn FDI. C.ó th.ể giải thích cho sự tăng trưởng nhanh và mạnh của ngành này là do trong hai năm 2007 và 2008, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các rào cản thương mại bị dỡ bỏ, các dự án FDI được đăng ký vào lĩnh vực bất động sản tăng mạnh với số vốn rất lớn, đặc biệt là các bất động sản nghỉ dưỡng, resort cũng như các khu đô thị, chung cư cao cấp. Xét về mặt lý thuyết, xu hướng này không. xấu vì nó vẫn đi theo đúng định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, tập trung quá nhiều vốn vào dịch vụ, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản lại tiềm ẩn nhiều bất ổn cho nền kinh tế như việc xuất hiện các bong bóng bất động sản, điều thực sự đã xuất hiện tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012.

Ngành thu hút FDI lớn thứ ba là ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa với 119 dự án, đạt 23,093 tỷ USD, chiếm 6,78% tổng vốn FDI 16 ngành còn lại chiếm khoảng gần 20% tổng vốn FDI. Có thể thấy rằng, Việt Nam vẫn là một thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp, sản xuất. Đối với nền kinh tế, đây là một dấu hiệu tốt khi. Việt Nam vẫn đang từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền vững từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Hơn nữa, FDI vào lĩnh vực chế biến chế tạo giúp nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Nhiều sản phẩm “made in Vietnam” được sản xuất sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh (Knut Blind, 2004), tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu.

b. Theo hình thức đầu tư

Bảng 3.3 thống kê vốn FDI tại Việt Nam giai đoạn 1988-2018 đối với các dự án FDI còn hiệu lực theo các hình thức đầu tư chủ yếu: DN 100% vốn nước ngoài, DN liên doanh, hợp đồng BOT, BT, BTO và hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Bảng 3.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức đầu tư

(Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2018)

TT Hình thức đầu tư Số dự án Vốn đăng ký (Tỷ USD) Tỷ trọng (%)

1 100% vốn nước ngoài 23.180 245,245 71,95

2 Liên doanh 4.027 75,242 22,07

3 Hợp đồng BOT, BT, BTO 18 14,221 4,17

4 Hợp đồng hợp tác kinh doanh 229 6,141 1,81

N.g.u.ồn.: Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tính toán của tác giả

64

Số liệu thống kê trong bảng 3.3 cho. th.ấy h.ầu. h.ết n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. đều. lựa. c.h.ọn. h.ìn.h. th.ức. DN 100% vốn. đầu. tư n.ước. n.g.oài.. H.ìn.h. th.ức. n.ày c.h.i.ếm. ưu. th.ế c.ả về số d.ự án. lẫn. tổn.g. vốn. đăn.g. ký với 23.180 dự án, đạt 245,245 tỷ USD, chiếm 71,95%, vượt trội. h.ơn. h.ẳn. c.ác. h.ìn.h. th.ức. đầu. tư c.òn. lại. Với. h.ìn.h. th.ức. DN 100% vốn. n.ước. n.g.oài,. qu.yền. đi.ều. h.àn.h. h.oàn. toàn. th.u.ộc. về nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư trực ti.ếp qu.ản. lý toàn. b.ộ và c.h.ịu. trác.h. n.h.i.ệm. về kết qu.ả h.oạt độn.g. sản. xu.ất kinh doanh, tạo tâm. lý th.oải. m.ái., tự c.h.ủ, kh.ôn.g. c.h.ịu. sự ràn.g. bởi nước chủ nhà. Điều này giải thích tại sao đây là hình thức FDI yêu thích của các nhà đầu tư. H.ìn.h. th.ức. li.ên. d.oa.n.h. đứn.g. th.ứ h.a.i. với. 4.027 d.ự án., đạt 75,242 tỷ U.SD., c.h.i.ếm. 22,07% tổn.g. vốn. FDI. C.ác. h.ìn.h. th.ức. ti.ếp th.e.o lần. lượt là B.OT, B.TO, B.T và h.ợp đồn.g. h.ợp .. Thực tế này cho thấy ở Việt Nam hiện nay, số lượng các DN nội địa tác. ki.n.h. d.oa.n.h. có năng lực đủ mạnh để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài thành lập liên doanh còn hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá công nghệ trung bình và công nghệ cao. Sự phổ biến của các DN 100% vốn nước ngoài sẽ hạn chế các tác động lan toả tích cực về công nghệ và tri thức từ FDI tới các DN nội địa Việt Nam.

c. Theo địa bàn đầu tư

Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay cả 63 tỉnh thành của Việt Nam đều có dự án FDI. Tính cả giai đoạn 1988-2018, đứng đầu là thành phố Hồ Chí Minh, tiếp theo là Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu… Các địa phương thu hút FDI ít nhất trong giai đoạn này là Hà Giang, Điện Biên và Lai Châu.

Bảng 3.4: 10 địa phương thu hút FDI lớn nhất tại Việt Nam

(Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2018)

TT Địa phương Số dự án Tỷ trọng (%) Vốn đăng ký (Tỷ USD)

1 TP. Hồ Chí Minh 8.123 45,194 13,26

2 Hà Nội 5.110 33,135 9,72

Bình Dương 3 3.519 31,759 9,32

Bà Rịa - Vũng Tàu 4 414 29,882 8,77

5 Đồng Nai 1.560 28,659 8,41

6 Hải Phòng 715 17,672 5,18

7 Bắc Ninh 1.304 17,289 5,07

8 Thanh Hóa 117 13,856 4,07

9 Hà Tĩnh 70 11,715 3,44

10 Hải Dương 7,758 405

2,28 N.g.u.ồn.: Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tính toán của tác giả

65

d. Theo đối tác đầu tư

Bảng 3.5: 10 nhà đầu tư FDI lớn nhất tại Việt Nam (Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2018)

TT Nhà đầu tư Số dự án Tỷ trọng (%) Vốn FDI đăng ký (Tỷ USD)

Hàn Quốc Nhật Bản Singapore Đài Loan British Virgin Islands Hồng Kông Trung Quốc

1 2 3 4 5 6 7 8 Malaysia 9 Thái Lan 10 Hà Lan 7.487 4.007 2.161 2.597 793 1.437 2.168 587 529 321 62,630 57,372 46,718 31,406 20,794 19,845 13.414 12,478 10,440 9,368

18,37 16,83 13,71 9,21 6,10 5,82 3,94 3,66 3,06 2,75 N.g.u.ồn.: Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tính toán của tác giả

Th.e.o Lý th.u.yết trọn.g. lực. (G.ra.vi.ty Mod.e.l) về FD.I. th.ì n.h.ữn.g. qu.ốc. g.i.a. c.ó vị trí địa. lý c.àn.g. g.ần. n.h.a.u. sẽ c.ó xu. h.ướn.g. th.úc. đẩy c.ả đầu. tư trực. ti.ếp và th.ươn.g. m.ại. son.g. ph.ươn.g. lẫn. n.h.a.u. (I.n.b.e.rg.e.r, 1962; Poyh.on.e.n., 1963). Kết lu.ận. n.ày đã được. ki.ểm. c.h.ứn.g. tron.g. n.h.i.ều. n.g.h.i.ên. c.ứu. về FD.I. và th.ươn.g. m.ại. quốc tế (D.i.n.h. & N.g.u.ye.n., 2010; E.th.i.e.r, 1986; D.e.a.rd.orff, 1995; Sve.tla.n.a. & M.i.ka.e.l, 2006). Tác. g.i.ả c.h.ứn.g. m.i.n.h. rõ th.êm. xu hướng này th.ôn.g. qu.a. số li.ệu. FDI c.ủa. Vi.ệt N.a.m theo đối tác đầu tư.. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết năm 2018 đã có 130 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, con số này phần nào nói lên sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài ở khắp các châu lục trên thế giới. Trong đó., H.àn. Qu.ốc., N.h.ật B.ản.,,,, Singapore và Đài. Loa.n. là 4. qu.ốc. g.i.a. d.ẫn. đầu. về số d.ự án. được. c.ấp ph.ép và lượng vốn FDI đăng ký tại. Vi.ệt N.a.m.. Tron.g. top 10 nhà đầu tư FDI lớn nhất. c.ó th.ể th.ấy rõ h.i.ệu. ứn.g. của Lý thuyết trọn.g. lực. tron.g. th.u. h.út FD.I. tại. Vi.ệt N.a.m. kh.i. có tới 8/10 qu.ốc. g.i.a. c.ó số d.ự án. và lượng FDI đăng ký n.h.i.ều. n.h.ất (H.àn. Qu.ốc., Nhật Bản, Singapore, Đài. Loa.n, Hồng Kông, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan) đều. c.ó vị trí địa. lý rất g.ần. với. Vi.ệt N.a.m. (đều. n.ằm. ở. kh.u. vực. Đôn.g. Á). Nguyên nhân là do. n.h.ữn.g. qu.ốc. g.i.a. c.ó vị trí địa. lý g.ần. n.h.a.u. sẽ c.ó sự tươn.g. đồn.g. n.h.ất địn.h. về văn. h.oá, tôn. g.i.áo, tín. n.g.ưỡn.g.. C.h.ín.h. sự tươn.g. đồn.g. n.ày sẽ tạo n.ên. n.i.ềm. ti.n., đi.ều. vốn. là c.ốt lõi. tron.g. g.i.a.o th.ươn.g., b.u.ôn. b.án., đầu. tư. H.ơn. n.ữa., c.ác. qu.ốc. g.i.a. c.ó vị trí địa. lý c.àn.g. g.ần. n.h.a.u. sẽ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại làm cho hoạt động đầu tư hiệu quả hơn. Tuy nhiên, thực tế này cũng cho thấy Việt Nam chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư từ các nước công nghệ phát triển, công nghệ nguồn do phần lớn các nhà đầu tư đều đến từ các nước châu Á (chiếm tới 70,46% tổng lượng vốn FDI), trong khi đó nhà đầu tư đến từ các nước châu Âu chỉ chiếm khoảng 22% và châu Mỹ chỉ khoảng 5%. Đó thực sự là một bài toán lớn, cần tìm ra lời giải nếu muốn tăng cường tác động lan toả tích cực về công nghệ từ FDI ở Việt Nam.

66

3.1.2. Thực trạng xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018 3.1.2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại

Số liệu về KNXK, KNNK, tổng KNXNK và cán cân thương mại (CCTM) của Việt Nam giai đoạn 1988-2018 được thống kê trong bảng 3.6.

Bảng 3.6: KNXK, KNNK và CCTM của Việt Nam giai đoạn 1988-2018

KNXK

KNNK

Năm

CCTM (Tỷ USD)

Tổng KNXNK (Tỷ USD)

Tăng trưởng (%)

Tăng trưởng (%)

Trị giá (Tỷ USD)

Trị giá (Tỷ USD)

18,89 14,27 -14,18 15,75 34,89 43,00 37,69 -46,66 20,67 5,46 24,76 25,43 4,00 11,17 24,00 27,94 22,40 22,76 21,93 29,09 -8,92 26,52 34,15 18,19 15,37 13,68 7,86 9,02 21,03 13,19

-6,93 7,25 -15,04 8,68 54,43 48,47 39,98 36,64 0,07 3,08 1,11 34,53 3,37 22,10 27,84 26,67 15,72 21,40 39,63 28,77 -13,34 21,29 25,83 6,59 16,12 11,90 11,98 5,16 20,80 11,10

3,795 4,512 5,156 4,425 5,122 6,909 9,880 13,604 7,256 8,756 9,234 11,520 14,449 15,027 16,706 20,716 26,504 32,442 39,826 48,561 62,685 57,096 72,237 96,906 114,529 132,135 150,217 162,017 176,632 214,019 243,480 1.768,353

2,757 2,566 2,752 2,338 2,541 3,924 5,826 8,155 11,143 11,151 11,494 11,622 15,635 16,162 19,733 25,227 31,954 36,978 44,891 62,682 80,714 69,949 84,839 106,750 113,780 132,125 147,852 165,570 174,111 211,104 236,690 1.853,015

6,552 7,078 7,908 6,763 7,663 10,833 15,706 21,759 18,399 19,907 20,728 23,142 30,084 31,189 36,439 45,943 58,458 69,420 84,717 111,243 143,399 127,045 157,076 203,656 228,309 264,260 298,069 327,587 350,743 425,123 480,170 3.639,115

1,038 1,946 2,404 2,087 2,581 2,985 4,054 5,449 -3,887 -2,395 -2,260 0,102 -1,186 -1,135 -3,027 -4,511 -5,450 -4,536 -5,065 -14,121 -18,029 -12,853 -12,602 -9,844 0,749 0,010 2,365 -3,553 2,521 2,915 6,790 -66,652

1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Tổng

N.g.u.ồn.: Tổn.g. c.ục. H.ải. qu.a.n. và tính toán của tác giả

67

Về KNXK: Theo số liệu thống kê trong bảng 3.6, KNXK của Việt Nam tăng đều đặn trong suốt giai đoạn 1988-2018 với tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định. Từ 3,795 tỷ USD năm 1988, KNXK của Việt Nam đã tăng lên 14,449 tỷ USD vào năm 2000, 72,237 tỷ USD vào năm 2010 và đến 2018 đã lên tới 243,48 tỷ USD. Trong suốt 31 năm, KNXK của Việt Nam chỉ giảm trong 3 năm đó là năm 1991, 1996 và 2009 với tốc độ tương ứng là -14,18%; -46,66% và -8,92%. Điều đáng nói là FDI vào Việt Nam năm 1996 và 2009 cũng giảm mạnh so với năm trước do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2009. Điều này cũng phần nào cho thấy sự tác động cùng chiều của FDI tới KNXK của Việt Nam.

Về KNNK.: Số liệu thống kê trong bảng 3.6 cũng cho thấy xu hướng tăng KNNK của Việt Nam trong suốt giai đoạn 1988-2018. Và cũng chỉ có ba năm 1989, 1991 và 2009 là tốc độ tăng trưởng âm lần lượt là -6,93%; -15,04% và -13,34%. Giai đoạn 1988-1995, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu hàng hoá bình quân của Việt Nam là 22,81%, giai đoạn 1996-2000 giảm xuống còn 15,09%. Tuy nhiên, giai đoạn 2001 - 2005, KNNK hàng hoá của Việt Nam lại tăng với tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn là 19,14% và giữ ổn định ở giai đoạn 2006-2010 với 19,44%. Giai đoạn 2011- 2016, KNNK của Việt Nam có xu hướng giảm, đặc biệt tốc độ tăng trưởng KNNK năm 2016 chỉ còn 5,16% và trong cả giai đoạn này là 12,93%. Tuy nhiên, năm 2017, cùng với tốc độ tăng trưởng mạnh của xuất khẩu (21,03%), nhập khẩu của Việt Nam cũng tăng trưởng mạnh với 20,8% so với năm 2016. Năm 2018, KNNK của Việt Nam vẫn tăng về giá trị so với năm 2017, từ 211,104 tỷ USD năm 2017 lên 236,69 tỷ USD năm 2018, tuy nhiên tốc độ tăng so với năm trước đã giảm từ 20,8% xuống còn 11,1%.

Về tổng KNXNK: Theo Tổng cục Hải quan, tính đến hết năm 2018, hệ thống Hải quan đã ghi nhận tổng KNXNK hàng hóa của Việt Nam đạt 480,17 tỷ USD, dấu mốc tăng trưởng cao nhất những năm qua. Cụ thể, năm 2001, tổng KNXNK của cả nước mới chỉ ở con số khiêm tốn 31,189 tỷ USD. Sau 6 năm, tới năm 2007, tổng KNXNK cả nước đã đạt 111,243 tỷ USD, sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Bốn năm sau, năm 2011, tổng KNXNK đã tăng gấp đôi, đạt 203,656 tỷ USD. Đến năm 2015, tổng KNXNK đạt 327,587 tỷ USD sau 4 năm. Nhưng chỉ mất 3 năm, đến 2018, tổng KNXNK cả nước đã vượt qua mức 480 tỷ USD. Một con số quá ấn tượng.

Về CCTM: Trừ giai đoạn đầu sau đổi mới (1988-1995), từ năm 1996 đến năm 2015, Việt Nam luôn ở trong tình trạng thâm hụt CCTM. Đặc biệt, trong toàn bộ thời kỳ chiến lược, CCTM thâm hụt sâu với 81,329 tỷ USD, chiếm tới 20,76% so với tổng KNXK của cả thời kỳ này. Nếu như năm 2001 nhập siêu là 1,135 tỷ USD, chiếm 7,56% KNXK thì đến năm 2010, nhập siêu đã tăng lên 12,062 tỷ USD, chiếm 17,45% KNXK. Ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào đầu năm 2007, nhập siêu đã tăng

68

3.1.2.2. Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu

mạnh (năm 2008 là 18,029 tỷ USD). Tuy nhiên các năm sau đó, nhập siêu giảm dần về gần mức trung bình của toàn thời kỳ 2001-2010. Giai đoạn 2011-2015, nhập siêu giảm đáng kể và đến năm 2012, Việt Nam đã bắt đầu có thặng dư thương mại với 0,749 tỷ USD. Hai năm tiếp theo là 2013 và 2014 tiếp tục xuất siêu với giá trị lần lượt là 0,01 tỷ USD và 2,365 tỷ USD. Sau 3 năm liên tiếp xuất siêu, năm 2015, Việt Nam đã nhập siêu trở lại với 3,553 tỷ USD. Giai đoạn 2016-2018, Việt Nam xuất siêu với 2,521 tỷ USD năm 2016, 2,915 tỷ USD năm 2017 và 6,79 tỷ USD năm 2018. Đây là một tín hiệu mừng cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

a. C.ơ c.ấu. hàng hoá xu.ất kh.ẩu.

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu năm 2018 tiếp tục đảm bảo định hướng được đề ra trong “Chiến lược Xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030”. Chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu hàng xuất khẩu vẫn là nhóm hàng công nghiệp với tỷ trọng 82,8%, tăng 1,7% so với năm 2017, tiếp đến là nhóm hàng nông sản, thủy sản chiếm 10,9%, giảm 1,2% so với năm 2017 và nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản chỉ còn chiếm 1,9%, giảm 0,3% so với năm 2017. Dẫn đầu về KNXK là các nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện; dệt may; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện.

Bảng 3.7: 10 nhóm hàng có KNXK cao nhất năm 2018

STT Nhóm hàng Tỷ trọng (%) KNXK (Tỷ USD)

1 Điện thoại các loại và linh kiện 2 Hàng dệt may 3 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 49,08 30,49 29,32 8,40 16,70 12,90

4 Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác 5 Giày dép các loại 6 Gỗ và sản phẩm gỗ 16,55 16,24 8,91 28,20 10,60 15,70

Sắt thép

Phương tiện vận tải và phụ tùng 7 8 Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện 9 10 Sản phẩm từ sắt thép 7,97 5,24 4,55 3,02 3,37 2,15 1,87 1,24

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tổng hợp của tác giả

b.. C.ơ c.ấu. hàng hoá n.h.ập kh.ẩu.

Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu năm 2018 khá đa dạng, tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng sản xuất phục vụ xuất khẩu như: Máy tính và linh kiện điện tử đạt 42,2 tỷ

USD, tăng 11,7% so với năm 2017; Máy móc, thiết bị, phụ tùng đạt 33,73 tỷ USD,

69

tương đương năm 2017; Sắt thép các loại đạt 9,9 tỷ USD, tăng 9%; Chất dẻo nguyên

liệu đạt 9,1 tỷ USD, tăng 19,6%… Kim ngạch nhóm hàng cần nhập khẩu đạt 210,9 tỷ USD, chiếm khoảng 89% và tăng gần 11%; nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu đạt khoảng 16 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 6,7%, tăng trưởng 17,7%. Nhìn chung, nhập khẩu tập trung chủ yếu ở nhóm hàng cần nhập khẩu, gồm máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu đầu vào phục vụ sản xuất và phục vụ các dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, điện tử. Nhập siêu chủ yếu đến từ khu vực thị trường Châu Á, đặc biệt là từ các nước ASEAN và đã có cải thiện về cán cân thương mại với một số thị trường, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.

Bảng 3.8: 10 nhóm hàng có KNNK cao nhất năm 2018

STT Nhóm hàng KNNK (Tỷ USD) Tỷ trọng (%)

1 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 2 Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác 42,20 33,73 17,83 14,25

Nguyên phụ liệu cho ngành dệt, may, da giày 3 23,91 10,10

4 5 6 Điện thoại các loại và linh kiện Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm Vải các loại 15,87 14,96 12,77 6,70 6,32 5,40

7 8 9 Hoá chất và sản phẩm Sắt thép các loại Than các loại 10,19 9,89 2,55 4,31 4,18 1,08

10 Sản phẩm từ kim loại thường 1,74 0,74

3.1.2.3. Thị trường xuất nhập khẩu

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tổng hợp của tác giả

a.. Th.ị trườn.g. xu.ất kh.ẩu.

Thị trường xuất khẩu tiếp tục được duy trì và mở rộng. Công tác khai thác cơ hội từ cam kết hội nhập đã được thực hiện có hiệu quả. Ở tất cả các thị trường mà Việt Nam có ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) đều ghi nhận mức tăng trưởng tốt, thị phần xuất khẩu tại các thị trường trọng điểm được khẳng định. Tăng trưởng xuất khẩu trên nhiều thị trường đạt mức hai con số như xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 41,27 tỷ USD, tăng 16,56% so với năm 2017; xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 24,52 tỷ USD, tăng 13,76%; xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 18,85 tỷ USD, tăng 11,82%; xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 18,2 tỷ USD, tăng 22,85%. Châu Á vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của các DN Việt Nam năm 2018 với giá trị xuất khẩu chiếm 43,95%; tiếp theo là châu Mỹ chiếm 23,84%; châu Âu chiếm 19,01%, trong đó EU- 28 chiếm 17,2%; châu Đại Dương chiếm 2% và châu Phi chiếm 1,2%.

70

Bảng 3.9: KNXK theo châu lục, khối nước và một số thị trường lớn năm 2018

Thị trường Xuất khẩu So với năm 2017 (%)

Kim ngạch (Tỷ USD) 131,36 24,52 41,27 18,20 18,85 46,30 41,88 58,04 47,53 4,90 2,88 243,48 Tỷ trọng (%) 53,95 10,07 16,95 7,48 7,74 19,01 17,20 23,84 19,52 2,01 1,18 100,00 16,15 13,76 16,56 22,85 11,82 7,68 9,42 10,95 14,27 21,05 8,18 13,19 Châu Á - ASEAN - Trung Quốc - Hàn Quốc - Nhật Bản Châu Âu - EU(28) Châu Mỹ - Hoa Kỳ Châu Đại Dương Châu Phi Tổng

N.g.u.ồn.: Tổn.g. c.ục. H.ải. qu.a.n.

b.. Th.ị trườn.g. n.h.ập kh.ẩu.

Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Việt Nam năm 2018 về giá trị và tỷ trọng

được thống kê trong bảng 3.10.

Bảng 3.10: KNNK theo châu lục, khối nước và một số thị trường lớn năm 2018

Thị trường Nhập khẩu So với năm 2017 (%)

Kim ngạch (Tỷ USD) 190,04 31,77 65,44 47,50 19,01 17,81 13,89 4,41 20,33 12,75 4,10 236,69 Tỷ trọng (%) 80,29 13,42 27,65 20,07 8,03 7,53 5,87 1,86 8,59 5,39 1,73 100,00 9,14 12,23 11,68 1,14 11,98 18,65 13,95 17,10 26,66 36,42 1,14 11,12 Châu Á - ASEAN - Trung Quốc - Hàn Quốc - Nhật Bản Châu Âu - EU(28) Châu Đại Dương Châu Mỹ - Hoa Kỳ Châu Phi Tổng

N.g.u.ồn.: Tổn.g. c.ục. H.ải. qu.a.n.

71

C.ó th.ể th.ấy, lý th.u.yết trọn.g. lực. ti.ếp tục. được. c.h.ứn.g. m.i.n.h. là đún.g. đắn. kh.i. ph.ân. tíc.h. m.ối. qu.a.n. h.ệ g.i.ữa. FD.I. và n.h.ập kh.ẩu., các qu.ốc. g.i.a. mà Vi.ệt N.a.m. n.h.ập kh.ẩu. n.h.i.ều. h.àn.g. h.oá n.h.ất đều. n.ằm. tron.g. kh.u. vực. ch.âu. Á chiếm tới 80,29% tổng KNNK cả nước. Tron.g. đó, lớn nhất. là Tru.n.g. Qu.ốc. với. ki.m. n.g.ạc.h. lên tới 65,44 tỷ U.SD. n.ăm. 2018 và c.h.i.ếm. tỷ trọn.g. 27,65% tổng KNNK, thứ hai là H.àn. Qu.ốc. (với ki.m. n.g.ạc.h. 47,5 tỷ U.SD., c.h.i.ếm. tỷ trọn.g. 20,07%), thứ 3 là ASEAN (với ki.m. n.g.ạc.h. 31,77 tỷ U.SD., c.h.i.ếm. tỷ trọn.g. 13,42%), và thứ tư là N.h.ật B.ản. (với ki.m. n.g.ạc.h. h.ơn. 19,01 tỷ U.SD., c.h.i.ếm. tỷ trọn.g. 8,03%). C.h.âu. M.ỹ là th.ị trườn.g. n.h.ập kh.ẩu. lớn. th.ứ hai c.ủa. Vi.ệt N.a.m. với. ki.m. n.g.ạc.h. 20,33 tỷ U.SD.. Th.ị trườn.g. C.h.âu. Âu. đạt ki.m. n.g.ạc.h. g.ần. 17,81 tỷ U.SD., tron.g. đó, th.ị trườn.g. E.U. đạt ki.m. n.g.ạc.h. 13,89 tỷ U.SD., c.h.i.ếm. tỷ trọn.g. 5,87% tổng KNNK c.ả n.ước..

Thực trạng xuất nhập khẩu hiện ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra cho Việt Nam rất nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Việc phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu của khối các DN FDI cũng như phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu đầu vào từ các thị trường châu Á truyền thống sẽ không mang lại nhiều giá trị gia tăng và sự phát triển bền vững cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Chính vì vậy, việc đánh giá đúng, đầy đủ những tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam cả trên phương diện tích tực và tiêu cực là vô cùng cần thiết, giúp Việt Nam có thể tìm ra những giải pháp để tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xuất nhập khẩu nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung.

3.2. Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018

3.2.1. Thực trạng tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam

3.2.1.1. Tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu

a. Kênh tác động trực tiếp

Xu hướng của FDI hiện nay là hướng về xuất khẩu hơn là nhằm vượt qua những hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước nhập khẩu hàng hoá. Và xu hướng FDI vào Việt nam hiện nay cũng không phải là ngoại lệ. Đồng thời với xu hướng đó là sự phát triển ngày càng mạnh của các MNCs. Các MNCs này thường được hình thành từ các nước phát triển với phạm vi tiêu thụ hàng hoá rộng lớn khắp toàn cầu. Như vậy, sự xuất hiện của các DN FDI hay các chi nhánh của các MNCs tại Việt Nam với mục tiêu hướng về xuất khẩu đã góp phần làm tăng cơ hội và khả năng xuất khẩu của khối các DN FDI nói riêng và Việt Nam nói chung, từ đó làm tăng KNXK của cả nước. Sự tác. độn.g. tíc.h. c.ực. n.ày c.ủa. dòng vốn FD.I. tới. KN.XK ở Vi.ệt N.a.m. được. th.ể h.i.ện. th.ôn.g. qu.a. sự. g.i.a. tăn.g. li.ên. tục th.e.o th.ời. g.i.a.n. về tỷ trọn.g. KN.XK c.ủa. kh.u. vực. FDI tron.g. tổn.g.

72

KNXK. c.ủa. c.ả n.ước.. Số liệu thống kê trong b.ản.g. 3.11 thể hiện rõ tác động tích cực này của. FD.I. tới. KN.XK ở. Vi.ệt N.a.m..

B.ản.g. 3.11: Xuất khẩu. c.ủa. kh.u. vực. FD.I. và cả nước giai đoạn 2000-2018

.Xuất khẩu. c.ủa. kh.u. vực. FD.I Năm Tổng KNXK cả nước (Tỷ USD) Tăng trưởng (%)

Giá trị (Tỷ USD) 6,81 Tỷ trọng trong tổng KNXK (%) 47,00 12,48 2000 14,449

-0,15 2001 6,80 45,20 15,027

15,74 2002 7,87 47,10 16,706

29,10 2003 10,16 50,40 20,716

42,62 2004 14,49 54,70 26,504

28,02 2005 18,55 57,18 32,442

24,31 2006 23,06 57,90 39,826

20,42 2007 27,77 57,20 48,561

24,34 2008 34,53 57,50 62,685

-13,41 2009 29,90 52,80 57,096

30,70 2010 39,08 54,11 72,237

22,49 2011 47,87 56,02 96,906

33,78 2012 64,04 57,92 114,529

26,36 2013 80,92 61,29 132,135

16,15 2014 93,99 62,57 150,217

17,63 2015 110,56 68,24 162,017

12,09 2016 123,93 70,16 176,632

23,00 2017 152,34 71,20 214,019

12,90 2018 175,50 72,08 243,480

N.g.u.ồn.: Tổn.g. c.ục. H.ải. qu.a.n. và tính toán của tác giả

Số liệu thống kê trong b.ản.g. 3.11 cho th.ấy. giá trị xuất khẩu c.ủa. kh.u. vực. FDI li.ên. tục. tăn.g. qu.a. c.ác. n.ăm. và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng KNXK cả nước. Chỉ với 6,81 tỷ USD và chiếm 47% tổng KNXK cả nước vào năm 2000, giá trị xuất khẩu của khu vực FDI đã tăng lên tới 175,5 tỷ USD và chiếm tới 72,08% tổng KNXK cả nước vào năm 2018.

Xuất khẩu của khu vực FDI tăng trưởng nhanh trong g.i.a.i. đoạn. 2005-2008., tỷ trọn.g. đón.g. g.óp vào tổn.g. KNXK. h.àn.g. n.ăm.. lu.ôn. đạt trên. 57%. Năm. 2008 là n.ăm. c.a.o đi.ểm., KNXK. c.ủa. kh.u. vực. FDI lên. tới. 34,52 tỷ USD và chiếm 57,5% tổng KNXK cả nước. Đây c.ũn.g. là n.ăm. d.òn.g. FD.I. c.h.ảy vào Vi.ệt N.a.m. m.ạn.h. n.h.ất với. h.ơn. 71 tỷ U.SD..

73

N.g.u.yên. n.h.ân. c.ủa. sự tăn.g. trưởn.g. ấn. tượn.g. n.ày c.ó th.ể là d.o tác. độn.g. c.ủa. vi.ệc. Việt Nam g.i.a. n.h.ập WTO n.ăm. 2007, kết quả là d.òn.g. FD.I. vào Vi.ệt N.a.m. tăn.g. kỷ lục. vào n.ăm. 2008, KNXK c.ủa. kh.u. vực. FD.I. tăng mạnh, dẫn tới KNXK cả nước cũng c.ó sự tăn.g. trưởn.g. vô c.ùn.g. ấn. tượn.g.. N.ăm. 2009, d.o ản.h. h.ưởn.g. lớn. c.ủa. c.u.ộc. kh.ủn.g. h.oản.g. ki.n.h. tế toàn. c.ầu., d.òn.g. FD.I. vào Vi.ệt N.a.m.. g.i.ảm. m.ạn.h. so với năm 2008 (từ h.ơn. 71 tỷ U.SD. n.ăm. xu.ốn.g. c.òn. h.ơn. 23 tỷ U.SD.), KN.XK c.ủa. kh.u. vực. FD.I. c.ũn.g. g.i.ảm. so với. n.ăm. 2008 (từ 34,52 tỷ U.SD. xu.ốn.g. 29,9 tỷ U.SD. với tốc độ -13,41%). Kéo theo đó là sự sụt giảm của tổng KNXK cả nước từ 62,685 tỷ USD năm 2008 xuống còn 57,096 tỷ USD năm 2009. Sau năm 2009, cùng với sự phục hồi của dòng vốn FDI vào Việt Nam, xuất khẩu của khu vực FDI cũng tăng trưởng trở lại, giá trị xuất khẩu của khu vực này liên tục tăng mạnh, tỷ trọng trong KNXK cả nước cũng liên tục tăng trong cả thời kỳ 2010- 2018, tương ứng là 54,11%, 56,02%, 57,92%, 61,29%, 62,57%, 68,24%, 70,16% và 71,20% và 72,08%.

Như vậy, FDI đã có tác động tích cực tới KNXK, làm tăng KNXK cả nước thông qua sự gia tăng giá trị xuất khẩu của khu vực FDI. Dòng FDI vào Việt Nam với mục tiêu xuất khẩu đã được thực hiện tốt, hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN FDI cũng đã tương đối thành công và có đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng KNXK của Việt Nam.

b. Kênh tác động gián tiếp

(1) Kênh tạo áp lực cạnh tranh

* Tác động tích cực

Kh.ả n.ăn.g. c.ạn.h. tra.n.h. c.ủa. sản. ph.ẩm. c.ó ý n.g.h.ĩa. rất qu.a.n. trọn.g. đối. với. DN sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các DN xuất khẩu.. Kh.ả n.ăn.g. c.ạn.h. tra.n.h. c.ủa. sản. ph.ẩm. ph.ụ th.u.ộc. vào c.h.ất lượn.g., c.h.ủn.g. loại., m.ẫu. m.ã, g.i.á c.ả, số lượn.g.… được. qu.yết địn.h. b.ởi. c.ác. yếu. tố n.h.ư vốn., c.ôn.g. n.g.h.ệ, la.o độn.g.… Với sự hạn chế về vốn, về trình độ công nghệ và trình độ nguồn nhân lực, các sản phẩm của các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam rõ ràng yếu thế về sức mạnh cạnh tranh so với các DN FDI...

Bảng 3.12: Sức mạnh cạnh tranh của các loại hình DN ở Việt Nam

(Sức mạnh cạnh tranh cao nhất: 10, thấp nhất: 1)

DNNN DNTN DN FDI Chỉ tiêu Hộ gia đình

2,81 4,18 4,88 7,00 Về th.ị ph.ần.

2,90 4,00 5,00 7,24 Về sản. ph.ẩm.

2,45 3,47 4,59 7,14 Về c.ôn.g. n.g.h.ệ

2,36 3,97 4,47 6,25 Về la.o độn.g. c.ó ta.y n.g.h.ề

N.g.u.ồn.: Đi.ều. tra. d.oa.n.h. n.g.h.i.ệp c.ủa. C.I.E.M (2013).

74

Bảng 3.12 cho thấy sức mạnh cạnh tranh của các DN FDI luôn là đạt điểm cao

nhất cả về thị phần, sản phẩm, công nghệ và trình độ tay nghề của người lao động. Các

DN nội địa, đặc biệt là các DNNN và hộ gia đình có điểm số rất thấp nhất là về công

nghệ và trình độ tay nghề của người lao động. Sự xuất hiện của các DN FDI tại Việt

Nam đã tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với các DN xuất khẩu trong nước, buộc các DN

này phải đầu tư nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn

và tay nghề cho người lao động, nâng cao kỹ năng quản lý nhằm sản xuất ra những sản

phẩm có thể cạnh tranh và xuất khẩu dưới sức ép cạnh tranh của các DN FDI. Kết quả

là làm tăng cơ hội và khả năng xuất khẩu của các DN nội địa, từ đó làm tăng KNXK

của Việt Nam cả về lượng (tăng tổng KNXK) và về chất (tăng giá trị nội địa của của

hàng xuất khẩu). Tuy nhiên, mức độ tác động của các DN FDI tới việc nâng cao năng

lực cạnh tranh của các DN xuất khẩu nội địa nhiều hay ít lại phụ thuộc vào hình thức

đầu tư và lĩnh vực đầu tư.

Ng.h.i.ên. c.ứu. của. CIEM (2013) trên. qu.y. m.ô m.ẫu. 56.000 DN th.u.ộc. m.ọi. th.àn.h.

ph.ần.. ki.n.h. tế đã kh.ẳn.g. địn.h. tác. độn.g. lan toả tíc.h. c.ực. từ FD.I. tới c.ải. th.i.ện. n.ăn.g. su.ất lao động, nâng cao sức mạnh cạnh tranh c.ủa. c.ác. DN nội địa có li.ên. d.oa.n.h. lớn. h.ơn. so với. c.ác. h.ìn.h. th.ức. đầu. tư nước ngoài kh.ác. và tác. độn.g. tràn. ở c.ác. n.g.àn.h. d.ệt m.a.y, d.a. g.i.ầy và c.h.ế b.i.ến. th.ực. ph.ẩm. lớn. h.ơn. so với. c.ác. n.g.àn.h. c.ơ kh.í đi.ện. tử. Mặt khác,

sự cạnh tranh giữa các DN FDI và các DN nội địa cũng có thể làm tăng sự hợp tác giữa DN FDI và DN nội địa, từ đó có thể làm tăng năng suất sản xuất hàng hoá xuất khẩu của các DN nội địa. Điều này đã được chứng minh trong một nghiên cứu của Bộ Công Thương (2011) về các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất sản xuất hàng hoá

của các DN nội địa Việt Nam. Theo kết quả nghiên cứu, các DN nội địa không liên doanh có điểm năng suất thấp hơn các DN nội địa có liên doanh với các DN FDI. Xét theo khía cạnh năng suất tổng hợp (TFP), có sự chênh lệch về năng suất giữa DN

nội địa có liên doanh so với DN nội địa không liên doanh. Như vậy, sự xuất hiện của các DN FDI và sự liên doanh giữa DN FDI và DN nội địa đã góp phần làm tăng năng suất sản xuất hàng hoá xuất khẩu của các DN nội địa. Kết quả là làm cho khả năng

xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam được nâng lên. Tuy nhiên, mức độ tác động này ở Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn do các nhà đầu tư nước ngoài không mấy mặn mà trong việc liên doanh liên kết với các DN nội địa, đặc biệt là trong hoạt động sản xuất xuất khẩu.

Tác động lan toả tích cực của FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa Việt Nam thông qua kênh cạnh tranh được thể hiện rất rõ ở ngành dệt may và ngành công nghiệp sản xuất đồ uống của Việt Nam.

75

Đối với ngành dệt may: Trước Đổi mới (1986), Việt Nam thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các DN dệt may sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước, cung thường không đáp ứng đủ cầu, sản phẩm sản xuất ra đều được tiêu thụ hết. Các DN dệt may nội địa độc chiếm thị trường do khách hàng không có sự lựa chọn nào khác. Sau đó, sự xuất hiện của các DN FDI trong ngành dệt may đã phá vỡ thế độc quyền này. Sản phẩm của các DN FDI với chất lượng tốt, mẫu mã kiểu dáng phong phú dễ dàng được người tiêu dùng chấp nhận và lựa chọn. Thêm vào đó, các DN FDI luôn cải tiến sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Chính sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng được tạo ra bởi các DN FDI đã kích thích các DN dệt may nội địa phải thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh và tiếp thị sản phẩm. Theo kết quả khảo sát của VCCI, dưới tác động của DN FDI, các DN dệt may nội địa đã có nhiều nỗ lực trong việc cải tiến chất lượng cũng như mẫu mã sản phẩm. Có tới 68,16% DN cho biết đã tăng cường cải tiến chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Con số này cho thấy, các DN dệt may nội địa đã nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng và mẫu mã sản phẩm, yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho DN. Các DN dệt may nội địa đã không ngừng đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cho phát triển thương hiệu, xây dựng mới và củng cố hệ thống kênh phân phối sản phẩm… Chẳng hạn, trước sức ép cạnh tranh của các DN Trung Quốc, Công ty May 10 đã nhận thức được rằng, công ty không thể cạnh tranh trong các sản phẩm thông thường - quần áo dễ sản xuất, lấy số lượng nhiều bù lãi ít. May 10 đã đầu tư mạnh vào công nghệ và lao động kỹ thuật cao để chuyển sang sản xuất áo sơ mi và đồ vest chất lượng cao hơn. Rất nhiều các công ty lớn khác của Việt Nam cũng có những bước đi tương tự May 10 vì lý do tương tự (UNDP, 2007). Nhờ đó, các sản phẩm dệt may không những có chỗ đứng ở thị trường trong nước mà còn được xuất khẩu đến rất nhiều quốc gia trên thế giới.

Trong bức tranh xuất khẩu chung của Việt Nam, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam luôn ghi được dấu ấn đầy ấn tượng. Năm 2018, KNXK ngành dệt may đạt 30,49 tỷ USD, chiếm 16,7% tổng KNXK cả nước, tăng 17,9% so với năm 2017, nằm trong top 3 nước xuất khẩu dệt may cao nhất thế giới, đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ. Đây là mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhất giai đoạn 2015-2018. Cũng trong năm 2018, bên cạnh việc đưa hàng dệt may Việt Nam vào được những thị trường cao cấp và khó tính như Mỹ (13,7 tỷ USD), EU (3,99 tỷ USD), Nhật Bản (3,81 tỷ USD), Hàn Quốc (3,3 tỷ USD), hàng dệt may Việt Nam còn thâm nhập vào được các thị trường mới như Ăngola, Thái Lan, Nga... Đặc biệt năm 2018, Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ 4 của Việt Nam với giá trị xuất khẩu đạt 1,54 tỷ USD, tăng 39,54% so với năm 2017. Đây là một con số vô cùng ấn tượng (Bộ Công Thương, 2019).

76

Bảng 3.13: KNXK hàng dệt may Việt Nam vào 10 thị trường lớn nhất năm 2018

STT Thị trường So với năm 2017 (%) Kim ngạch (Tỷ USD)

13,699 3,812 11,56 22,56 1 Mỹ 2 Nhật Bản

Trung Quốc

3,299 1,541 0,797 0,767 24,81 39,54 8,14 8,05 3 Hàn Quốc 4 5 Đức 6 Anh

0,666 0,616 0,615 0,488 19,7 2,36 16,87 40,24 7 Canada 8 Hà Lan Pháp 9 10 Campuchia

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tổng hợp của tác giả

Đối với ngành công nghiệp sản xuất đồ uống: Tác động lan toả tích cực của FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa Việt Nam thông qua kênh cạnh tranh cũng được biểu hiện rất rõ trong ngành công nghiệp sản xuất đồ uống của Việt Nam, trong đó Trung Nguyên và Vinamilk là hai ví dụ điển hình. Trước sức ép cạnh tranh của các DN FDI c.ùn.g. n.g.àn.h. n.h.ư N.e.stc.a.fe. (đối. th.ủ c.h.ín.h. c.ủa. Tru.n.g. N.g.u.yên.) và N.e.stle. (đối. th.ủ chính c.ủa. Vi.n.a.m.i.lk), Trung Nguyên và Vinamilk đã bắt đầu cuộc chiến giành lại thị trường trong nước. Bằng việc đổi mới công nghệ sản xuất, chọn lựa kỹ càng nguồn nguyên liệu đầu vào, nâng cao năng suất lao động, đa. d.ạn.g. h.óa. mẫu mã bao bì và n.ân.g. c.a.o c.h.ất lượn.g. sản. ph.ẩm, Trung Nguyên và Vinamilk đã. lớn. m.ạn.h không ngừng,. không những giành được thị phần trong nước mà còn kh.ẳn.g. địn.h. được. kh.ả n.ăn.g. c.ạn.h. tra.n.h. trên th.ị trườn.g. xu.ất kh.ẩu.. Hiện nay, sản phẩm c.à ph.ê Tru.n.g. N.g.u.yên. và đặc biệt là cà phê hoà tan G.7 đã. được xu.ất kh.ẩu. đến. hơn 80 qu.ốc. g.i.a. và vùng lãnh thổ trên. th.ế g.i.ới với các thị trường trọng điểm như Mỹ, .N.h.ật B.ản., Si.n.g.a.pore, Tru.n.g. Qu.ốc., Ba Lan, Ukraina, Campuchia, Th.ái. Lan… Đối với. Vinamilk, ngoài việc sản phẩm được phân phối mạnh tron nước với mạng lưới hơn 200 nhà phân phối và khoảng 240.000 điểm bán hàng phủ khắp 63 tỉnh/thành trên cả nước, sản phẩm của Vinamilk hiện cũng đã có mặt ở 43 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có các thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng thực phẩm nhập khẩu cao như Nhật Bản, Mỹ, Canada, Australia, New Zealand. Giá trị xuất khẩu của của Vinamilk từ mức xấp xỉ 30 triệu USD vào năm 1998 đã tăng lên hơn 200 triệu USD năm 2018, một con số khẳng định vị trí dẫn đầu của Vinamilk trong ngành sữa và góp phần ghi tên Việt Nam lên bản đồ ngành sữa thế giới.

77

N.h.ư vậy, thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh, FD.I. có tác. độn.g. lan toả tíc.h. c.ực. đến. hoạt động xu.ất kh.ẩu. c.ủa. các DN xuất khẩu tron.g. n.ước., góp phần n.ân.g. c.ao kh.ả n.ăn.g. và giá trị xuất khẩu của DN này, từ đó làm tăng. KNXK. c.ủa. Việt Nam..

* Tác động tiêu cực

Theo một nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), một trong những nguyên nhân dẫn tới số lượng DN giải thể, ngừng hoạt động tăng mạnh trong những năm qua là do sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ các DN FDI hoạt động trong cùng lĩnh vực. Sản phẩm của các DN FDI với chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng đẹp, phong phú đã được người tiêu dùng trên thế giới chấp nhận, đồng thời sau một thời gian dài sản xuất và kinh doanh trên nhiều thị trường khác nhau trên thế giới, các DN FDI đã tích luỹ được những kinh nghiệm để cải tiến sản phẩm, phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của nhiều đối tượng khách hàng ở nhiều thị trường trên thế giới. Trong khi đó, nhiều DN nội địa Việt Nam còn nặng lối tư duy sản phẩm chỉ cần đáp ứng giá trị sử dụng là đủ mà chưa quan tâm đến các yêu cầu khác của sản phẩm như kiểu dáng, mẫu mã, bao bì, tính thời trang, tính sang trọng…, chưa lấy khách hàng làm xuất phát điểm để sản xuất sản phẩm. Do đó, tính độc đáo của sản phẩm không cao, hầu như luôn đi sau các sản phẩm của các DN FDI về chất lượng, tính năng và cả kiểu dáng. Do đó, tính cạnh tranh rất thấp. Dưới sức ép cạnh tranh của các DN FDI, các DN nhỏ và vừa Việt Nam đã bị mất cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra, không thể trụ vững và đành phải quyết định rút lui khỏi thị trường. Đây chính là tác động tiêu cực không mong muốn của FDI tới các DN nội địa nói chung và các DN xuất khẩu nội địa nói riêng. Tác động này làm giảm cơ hội và giá trị xuất khẩu của khối DN trong nước, giảm KNXK cũng như giá trị nội địa của hàng xuất khẩu Việt Nam.

Chuyên gia tài chính Nguyễn Duy Tuân cũng cho rằng nhiều DN có nguồn lực tài chính eo hẹp nên không thể đầu tư mạnh cho tiếp thị nên mức độ nhận biết sản phẩm trên thị trường mờ nhạt. Trong khi đó, DN FDI có khả năng bao phủ hệ thống phân phối, liên tục tung ra nhiều chương trình tiếp thị hấp dẫn khiến khách hàng không còn nhớ đến sản phẩm cùng loại của các DN Việt Nam. Do đó, các DN trong nước, thậm chí cả những DN lớn, những DN "vang bóng một thời" phải lay lắt tìm đường sống và nhiều trong số đó đã bị đào thải khỏi thị trường (Hội Doanh nhân Sài Gòn, 2019).

Số liệu thống kê của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ năm 2010, số DN phải giải thể, ngừng hoạt động ở Việt Nam tăng cao. Trung bình có khoảng 63.385 DN giải thể, ngừng hoạt động hàng năm trong giai đoạn 2010-2018, đỉnh điểm vào năm 2018, có tới 97.838 DN giải thể, ngừng hoạt động, tăng tới 61,57% so với năm 2017. Hầu hết các DN này đều là các DN nhỏ và vừa. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc các DN Việt Nam phải giải thể, ngừng hoạt động, một trong những nguyên

78

nhân dẫn tới tình trạng này đó chính là do sự có mặt của các DN FDI và sức ép cạnh tranh được tạo ra bởi các DN FDI đối với các DN Việt Nam. Sự có mặt của các DN FDI với tiềm lực tài chính mạnh, trình độ công nghệ cao và nguồn nhân lực có chất lượng hơn đã tạo ra áp lực cạnh tranh quá khốc liệt khiến nhiều DN xuất khẩu nội địa, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa, mất nguồn cung ứng đầu vào cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu và mất thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra vào tay các DN FDI. Sự yếu kém hơn về tiềm lực tài chính, về công nghệ, về quy mô sản xuất, về trình độ nguồn nhân lực, về kinh nghiệm và thị trường xuất khẩu đã khiến các DN nội địa buộc phải cắt giảm sản xuất, thậm chí là phải rút lui khỏi thị trường khi có sự xuất hiện của các DN FDI trong cùng lĩnh vực.

Một tác động tiêu cực khác của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa của Việt Nam

thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh đó là cuộc chạy đua về giảm chi phí để hạ giá thành sản phẩm. Kết quả điều tra của VCCI (2011) cho thấy, giá thành sản phẩm là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình xây dựng năng lực cạnh tranh của các DN nội địa.

Tức là, các DN nội địa chủ yếu vẫn dựa vào lợi thế về chi phí sản xuất thấp, trong đó chủ yếu là chi phí về lao động, nguyên vật liệu… Cuộc chạy đua về chi phí này có thể sẽ khiến cho các DN nội địa lựa chọn nguyên vật liệu không đảm bảo chất lượng, sử dụng quá nhiều sức lao động vượt quá các tiêu chuẩn quy định của các thị trường xuất khẩu.

Đặc biệt, về lâu về dài, hướng xây dựng năng lực cạnh tranh này sẽ không giúp các DN xuất khẩu nội địa tiếp cận được với những phân khúc thị trường cao cấp - nơi mà người tiêu dùng không quan tâm nhiều đến giá mà chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm dịch vụ (Bộ Công Thương, 2019). Sự xuất hiện của các DN FDI với trình độ công nghệ cao hơn sẽ làm xuất hiện thêm phân khúc thị trường có nhu cầu về các sản phẩm có hàm lượng công nghệ chất xám cao (technology-intensive products), điều này tạo áp lực cạnh tranh ngày càng càng lớn hơn đối với các DN nội địa Việt Nam.

(2) Kênh CGCN và hoạt động R&D

* Tác động tích cực

Thứ nhất, thông qua kênh CGCN từ các DN FDI

CGCN là một kênh tác động tràn tích cực của FDI tới xuất khẩu ở Việt Nam. Tác động lan toả về công nghệ từ FDI tới xuất khẩu ở Việt Nam được truyền dẫn thông qua hai hình thức: (i) nhà đầu tư nước ngoài thực hiện CGCN sẵn có vào Việt Nam; (ii) các DN xuất khẩu nội địa học hỏi bí quyết và cách thức vận hành công nghệ

thông qua liên kết sản xuất và kinh doanh với các DN FDI. Cả hai hình thức này đầu góp phần làm tăng năng suất của các DN xuất khẩu nội địa, từ đó làm tăng KNXK và giá trị nội địa cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam.

79

Hoạt động CGCN sẵn có từ bên ngoài vào có tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất nói chung và hoạt động sản xuất hàng hoá xuất khẩu của các DN Việt Nam nói riêng. Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động CGCN bằng việc mang những công nghệ sẵn có ở nước mình vào Việt Nam, sau đó tiến hành cải tiến và phát triển công nghệ phù hợp với điều kiện sử dụng ở Việt Nam. Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, FDI đã góp phần thúc đẩy CGCN, từng bước nâng cao trình độ công nghệ sản xuất trong nước. Một số ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến của thế giới như bưu chính - viễn thông, dầu khí, xây dựng, cầu đường, khách sạn, văn phòng cho thuê... Nhiều DN trong nước đã đổi mới hoặc nâng cấp trang thiết bị đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao của nền kinh tế. Do đó, Việt Nam đã sản xuất được nhiều sản phẩm mới mà trước đây chưa có, hạn chế nhập khẩu nhiều loại hàng hóa thuộc các lĩnh vực như dầu khí, vật liệu xây dựng, điện tử gia dụng, phương tiện giao thông… Các DN FDI đã tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong nước, góp phần hạn chế nhập khẩu và gia tăng nhanh chóng KNXK như máy tính, smartphone, điện tử gia dụng, cơ khí chế tạo… Dầu khí và truyền thông là hai ngành kinh tế đã phát triển với tốc độ nhanh, hiện đại, tiến kịp trình độ thế giới nhờ CGCN thông qua FDI.

Đối với ngành dầu khí, các hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí đều có quy định về CGCN, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật, nên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) không những làm chủ được nhiều công nghệ hiện đại và phức tạp trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở thềm lục địa của Việt Nam mà còn có năng lực về công nghệ và nhân lực tham gia một số liên doanh ở nước ngoài. PVN đã áp dụng các phần mềm xử lý và minh giải tài liệu địa chấn, mô hình hóa và mô phỏng mỏ, thiết kế khai thác, công nghệ khai thác của các hãng Schlumberger, Landmark, GeoQuest… đạt được hiệu quả kinh tế cao.

Đối với ngành truyền thông, so với 30 năm trước, ngành truyền thông Việt Nam đã có bước tiến vượt bậc, bắt đầu từ hợp tác với một số DN FDI trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông và áp dụng cơ chế cạnh tranh từ những năm cuối thế kỷ XX. Nhiều công nghệ hiện đại đã được chuyển giao và ứng dụng thành công như mạng viễn thông số hóa, mạng cáp quang, công nghệ GSM và CDMA, đặc biệt là công nghệ 4G đã được một số DN viễn thông bắt đầu áp dụng. Số lượng DN ứng dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh, thương mại điện tử tăng nhanh. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã triển khai thành công một số hoạt động CGCN trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông với hai cường quốc lớn là Hoa Kỳ và Nhật Bản (Nhà Đầu tư, 2017).

Hoạt động CGCN sẵn có của các DN FDI vào Việt Nam thường được thực hiện dưới hai hình thức: hợp đồng CGCN và thoả thuận góp vốn bằng công nghệ. Tuy nhiên,

80

hình thức CGCN phổ biến nhất là hợp đồng CGCN. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, từ năm 1988 đến nay, có khoảng 1.580 hợp đồng CGCN đã được thực hiện thông qua hoạt động FDI, trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là trong ngành chế biến chế tạo. Con số này khá khiêm tốn so với tổng số dự án FDI được phê duyệt tại Việt Nam tính đến hết năm 2018 (29.643 dự án). Như vậy, số dự án FDI có hợp đồng CGCN chiếm chưa đến 7% tổng số dự án FDI đang được triển khai và hoạt động tại Việt Nam. Hơn nữa, mặc dù các công nghệ chuyển giao vào Việt Nam phần lớn có trình độ bằng hoặc cao hơn công nghệ sẵn có ở trong nước, nhưng mới chỉ đạt mức trung bình hoặc trung bình tiên tiến so với các nước trong khu vực. Công nghệ được chuyển giao theo các dự án FDI chủ yếu do lợi ích của nhà đầu tư, nên có tình trạng gây ô nhiễm môi trường, phát thải nhiều khí các-bon. Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, hơn 80% DN FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, khoảng 5-6% sử dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến (trong khi mục tiêu là 35 - 40%), số còn lại sử dụng công nghệ lạc hậu (Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2013). Trong Bảng xếp hạng về năng lực cạnh tranh công nghiệp của UNIDO (2017), Việt Nam đứng thứ 50 trên tổng số 141 nước được xếp hạng, tăng 44 bậc so năm 1990. Tuy vậy, trong ASEAN, Việt Nam chỉ đứng trên Philippines (hạng 53) và Campuchia (hạng 90) (UNIDO, 2017). Như vậy, mục tiêu thu hút và CGCN thông qua hoạt động FDI của Việt Nam được coi là “chưa đạt yêu cầu”, và do đó kỳ vọng về tác động lan toả tích cực từ FDI tới kinh tế Việt Nam nói chung và xuất khẩu nói riêng vẫn chưa đạt được như kỳ vọng.

Việc liên kết sản xuất và kinh doanh giữa các DN xuất khẩu nội địa với các DN FDI giúp các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam học hỏi được bí quyết công nghệ và cách thức vận hành công nghệ để có thể sản xuất hàng hoá xuất khẩu đạt tiêu chuẩn của các DN FDI (Fosfuri & cộng sự, 2001). Quá trình học hỏi giúp các DN xuất khẩu nội địa cải tiến được công nghệ sản xuất hàng hoá xuất khẩu của chính mình, từ đó có thể nâng cao được cơ hội và khả năng xuất khẩu và lan toả làm tăng KNXK cả nước. Theo Báo cáo “Đánh giá đầu tư trực tiếp nước ngoài và định hướng tới năm 2020” của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), yếu tố công nghệ đến từ các DN FDI có tác động tới năng suất lao động và năng suất nhân tố tổng hợp của các DN nội địa: với cùng một trình độ công nghệ như nhau, các DN nội địa liên doanh sẽ có năng suất cao hơn, các DN nội địa cố năng suất cao nhất thuộc về các DN nội địa liên doanh với các DN FDI có trình độ công nghệ cao. Tuy nhiên, cũng theo số thống kê về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết năm 2018, FDI vào Việt Nam thông qua hình thức DN 100% vốn nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (71,95%), hình thức DN liên doanh chỉ chiếm một con số khá khiêm tốn (22,07%) trong tổng số các DN FDI. Những con số này cho thấy ở Việt Nam hiện nay, số lượng các DN nội địa có năng lực đủ mạnh để hấp dẫn các

81

nhà đầu tư nước ngoài thành lập liên doanh còn hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao. Do đó, tác động lan toả tích cực về công nghệ từ FDI tới xuất khẩu của Việt Nam vẫn bị hạn chế bởi tác động này được thực hiện ở các DN liên doanh tốt hơn nhiều so với các DN 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Tác động tràn của FDI thông qua kênh CGCN từ các MNCs ở Việt Nam đã diễn ra ở giai đoạn đầu thu hút FDI. Do Việt Nam muốn phát triển mạnh các ngành công nghiệp, đặc là các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu nên đã chào đón sự thâm nhập của các MNCs nhằm tăng cường năng lực của các ngành công nghiệp trong nước thông qua trình độ công nghệ hiện đại và kỹ năng quản lý tiên tiến của các DN FDI. Các MNCs đã có tác động lan toả tích cực tới các ngành công nghiệp của Việt Nam thông qua CGCN và tri thức cho các DN trong nước, giúp các DN trong nước nâng cao năng suất lao động và xây dựng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực mới. Bên cạnh đó, một số DN FDI đã trợ giúp kỹ thuật cho các nhà cung cấp trong nước để nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu của các DN FDI. Do đó, CGCN được diễn ra giữa một số DN FDI và nhà cung cấp của họ. Một số nhà cung cấp đầu vào có thể nâng cấp cơ sở sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều này mang lại lợi ích kinh tế và công nghệ cho các nhà cung cấp hơn so với tự sản xuất. Tác động tích cực này của FDI giúp một số DN trong nước được tham gia vào chuỗi cung ứng của các DN FDI, từ đó góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu và giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam.

Tuy nhiên, theo Báo cáo tổng kết “Hội thảo chuyên đề về thu hút và chuyển giao công nghệ trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp tổ chức năm 2018, mục tiêu về CGCN trong thời gian qua chưa đạt được như mong đợi. Sự lan toả công nghệ từ DN FDI sang DN trong nước còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn tới, đổi mới công nghệ đóng góp không nhiều vào sự thay đổi năng suất của Việt Nam. Trong đó, khối DN FDI sử dụng công nghệ Trung Quốc khá nhiều, chiếm tỷ lệ cao hơn so với DN trong nước. Nhìn chung, so sánh giữa hai khu vực DN trong nước và DN FDI thì cả hai khu vực DN này đều không có sự khác biệt về mức độ đổi mới công nghệ. Đồng thời, quá trình đổi mới công nghệ ở Việt Nam chưa bền vững, chủ yếu tập trung vào giảm giá thành sản phẩm hơn là tìm ra sản phẩm mới và thị trường mới. Trong quá trình CGCN, việc CGCN của khu vực DN FDI chỉ tác động đến chính DN FDI hơn là lan toả tới khu vực DN trong nước như kỳ vọng. Trong hơn 30 năm đón nhận dòng vốn FDI, lan toả từ CGCN với DN trong nước nhờ liên kết ngược vẫn còn yếu, khác với trường hợp của nhiều nước phát triển, điển hình là Trung Quốc. Điều này có nghĩa là chỉ có rất ít các DN trong nước tham gia được vào chuỗi cung ứng của DN FDI. Nguyên nhân là do nhiều DN trong nước chưa liên kết sản xuất được với DN FDI, mặc dù khu vực FDI mở rộng

82

quy mô. Thực tế này cho thấy sự hạn chế của Việt Nam trong khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng như chất lượng FDI vào Việt Nam (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2018).

Thống kê về phương thức đổi mới công nghệ của các DN nội địa ngành dệt may Việt Nam trong bảng 3.13 dưới đây cũng cho thấy đa số DN nội địa lựa chọn hình thức khép kín, ít có sự liên kết, hợp tác với nước ngoài. Phương thức đổi mới công nghệ được áp dụng nhiều nhất là mua công nghệ từ nước ngoài và bắt trước thiết kế theo mẫu vì hai phương thức này có ưu điểm là tiết kiệm thời gian và chi phí nghiên cứu. Thực trạng này của các DN dệt may đã phản ánh đúng thực trạng của các DN nội địa Việt Nam ở hầu hết các lĩnh vực.

Bảng 3.14: Phương thức đổi mới công nghệ của các DN nội địa ngành dệt may

STT Phương thức đổi mới công nghệ

1 2 Tự tổ chức nghiên cứu và thiết kế trong nội bộ DN Hợp tác với cơ quan khoa học nước ngoài Tỷ lệ (%) 32 26

Hợp tác với cơ quan khoa học trong nước Bắt trước, thiết kế lại theo mẫu

3 4 5 Mua công nghệ trong nước 6 Mua công nghệ từ nước ngoài 5 54 20 54

7 8 9 Liên doanh, liên kết với DN trong nước Liên doanh, liên kết với DN nước ngoài Thuê tư vấn trong nước 20 23 18

10 Thuê tư vấn nước ngoài 3

Nguồn: Đào Văn Thanh (trang 76)

Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (2016), hiệu quả CGCN từ DN FDI của Việt Nam thấp ở mức đáng ngạc nhiên và có xu hướng ngày càng bị đẩy ra xa so với các quốc gia trong khu vực. Cụ thể, năm 2009, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 57 trên toàn cầu về tiêu chí này; nhưng đến năm 2014, Việt Nam đã tụt xuống ở vị trí thứ 103, giảm 46 bậc sau 5 năm, thấp hơn nhiều so với vị trí các nước khu vực như Malaysia xếp thứ 13, Thái Lan thứ 36, Indonesia thứ 39, Campuchia thứ 44. Theo số liệu năm 2015, năm ngành đóng góp tới 49% giá trị gia tăng của toàn ngành công nghiệp lại bao gồm ba ngành công nghệ thấp là công nghiệp chế biến, may mặc, giày da và hai ngành công nghệ trung bình là ngành khai khoáng, ngành thép. Ngành công nghệ cao duy nhất tăng nhanh, đóng góp về giá trị gia tăng 12,2% là ngành điện tử, máy tính và sản phẩm quang học. Tuy mang tiếng là ngành công nghệ cao, thực tế,

83

các công đoạn được thực hiện ở Việt Nam chỉ là lắp ráp, mang tính thủ công và chưa hề có yếu tố công nghệ cao.

Việc CGCN của các DN FDI những năm qua không như mong muốn về cả số lượng lẫn chất lượng. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hơn 80% DN FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 14% ở mức thấp và lạc hậu, chỉ có 5-6% sử dụng công nghệ cao. So với Thái Lan, chỉ trong một thời gian khá ngắn (từ năm 1986- 1995), sự phát triển về vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của các DN nội địa Thái Lan đã phát triển chóng mặt, chiếm tới 72% tư bản trong nền kinh tế, trong đó khối FDI chỉ chiếm có 28%. Các DN FDI tại Thái Lan tuy vẫn giữ vai trò mũi nhọn về công nghệ và vốn nhưng bị buộc phải liên kết chặt chẽ với các DN nội địa trong hàng loạt khâu và quy trình sản xuất. Trong khi đó ba thập kỷ qua, Việt Nam vẫn đang loay hoay ở bước đầu tiên, và chừng nào chu trình CGCN của Việt Nam sẽ hoàn tất vẫn là một câu hỏi mở. Cũng theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư năm 2017, FDI vào Việt Nam phần lớn đến từ các nước ở châu Á chiếm tới 70,46% (trong đó Đông Nam Á chiếm 21%), các nước châu Âu chỉ chiếm 22%, châu Mỹ chiếm 5%. Những con số trên cho thấy Việt Nam hiện vẫn chưa thu hút các nhà đầu tư từ các nước có công nghệ phát triển, công nghệ nguồn (Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội, 2019).

Như vậy, tác động lan toả về công nghệ từ FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa Việt Nam thông qua kênh CGCN dưới cả hai hình thức trên mặc dù đã thu được một số kết quả nhất định nhưng vẫn còn rất hạn chế và chưa được như kỳ vọng. Việt Nam cần phải có các giải pháp cụ thể để phát huy tối tác tác động lan toả tích cực này nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu của các DN nội địa và cả nước.

Thứ hai, thông qua hoạt động R&D của các DN FDI

Hoạt động R&D của các DN FDI là kênh truyền dẫn tác động tràn tích cực của FDI tới các DN trong nước. Hiện nay, giữa các DN Việt Nam và các DN FDI có một khoảng cách lớn về R&D. DN Việt Nam ít khi giới thiệu một sản phẩm mới ra thị trường dựa trên các công nghệ mới được phát hiện. Để làm được đó, DN phải có một tiềm lực tài chính mạnh, đây vốn là hạn chế của các DN Việt Nam. Hợp tác với DN FDI có thể giúp DN Việt Nam trong quá trình R&D, và như vậy một số tác động tràn tiềm năng trọng hoạt động R&D xuất hiện.

Các MNCs ngày càng quốc tế hóa hoạt động R&D của mình, chuyển hoạt động này ra nước ngoài nơi họ có chi nhánh, nhằm củng cố khả năng phát triển sản phẩm và năng lực sáng tạo nhờ tận dụng chất xám của nhân viên bản địa với chi phí rẻ. Hiện nay, đã có một số MNCs lớn như Nissan, Samsung, Hewlett-Parkard (HP), Bosch, Panasonic, Yamaha, Piaggio… thành lập các trung tâm R&D tại Việt Nam.

84

Bắt đầu từ năm 2001, Nissan Techno - Công ty con chịu trách nhiệm về R&D cho Nissan - đã thành lập Nissan Techno Vietnam để tiến hành hoạt động R&D trong lĩnh vực ô tô tại Hà Nội. Dù Việt Nam chưa có được một ngành công nghiệp ô tô đúng nghĩa, nhưng Nissan Techno Vietnam vẫn thu được những kết quả tốt trong hoạt động R&D. Đến năm 2011, Nissan Techno đã đầu tư một dự án R&D có quy mô lớn hơn tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc nhằm đáp ứng nhu cầu. Tính đến năm 2017, đã có gần 1.800 nhân viên Việt Nam làm việc trong các dự án R&D của Nissan Techno Vietnam.

Với tổng vốn đầu tư lên tới 300 triệu USD, Samsung hiện đã xây dựng được một trung tâm R&D có quy mô lớn nhất tại Việt Nam trong lĩnh vực phần mềm. Đây là nơi làm việc của hơn 1.600 kỹ sư Việt Nam và cũng là nơi cho ra đời hàng trăm ứng dụng phần mềm cho điện thoại Samsung. Việc Samsung quyết tâm xây dựng một trung tâm R&D lớn tại Việt Nam cho thấy tập đoàn này đang coi Việt Nam như là một trung tâm sản xuất và nghiên cứu phát triển điện thoại của châu Á và thế giới.

Bên cạnh đó, phải kể đến những trung tâm R&D của các MNCs lớn khác như Hewlett-Parkard (HP), Panasonic, Yamaha và Piaggio. Hãng Piaggio thậm chí còn đặt trung tâm R&D cho cả khu vực châu Á tại Việt Nam mà không phải ở các thị trường xe máy lớn như Ấn Độ hay Trung Quốc. Hầu hết những tập đoàn này đều mới bắt đầu phát triển các trung tâm R&D ở Việt Nam trong khoảng gần một thập niên trở lại đây. Đây cũng có thể coi là dấu hiệu đáng mừng cho thấy sự chuyển dịch FDI vào lĩnh vực R&D tại Việt Nam đang có chiều hướng ra gia tăng.

Hoạt động R&D tại Việt Nam của các MNCs có thể giúp tạo ra những công nghệ mới hoặc cải tiến, đổi mới công nghệ tại Việt Nam. Bên cạnh đó, đội ngũ lao động làm việc trong các trung tâm R&D của các MNCs có thể học hỏi các kiến thức về bí quyết và quy trình công nghệ, sau đó lan toả các kiến thức này tới các DN nội địa nói chung và DN xuất khẩu nội địa nói riêng. Đây là một tác động lan toả rất tích cực của FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa và cả nước. Với. trìn.h. độ c.ôn.g. n.g.h.ệ h.i.ện. đại. h.ơn., n.ăn.g. su.ất la.o độn.g. và c.h.ất lượn.g. sản. ph.ẩm. sẽ được. n.ân.g. c.a.o, tín.h. c.ạn.h. tra.n.h. c.ủa. sản. ph.ẩm. c.ũn.g. được. n.ân.g. lên. và d.o đó tăng kh.ả n.ăn.g. và giá trị xu.ất kh.ẩu. cho Việt Nam..

Tuy nhiên, hiện mới chỉ có một số rất ít các MNCs thực hiện hoạt động R&D tại Việt Nam. Nhìn chung, hoạt động R&D của các MNCs tại Việt Nam hiện mới chỉ dừng ở những công nghệ nhỏ, đơn giản hoặc nghiên cứu cải tiến công nghệ cho phù hợp để có thể thích nghi với điều kiện Việt Nam. Nhiều dự án chỉ cam kết khi thẩm định hồ sơ xin cấp Giấy chứng hận đầu tư, nhưng khi triển khai thì không thực hiện đúng như cam kết. Vì vậy, tác động lan toả tích cực về công nghệ từ FDI tới xuất khẩu ở Việt Nam thông qua hoạt động R&D vẫn còn rất hạn chế.

85

* Tác động tiêu cực

Theo Báo cáo Tổng kết thi hành Luật Chuyển giao Công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2016, hoạt động CGCN thông qua các dự án FDI tại Việt Nam trong thời gian qua chưa được như kỳ vọng và chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế. Thực tế là công nghệ mà các DN nước ngoài chuyển giao cho Việt Nam không phải loại tiên tiến, chỉ một số ít đạt trình độ công nghệ ở mức trung bình, còn đa số công nghệ cũ, lạc hậu. Cá biệt có trường hợp công nghệ được chuyển giao là công nghệ thanh lý khiến Việt Nam có nguy cơ trở thành “bãi rác công nghệ”. Tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường quốc tế còn yếu kém do hầu hết công nghệ sử dụng trong dự án FDI đã và đang được sử dụng phổ biến ở chính quốc. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do chính sách ưu đãi đối với các công nghệ thuộc danh mục khuyến khích chuyển giao chưa đủ mạnh để các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam. Mặt khác, điều kiện ràng buộc chưa tạo thành rào cản đối với các công nghệ hạn chế chuyển giao. Đặc biệt, nhiều địa phương chạy theo thành tích, vượt rào để thu hút FDI bằng mọi giá. Do vậy, nhiều công nghệ chuyển giao vào Việt Nam không đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Về phía nhà đầu tư nước ngoài, khi thực hiện hoạt động đầu tư nói chung và CGCN nói riêng đều tính toán để thu lợi nhuận cao nhất. Mặt khác, nhiều địa phương, cơ quan cũng thiếu thông tin và hiểu biết về công nghệ, đặc biệt là yếu kém trong công tác thẩm định nên đã để nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao vào những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.

Bắc Mỹ và châu Âu là những thị trường nguồn của công nghệ cao, công nghệ hiện đại, có tác động lớn đến sự đổi mới công nghệ và kỹ thuật trong nước thì lại xuất siêu, ngược lại nước ta lại nhập siêu rất lớn từ thị trường châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc với phần lớn là công nghệ thấp và trung bình. Tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc ngày càng tăng, nếu năm 2005 tỷ lệ nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ khoảng 16%, thì đến năm 2015 tỷ lệ này đã lên 30%, trong đó hơn 90% lượng nhập khẩu là cho sản xuất (khoảng 60% là nguyên vật liệu đầu vào và hơn 30% là máy móc thiết bị). Như vậy, có thể thấy công nghệ của Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc, điều này không chỉ làm thâm hụt thương mại mà còn dẫn đến nguy cơ nhập khẩu “ô nhiễm” nếu không chọn lọc kỹ càng.

(3) Kênh di chuyển lao động và chuyển giao tri thức

* Tác động tích cực

Các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam có thể tiếp cận và nhận chuyển giao tri thức từ các DN FDI thông qua kênh di chuyển lao động từ các DN FDI sang các DN này. Lao động có kỹ năng chuyển từ DN FDI tới DN trong nước được coi là một kênh quan trọng tạo ra tác động tràn tích cực.

Quá trình chuyển giao tri thức thông qua kênh di chuyển lao động từ các DN FDI

tới các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam được mô tả ở hình 3.1.

86

Di chuyển lao động

Lao động Việt Nam làm việc tại các DN FDI

Học hỏi kiến thức và kỹ năng SX hàng hoá XK

Áp dụng kiến thức và kỹ năng SX hàng hoá XK tại các DN nội địa

DN FDI DN XK nội địa

Chuyển giao tri thức

Hình 3.1: Quá trình chuyển giao tri thức từ DN FDI sang DN xuất khẩu nội địa

Nguồn: Tác giả nghiên cứu và tổng hợp

Trước hết, sự có mặt của các DN FDI đã tạo ra một lượng lớn việc làm cho

người lao động Việt Nam

Theo kết quả Tổng điều tra lao động việc làm năm 2017 của Tổng cục Thống kê, nếu năm 1995 cả nước mới có khoảng 330 nghìn lao động làm việc trong FDI, thì năm 2007 đã tăng lên hơn 1,3 triệu người và đến cuối năm 2017 tăng lên 4,5 triệu lao động (chiếm 31,03% tổng số lao động khu vực DN).

DNNN

DN FDI

DN tư nhân

0 0 8 8

0 7 5 8

0 5 5 7

6 3 0 7

5 5 8 6

8 5 7 6

0 8 6 6

5 7 7 4

0 2 7 4

9 4 6 4

6 5 5 4

0 0 5 4

0 4 1 4

0 8 7 3

7 8 3 3

6 4 0 3

0 2 7 2

6 5 1 2

6 5 0 2

0 3 8 1

3 1 8 1

4 4 7 1

0 1 7 1

5 7 6 1

4 6 6 1

6 0 6 1

7 6 4 1

8 5 4 1

4 0 4 1

0 3 3 1

6 2 3 1

0 8 2 1

0 0 2 1

2 0 0 7

2 0 0 8

2 0 0 9

2 0 1 0

2 0 1 1

2 0 1 2

2 0 1 3

2 0 1 4

2 0 1 5

2 0 1 6

2 0 1 7

Đơn vị tính: 1000 người

Hình 3.2: Lao động làm việc trong các loại hình DN ở Việt Nam

Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và tổng hợp của tác giả

Tốc độ tăng của lao động khu vực FDI khá cao, đạt bình quân 9,6%/năm giai đoạn 2007-2017, cao gấp gần 4 lần tăng trưởng lao động của nền kinh tế. Ngoài lao động trực tiếp, DN FDI còn gián tiếp tạo ra rất nhiều việc làm, đạt khoảng 5 - 6 triệu lao động gián tiếp (Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2014; Trần Thuỷ, 2018).

87

Tiếp đó, lao động Việt Nam làm việc trong các DN FDI sẽ được trang bị những

kiến thức và kỹ năng sản xuất hàng hoá theo tiêu chuẩn xuất khẩu

Để đáp ứn.g. được. yêu. c.ầu. sản. xu.ất, n.g.u.ồn. n.h.ân. lực. n.ày c.ần. được. đào tạo m.ột c.ác.h. b.ài. b.ản., m.ột số được. đào tạo tron.g. n.ước., m.ột số kh.ác. được. đào tạo tại. n.ước. n.g.oài.. B.ên. c.ạn.h. vi.ệc. n.ân.g. c.a.o trìn.h. độ c.h.u.yên. m.ôn. c.h.o đội. n.g.ũ kỹ th.u.ật, đội. n.g.ũ qu.ản. lý c.ủa. n.ước. c.h.ủ n.h.à c.ũn.g. được. ti.ếp c.ận. với. c.ác.h. làm. vi.ệc. và qu.ản. lý ti.ên. ti.ến. ph.ục. vụ c.h.o h.oạt độn.g. sản. xu.ất xu.ất kh.ẩu.. Trong quá trình làm việc trong các DN FDI, người lao động đã trưởng thành trên nhiều mặt: tác phong công nghiệp, văn hóa DN, trình độ kỹ năng, chuyên môn kỹ thuật và quản lý, trình độ ngoại ngữ… Nhiều lao động sau thời gian làm việc trong các DN FDI đã trở thành những cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, nòng cốt trong các DN. Không chỉ người Việt Nam đánh giá tích cực về chất lượng nguồn nhân lực của mình mà người nước ngoài cũng có nhận xét tương tự. Theo ông Bang Hyun Woo (Phó Tổng giám đốc Công ty Samsung Việt Nam), nếu so sánh năng suất lao động và chất lượng lao động củaViệt Nam và Hàn Quốc với cùng một công nghệ, máy móc thiết bị như nhau thì lao động Việt Nam bằng 99% so với lao động Hàn Quốc (Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019).

Khu vực FDI đã góp phần hình thành đội ngũ lao động có chất lượng cao hơn bao gồm công nhân lành nghề, kỹ sư công nghệ, chuyên gia dịch vụ, cán bộ quản trị DN. Năm 2017, khu vực này đào tạo và sử dụng hơn 2,3 triệu công nhân kỹ thuật trong lắp ráp và vận hành máy móc thiết bị và 680.000 thợ kỹ thuật khác; gần 340.000 nhân viên văn phòng, bảo vệ và bán hàng có kỹ thuật; 295.000 lao động làm các nghề chuyên môn kỹ thuật bậc cao; và 112.000 lao động làm các nghề chuyên môn kỹ thuật bậc trung. Giai đoạn 2007-2017, nhu cầu lao động chuyên môn kỹ thuật trong khu vực FDI có xu hướng chuyển mạnh sang nhóm nghề “thợ có kỹ thuật lắp ráp và vận hành máy móc thiết bị” với tỷ lệ tăng nhanh từ 14,76% năm 2007 lên 57,87% năm 2017. Trong khi đó, nhóm nghề bậc thấp hơn là “thủ công có kỹ thuật/thợ kỹ thuật khác” đã giảm mạnh từ 48,44% năm 2007 xuống còn 17% năm 2017. Đặc biệt, lao động giản đơn trong các DN FDI chiếm một tỷ lệ nhỏ và có xu hướng giảm nhanh từ 11,84% năm 2007 xuống còn 6,3% năm 2017. Xu hướng này đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam, thúc đẩy quá trình chuyển từ lao động giản đơn, thu nhập thấp sang lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, thu nhập cao (Lan Hương, 2018).

Bên cạnh đó, trong trường hợp các DN FDI có vai trò là những DN mua hàng hoặc các nhà phân phối có yêu cầu cao về tiêu chuẩn sản phẩm, để đáp ứng các tiêu chuẩn này, các DN nội địa tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, hình thành và nâng cao kỹ năng lao động. Theo Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam (2011), có khoảng 11% các DN FDI hợp tác với DN nội địa để nâng cao chất lượng của DN đó. Như vậy, ngoài mục tiêu là nâng cao chất lượng của chính các DN FDI, một tỷ lệ tương đối lớn các DN

88

FDI có mục tiêu là nâng cao chất lượng của các DN nội địa mà họ hợp tác. Các DN FDI có thể cử chuyên gia tới đào tạo đội ngũ lao động của DN nội địa. Thậm chí để đảm bảo tận dụng tối ưu nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực chất lượng cao đang có xu hướng dư thừa ở các DN FDI sẽ di chuyển sang các DN nội địa để làm việc và chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức cho đội ngũ lao động của các DN nội địa (UNIDO, 2012).

Một số DN FDI đã đầu tư nguồn tài chính và công sức lớn để đào tạo nhân lực, chẳng hạn như Toyota Việt Nam với rất nhiều chương trình cho sinh viên ngành kỹ thuật. Nổi bật trong số đó là các chương trình đào tạo kỹ thuật được Toyota Việt Nam triển khai từ năm 2000 với mục tiêu hỗ trợ các trường đại học, cao đẳng đào tạo kỹ thuật, dạy nghề chuyên ngành ô tô, nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên, kỹ thuật viên lành nghề thông qua các mẫu xe và thiết bị kỹ thuật trực quan được cung cấp bởi Toyota. Để sau đó, các học viên có cơ hội được tuyển dụng vào làm việc tại hệ thống đại lý của Toyota Việt Nam, cũng như đóng góp nguồn nhân lực dồi dào cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam (Thanh Hương, 2018).

Như vậy, FDI có tác động tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam. N.g.u.ồn. nhân lực với. trìn.h. độ c.a.o h.ơn. c.ũn.g. là m.ột tron.g. n.h.ữn.g. đi.ều. ki.ện. ti.ên. qu.yết g.óp ph.ần. n.ân.g. c.a.o n.ăn.g. su.ất la.o độn.g. và c.h.ất lượn.g. sản. ph.ẩm., từ đó n.ân.g. c.a.o tín.h. c.ạn.h. tra.n.h. c.ủa. sản. ph.ẩm. trên. th.ị trườn.g. tron.g. n.ước. và qu.ốc. tế và d.o đó, kh.ả n.ăn.g. xu.ất kh.ẩu.. c.a.o h.ơn,. từ đó làm. tăn.g. KNXK của khu vực FDI và cả nước..

Cuối cùng, các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam có thể tiếp cận và nhận chuyển giao

tri thức từ các DN FDI thông qua di chuyển lao động từ các DN FDI sang các DN nội địa

Tác động này xuất hiện khi những lao động được đào tạo và làm việc tại các DN FDI chuyển đến làm việc cho các DN trong nước hoặc tự thành lập DN mới. Những lao động này mang đến DN mới nơi họ làm việc những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất hàng hoá xuất khẩu của các DN FDI nơi mà họ từng làm việc trước đó. Việc vận dụng những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất hàng hoá xuất khẩu của nguồn lực di chuyển này sẽ tạo điều kiện để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực sản xuất xuất khẩu trong nước, từ đó giúp cải thiện nâng lực xuất khẩu của các DN nội địa, qua đó cải thiện năng lực xuất khẩu của cả nước.

* Tác động tiêu cực

Sự di chuyển lao động không chỉ diễn ra một chiều từ các DN FDI sang các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam mà chiều ngược lại đã và đang diễn ra rất mạnh. Rất nhiều lao động Việt Nam sau một thời gian làm việc và tích luỹ kinh nghiệm tại các DN xuất khẩu nội địa đã chuyển tới làm việc cho các DN FDI gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám” của các DN xuất khẩu nội địa. Hiện tượng này có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN nội địa do mất nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng và kinh nghiệm sản xuất hàng hoá xuất khẩu.

89

“Chảy máu chất xám” trong các DN nội địa không còn là vấn đề mới, hiện tượng này vẫn đang hàng ngày, hàng giờ diễn ra, khiến cho các DN gặp rất nhiều khó khăn. Việc những lao động chất lượng cao, có kinh nghiệm chuyển từ DN nội địa sang DN FDI không phải là chuyện hiếm ở Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng “chảy máu chất xám” của các DN nội địa nói chung là do chế độ đãi ngộ chưa phù hợp. Hầu hết người lao động đều mong muốn được hưởng theo lao động. Tuy nhiên, ở một số DN nội địa Việt Nam, đặc biệt là các DN Nhà nước hiện nay vẫn còn hiện tượng “cào bằng”. Chỉ một số ít người lao động cống hiến thực sự nhưng chế độ đãi ngộ lại tương đương với những người làm việc kém hiệu quả hơn. Thêm vào đó, các DN nội địa đặc biệt là các DN Nhà nước thường không muốn bỏ chi phí để đào tạo nhân tài, bố trí công việc không phù hợp với khả năng và chuyên môn của người lao động. Trong khi đó, với chế đỗ đãi ngộ tốt hơn, môi trường và điều kiện làm việc tốt hơn, kế hoạch đào tạo bài bản và bố trí lao động phù hợp hơn, các DN FDI có thể dễ dàng chiêu mộ được các nhân viên xuất sắc.

3.2.1.2. Tác động của FDI tới kim ngạch nhập khẩu

Vấn đề “chảy máu chất xám” không chỉ đơn giản là sự di chuyển lao động đơn thuần từ DN nội địa sang DN FDI mà đằng sau nó còn ẩn chứa nhiều nguy cơ bất lợi cho DN nội địa, bởi vì nhân viên ra đi sẽ kéo theo cả khách hàng, đối tác, cơ hội làm ăn… Đây là một trong những tác động tiêu cực của FDI tới các DN nội địa, đặc biệt là các DN xuất khẩu Việt Nam, làm giảm sức mạnh cạnh tranh, giảm khả năng sản xuất xuất khẩu và do đó làm giảm giá trị xuất khẩu của khối các DN nội địa. Tuy nhiên, tác động tiêu cực này cũng khiến cho các DN xuất khẩu nội địa phải nhìn nhận lại vấn đề, tích cực hơn trong việc cải tiến các chính sách về nhân sự, tiền lương, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực cũng như cải thiện môi trường và điều kiện làm việc tốt hơn để có thể giữ được nhân tài.

a. Kênh tác động trực tiếp

* Tác động tích cực

Trước. đây n.ền. ki.n.h. tế Việt Nam. c.òn. lạc. h.ậu., h.oạt độn.g. sản. xu.ất kém. ph.át tri.ển. n.ên. c.ó n.h.i.ều. m.ặt h.àn.g. mà trong nước không sản xuất được, kể cả những mặt hàng tiêu dùng cơ bản. Và giải pháp duy nhất để giải quyết tình trạng này đó chính là nhập khẩu. Tuy nhiên, từ khi Việt Nam tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài mà đặc biệt là dòng vốn FDI, nền sản xuất của Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Các DN FDI đã xuất hiện trong rất nhiều ngành, rất nhiều lĩnh vực tại Việt Nam, sản xuất được rất nhiều hàng hoá, trong đó có nhiều mặt hàng trước đây Việt Nam phải nhập khẩu như các mặt hàng điện tử, máy tính, điện thoại, dược phẩm, thiết bị y tế, ô tô, xe máy… Tỷ lệ nhập khẩu hàng tiêu dùng nhỏ, luôn ít hơn 10%, giảm từ 1998 trở đi và tương đối ổn định ở mức 7-8% tổng KNNK, nói cách khác tỷ lệ nhập khẩu hàng tiêu dùng không tăng, ở mức thấp, chứng tỏ sau 10 năm vào Việt Nam, dòng vốn FDI đã có tác động tích cực tới việc thay thế hàng nhập khẩu của Việt Nam (Nguyễn Quang A, 2011).

90

Một ddẫn. c.h.ứn.g. ti.êu. b.i.ểu. c.h.o tác. độn.g. n.ày c.ó th.ể th.ấy ở n.g.àn.h. h.óa. d.ược. ph.ẩm.. Đây là m.ột tron.g. n.h.ữn.g. lĩn.h. vực. tụt h.ậu. n.h.ất c.ủa. Việt Nam. sa.u. đổi. m.ới.. C.ác. loại. d.ược. ph.ẩm. ph.ục. vụ c.h.o n.h.u. c.ầu. tron.g. n.ước. g.i.a.i. đoạn. trước. c.h.ủ yếu. được. đáp ứn.g. từ n.g.u.ồn. n.h.ập kh.ẩu. h.a.y vi.ện. trợ n.ước. n.g.oài.. Đến. n.a.y, các sản phẩm của ngành này m.ặc. d.ù. vẫn. ph.ải. n.h.ập kh.ẩu. từ n.ước. n.g.oài., son.g. m.ột ph.ần. kh.ôn.g. n.h.ỏ đã được. đáp ứn.g. b.ởi. c.ác. DN FD.I và các DN liên doanh trong nước.. M.ột ví d.ụ kh.ác. về tác. độn.g. n.ày là sản. ph.ẩm. đồ u.ốn.g. c.ủa. C.oc.a.c.ola.. Đầu. th.ập n.i.ên. 90, c.h.ún.g. ta. ti.êu. th.ụ C.oc.a.c.ola. c.h.ủ yếu. từ n.g.u.ồn. n.h.ập kh.ẩu.. Sa.u. sự ki.ện. C.oc.a.c.ola. đầu. tư. Vào Vi.ệt N.a.m. n.ăm. 1994 c.h.o đến. n.a.y, th.a.y vì ph.ải. n.h.ập kh.ẩu. loại. đồ u.ốn.g. n.ày từ Th.ái. La.n. h.a.y Si.n.g.a.pore., n.g.ười. ti.êu. d.ùn.g. Vi.ệt N.a.m. đã được tiêu thụ C.oc.a.c.ola. được. sản. xu.ất tron.g. n.ước..

Như vậy, FDI có khả năng thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá của chính các DN FDI được sản xuất tại Việt Nam, từ đó góp phần làm giảm KNNK của Việt Nam.

* Tác động tiêu cực

Số liệu thống kê. về KNNK c.ủa. kh.u. vực. FD.I. tron.g. bảng 3.15 dưới đây cho thấy sự gia tăng trong KNNK của khu vực này chính là một trong những nguyên nhân làm tăng KNNK của Việt Nam.

B.ản.g. 3.15: KNNK. c.ủa. kh.u. vực. FD.I. và cả nước

KNNK của khu vực FDI Năm Tổng KNNK cả nước (Tỷ USD) Giá trị (Tỷ U.SD.) Tăng trưởng (%)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 4,35 4,99 6,70 8,82 11,09 13,46 16,45 21,72 27,90 24,87 36,97 48,84 55,94 74,44 84,19 97,23 102,28 126,37 142,70 Tỷ trọng trong tổng KNNK cả nước (%) 27,79 30,70 33,89 34,90 34,67 36,40 36,64 34,64 34,57 37,27 43,57 45,57 49,17 56,38 56,94 58,72 58,74 59,86 60,29 29,2 15,1 34,4 31,8 26,4 23,6 20,9 31,7 28,5 -6,6 41,8 32,1 22,7 24,2 13,1 15,5 5,05 23,4 11,6 15,64 16,16 19,73 25,23 31,95 36,98 44,89 62,68 80,71 69,95 84,84 106,75 113,78 132,13 147,85 165,57 174,11 211,10 236,69

N.g.u.ồn.: Tổn.g. c.ục. H.ải. qu.a.n. và tính toán của tác giả

91

Xét về g.i.á trị, n.ăm. 2000, KN.N.K c.ủa. kh.u. vực. FDI m.ới. c.h.ỉ đạt 4,35 tỷ U.SD., sa.u. đó tăn.g. li.ên. tục. đến. n.ăm. 2008 đạt 27,9 tỷ U.SD., tăn.g. g.ần. g.ấp 7 lần. so với. n.ăm. 2000 và h.ơn. 121 lần. so với. n.ăm. 1992.. N.ăm. 2009, KN.N.K c.ủa. kh.u. vực. FD.I. g.i.ảm. từ 27,9 tỷ U.SD. n.ăm. 2008 xu.ốn.g. c.òn. 24,87 tỷ U.SD. c.ùn.g. với. sự g.i.ảm. m.ạn.h. c.ủa. d.òn.g. vốn. FD.I. vào Vi.ệt N.a.m (từ 71,73 tỷ USD năm 2008 xuống 23,11 tỷ USD năm 2009).. N.g.u.yên. n.h.ân. c.ủa. sự su.y g.i.ảm. n.ày là so ản.h. h.ưởn.g. c.ủa. c.u.ộc. kh.ủn.g. h.oản.g. ki.n.h. tế toàn. c.ầu. xảy ra. vào c.u.ối. n.ăm. 2008 đầu. n.ăm. 2009, FD.I. vào Vi.ệt N.a.m. g.i.ảm. m.ạn.h. và kéo th.e.o đó KN.N.K c.ủa. khu vực FDI cũng giảm, dẫn đến KNNK c.ả n.ước.. g.i.ảm. đán.g. kể. Từ n.ăm. 2010 đến. n.ăm. 2018, KN.N.K c.ủa. kh.u. vực. FD.I. li.ên. tục. tăn.g. c.ùn.g. với. sự ph.ục. h.ồi. c.ủa. d.òn.g. FD.I. vào Vi.ệt N.a.m, đặc biệt vào năm 2017..

Xét về tỷ trọn.g., tỷ trọn.g. c.ủa. kh.u. vực. FDI tron.g. tổn.g. KN.N.K c.ả n.ước. c.ũn.g. kh.ôn.g. n.g.ừn.g. tăn.g. lên., từ m.ức. 9,06% n.ăm. 1992 lên. 27,79% vào n.ăm. 2000, 36,04% n.ăm. 2005 tăn.g. lên. 61,29% vào n.ăm. 2018. Xét tốc độ. tăn.g. trưởng KN.N.K c.ủa. kh.u. vực. FD.I. so với. c.ả n.ước., từ n.ăm. 2009 trở đi., tốc độ. tăn.g. trưởng KN.N.K. c.ủa. kh.u. vực. FD.I. h.oàn. toàn. vượt trội. so với. c.ả n.ước..

FDI làm tăng KNNK của Việt Nam thông qua hai kênh tác động trực tiếp: (1) DN FDI nhập khẩu thiết bị, công nghệ, đầu vào sản xuất mà trong nước chưa đáp ứng được và (2) DN FDI nhập khẩu các sản phẩm CNHT mà trong nước chưa đáp ứng được.

(1) DN FDI nhập khẩu thiết bị, công nghệ, đầu vào sản xuất

Các DN FDI, đặc biệt là các DN sản xuất và kinh doanh hàng hoá liên quan đến công nghệ, khi mới vào Việt Nam thường phải nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên phụ liệu đầu vào, thậm chí là nguồn nhân lực chất lượng cao do ở trong nước chưa đáp ứng được. N.h.ư vậy, c.ùn.g. với. sự g.i.a. tăn.g. FD.I. vào Việt Nam, KNNK của khu vực FDI tăng, từ đó làm KNNK của Việt Nam tăn.g. lên.. Tác động này ở Việt Nam là rất rõ ràng bởi Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, trìn.h. độ c.ôn.g. n.g.h.ệ còn th.ấp, trình độ nguồn nhân lực còn hạn chế, hầu hết các DN FDI đều phải nhập khẩu thiết bị, công nghệ, nguyên phụ liệu đầu vào và cả nguồn nhân lực chất lượng cao từ nước đi đầu tư.

Hình 3.3 cho thấy, giá trị nhập khẩu 10 mặt hàng chủ yếu năm 2018 của khối các DN FDI hoàn toàn vượt trội so với các DN nội địa. Tổng KNNK hàng hoá của khối các DN FDI năm 2018 là 142,7 tỷ USD (tăng 11,6% so với năm 2017), trong đó, chủ yếu là các sản phẩm nguyên phụ liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của khối này như máy móc thiết bị dụng cụ, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại các loại và linh kiện, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da giày… Việc nhập khẩu quá nhiều của các DN FDI một mặt làm cho KNNK cả nước tăng, mặt khác làm giảm giá trị nội địa của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam. Số liệu thống kê về xuất nhập khẩu của khu vực FDI nói riêng và của cả nước nói chung phản ánh rất rõ thực trạng này: giá trị xuất khẩu tăng nhưng giá trị nhập khẩu hàng hoá để phục vụ cho hoạt động sản xuất xuất khẩu cũng tăng không kém.

Đơn. vị: Tỷ U.SD

Sản phẩm từ chất dẻo

Nguyên phụ liệu dệ may, da giày

Kim loại thường khác

Xăng dầu các loại

Chất dẻo nguyên liệu

Sắt thép các loại

Vải các loại

Điện thoại các loại và LK

Máy móc, TB, DC, phụ tùng khác

Máy vi tính, SP điện tử và LK

0.00

5.00 10.00 15.00 20.00 25.00 30.00 35.00 40.00

Khu vực nội địa

Khu vực FDI

Cả nước

92

Hình 3.3: 10 m.ặt h.àn.g. n.h.ập kh.ẩu. c.h.ủ yếu. c.ủa. các khu vực kinh tế. n.ăm. 2018

N.g.u.ồn.: Tổn.g. c.ục. Hải quan và tổng hợp của tác giả

Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) chỉ ra rằng, hiện chỉ 21% DN nhỏ và vừa Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thấp hơn nhiều so với Thái Lan (trên 30%), Malaysia (46%). Tỷ lệ nội địa hóa ở Việt Nam còn thấp, vì vậy phần lớn các DN FDI vẫn phải nhập khẩu đầu vào ở mức trên 50%. Thêm vào đó, khảo sát của VCCI năm 2018 cũng cho thấy, tỷ lệ mua nguyên liệu đầu vào tại chỗ của các DN FDI đang giảm dần. Năm 2015, có khoảng 69% DN FDI mua nguyên liệu đầu vào từ các DN trong nước, tỷ lệ này giảm còn 62,5% trong năm 2017 và 60,2% vào năm 2018. Xu hướng tương tự cũng diễn ra đối với nhóm các nhà cung cấp là cá nhân và hộ gia đình. Tỷ lệ DN FDI có nhà cung cấp là các cá nhân và hộ gia đình đã giảm từ 19,3% năm 2015 xuống chỉ còn 15% vào năm 2018. Đã vậy, các DN FDI đang hoạt động tại Việt Nam lại chưa hài lòng về chất lượng và năng lực của các nhà cung cấp nội địa. Gần 60% DN FDI cho biết khó đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa để được hưởng ưu đãi thương mại do gặp phải những vấn đề về chất lượng và năng lực của nhà cung cấp trong nước (Trần Thuỷ, 2018).

Sự phụ thuộc vào nguồn cung đầu vào sản xuất từ bên ngoài cho thấy thực trạng sản xuất các yếu tố đầu vào trong nước trong việc cung ứng cho hoạt động sản xuất của các DN, đặc biệt là cho khối các DN FDI còn rất hạn chế. Thêm vào đó, nguồn cung đầu vào cho sản xuất lại chủ yếu là các thị trường châu Á. Đây chính là một hạn chế lớn của Việt Nam hiện nay.

93

(2) DN FDI nhập khẩu các sản phẩm CNHT

CNHT có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, giúp tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa quốc gia. Ở tầm vĩ mô, phát triển CNHT giúp giảm nhập khẩu đầu vào sản xuất, qua đó hạn chế các căng thẳng về thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế (nhất là CCTM) cũng như ngoại tệ đối với những nước phải nhập khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, theo đánh giá mới đây nhất của Ngân hàng Thế giới (WB), mặc dù Việt Nam có tiềm lực đặc biệt trong việc sử dụng vốn đầu tư nước ngoài để đưa khu vực sản xuất thành động lực cho tăng trưởng thì năng lực yếu kém của ngành CNHT là một rào cản đáng kể. Do sự yếu kém của ngành CNHT, sự phát triển của công nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào bên ngoài. Các DN FDI tại Việt Nam vẫn phải nhập khẩu hầu hết các sản phẩm CNHT để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Số liệu của Bộ Công Thương cuối năm 2018 cho thấy, tỷ lệ nội địa hóa trong ngành điện tử tin học, viễn thông chỉ đạt 15%; điện tử chuyên dụng và các ngành công nghiệp công nghệ cao chỉ đạt 5%. Ngành điện tử của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào các DN FDI. Chẳng hạn như Samsung, mới chỉ có khoảng 30 DN Việt Nam là nhà cung ứng cấp 1. Tuy nhiên, các DN Việt Nam chủ yếu cung cấp vật tư tiêu hao, bao bì, in ấn,... với giá trị cung ứng rất nhỏ. Việt Nam hiện có 30 ngành kinh tế - kỹ thuật cần đến CNHT. Trong đó, nhiều ngành sản xuất hàng xuất khẩu mang lại kim ngạch hàng chục tỷ USD mỗi năm nhưng đang phải nhập khẩu tới 80-85% nguyên liệu, tỷ lệ giá trị gia tăng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong cơ cấu sản phẩm. Hiện tại, phần lớn các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng cho các DN FDI đều phải nhập khẩu làm cho KNNK của khu vực FDI tăng, dẫn đến tăng KNNK cả nước (Trần Thuỷ, 2018).

59,7

54,8

53,0

48,5

41,0

39,3

30,2

28,7

Trung Quốc Hàn Quốc Thái Lan Đài Loan

Indonesia Malaysia Singapore Việt Nam

Đơn vị: %

Hình 3.4: Tỷ lệ nội địa hoá trong ngành chế biến chế tạo của các DN Nhật Bản tại các quốc gia

Nguồn: Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản

94

Nhật Bản là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn thứ hai tại Việt Nam, các DN

FDI của Nhật Bản cũng rất tích cực trong việc sử dụng các sản phẩm CNHT được sản xuất tại Việt Nam, tạo điều kiện cho ngành CNHT của Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hoá trong ngành chế biến chế tạo (ngành chiếm tỷ trọng cao trong thu hút FDI cũng KNXK của Việt Nam hiện nay) của các DN FDI Nhật Bản tại Việt Nam hiện vẫn rất thấp (28,7%) so với các nước trong khu vực châu Á và ASEAN (Trung Quốc 59,7%; Hàn Quốc 54,8%; Thái Lan 53%).

b. Kênh tác động gián tiếp

FDI có thể tác động tích cực, làm giảm KNNK của Việt Nam thông qua các

kênh tác động gián tiếp sau:

(1) Tác động tràn thông qua các liên kết ngược giữa DN FDI và DN trong nước

làm tăng khả năng cung cấp đầu vào sản xuất của các nhà cung cấp trong nước

D.o tác. độn.g. lan toả c.ủa. CGCN và chuyển giao tri thức từ các DN FDI, trìn.h. độ sản. xu.ất c.ủa. c.ác. DN tron.g. n.ước. sẽ được. c.ải. th.i.ện., ti.ến. tới. tự sản. xu.ất được. .máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu đầu vào, thậm chí là có thể cải tiến và tạo ra công nghệ mới

mà trước đây ph.ải. n.h.ập kh.ẩu.. Tác động này của FDI sẽ làm giảm nhập khẩu của Việt Nam. Đây là tác động tích cực quan trọng và rất được mong đợi của FDI tới nhập khẩu nói riêng và hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam nói chung.

Tự chủ về máy móc thiết bị, công nghệ và đầu vào sản xuất giúp Việt Nam có

thể chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao được năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, có cơ hội và điều kiện để lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng, từ đó có thể phát huy tối đa những tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của

FDI tới xuất nhập khẩu cũng như nền kinh tế đất nước. Tự chủ về máy móc thiết bị, công nghệ và đầu vào sản xuất cũng giúp nâng cao tỷ lệ nội địa hoá và giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu theo hướng tích cực và cải thiện cán cân thương mại.

Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát của VCCI năm 2016, tại 10 ngành của Việt Nam (trong đó có 7 ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo), công nghệ của các DN chủ yếu vẫn là công nghệ nhập và nhập chủ yếu từ các nước đang phát

triển (chiếm khoảng 65%), trong đó có tới 26,6% công nghệ có xuất xứ từ Trung Quốc. Tỷ lệ công nghệ có xuất xứ từ các nước phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản hay EU chỉ chiếm khoảng 32% nhưng trên 18% trong số đó là công nghệ trước năm 2005. Những con số trên đã cho thấy nguyên nhân vì sao trình độ công nghệ của

Việt Nam vẫn bị đánh giá là lạc hậu.

95

Thêm vào đó, số liệu thống kê về các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam năm 2018 (hình 3.3) cho thấy Việt Nam vẫn chưa tự chủ được máy móc thiết bị và nguyên liệu đầu vào cho một số ngành sản xuất xuất khẩu mũi nhọn như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, điện thoại các loại và linh kiện, vải các loại, sắt thép các loại, xăng dầu các loại, nguyên phụ liệu dệt may, da giầy, chất dẻo nguyên liệu… Cả DN nội địa và DN FDI đều phải nhập khẩu máy móc thiết bị và các nguyên phụ liệu đầu vào, trong đó DN FDI chiếm tỷ trọng vượt trội.

Như vậy, tác động lan toả về công nghệ và tri thức từ FDI vẫn chưa phát huy được tác dụng trong việc giúp Việt Nam có thể tự chủ được máy móc thiết bị, công nghệ và các nguyên phụ liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất để có thể hạn chế nhập khẩu và gia tăng giá trị nội địa cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.

(2) Kênh thu hút thêm DN FDI vệ tinh vào phát triển ngành CNHT trong nước

Khả năng cung ứng cho các ngành công nghiệp là một trong các vấn đề được các MNCs cân nhắc rất nhiều trước khi quyết định đầu tư vào một quốc gia. Nền kinh tế với các ngành CNHT phát triển mạnh và có thể đáp ứng nhu cầu cho các nhà lắp ráp là một trong những nhân tố tác động mạnh đến thu hút FDI vào phát triển công nghiệp. Quá trình này thường được bắt đầu bằng việc các nhà lắp ráp sẽ lôi kéo các nhà cung ứng từ nước ngoài vào nước sở tại, tạo nên lớp cung ứng thứ nhất. Giai đoạn đầu, các DN nội địa bán sản phẩm cho các DN cung ứng FDI này, tạo nên lớp thứ hai, lớp thứ ba trong hệ thống cung ứng. Dần dần DN nội địa có thể phát triển thành nhà cung ứng lớp thứ nhất. Do đó, FDI vào ngành CNHT chiếm vai trò đặc biệt quan trọng ở các nước nhận đầu tư, trong đó có Việt Nam. Cho đến nay, chưa có các thống kê về số dự án FDI trong ngành CNHT ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo nhiều báo cáo về tình hình phát triển CNHT ở Việt Nam, các DN FDI vệ tinh trong ngành CNHT tại Việt Nam hiện nay chủ yếu đến tư ba nước Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc (Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2014).

Đầu tư của Nhật Bản: Trong sự phát triển CNHT của Việt Nam, các DN FDI Nhật Bản đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nhiều DN FDI lớn của Nhật Bản như Cannon, Panasonic, Sanyo, Toyota, Honda, Yamaha, Suzuki… đang hoạt động tại Việt Nam đã tạo ra thị trường cho việc sản xuất sản phẩm CNHT ngành điện tử và cơ khí để cung cấp cho các nhà lắp ráp của Nhật Bản, tiến tới xuất khẩu. Tuy vậy, DN FDI vệ tinh của Nhật Bản trong ngành CNHT ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ phát triển mạnh trong lĩnh vực sản xuất xe máy.

Đầu tư của Đài Loan: Có thể nói, đa số đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế tạo, rất nhiều trong đó liên quan đến CNHT. Các dự án

96

CNHT của Đài Loan ở Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực cung ứng cho ngành xe máy, điện tử. Trong ngành công nghiệp xe máy, VMEP Đài Loan đầu tư vào Việt Nam sớm nhất và đã kêu gọi được nhiều DN Đài Loan chuyên sản xuất linh phụ kiện cho xe máy đầu tư vào Việt Nam (tập trung ở Đồng Nai). Bên cạnh đó, các DN ở lớp giữa chuyên cung ứng cho ngành xe máy, có vốn đầu tư từ Đài Loan như Seewell, VPIC1… trong nhiều năm qua đã giữ vai trò quan trọng trong phát triển CNHT ngành xe máy ở Việt Nam.

Đầu tư của Hàn Quốc: Hiện nay, các dự án của tập đoàn Samsung được kỳ vọng sẽ thu hút phát triển CNHT mạnh ở Việt Nam. Các DN cung cấp nội địa sẽ tạo nền tảng cung cấp linh kiện cho nhiều ngành khác, đồng thời kích thích DN Việt Nam phát triển để cung ứng cho các DN FDI này.

Như vậy, sự có mặt của các DN FDI đã kéo theo sự xuất hiện của các DN FDI vệ tinh vào ngành CNHT ở Việt Nam. Sự xuất hiện của các DN FDI vệ tinh này cung cấp các sản phẩm CNHT mà trước đây phải nhập khẩu cho cả các DN FDI và các DN xuất khẩu nội địa, góp phần hạn chế phải nhập khẩu các sản phẩm CNHT từ bên ngoài, từ đó làm giảm KNNK của khu vực FDI và cả nước, đồng thời cũng làm tăng giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hoá cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.

3.2.1.3. Tác động của FDI tới tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại

Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam cho thấy, số DN FDI vệ tinh vào ngành CNHT vẫn còn rất hạn chế, chỉ có một số rất ít các nhà đầu tư quan tâm đến phát triển CNHT ở Việt Nam và cũng chỉ cung cấp được một số sản phẩm CNHT cho hai ngành xe máy và điện tử. Như vậy, kỳ vọng về tác động tích cực của FDI trong việc thu hút thêm các DN FDI vệ tinh vào phát triển CNHT trong nước nhằm hạn chế nhập khẩu và gia tăng giá trị nội địa cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa đạt được.

a. Tác động tới tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

Trong sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian qua, không thể không kể đến vai trò quan trọng của dòng vốn FDI. FDI tác động cả đến KNXK và KNNK của Việt Nam. FDI làm tăng KNXK của Việt Nam là rất rõ ràng thông qua các kênh tác động rất cụ thể. Còn đối với nhập khẩu, FDI vừa có thể làm tăng nhập khẩu, vừa có thể làm giảm nhập khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, tác động làm tăng nhập khẩu thể hiện rõ ràng hơn và ngay trong ngắn hạn, còn đối với tác động làm giảm nhập khẩu của FDI hiện nay còn tương đối nhỏ và chưa thực sự rõ ràng. Như vậy, có thể nói FDI làm tăng cả KNXK và KNNK của cả nước, do đó FDI tác động rất lớn đến tổng KNXNK của cả nước. Số liệu thống kê trong bảng 3.16 thể hiện rất rõ tác động này.

97

Bảng 3.16: Tỷ trọng tổng KNXNK của khu vực FDI và cả nước

KNXNK của khu vực FDI

Năm Tổng KNXNK cả nước (Tỷ USD) Giá trị (Tỷ USD) Tỷ trọng trong tổng KNXNK cả nước (%)

30,08 31,19 36,44 45,94 58,46 69,42 84,72 111,24 143,40 127,05 157,08 203,66 228,31 264,26 298,07 327,59 350,74 425,12 480,17 11,16 11,79 14,57 18,98 25,58 32,01 39,51 49,49 62,43 54,77 76,05 96,71 119,98 155,36 178,18 207,79 226,21 278,71 318,20 37,10 37,80 39,98 41,31 43,76 46,11 46,64 44,49 43,54 43,11 48,42 47,49 52,55 58,79 59,78 63,43 64,49 65,56 66,27 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tính toán của tác giả

Theo số liệu thống kê trong bảng 3.16, tổng KNXNK của khu vực FDI liên tục tăng trong giai đoạn 2000-2018. Năm 2000, tổng KNXNK của khu vực FDI mới chỉ là 11,16 tỷ USD, đến năm 2010 đã tăng lên 76,05 tỷ USD và tới năm 2018 con số này đã lên tới 318,2 tỷ USD, tăng gấp 27,34 lần so với năm 2000 và gấp 4,18 lần so với năm 2010. Cùng với sự gia tăng về mặt giá trị, tỷ trọng trong tổng KNXNK cả nước của khu vực này cũng không ngừng tăng với những con số rất ấn tượng. Nếu như năm 2000, tổng KNXNK của khu vực FDI mới chiếm khoảng 31,1% trong tổng KNXNK của cả nước thì tới năm 2010 đã tăng lên 48,42% và đến năm 2018 con số này lên tới 66,27%. Những con số này cho thấy vai trò to lớn của FDI trong việc thúc đẩy sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua.

Tuy nhiên, tỷ trọng KNXNK của khu vực FDI tăng nhanh và mạnh lại cho thấy nền kinh tế Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào khu vực FDI, đặc biệt một số công ty lớn như Samsung, Honda, Canon... Nhận định về thực trạng cơ cấu xuất nhập khẩu hiện nay, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - ông Vũ Hồng Thanh

98

cho rằng, mặc dù Việt Nam đang có lợi thế so sánh tốt hơn nhiều nước ở khu vực ASEAN và Trung Quốc trong quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế, nhưng hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu đang phụ thuộc quá nhiều vào khối DN FDI. Trong khi Việt Nam chưa có giải pháp căn cơ để tận dụng các cơ hội thuận lợi từ khối này để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao hơn. Cũng theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, khi tăng trưởng kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào khối DN FDI sẽ khiến nền kinh tế mất tự chủ do nội lực ngày càng trở nên suy yếu. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc quá nhiều vào khu vực FDI cũng sẽ khiến cho tình trạng “nhị nguyên” trong cơ cấu sản xuất hàng hoá của Việt Nam ngày càng gia tăng.

b. Tác động tới cán cân thương mại

FDI có tác động tích cực làm giảm nhập siêu của Việt Nam thông qua sự gia tăng thặng dự thương mại của khu vực FDI. Sự tác động tích cực này được thể hiện rõ thông qua số liệu thống kê ở bảng 3.17.

Bảng 3.17: Cán cân thương mại của Việt Nam theo khu vực kinh tế

Đơn vị: Tỷ USD

CCTM khu vực FDI CCTM khu vực nội địa CCTM cả nước

2,46 1,81 1,17 1,34 3,40 5,09 6,61 6,05 6,63 5,03 2,11 -0,97 8,10 6,48 9,80 13,33 21,65 25,97 32,80 -3,65 -2,95 -4,20 -5,85 -8,85 -9,63 -11,68 -20,17 -24,66 -17,88 -14,71 -8,87 -7,35 -6,47 -7,44 -16,88 -19,13 -23,05 -26,01 -1,19 -1,14 -3,03 -4,51 -5,45 -4,54 -5,07 -14,12 -18,03 -12,85 -12,60 -9,84 0,75 0,01 2,37 -3,55 2,52 2,92 6,79 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tính toán của tác giả

Số liệu thống kê trong bảng 3.17 cho thấy khu vực FDI xuất siêu liên tục từ năm 2000 đến năm 2010 với tổng giá trị xuất siêu giai đoạn này là 41,7 tỷ USD. Duy nhất năm 2011, khu vực FDI nhập siêu 0,97 tỷ USD. Tuy nhiên, xuất siêu lại xuất hiện

99

ngay vào năm 2012 với giá trị tương đối lớn là 8,1 tỷ USD và tiếp tục tăng vào những năm sau đó. Đến năm 2018, xuất siêu của khu vực FDI đạt được một con số rất ấn tượng là 32,8 tỷ USD, tăng 26,3% so với năm 2017. Cán cân thương mại của khu vực FDI trong giai đoạn này hoàn toàn áp đảo so với khu vực nội địa. Khu vực nội địa liên tục nhập siêu trong cả giai đoạn 2000-2018. Cùng với sự gia tăng thặng dư thương mại của khu vực FDI, thâm hụt thương mại của cả nước giảm đáng kể và đã bắt đầu có xuất siêu và các năm 2012, 2013, 2014, 2016, 2017 và 2018 với trị giá lần lượt là 0,75; 0,01; 2,37; 2,52; 2,92 và 6,79 tỷ USD.

Tuy nhiên, số liệu thống kê cũng cho thấy cán cân thương mại của Việt Nam liên tục âm từ những năm 1991 đến năm 2011. Thâm hụt thương mại của Việt Nam liên tục xuất hiện trong 20 năm. Thực tế này một mặt thể hiện sự yếu kém và hạn chế của khu vực DN trong nước, đặc biệt là DNNN, mặt khác cũng thể hiện tình trạng thu hút đầu tư thay thế nhập khẩu mặc dù chiếm ưu thế nhưng hiệu quả đầu tư lại thấp. Những năm qua, đầu tư vào các ngành thay thế nhập khẩu như xi măng, mía đường, thép, lọc dầu…. chiếm tỷ trọng vốn rất lớn nhưng hiệu quả đầu tư thấp dẫn tới Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phần lớn các sản phẩm của những ngành này. Sự thâm hụt thương mại lớn và liên tục của khối DN nội địa từ năm 1991 đến nay một mặt cũng thể hiện sự yếu kém và hạn chế của khu vực DN trong nước, mặt khác cũng thể hiện tác động lan toả tích cực từ FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa vẫn còn rất khiêm tốn chưa được như kỳ vọng, chưa đạt được mục tiêu đề ra khi thu hút FDI.

3.2.2. Thực trạng tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam

3.2.2.1. Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu

a. Tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế trong cơ cấu hàng hoá xuất

khẩu Việt Nam

Ở Việt Nam, tác động của FDI trong việc làm tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu được thể hiện thông qua dòng FDI chảy mạnh vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo làm tăng mạnh xuất khẩu của ngành này. Sự gia tăng của vốn FDI vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã làm cho năng lực sản xuất hàng hoá xuất khẩu của ngành này được nâng cao, do đó quy mô và giá trị xuất khẩu của ngành cũng tăng lên rõ rệt. Giá trị xuất khẩu của ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam tăng mạnh qua các năm là do: (i) bản thân các DN FDI trong ngành này thực hiện hoạt động sản xuất xuất khẩu và (ii) tác động lan toả về công nghệ và tri thức từ các DN FDI góp phần thúc đẩy xuất khẩu của các DN nội địa trong ngành này. Số liệu thống kê trong bảng 3.18 thể hiện rõ tác động của FDI tới giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến chế tạo cũng như tỷ trọng giá trị xuất khẩu của ngành này trong tổng KNXK cả nước.

100

Bảng 3.18: FDI và KNXK của ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam

FDI Năm

Tỷ trọng trong tổng FDI cả nước (%)

33,13 49,83 61,68 73,61 72,01 66,90 72,33 56,34 58,47 18,16 30,94 52,02 72,16 86,24 71,60 66,90 62,98 44,20 46,70 Giá trị (Tỷ USD) 7,02 8,10 8,60 10,40 12,70 16,34 20,90 25,80 48,90 33,10 35,70 29,92 35,07 64,21 54,89 101,10 126,85 154,10 201,70 KNXK Tỷ trọng trong tổng KNXK cả nước (%) 48,58 53,90 51,48 50,20 47,92 50,37 52,48 53,13 78,01 57,97 49,42 30,88 30,62 48,59 36,54 62,40 71,82 72,00 82,80 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Giá trị (Tỷ USD) 0,92 1,63 1,85 2,34 3,27 4,58 8,68 12,03 41,94 4,20 6,15 8,13 11,80 18,65 14,49 15,23 16,94 15,87 16,58

N.g.u.ồn.: Bộ Kế hoạch và Đầu tư,. Tổn.g. c.ục. H.ải. qu.a.n. và tổng hợp của tác giả

Ngành công nghiệp chế biến chế tạo có sự đóng góp rất lớn tới tăng trưởng xuất khẩu ở Việt Nam với mức tăng trưởng trung bình khoảng 20% trong giai đoạn 2000- 2018. Theo báo cáo thống kê của Tổng cục Hải Quan, giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến chế tạo luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Đặc biệt năm 2018, giá trị xuất khẩu của ngành đã đạt tới con số 201,7 tỷ USD, chiếm tới 82,8% tổng KNXK cả nước.

Ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam đạt được những con số xuất khẩu ấn tượng qua các năm phải kể đến vai trò quan trọng của khối các DN FDI trong ngành này. Khối các DN FDI trong ngành này luôn dẫn đầu về giá trị xuất khẩu trong những năm qua với các mặt hàng tiêu biểu như điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; hàng dệt may; hàng da giầy; máy móc, thiết bị, công cụ, phụ tùng… Ngoài việc các DN FDI trong ngành thực hiện xuất khẩu sản phẩm do chính mình sản xuất tại Việt Nam, các DN FDI còn giúp CGCN và tri thức sản xuất hàng hoá xuất khẩu cho các DN nội địa, góp phần nâng cao năng lực sản xuất xuất khẩu, từ đó nâng cao cơ hội và khả năng xuất khẩu của các DN nội địa.

Sự xuất hiện của dòng vốn FDI trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo làm cho xuất khẩu của ngành này tăng mạnh với tốc độ ngày càng nhanh. Sự gia tăng nhanh chóng

101

của các sản phẩm xuất khẩu của ngành chế biến chế tạo đã làm tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Số liệu thống kê trong bảng 3.19 đã cho thấy nhóm hàng chế biến - tinh chế ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.

Bảng 3.19: Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam

Nhóm khác

Năm

Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)

Giá trị (Tỷ USD) 0

Hàng thô - sơ chế Hàng chế biến - tinh chế Giá trị (Tỷ USD) 21,658 27,698 22,266 25,188 33,737 35,201 33,783 35,734 30,229 30,467 34,968 34,108 0 0,001 0,0000016 0,001 0,0000018 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Tỷ trọng (%) 44,62 44,44 39,57 34,89 34,84 30,76 25,60 23,79 18,67 17,25 16,34 14,01 55,38 55,56 60,43 65,11 65,16 69,24 74,40 76,21 81,33 82,75 83,66 85,99 0 0 0 0 0 0 0 0 0 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018

Giá trị (Tỷ USD) 26,886 34,626 34,008 47,013 63,106 79,242 98,172 114,472 131,711 146,107 179,043 209,37 N.g.u.ồn.: Tổn.g. c.ục. H.ải. qu.a.n. và tổng hợp của tác giả

Tỷ trọng của nhóm chế biến - tinh chế trong tổng KNXK của Việt Nam liên tục tăng trong cả giai đoạn 2007-2018, từ 55,38% năm 2007 đã tăng lên đến 85,99% năm 2018. Ngược lại, tỷ trọng của nhóm hàng thô - sơ chế lại ngày càng giảm trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, tỷ trọng của nhóm hàng này trong tổng KNXK đã giảm liên tục trong cả giai đoạn 2007-2018, từ 44,62% năm 2007 xuống còn 14,01% năm 2018. Những con số này cho thấy chất lượng cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng được nâng cao và đóng góp vào đó không thể không kể đến vai trò quan trọng của dòng vốn FDI.

b. Tăng tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao trong cơ

cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam

Dòng FDI vào lĩnh vực công nghệ cao của Việt Nam cũng góp phần làm tăng tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu. Hiện nay, sản phẩm sản xuất công nghiệp được chia làm hai dòng sản phẩm: dòng sản phẩm kết tinh hàm lượng lao động cao (labor- intensive product) và dòng sản phẩm kết tinh hàm lượng công nghệ chất xám cao (technology-intensive product). Việt Nam có thể sản xuất và xuất khẩu dòng sản phẩm có hàm lượng công nghệ chất xám cao nhờ (i) DN FDI sản xuất và xuất khẩu sản phẩm trong lĩnh vực công nghệ cao và

102

(ii) tác động lan toả về công nghệ từ DN FDI tới hoạt động xuất khẩu của các DN nội địa trong lĩnh vực công nghệ cao.

Các mặt hàng đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao có thể kể đến như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác… Trước năm 2000, Việt Nam chưa thể xuất khẩu các mặt hàng này do DN trong nước không có đủ vốn và công nghệ để sản xuất các sản phẩm đạt tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, kể từ năm 2000 đến nay, nhờ có dòng vốn. FDI và sự xuất hiện của các DN FDI, các mặt hàng này đã được sản xuất tại Việt Nam, đáp ứng được các tiêu chuẩn của các thị trường xuất khẩu. Do đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng này tăng nhanh qua từng năm..

Giai đoạn 2005-2010: Với sự xuất hiện của một số DN FDI ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam, mặt hàng máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện đã xuất hiện trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam với vị trí thứ 6 trong năm 2005, 2007 (chiếm tỷ trọng lần lượt là 4,41% và 4,43% trong tổng KNXK) và tăng lên vị trí thứ 5 vào năm 2010 với tỷ trọng 4,98%. Đặc biệt năm 2010, trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam xuất hiện một mặt hàng cũng đòi hỏi công nghệ cao là máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng với vị trí thứ 8, chiếm tỷ trọng 4,15%.

Bảng 3.20: Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2010

Năm 2005

Năm 2007

Năm 2010

Xếp hạng

Mặt hàng

Mặt hàng

Mặt hàng

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

Dầu thô

22,72 14,92 Hàng dệt may 9,25 8,45

18,26 15,96 8,22 7,74

15,52 7,09 6,92 6,87

1 2 3 4

4,94

4,98

5

4,81

Hàng dệt may Giày dép Thuỷ sản Dầu thô Máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện

6

4,41

4,43

Gỗ và sản phẩm gỗ

4,71

7

Dầu thô Hàng dệt may Giày dép Thuỷ sản Gỗ và sản phẩm gỗ Máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện Gạo

Giày dép Thuỷ sản Gỗ và sản phẩm gỗ Máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện Cà phê

4,35

3,82

4,50

8

Cao su

Gạo

2,46

3,03

4,15

9 10

Cà phê Than đá

Cao su Than đá

2,28 2,07

2,69 2,06

Gạo Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng Cao su Sắt thép các loại

3,31 1,45

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tổng hợp của tác giả

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu trong giai đoạn 2005-2010 mặc dù đã có sự xuất hiện của một vài mặt hàng có hàm lượng cộng nghệ cao như máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện và máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng, tuy nhiên, các mặt hàng này vẫn chiếm một tỷ trọng rất khiêm tốn. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của giai đoạn này vẫn là các mặt

103

hàng thô (dầu thô, cao su, than đá) và các mặt hàng có hàm lượng lao động cao (dệt may, giày dép, thuỷ sản).

Giai đoạn 2015-2018: Các DN FDI ngành công nghiệp điện tử phát triển rất mạnh trong giai đoạn này. Năm 2011, số lượng DN FDI hoạt động trong lĩnh vực này là 255 DN với tổng vốn FDI là 137,5 nghìn tỷ đồng. Hiện nay ngành công nghiệp điện tử đã thu hút được hơn 10 tỷ USD vốn FDI với các tên tuổi lớn như Samsung, Foxconn, LG, Panasonic, Intel. Sức hấp dẫn của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam chính là các nhà máy sản xuất điện thoại di động quy mô lớn, trong đó Samsung là lớn nhất với hai nhà máy Samsung Bắc Ninh (vốn đầu tư 2,5 tỷ USD) và Samsung Thái Nguyên (vốn đầu tư 2 tỷ USD). Bên cạnh đó, thành phố Hồ Chí Minh cũng thu hút Tập đoàn Samsung với dự án xây dựng nhà máy sản xuất hàng điện tử tại Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư trên 1 tỷ USD. Sự có mặt của các hãng lớn trong ngành công nghiệp điện tử thế giới tại Việt Nam đã có tác động mạnh mẽ tới xuất khẩu của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam.

Bảng 3.21: Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2015-2018

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

Xếp hạng

Mặt hàng

Mặt hàng

Mặt hàng

Mặt hàng

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

27,1

21,15

30,18

20,16

1

Điện thoại các loại và linh kiện

Điện thoại các loại và linh kiện

Điện thoại các loại và linh kiện

Điện thoại các loại và linh kiện

12,52

2

15,61

14,9

12,12

12,04

3

Máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

Giày dép

8,17

Giày dép

6,85

10,2

6,80

4

Hàng dệt may 22,81 Hàng dệt may Máy tính, sản Máy vi tính, phẩm điện tử sản phẩm điện tử & linh kiện và linh kiện Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng

18,8 Hàng dệt may 12,17 Hàng dệt may Máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng

8,0

Giày dép

12,01

5,97

Giày dép

6,67

5

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng

6,90

Thủy sản

5,6

Thủy sản

3,89

3,66

6

Gỗ và sản phẩm gỗ

Gỗ và sản phẩm gỗ

5,5

Thuỷ sản

6,57

3,58

Thủy sản

3,61

7

4,8

Dầu thô

3,72

1,68

3,59

8

Gỗ và sản phẩm gỗ Phương tiện vận tải và phụ tùng

Gỗ và sản phẩm gỗ Xơ, sợi dệt các loại

Gạo

2,80

Cà phê

2,6

Hạt điều

1,64

2,15

9

2,5

Rau quả

1,64

1,87

Cà phê

2,67

10

Phương tiện vận tải và phụ tùng Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện Sắt thép các loại

Túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tổng hợp của tác giả

104

Từ một quốc gia thuần nông, Việt Nam hiện đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu điện tử lớn của thế giới (lớn thứ 12 thế giới và lớn thứ 3 trong khối ASEAN) (Nguyễn Thuỳ, 2017). Trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2015-2018, ba nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng liên tục gia tăng về giá trị và tỷ trọng. Mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện luôn dẫn đầu với giá trị và tỷ trọng cao nhất trong cả giai đoạn. Đứng thứ ba là mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện và thứ tư hoặc năm là mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng. Trong danh sách các mặt hàng có KNXK trên 1 tỷ USD của Việt Nam những năm gần đây luôn có sự xuất hiện của các mặt hàng này. Các mặt hàng thô như dầu thô, cao su và than đá đã không còn xuất hiện trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu các năm 2016, 2017 và 2018.

Tuy nhiên, thu hút FDI vào lĩnh vực công nghiệp điện tử tại Việt Nam cũng gặp phải một số thách thức không nhỏ khi ngành công nghiệp điện tử mới chỉ dừng ở mức độ gia công, lắp ráp. DN điện tử trong nước chưa đóng góp nhiều trong chuỗi cung ứng hàng điện tử. Cụ thể, theo Samsung Việt Nam, trong số 80 DN vệ tinh đang cung cấp linh kiện, phụ kiện, tỷ lệ DN Việt Nam cung cấp cho Samsung chỉ dưới 10%, đặc biệt lại chủ yếu cung ứng in ấn và bao bì, phần hưởng giá trị gia tăng thấp nhất, không tiếp thu được công nghệ cao, không có sức lan tỏa tới nền kinh tế (Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015).

Như vậy, tác động tích cực của FDI trong việc nâng cao tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam còn hạn chế, các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ chất xám cao của Việt Nam hiện chủ yếu vẫn ở mức độ gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp. Do đó, tác động của FDI tới việc chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu theo hướng nâng cao chất lượng còn chậm, chưa được như kỳ vọng.

c. Việc tập trung FDI phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các mặt hàng mặt hàng chế biến - tinh chế, các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao sẽ mang lại giá trị gia tăng cao

Phân tích về nguyên nhân và khả năng xảy ra các trường hợp tăng giá trị gia tăng (VA) của hàng hoá xuất khẩu, theo Nguyễn Thuý Vân (2011) có hai trường hợp làm tăng VA chắc chắn và cao nhất là: (1) tăng hàm lượng chế biến, cải tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng của hàng hoá xuất khẩu, từ đó tăng giá của hàng hoá xuất khẩu; (2) hàng hoá trung gian đầu vào được cung cấp ngay ở thị trường trong nước (nên giảm được các chi phí liên quan như vận tải, thuế nhập khẩu, bảo hiểm, nguyên liệu, nhân công…) thay vì phải nhập khẩu từ nước ngoài, từ đó giảm giá mua vào của các hàng hoá trung gian đầu vào cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu (IC). Thực tế ở Việt

105

Nam, dòng vốn FDI có tác động tích cực tới cả hai trường hợp làm tăng VA đã đề cập trên, từ đó chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu theo hướng nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, sự tác động này còn rất hạn chế và có thể nói chưa có kết quả gì đáng kể trong cả hai trường hợp.

Đối với trường hợp 1, với sự xuất hiện của các DN FDI trong lĩnh vực chế biến chế tạo, hàm lượng chế biến trong hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam được nâng lên rõ rệt. Điều này được thể hiện rõ ràng thông qua tỷ trọng hàng chế biến chế tạo ngày càng gia tăng trong tổng KNXK cả nước cùng với sự gia tăng của dòng vốn FDI vào ngành này ở Việt Nam [Xem chi tiết tại mục 3.2.2.1 (a)]. Bên cạnh đó, dưới sức ép cạnh tranh được tạo ra bởi các DN FDI đối với các DN nội địa, bao bì, mẫu mã và chất lượng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam cũng được cải tiến, từ đó cơ hội và giá trị xuất khẩu của các DN xuất khẩu nội địa cũng được nâng cao, đồng thời giá của các sản phẩm xuất khẩu cũng có thể được tăng lên. Điều này cũng làm tăng tỷ lệ nội địa và VA cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam. Các sản phẩm xuất khẩu như hàng dệt may, cà phê, sữa của Việt Nam được thể hiện rõ trong trường hợp này. Hàng hoá xuất khẩu với hàm lượng chế biến cao hơn, mẫu mã đẹp hơn và chất lượng cao hơn sẽ được bán với giá cao hơn, nhờ đó VA của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam gia tăng.

Tuy nhiên, mặc dù với sự xuất hiện và phát triển mạnh của các DN FDI trong lĩnh vực chế biến chế tạo, tỷ trọng các mặt hàng ngành chế biến chế tạo, đặc biệt là ngành công nghiệp điện tử tăng mạnh trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam, nhưng như đã phân tích ở trên, hoạt động sản xuất của các DN FDI trong lĩnh vực này vẫn chủ yếu là gia công, lắp ráp và đặc biệt là phải nhập khẩu phần lớn đầu vào và linh kiện từ bên ngoài, do đó, VA của hàng hoá xuất khẩu vẫn còn rất hạn chế và không tăng như kỳ vọng. Bên cạnh đó, dưới sức ép cạnh tranh của các DN FDI, các DN xuất khẩu trong nước cũng đã tiến hành cải tiến mẫu mã, bao bì, nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể cạnh tranh và xuất khẩu với giá cao hơn. Tuy vậy, số DN xuất khẩu làm được điều này rất ít và cũng chỉ ở một vài lĩnh vực sử dụng nhiều lao động như dệt may, nông nghiệp (cà phê). Do đó, việc nâng cao VA của hàng hoá xuất khẩu của các DN trong nước là không đáng kể.

Đối với trường hợp 2, về mặt lý thuyết và thực tế ở nhiều quốc gia thu hút FDI trên thế giới cho thấy FDI có tác động tích cực trong việc làm giảm IC cho hoạt động sản xuất hàng hoá xuất khẩu nhờ tác động lan toả tới phát triển CNHT trong nước, giảm nhập khẩu các sản phẩm CNHT phục vụ cho hoạt động sản xuất xuất khẩu, từ đó nâng cao VA cho hàng hoá xuất khẩu. Tuy nhiên, ở Việt Nam lại hoàn toàn ngược lại, FDI chưa cho thấy tác động lan toả tích cực của nguồn vốn này tới phát triển ngành CNHT trong nước mà ngược lại, cùng với sự gia tăng của dòng vốn FDI cũng như các DN FDI, trong khi ngành

106

CNHT trong nước chưa phát triển, nhu cầu nhập khẩu sản phẩm CNHT để phục vụ hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN FDI lại tăng mạnh.

Nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam của Vũ Thị Ngọc Phùng (2006) chỉ ra rằng tốc độ tăng IC ở Việt Nam đã và đang có xu hướng gia tăng bởi 4 nguyên nhân: (i) các chi phí dịch vụ mua ngoài và thuê ngoài (quảng cáo, tiếp thị, tư vấn, vận tải…) ngày càng tăng cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường; (ii) tình trạng sử dụng lãng phí về nguyên nhiên vật liệu; (iii) trình độ kỹ thuật công nghệ lạc hẫu của hệ thống máy móc thiết bị dẫn đến việc tiêu hao nguyên nhiên vật liệu trên một đơn vị sản phẩm cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới; (iv) hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ nước ngoài nhất là khi giá cả của các yếu tố đầu vào sản xuất đang có xu hướng gia tăng.

Trong 4 nguyên nhân trên, nguyên nhân thứ 4 chính là nguyên nhân quan trọng nhất làm tăng tốc độ tăng trưởng IC ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực FDI. Tỷ lệ IC từ nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ nước ngoài của khu vực FDI tại Việt Nam rất cao. Xuất khẩu của khu vực FDI tăng song nhập khẩu để tạo ra hàng hoá xuất khẩu cũng tăng không kém, do đó, mặc dù KNXK tăng mạnh nhưng VA và tỷ lệ nội địa của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam lại không tăng, thậm chí còn giảm. Thống kê về tỷ lệ nội địa hoá của một số ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như điện tử - điện máy, ô tô - xe máy, dệt may… của khu vực FDI nói riêng và cả nước nói chung cho thấy sự yếu kém của ngành CNHT. Từ đó cũng cho thấy được sự tác động của FDI tới việc làm tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam chưa đạt hiệu quả.

Ngành điện tử, điện máy: Sau 30 năm phát triển, ngành điện tử Việt Nam vẫn trong tình trạng lắp ráp cho các thương hiệu nước ngoài. Các doanh nghiệp điện tử trong nước vẫn gần như chỉ khai thác sản phẩm cũ, lợi nhuận rất thấp. Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam, các DN FDI có "tên tuổi" đều phải nhập khẩu trên 90% linh kiện của nước ngoài, thậm chí có doanh nghiệp nhập khẩu 100% như Công ty Fujitsu Việt Nam. Điều này vừa gây thiệt thòi cho ngành công nghiệp Việt Nam, khiến chúng ta khó thoát khỏi tình trạng gia công, lắp ráp, vừa giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp hàng điện tử trong nước.

Ngành ô tô, xe máy: Việt Nam có khoảng 70 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng cho ngành công nghiệp ô tô trong nước với quy mô, năng lực còn rất hạn chế, trong khi đó Malaysia có 385 doanh nghiệp, Thái Lan có 2.500 doanh nghiệp. Công nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô tại Việt Nam còn khá mới mẻ, Nhà nước đã có chủ trương bảo hộ cho các liên doanh sản xuất ô tô, các hãng đưa ra cam kết ban đầu là sẽ nội địa hóa 40% sau khi đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt

107

30%. Điều này khiến chi phí sản xuất ô tô tăng cao gần 20% so với các nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan.

3.2.2.2. Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá nhập khẩu

Ngành dệt may: Ngành dệt may chiếm 15 - 20% tổng KNXK cả nước, bình quân mỗi năm tăng 20%. Thực tế, giá trị ngành công nghiệp dệt may chiếm tỷ lệ rất lớn trong cơ cấu xuất khẩu của cả nước, nhưng giá trị gia tăng thấp. Tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu ngành dệt may chỉ đạt 3 - 8%, còn chủ yếu là nhập nguyên liệu, thậm chí nhập sản phẩm bán thành phẩm về gia công sau đó xuất khẩu để tận dụng nhân công giá rẻ và các ưu đãi chính sách thuế, đất đai của Nhà nước.

H.àn.g. h.oá n.h.ập kh.ẩu. c.ủa. Vi.ệt N.a.m. được. B.ộ C.ôn.g. Th.ươn.g. c.h.i.a. th.àn.h. 03 n.h.óm.: N.h.óm. 1 - N.h.óm. h.àn.g. c.ần. n.h.ập kh.ẩu.; N.h.óm. 2 - N.h.óm. h.àn.g. c.ần. ki.ểm. soát; N.h.óm. 3 - N.h.óm. h.àn.g. c.ần. h.ạn. c.h.ế n.h.ập kh.ẩu.. Cùng với sự xuất hiện của dòng vốn FDI và ngày càng nhiều các DN FDI tại Việt Nam, cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam có sự biến động lớn giữa hai nhóm hàng tư liệu sản xuất (nhóm 1) và hàng tiêu dùng (nhóm 3) theo hướng tăng tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất và giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng trong cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam. Điều này đã thể hiện đúng định hướng nhập khẩu của Việt Nam: giảm tỷ trọng hàng nhập khẩu phục vụ tiêu dùng, tăng tỷ trọng hàng nhập khẩu là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất.

Bảng 3.22: Cơ cấu các nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007-2018

Đơn. vị: Tỷ U.SD., tăn.g %, c.ơ c.ấu. %

N.ăm. 2007

N.ăm. 2008

N.ăm. 2010

Năm 2017

N.ăm. 2018

N.h.óm. h.àn.g.

Giá trị

Giá trị

Tỷ trọng

Giá trị

Tỷ trọng

Giá trị

Tỷ trọng

Giá trị

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Tốc độ tăng

Tốc độ tăng

Tốc độ tăng

Tốc độ tăng

Tốc độ tăng

62,7 39,6

100

80,7 28,8

100

84,8 21,3

100

211,1 20,8

100

236,7 10,8

100

Tổn.g. KNNK

N.h.óm.

52,0 41,4 82,9 65,1 25,3 80,6 70,5 22,2 83,1 149,2 26,7 85,7

211,8 41,9 89,5

h.àn.g. c.ần. n.h.ập kh.ẩu.

N.h.óm.

7,0 20,9 11,2 11,2 60,0 13,9

8,5 17,6 10,0

16,4 12,7

9,5

16,3

-0,4

6,9

h.àn.g. c.ần. ki.ểm. soát

N.h.óm. h.àn.g. c.ần.

3,7 70,8

5,9

4,4 18,8

5,5

5,8 16,0

6,8

6,7

4,5

3,3

7,5

0

3,2

h.ạn. c.h.ế nhập khẩu

N.g.u.ồn.: Tổn.g. c.ục. H.ải. quan, Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả

108

C.ơ c.ấu. h.àn.g. h.óa. n.h.ập kh.ẩu. c.ủa. Vi.ệt N.a.m. g.i.a.i. đoạn. 2007-2018 đã c.ó c.h.u.yển. b.i.ến. th.e.o h.ướn.g. tăn.g. tỷ trọn.g. n.h.óm. h.àn.g. c.ần. n.h.ập kh.ẩu., g.i.ảm. tỷ trọn.g. n.h.óm. h.àn.g. c.ần. ki.ểm. soát và c.ần. h.ạn. c.h.ế n.h.ập kh.ẩu.. C.ụ th.ể là, c.ơ c.ấu. n.h.óm. h.àn.g. c.ần. n.h.ập kh.ẩu. c.h.i.ếm. khoảng 81-83% tron.g. c.ơ c.ấu. n.h.ập kh.ẩu. c.ả n.ước., tron.g. kh.i. c.ác. g.i.a.i. đoạn. trước. c.h.ỉ c.h.i.ếm. kh.oản.g. 75-80%. H.a.i. n.h.óm. h.àn.g. c.ần. ki.ểm. soát và c.ần. h.ạn. c.h.ế n.h.ập kh.ẩu c.h.ỉ c.h.i.ếm. tỷ trọn.g. th.ấp 10-19% tron.g. tổn.g. KN.N.K. N.h.ập kh.ẩu. nhóm. m.ặt h.àn.g. tiêu dùng g.i.ảm. do sản. xu.ất tron.g. n.ước. đã được. n.ân.g. c.a.o về c.h.ất lượn.g., phần nào đã đáp ứng được nhu cầu và có thể th.a.y th.ế hàng. n.h.ập kh.ẩu.. Nhiều hàng hoá nhập khẩu đã được thay thế bằng hàng hoá của chính các DN FDI.

a. FDI góp phần làm giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng trong cơ cấu hàng

hoá nhập khẩu của Việt Nam

Ở Việt Nam, khi chưa. c.ó sự xuất hiện của các DN FD.I., hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng KNNK do nhiều mặt hàng tiêu dùng trong nước chưa sản xuất được. Khi có sự xuất hiện của các DN FDI, hàng hoá tiêu dùng nhập khẩu được thay thế bằng chính hàng hoá của các DN FDI. Thêm vào đó, thông qua kênh CGCN và tri thức từ FDI sang khu vực kinh tế trong nước, các DN trong nước cũng có thể sản xuất được những mặt hàng tiêu dùng mà trước đây phải nhập khẩu. Như vậy, FDI có tác động làm giảm tỷ trọng hàng tiêu dùng trong cơ cấu hàng nhập khẩu. Đây là một tác động rất tích cực của FDI tới cơ cấu hàng hoá nhập khẩu ở Việt Nam.

Trước năm 1995, tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng trong tổng KNNK dao động trong khoảng 13% - 16%. Giai đoạn 1996-2006, tỷ trọng này đã giảm xuống đáng kể và ổn định ở mức 7% - 8%.

Bảng 3.23: Tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng KNNK của Việt Nam giai đoạn 1990-2006

Đơn vị: % 2006 Nhóm hàng 1990 1995 2000 2003 2004 2005

Hàng tiêu dùng 14,9 15,2 6,2 6,4 6,9 10,4 8,7

Thực phẩm 2,5 3,5 1,9 2,3 2,4 - -

Hàng y tế 1,5 0,9 2,2 1,6 1,9 1,4 1,2

Hàng tiêu dùng khác 10,9 10,8 2,1 2,5 2,6 8,9 7,5

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả

Giai đoạn 2007-2018, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của dòng vốn FDI vào Việt Nam sau sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, nhiều sản phẩm tiêu dùng được sản xuất và cung cấp bởi chính các DN FDI hoạt động tại Việt Nam, tỷ trọng nhóm hàng này giảm mạnh trong tổng KNNK, dao động trong khoảng từ 3% - 6,5% và có xu hướng giảm theo thời gian. Hai năm 2017 và 2018, tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng KNNK của Việt Nam chỉ còn trên 3%.

109

Bảng 3.24: Tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng KNNK của Việt Nam giai đoạn 2007-2018

2007 2008 2010 2017 2018

N.h.óm. h.àn.g.

Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Giá trị (Tỷ USD) Giá trị (Tỷ USD) Tỷ trọng (%) Giá trị (Tỷ USD) Giá trị (Tỷ USD) Giá trị (Tỷ USD)

3,7 5,9 4,4 5,5 5,8 6,5 6,9 3,27 7,5 3,16 Hàng tiêu dùng

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả

Giá trị nhập khẩu nhóm hàng tiêu dùng giảm là do hoạt động sản xuất trong nước, đặc biệt là hoạt động sản xuất của khối các DN FDI, đã có thể đảm bảo về số lượng và chất lượng để thay thế hàng hoá nhập khẩu. Đây là một tác động rất tích cực được kỳ vọng rất lớn của FDI tới cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, tác động tích cực này vẫn chưa được phát huy tối đa ở Việt Nam do Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu một số mặt hàng tiêu dùng, vẫn có sự gia tăng về giá trị nhập khẩu tuy tốc độ tăng đã giảm theo thời gian.

b. FDI góp phần làm tăng tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất trong cơ cấu hàng hoá

nhập khẩu của Việt Nam

Hầu hết các DN FDI tại Việt Nam đều phải nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu đầu vào sản xuất từ bên ngoài do trong nước chưa đáp ứng được. FD.I. làm. g.i.a. tăn.g. n.h.u. c.ầu. n.h.ập kh.ẩu. c.ác. m.ặt h.àn.g. m.áy m.óc., th.i.ết b.ị, d.ụn.g. c.ụ, ph.ụ tùn.g., n.g.u.yên. phụ li.ệu. đầu vào ph.ục. vụ sản. xu.ất d.o sự m.ở rộn.g. và g.i.a. tăn.g. c.ủa. c.ác. DN. FD.I.. M.ặt kh.ác., Vi.ệt N.a.m. là n.ước. c.ó trìn.h. độ c.ôn.g. n.g.h.ệ kém. ph.át tri.ển. h.ơn. so với. c.ác. n.ước. c.h.ủ đầu. tư, vì th.ế kh.i. c.ác. c.h.ủ đầu. tư th.ực. h.i.ện. d.ự án., n.g.oài. vi.ệc. c.h.u.yển. vốn. vào Vi.ệt N.a.m., h.ọ sẽ đưa. c.ác. loại. m.áy m.óc., th.i.ết b.ị, c.ôn.g. c.ụ, d.ụn.g., c.ôn.g. n.g.h.ệ m.ới. vào Vi.ệt N.a.m. để ph.ục. vụ c.h.o n.h.u. c.ầu. sản. xu.ất. Điều này sẽ làm. tăn.g. tỷ trọn.g. n.h.óm. h.àn.g. th.i.ết b.ị c.ôn.g. n.g.h.i.ệp tron.g. tổn.g. KN.N.K c.ủa. Vi.ệt N.a.m.. N.h.ư vậy, n.g.oài. vi.ệc. làm. tă.n.g. tỷ trọn.g. n.h.óm. h.àn.g. m.áy m.óc., th.i.ết b.ị c.ôn.g. n.g.h.i.ệp, FD.I. c.ũn.g. làm. tăn.g. tỷ trọn.g. n.h.óm. h.àn.g. n.g.u.yên. vật li.ệu. c.ôn.g. n.g.h.i.ệp tron.g. c.ơ c.ấu. h.àn.g. h.oá n.h.ập kh.ẩu. c.ủa. Vi.ệt N.a.m.. C.u.ối. c.ùn.g., FD.I. làm. c.h.o tỷ trọn.g. n.h.óm. 1 - n.h.óm. h.àn.g. c.ần. n.h.ập kh.ẩu. c.ủa. Vi.ệt N.a.m. tron.g. tổn.g. KN.N.K tăn.g. lên.

Giai đoạn 2005-2010: Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005- 2010 cho thấy những mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất đều là nhóm tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; xăng dầu; nguyên, phụ liệu dệt may, da giày… Đặc biệt, với sự xuất hiện của các DN FDI trong ngành dệt may, da giầy và ngành công nghiệp điện tử trong giai đoạn này, nhập khẩu tư liệu sản xuất của khu vực FDI tăng, dẫn tới làm tăng tỷ trọng nhóm tư liệu sản xuất trong tổng KNNK của Việt Nam.

110

Bảng 3.25: Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2010

Năm 2005

Năm 2007

Năm 2010

Xếp hạng

Mặt hàng

Mặt hàng

Mặt hàng

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

1

14,28

17,74

16,14

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng

2

11,44

Xăng dầu

13,60 Xăng dầu

11,56

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng Nguyên, phụ liệu dệt may, da giày

3

7,25

12,66

11,36 Sắt thép

Nguyên, phụ liệu dệt may, da giày

4

7,92 Sắt thép

8,15 Xăng dầu

7,19

5

4,61

4,72

6,14

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

6

Nguyên, phụ liệu dệt may, da giày Sắt thép Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Chất dẻo nguyên liệu

3,92 Chất dẻo nguyên liệu

4,46

7

1,60

2,56

Linh kiện ô tô

2,16 Phân bón

8

1,74 Linh kiện ô tô

3,99 Chất dẻo nguyên liệu Thức ăn gia súc và nguyên liệu 1,47 Ô tô nguyên chiếc

1,15

9

1,29

0,93

Phân bón Linh kiện và phụ tùng xe máy

Linh kiện và phụ tùng xe máy

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tổng hợp của tác giả

Ngành dệt may của Việt Nam phát triển khá nhanh và thu hút được một lượng lớn vốn FDI trong giai đoạn này. Các dự án FDI có quy mô lớn được cấp phép trong giai đoạn này đa phần đều rơi vào ngành dệt may, có thể kể đến như Công ty Hansae Việt Nam, Công ty Hyosung Việt Nam, Công ty Hansoll Vina, Công ty EINS Vina, Công ty Quốc tế Chutex, Công ty Poong In Vina, Công ty Youngone Nam Định, Công ty Ivory Việt Nam, Công ty Vina Korea… Bên cạnh đó, ngành da giầy của Việt Nam cũng phát triển khá mạnh trong giai đoạn này và được đánh giá là sân chơi chủ yếu của các DN FDI. Các DN lớn trong ngành đều là các DN FDI và chủ yếu đến từ các nhà đầu tư Hàn Quốc và Đài Loan. Trong đó, có những DN FDI có vai trò dẫn dắt như PouChen - PouChen là một trong những tập đoàn da giầy lớn nhất thế giới. Tại Việt Nam, Pouchen có các DN trực thuộc như PouYuen (Thành phố Hồ Chí Minh), PouHung, PouLi (Tây Ninh), PouChen, PouSung (Đồng Nai), Dũ Đức (Tiền Giang), Duy Khang (Long An). Sự xuất hiện các DN FDI lớn trong ngày dệt may và da giầy ở Việt Nam đã làm cho nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất của hai ngành này gia tăng, trở thành một trong những nhóm hàng có tỷ trọng cao nhất trong tổng KNNK của Việt Nam giai đoạn 2000-2005.

Giai đoạn 2015-2018: Các DN FDI ngành công nghiệp điện tử phát triển rất mạnh trong giai đoạn này với các tên tuổi lớn như Samsung, Foxconn, LG, Panasonic, Intel. Sự có mặt của các hãng lớn trong ngành công nghiệp điện tử thế giới, đặc biệt là Samsung, tại Việt Nam đã làm cho giá trị nhập khẩu tư liệu sản xuất của các nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện;

111

điện thoại các loại và linh kiện liên tục gia tăng và chiếm tỷ trọng cao nhất (thứ 1, 2 và 4) trong tổng cơ cấu hàng hoá nhập khẩu trong giai đoạn 2015-2018. Trong khi ở giai đoạn 2005-2010, nhập khẩu tư liệu sản xuất nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện mới đứng vị trí thứ 5 và nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện còn chưa được xuất hiện trong danh mục các nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu giai đoạn này.

Bảng 3.26: Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2018 Năm 2018

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Xếp hạng

Mặt hàng

Mặt hàng

Mặt hàng

Mặt hàng

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

16,66

17,86

17,83

16,29

1

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng

15,94

14,25

16,01

2

14,00 (DN FDI: 92)

8,33

7,95

10,10

10,81

3

7,74

6,71

6,07

4

6,40 (DN FDI: 88)

Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện Nguyên, phụ liệu dệt may, da giầy Điện thoại các loại và linh kiện

Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện Nguyên, phụ liệu dệt may, da giầy Điện thoại các loại và linh kiện

4,52

6,18

6,32

2,84

5

Xăng dầu các loại

Sắt thép các loại

3,43

4,27

4,18

2,76

6

Sắt thép các loại

Chất dẻo nguyên liệu

3,24

4,13

4,31

2,65

7

Chất dẻo nguyên liệu

Xăng dầu các loại

2,27

3,33

3,23

2,11

8

Sản phẩm chất dẻo

Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng Nguyên, phụ liệu dệt may, da giầy Điện thoại các loại và linh kiện Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo Sắt thép các loại Hóa chất và sản phẩm từ hóa chất Xăng dầu các loại

Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng Nguyên, phụ liệu dệt may, da giầy Điện thoại các loại và linh kiện Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo Sắt thép các loại Hóa chất và sản phẩm từ hóa chất Xăng dầu các loại

2,05

2,57

3,06

1,98

9

Kim loại thường khác

Kim loại thường khác

Kim loại thường khác

Sản phẩm chất dẻo Thức ăn gia súc và nguyên liệu

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tổng hợp của tác giả

Như vậy, cơ cấu hàng hoá nhập khẩu trong thời gian qua đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng tỷ trọng nhóm hàng cần nhập khẩu, giảm tỷ trọng nhóm hàng cần kiểm soát và hạn chế nhập khẩu. Đối với Việt Nam, sự dịch chuyển này được coi là sự dịch chuyển tích cực theo hướng nâng cao chất lượng của cơ cấu hàng hoá nhập khẩu. Và như đã phân tích, sự chuyển dịch cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua phần nào cho thấy phụ thuộc vào dòng FDI chảy vào các ngành. Dòng FDI chảy vào một ngành mạnh, ngành đó sẽ có nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất cao hơn và do đó làm tăng giá trị cũng như tỷ trọng của nhóm hàng đó trong tổng KNNK cả nước.

112

Tuy nhiên, thực trạng này cũng cho thấy, xuất khẩu của Việt Nam nói chung và các DN FDI nói riêng phụ thuộc quá lớn vào nhập khẩu từ bên ngoài. Các DN FDI xuất khẩu nhiều nhưng nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu cũng lớn. Chẳng hạn, nguyên liệu nhập khẩu trong ngành dệt may chiếm đến 70%, da giày 80%, ngành gỗ 50%, ngành nhựa 85%, ngành điện tử 90% (Hoàng Thọ Xuân & Doãn Công Khánh, 2007). Điều đó cho thấy các DN FDI tại Việt Nam mới chủ yếu ở mức độ gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam còn rất thấp.

3.2.3. Thực trạng tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam

3.2.3.1. FDI góp phần mở rộng phạm vi thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam

Tác động của FDI trong việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam thông qua các kênh: (1) thúc đẩy thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nước chủ đầu tư; (2) mạng lưới phân phối của các TNCs; (3) kênh thông tin thị trường xuất nhập khẩu.

Thứ nhất, FD.I. c.ó kh.ả n.ăn.g. th.úc. đẩy th.ươn.g. m.ại. quốc tế g.i.ữa. Việt Nam với các

n.ước. c.h.ủ đầu. tư

Hầu hết các quốc gia có quan hệ đầu tư với Việt Nam đều có quan hệ thương mại quốc tế với Việt Nam do những ràng buộc về đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Càng có nhiều nhà đầu tư thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thì phạm vi thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam càng được mở rộng. Tác động này của FDI đối với thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam là tích cực và rất rõ ràng.

Trước. n.ăm. 1986, th.ị trườn.g. xu.ất nhập kh.ẩu. c.ủa. Việt Nam. c.h.ỉ b.ó h.ẹp tron.g. ph.ạm. vi. c.ác. n.ước. Li.ên. Xô c.ũ, c.ác. n.ước. Đôn.g. Âu. và m.ột số n.ước. xã h.ội. c.h.ủ n.g.h.ĩa. kh.ác. với. số lượn.g. h.àn.g. h.óa. rất kh.i.êm. tốn. N.ăm. 1986, Đản.g. và N.h.à n.ước. ta. th.ực. h.i.ện. đườn.g. lối. đổi. m.ới., đa. ph.ươn.g. h.óa., đa. d.ạn.g. h.óa. c.ác. h.oạt độn.g. ki.n.h. tế đối. n.g.oại., Lu.ật Đầu. tư n.ước. n.g.oài. được. b.a.n. h.àn.h.. H.oạt độn.g. th.u. h.út vốn. FD.I. th.ực. sự được. c.oi. trọn.g. n.h.ằm. ph.át h.u.y ti.ềm. lực. tron.g. n.ước.. G.i.a.i. đoạn. 1988-1991 là g.i.a.i. đoạn. m.ới. th.ực. th.i. Lu.ật Đầu. tư n.ước. n.g.oài. tại. Vi.ệt N.a.m. và th.ực. h.i.ện. đổi. m.ới. n.ên. lượn.g. FD.I. th.u. h.út được. rất kh.i.êm. tốn., th.ị trườn.g. xu.ất nhập kh.ẩu. vì th.ế c.ũn.g. c.h.ưa. m.ở rộn.g. được. n.h.i.ều.. C.ác. th.ị trườn.g. Li.ên. Xô và Đôn.g. Âu. vẫn. là th.ị trườn.g. c.h.ín.h. n.ên. n.ăm. 1990 kh.i. Li.ên. Xô và Đôn.g. Âu. sụp đổ, KNXK. c.ủa. n.ước. ta. n.ăm. 1991 đã su.y g.i.ảm. m.ạn.h (từ 5,16 tỷ USD năm 1990 xuống còn 4,43 tỷ USD năm 1991, tương đương giảm 14,18%).. Từ c.u.ối. n.ăm. 1991 trở đi., lượn.g. vốn. FD.I. b.ắt đầu. tăn.g. m.ạn.h., kéo th.e.o sự m.ở rộn.g. n.h.a.n.h. c.h.ón.g th.ị trườn.g. xu.ất kh.ẩu. của Vi.ệt N.a.m.. B.a.n. đầu. là m.ột số n.ước. Đôn.g. Á, A.SE.A.N., Tru.n.g. Á… rồi. m.ở rộn.g. sa.n.g. c.ác. n.ước. Tây Âu., c.h.âu. M.ỹ La. Ti.n.h., A.u.stra.li.a., B.ắc. M.ỹ, c.ác. n.ước. c.h.âu. Ph.i.… Đến. năm 2018, Việt Nam đã có quan hệ thương mại quốc tế với 235 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (Tổng cục Hải quan, 2018).

113

Thứ hai, thông qua mạng lưới phân phối của các TNCs

FD.I. g.i.úp m.ở rộn.g. ph.ạm. vi. thị trường xuất khẩu c.ủa. Việt Nam. b.ởi. xu. h.ướn.g. c.ủa. FD.I. tron.g. g.i.a.i. đoạn. n.ày đa.n.g. là FD.I. h.ướn.g. về xu.ất kh.ẩu.. Ngoài mục tiêu là thị trường nước nhận đầu tư, FDI hiện nay còn có mục tiêu là xuất khẩu sang thị trường nước đi đầu tư và đặc biệt là thị trường các nước thứ ba. Th.ôn.g. qu.a. FD.I., h.àn.g. h.óa. c.ủa. Việt Nam c.ó th.ể th.âm. n.h.ập d.ễ d.àn.g. h.ơn. vào th.ị trườn.g. th.ế g.i.ới. b.ởi. b.ên. c.ạn.h. c.ác. lợi. th.ế về vốn. và c.ôn.g. n.g.h.ệ, c.ác. DN FDI. đã c.ó m.ột m.ạn.g. lưới. th.ị trườn.g. rộn.g. lớn.. FD.I. tác. độn.g. đến. th.ị trườn.g. xu.ất kh.ẩu. c.ủa. Vi.ệt N.a.m. thông qua mạng lưới phân phối của các TNCs.. Sản. ph.ẩm. c.ủa. c.ác. TN.C.ss sa.u. kh.i. được. sản. xu.ất tại. Vi.ệt N.a.m. sẽ th.e.o m.ạn.g. lưới. c.ủa. h.ọ được. ti.êu. th.ụ ở kh.ắp c.ác. qu.ốc. g.i.a. trên. th.ế g.i.ới.. U.y tín. của các TNCs đã kh.i.ến. c.h.o c.ác. n.h.à n.h.ập kh.ẩu. và n.g.ười. ti.êu. d.ùn.g. ở nước ngoài c.ó ấn. tượn.g. tốt đối. với. h.àn.g. hoá xu.ất xứ từ Vi.ệt N.a.m., g.i.úp h.àn.g. hoá của Vi.ệt N.a.m. thâm. n.h.ập c.ác. th.ị trườn.g. nước ngoài m.ột c.ác.h. n.h.a.n.h. c.h.ón.g. h.ơn., d.ễ d.àn.g. h.ơn.. H.àn.g. h.óa. c.ủa. Việt Nam. c.ó th.ể qu.a. m.ạn.g. lưới. n.ày xâm. n.h.ập vào c.ả n.h.ữn.g. th.ị trườn.g. kh.ó tín.h., đòi. h.ỏi. kh.ắt kh.e. về c.h.ất lượn.g. h.àn.g. h.óa. n.h.ư kh.u. vực. th.ị trườn.g. c.ác. n.ước. ph.át tri.ển. g.ồm. M.ỹ, N.h.ật B.ản., E.U.…

Sau cú nổ đầu tiên của Intel vào năm 2006 với dự án đầu tư trị giá 1 tỷ USD, hàng trăm TNCs lớn trên thế giới đã lựa chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư dài hạn. Nhiều tập đoàn đã quyết định xây dựng tại Việt Nam các tổ hợp công nghệ lớn, được xem là các cứ điểm sản xuất và phân phối quan trọng trên bản đồ kinh doanh toàn cầu của họ. Bằng chứng là, ngày càng nhiều nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có những tên tuổi hàng đầu thế giới đã vào đầu tư tại Việt Nam như Honda, Samsung, LG, Microsoft, Canon... Việt Nam đã và đang trở thành tâm điểm của thế giới trong sản xuất một số sản phẩm điện tử như máy tính bảng, điện thoại di động, đồ điện tử gia dụng, chíp điện tử... Với kênh phân phối rộng lớn và uy tín của các TNCs, các mặt hàng được sản xuất tại Việt Nam dễ dàng có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó giúp mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam.

Theo Báo cáo Đầu tư thế giới của UNCTAD năm 2016, dựa trên kết quả điều tra 164 TNCs trên thế giới, Việt Nam xếp thứ 9 trên thế giới về mức độ hấp dẫn đầu tư, tăng 2 bậc so với năm 2015. Cũng theo kết quả khảo sát khoảng 200 TNCs là khách hàng của Hãng tư vấn Frontier Strategy Group (Mỹ) năm 2016, Việt Nam là một trong 3 nước được các TNCs của châu Âu và Mỹ quan tâm đầu tư nhiều nhất tại các thị trường mới nổi. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự mở rộng phạm vi thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây.

Thứ ba, kênh thông tin thị trường xuất nhập khẩu

DN FDI thường có mặt ở nhiều quốc gia và hoạt động theo mạng lưới phân phối của các TNCs. Do đó, chính các DN FDI sẽ là người cung cấp tốt nhất và nhanh nhất các thông tin về thị trường xuất nhập khẩu ở nước ngoài, về khách hàng nước

114

3.2.3.2. FDI có tác động làm thay đổi cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam

ngoài, về các kênh phân phối hàng hoá trên thị trường nước ngoài… Thông qua liên kết sản xuất và kinh doanh với các DN FDI, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước sẽ có cơ hội có được những thông tin về thị trường nước xuất nhập khẩu và từ đó có thể tiếp cận được với các thị trường xuất nhập khẩu. Như vậy, FDI không chỉ giúp mở rộng phạm vi thị trường xuất nhập khẩu, thị phần cho các doanh nghiệp trong nước mà còn giúp mở rộng phạm vi thương mại quốc tế của Việt Nam.

a. Thay đổi. cơ cấu th.ị trườn.g. xu.ất kh.ẩu. của Việt Nam

Trước. n.ăm. 1990, th.ị trườn.g. xu.ất kh.ẩu. c.h.ủ yếu. c.ủa. Vi.ệt N.a.m. là n.h.óm. các n.ước. Xã h.ội. C.h.ủ n.g.h.ĩa.. Đến. n.ăm. 2000, Vi.ệt N.a.m. c.h.ủ yếu. xu.ất kh.ẩu. h.àn.g. h.óa. sa.n.g. c.ác. n.ước. th.u.ộc. kh.u. vực. ASEAN. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2008, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam bùng nổ với sự xuất hiện của nhiều nhà đầu tư lớn đến từ Trung Quốc và đặc biệt là các quốc gia phát triển trên thế giới, cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã có sự thay đổi rõ rệt. Mỹ, EU và Trung Quốc trở thành ba thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Như vậy, sự thay đổi trong cơ cấu nhà đầu tư FDI đã dẫn tới sự thay đổi. cơ cấu th.ị trườn.g. xu.ất kh.ẩu. c.h.ủ lực. của Việt Nam. Số liệu thống kê về KNXK của Việt Nam theo các thị trường chính giai đoạn 2008-2018 trong bảng 3.27 dưới đây cho thấy rõ sự thay đổi này.

Bảng 3.27: Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam giai đoạn 2008-2018

Kim ngạch xuất khẩu

ASEAN

EU

Nhật Bản

Trung Quốc

Hoa Kỳ

Năm

Giá trị (Tỷ USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (Tỷ USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (Tỷ USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (Tỷ USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (Tỷ USD)

Tỷ trọng (%)

2008

10,19 16,26

8,54 13,62

4,54

7,24

11,87 18,94

10,85 17,31

2009

8,59 15,04

6,29 11,02

4,91

8,60

11,36 19,90

9,38 16,43

2010

9,17 12,69

7,73 10,70

7,38 10,22

14,24 19,71

11,39 15,77

2011

15,80 16,30

11,66 12,03

11,06 11,41

17,56 18,12

18,13 18,71

2012

17,69 15,45

13,06 11,40

12,39 10,82

19,66 17,17

20,31 17,73

2013

18,47 13,98

13,65 10,33

13,26 10,04

23,87 18,06

24,33 18,41

2014

18,86 12,56

14,70

9,79

14,93

9,94

28,64 19,07

27,90 18,57

2015

18,16 11,21

14,14

8,73

17,14 10,58

33,48 20,66

30,94 19,10

2016

17,47

9,89

14,68

8,31

21,97 12,44

38,46 21,77

33,98 19,24

2017

21,68 10,13

16,84

7,87

35,46 16,57

41,61 19,44

38,28 17,89

2018

24,52 10,07

18,85

7,74

41,27 16,95

47,53 19,52

41,88 17,19

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tổng hợp của tác giả

115

Qua số liệu thống kê trong bảng 3.27, trong giai đoạn 2008-2018, thị trường

xuất khẩu Việt Nam đã có sự thay đổi rất rõ rệt, thị trường chủ lực trước đây là ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc đã dần nhường chỗ cho các thị trường mới như Mỹ, EU và gần đây là Trung Quốc. Điều này thể hiện rất rõ thông qua giá trị xuất khẩu của các thị trường và tỷ trọng trong tổng KNXK của Việt Nam.

Thị trường ASEAN, tỷ trọng KNXK của Việt Nam vào thị trường này có xu hướng giảm liên tục từ năm 2008 đến năm 2016, từ 16,26% năm 2008 xuống còn 9,89% năm 2016. Năm 2017, tỷ trọng này có tăng nhưng không đáng kể. Năm 2018,

tỷ trọng KNXK vào ASEAN lại giảm so với năm 2017, từ 10,13% xuống 10,07%.

Thị trường Nhật Bản, tỷ trọng KNXK của Việt Nam vào thị trường này cũng liên tục giảm trong cả giai đoạn 2008-2018, từ 13,62% năm 2008 xuống còn 7,74%

vào năm 2018.

Thị trường Hoa Kỳ có sự tăng trưởng liên tục về mặt giá trị xuất khẩu trong cả giai đoạn 2008-2018, năm 2008 KNXK vào thị trường này của Việt Nam là 11,87 tỷ USD thì đến năm 2018 đã lên tới 47,53 tỷ USD và luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong

tổng KNXK cả nước.

Thị trường EU cũng cho thấy sự tăng trưởng liên tục về mặt giá trị trong cả giai đoạn 2008-2018, từ 10,58 tỷ USD năm 2008 đã tăng lên 41,88 tỷ USD vào năm 2018 và luôn giữ vững vị trí thứ 2 trong tổng KNXK cả nước.

Thị trường Trung Quốc trong những năm gần đây đã có sự tăng trưởng ấn tượng cả về mặt giá trị xuất khẩu và tỷ trọng trong tổng KNXK cả nước. Nếu như năm 2008, giá trị xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc mới chỉ đạt 4,54 tỷ USD, chiếm

7,24 % thì đến năm 2018 giá trị xuất khẩu vào thị trường này đã lên tới 41,27 tỷ USD, chiếm 16,95% tổng KNXK cả nước. Trung Quốc đã vượt ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam trong năm 2018.

FDI có tác động làm thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam

trong những năm qua là do sự xuất hiện ngày càng nhiều của các DN FDI trong hai ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đó là ngành dệt may và da giày. Trong khi đó, ba thị trường lớn nhất của hai ngành này ở Việt Nam chính là Mỹ, EU và gần đây có

sự nổi lên của Trung Quốc.

Sự xuất hiện của các DN FDI trong ngành dệt may (55% số DN FDI trong ngành dệt may) và ngành da giày (77% số DN FDI trong ngành da giày) đã làm cho giá trị xuất khẩu của hai ngành này không ngừng tăng trong những năm qua, từ đó làm tăng xuất

khẩu của khu vực FDI nói riêng và cả nước nói chung. Sự gia tăng về giá trị xuất khẩu

116

hai ngành này đã dẫn tới sự thay đổi thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Thay vì

các thị trường ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Mỹ, EU và gần đây là Trung Quốc đã trở thành các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong năm 2018.

Bảng 3.28: Ba thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành dệt may và da giày Việt Nam năm 2018

Ngành da giày Ngành dệt may

Thị trường

Giá trị (Tỷ USD) Tốc độ tăng so với 2016 (%) Tỷ trọng (%) Tốc độ tăng so với 2016 (%) Tỷ trọng (%) Giá trị (Tỷ USD)

Hoa Kỳ 12,50 7,14 39,32 5,1 14,1 34,9

EU 3,99 6,46 12,56 4,6 10,1 31,5

Trung Quốc 3,48 25,57 10,84 1,1 26,1 7,5

Nguồn: Tổng cục Hải quan và tổng hợp của tác giả

Thông qua hai ngành này, có thể thấy rõ tác động của FDI tới việc thay đổi cơ

cấu thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Đây là một tác động rất tích cực và đúng với định hướng xuất khẩu của Nhà nước vì Mỹ và EU là hai thị trường khổng lồ của thế giới cả về lượng mua và sức mua. Hầu hết các nước có định hướng phát triển

kinh tế dựa vào xuất khẩu đều coi Mỹ và EU là hai thị trường mục tiêu cần hướng tới. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng là một thị trường vô cùng tiềm năng của Việt Nam. Nếu biết rằng KNXK hàng dệt may của Trung Quốc năm 2017 đạt tới 260 tỷ USD thì mới thấy hết ý nghĩa to lớn của việc đưa được hàng dệt may Việt Nam vào thị trường

rộng lớn này.

b. Thay đổi cơ cấu thị trường nhập khẩu của Việt Nam

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. kéo th.e.o vi.ệc. n.h.ập kh.ẩu. máy móc thiết

bị, công nghệ và nguyên phụ liệu sản. xu.ất từ n.ước. c.h.ủ đầu. tư vào Việt Nam do Việt Nam chưa sản xuất và đáp ứng được. Kh.i. m.ột n.ước. đầu. tư FDI c.àn.g. n.h.i.ều. vào Vi.ệt N.a.m. thì h.àn.g. h.óa. n.h.ập kh.ẩu. từ n.ước. đó vào Vi.ệt N.a.m. c.ũn.g. sẽ tăn.g.. Điều này dẫn tới sự thay đổi cơ cấu nhà đầu tư FDI sẽ làm thay đổi cơ cấu thị trường nhập khẩu của

Việt Nam.. Có thể thấy rõ tác động này của FDI khi so sánh các chủ đầu tư và thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam qua hai giai đoạn trước và sau năm 2007.

Giai đoạn 1995-2006:

Th.e.o số li.ệu. th.ốn.g. kê trong bảng 3.29, năm n.h.à đầu. FDI. lớn. n.h.ất vào Vi.ệt N.a.m. g.i.a.i. đoạn. 1995-2006 cũng c.h.ín.h. là năm th.ị trườn.g. n.h.ập kh.ẩu. lớn. n.h.ất c.ủa. Vi.ệt N.a.m. tron.g. g.i.a.i. đoạn. n.ày.

117

Đơn. vị: Tỷ U.SD

Bảng 3.29: Năm chủ đầu tư FDI - thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam giai đoạn 1995-2006

Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Tổng Xếp hạng

Singapore

1

FDI

1,06

3,07

0,64

1,30

0,31

0,06

0,51

0,09

0,15

0,40

0,25

0,68

8,49

1

KNNK

1,43

2,03

2,13

1,96

1,88

2,69

2,48

2,53

2,88

3,62

4,48

6,27 34,38

Hàn Quốc

2

FDI

0,59

0,83

0,89

0,10

0,18

0,10

0,20

0,56

0,48

0,49

0,93

3,11

8,45

3

KNNK

1,25

1,78

1,56

1,42

1,49

1,75

1,89

2,28

2,63

3,36

3,59

3,91 26,91

Nhật Bản

3

FDI

1,09

0,91

0,88

0,34

0,17

0,11

0,69

0,41

0,29

0,87

0,95

1,49

8,21

2

KNNK

0,92

1,26

1,51

1,48

1,62

2,30

2,18

2,50

2,98

3,55

4,07

4,70 29,08

Hồng Kông

4

FDI

0,53

0,83

0,29

0,30

0,10

0,10

0,25

0,24

0,31

0,26

0,56

1,69

5,46

4

KNNK

0,42

0,80

0,60

0,56

0,50

0,60

0,54

0,80

0,99

1,07

1,24

1,44

9,56

Malaysia

5

FDI

0,19

0,13

0,26

0,02

0,02

0,07

0,04

0,12

0,09

0,19

0,26

0,09

1,48

5

KNNK

0,19

0,20

0,23

0,25

0,31

0,39

0,46

0,68

0,93

1,22

1,26

1,48

7,59

N.g.u.ồn.: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổn.g. c.ục. H.ải. qu.a.n và tổng hợp của tác giả.

Như vậy, trước năm 2007 các chủ đầu tư FDI lớn nhất của Việt Nam là Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông và Malaysia thì nhóm thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong thời kỳ này cũng chính là những nước này, đứng

đầu là Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông và Malaysia.

Giai đoạn 2007-2018: Trong giai đoạn 2007-2018, c.ùn.g. với. vi.ệc. th.u. h.út n.g.ày c.ác. n.h.i.ều. c.ác. n.h.à đầu. tư n.ước. n.g.oài. tới. từ n.h.i.ều. qu.ốc. g.i.a. và vùn.g. lãn.h. th.ổ trên thế

giới., th.ị trườn.g. n.h.ập kh.ẩu. c.ủa. Vi.ệt N.a.m. c.ũn.g. đa. d.ạn.g. h.ơn. với. n.h.i.ều. đối. tác. c.h.i.ến. lược. m.ới.. Trong giai đoạn này, th.ứ tự c.ác. th.ị trườn.g. n.h.ập kh.ẩu. c.h.ín.h. c.ủa. Vi.ệt N.a.m. đã c.ó sự th.a.y đổi., Tru.n.g. Qu.ốc. đã trở th.àn.h. th.ị trườn.g. n.h.ập kh.ẩu. lớn. n.h.ất c.ủa. Vi.ệt N.a.m.

d.o lợi. th.ế về địa. lý và kh.ả n.ăn.g. c.ạn.h. tra.n.h. về g.i.á. C.ác. vị trí ti.ếp th.e.o là H.àn. Qu.ốc., N.h.ật B.ản., Th.ái. La.n. và H.oa. Kỳ. Đi.ều. đán.g. n.ói. là đây c.ũn.g. c.h.ín.h. là n.h.ữn.g. qu.ốc. g.i.a. đầu. tư FDI. lớn. n.h.ất vào Vi.ệt N.a.m. g.i.a.i. đoạn. 2007-2018. N.h.ư vậy, rõ ràng sự thay đổi cơ cấu nhà đầu tư FDI đã làm thay đổi cơ cấu thị trường nhập khẩu chính của Việt

Nam trong thời gian qua.

118

Đơn. vị: Tỷ U.SD

B.ản.g. 3.30: Năm c.h.ủ đầu. tư FDI - Th.ị trườn.g. n.h.ập kh.ẩu. lớn. n.h.ất c.ủa. Vi.ệt N.a.m. g.i.a.i. đoạn. 2007-2018

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017

2018

Năm

Tổng Xếp hạng

Hàn Quốc

FDI

5,40

4,91

1,91

2,55

1,54

1,29

4,47

0,49

6,98

7,97

8,72

7,32

53,53

1

2

KNNK

5,34

7,26

6,71

9,76

13,18

15,54

20,68

21,73

27,58

31,16

46,73

47,50 253,15

Nhật Bản

FDI

1,39

8,04

0,71

2,40

2,62

5,59

5,88

2,30

1,80

3,04

9,20

8,94

51,91

2

3

KNNK

6,19

8,24

6,84

9,02

10,40

11,60

11,56

12,86

14,23

15,06

16,59

19,01

141,59

Thái Lan

FDI

0,29

4,02

0,10

0,17

0,21

0,20

0,20

0.23

0,34

0,73

0,62

0,76

7,88

5

4

KNNK

3,74

4,91

4,47

5,60

6,38

5,79

6,28

7,05

8,28

8,85

10,40

10,01

81,77

Trung Quốc

FDI

0,57

0,73

0,38

0,68

0,76

0,37

2,34

0,50

0,74

2,14

2,14

2,53

13,89

4

1

KNNK

12,71

15,97

15,41

20,20

24,87

29,04

36,89

43,65

49,46

50,02

58,23

65,44

421,88

Hoa Kỳ

FDI

0,39

1,95

9,95

1,94

0,30

0,16

0,13

0,31

0,22

0,43

0,87

0,56

17,21

3

5

KNNK

1,70

2,65

2,71

3,77

4,53

4,83

5,23

6,29

7,79

9,70

9,20

12,75

71,14

N.g.u.ồn.: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổn.g. c.ục. H.ải. qu.a.n và tổng hợp của tác giả.

Cùng với việc vươn lên trở thành nhà đầu tư FDI lớn thứ 4 của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2018, Trung Quốc đã trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, việc Trung Quốc trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam cũng là một vấn đề cần được xem xét một cách kỹ lưỡng. Theo một cuộc khảo sát do Tổ chức Xúc tiến thương mại và đầu tư Nhật Bản (JE.TRO) thực hiện, Việt Nam đã trở thành lựa chọn đầu tiên của các công ty Nhật đang hoạt động tại Trung Quốc và đang muốn chuyển hướng đầu tư sang một nước thứ ba, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, ở Việt Nam, họ không xây dựng các nhà máy chế biến vật liệu như đã làm ở Trung Quốc mà quyết định nhập nguyên liệu từ các cơ sở ở Trung Quốc vào Việt Nam (do hai nước có chung biên giới), điều này làm gia tăng mạnh hơn KNNK từ Trung Quốc vào Việt Nam, khiến Việt Nam phải phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Trong thời gian tới, nếu Việt Nam không có kế hoạch phát triển các ngành CNHT thì tác động tiêu cực này sẽ ngày một lớn hơn.

3.2.4. Tóm tắt kết quả phân tích tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018

Sự xuất hiện của dòng vốn FDI đã có tác động rất lớn tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong giai đoạn 1988-2018 thông qua cả kênh tác động trực tiếp và kênh tác động gián tiếp đã được phân tích ở phần trên. Tác giả tổng kết thành ba nhóm tác động: (1) những tác động tích cực; (2) những tác động tích cực chưa được như kỳ vọng; (3) những tác động tiêu cực.

3.2.4.1. Những tác động tích cực

119

Một là, FDI góp phần làm tăng KNXK và góp phần cải thiện cán cân thương

mại của Việt Nam

Rõ ràng với sự đóng góp ngày càng lớn vào tổng KNXK, dòng vốn FDI cũng như các DN FDI đã trở thành đòn bẩy quan trọng kích thích sự phát triển của hoạt động xuất khẩu Việt Nam trong những năm qua. Nhờ đó xuất khẩu của Việt Nam luôn đạt được những kỳ tích với những cột mốc quan trọng. FDI đã có tác động rất tích cực tới KNXK, làm tăng KNXK cả nước thông qua sự gia tăng giá trị xuất khẩu của khu vực FDI. Dòng FDI vào Việt nam với mục tiêu xuất khẩu đã được thực hiện rất tốt, hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN FDI cũng đã tương đối thành công và có đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng KNXK cả nước.

Số liệu thống kê cho thấy cán cân thương mại của khu vực nội địa luôn thâm hụt sâu trong cả thời kỳ 1988-2018. Đây là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng thâm hụt liên tục của cán cân thương mại cả nước. Tuy nhiên, với sự xuất siêu gia tăng liên tục của khu vực FDI, cán cân thương mại của Việt Nam rõ ràng đã được cải thiện, thâm hụt thương mại của cả nước giảm đáng kể và đã bắt đầu có xuất siêu và các năm 2012, 2013, 2014, 2016, 2017, 2018 (Số liệu bảng 3.17). Đây là một tác động rất tích cực của dòng vốn FDI đối với xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua.

Hai là, FDI góp phần thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá của chính

các DN FDI

Khi nền kinh tế còn lạc hậu, hoạt động sản xuất kém phát triển, Việt Nam phải nhập khẩu nhiều mặt hàng, kể cả những mặt hàng tiêu dùng cơ bản. Tuy nhiên, từ khi Việt Nam tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút FDI, nền sản xuất của Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Các DN FDI đã xuất hiện trong rất nhiều ngành, rất nhiều lĩnh vực tại Việt Nam, sản xuất được rất nhiều loại hàng hoá, trong đó có nhiều mặt hàng trước đây phải nhập khẩu như điện tử, máy tính, điện thoại, dược phẩm, thiết bị y tế, ô tô, xe máy… Như vậy, FDI có khả năng thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá của chính các DN FDI được sản xuất tại Việt Nam, từ đó góp phần làm giảm KNNK của Việt Nam.

Ba là, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam theo

hướng tích cực, làm tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế

Sự xuất hiện của dòng vốn FDI trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam làm cho xuất khẩu của ngành này tăng nhanh với tốc độ tăng ngày càng mạnh. Sự gia tăng nhanh chóng này đã làm tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Tỷ trọng của nhóm chế biến - tinh chế trong tổng KNXK của Việt Nam liên tục tăng, ngược lại, tỷ trọng của nhóm hàng thô - sơ chế lại ngày càng giảm (Bảng 3.18). Như vậy, FDI có vai trò quan trọng trong

120

việc nâng cao chất lượng cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thông qua tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến - tinh chế và giảm tỷ trọng của nhóm hàng thô - sơ chế.

Bốn là, FDI giúp mở rộng phạm vi thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam

3.2.4.2. Những tác động tích cực chưa được như kỳ vọng

FDI có khả năng thúc đẩy thương mại quốc tế giữa Việt Nam với các nước chủ đầu tư. Hầu hết các quốc gia có quan hệ đầu tư với Việt Nam đều có quan hệ thương mại quốc tế với Việt Nam do những ràng buộc về đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Với sự gia tăng nhanh chóng của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các đối tác thương mại của Việt Nam cũng gia tăng rất mạnh. Tính đến hết năm 2018, đã có trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có quan hệ thương mại với Việt Nam.

Bên cạnh những tác động rất tích cực của FDI tới xuất khẩu, tác giả còn nhận thấy một số tác động tích cực khác của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam nhưng chưa được như kỳ vọng, đó là:

Thứ nhất, tác động lan toả tích cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa thông

qua kênh tạo áp lực cạnh tranh và kênh CGCN còn rất hạn chế

Về kênh tạo áp lực cạnh tranh: Sự xuất hiện của các DN FDI tại Việt Nam đã tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với các DN xuất khẩu nội địa, buộc các doanh nghiệp này phải đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong sản xuất xuất khẩu. Kết quả là làm tăng cơ hội và khả năng xuất khẩu của các DN nội địa. Tuy nhiên, mức độ tác động nhiều hay ít lại phụ thuộc vào hình thức đầu tư và lĩnh vực đầu tư. Ở Việt Nam, tác động lan toả tích cực này mới chỉ xảy ra ở một số ngành như dệt may, da giầy và chế biến thực phẩm. Bên cạnh đó, mức độ tác động vẫn còn rất khiêm tốn do các nhà đầu tư nước ngoài không mấy mặn mà trong việc liên doanh liên kết với các DN nội địa.

Về kênh CGCN: Theo số liệu thống kê năm 2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hơn 80% DN FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, khoảng 5-6% sử dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến (trong khi mục tiêu là 35 - 40%), số còn lại sử dụng công nghệ lạc hậu. Như vậy, mục tiêu thu hút và CGCN thông qua FDI ở Việt Nam được coi là “chưa đạt yêu cầu”. Do đó, kỳ vọng về tác động lan toả tích cực từ FDI tới sản xuất xuất khẩu của các DN nội địa thông qua kênh CGCN vẫn chưa đạt được.

Thứ hai, kỳ vọng về tác động lan toả tích cực của FDI tới giảm KNNK của Việt

Nam thông qua kênh CGCN và chuyển giao tri thức vẫn chưa đạt được

Nhờ tác động lan toả về công nghệ và tri thức từ FDI, Việt Nam được kỳ vọng là có thể tự sản xuất được máy móc thiết bị, công nghệ, đầu vào sản xuất và các sản phẩm CNHT, từ đó có thể giảm nhập khẩu. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát của VCCI (2016) tại 10 ngành của Việt Nam (trong đó có 7 ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo), công nghệ của các doanh nghiệp chủ yếu vẫn là công nghệ nhập và nhập chủ yếu từ các nước đang phát triển (chiếm khoảng 65%), trong đó có

121

tới 26,6% công nghệ có xuất xứ từ Trung Quốc. Thêm vào đó, số liệu thống kê về các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam năm 2018 (Hình 3.3) cho thấy Việt Nam vẫn chưa tự chủ được máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu đầu vào cho một số ngành sản xuất xuất khẩu mũi nhọn. Do đó, tác động lan toả tích cực về công nghệ và tri thức từ FDI vẫn chưa thể giúp Việt Nam tự chủ được máy móc thiết bị, công nghệ và các nguyên phụ liệu đầu vào để có thể hạn chế nhập khẩu.

Thứ ba, tác động tích cực của FDI tới chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam thông qua tăng tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao còn rất hạn chế

Sự xuất hiện của dòng vốn FDI vào lĩnh vực công nghệ cao ở Việt Nam được kỳ vọng sẽ góp phần làm tăng tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu, từ đó nâng cao chất lượng cơ cấu hàng hoá xuất khẩu. Tuy nhiên, kỳ vọng này đến nay vẫn chưa thể đạt được. Trên thực tế, mặc dù hiện nay Việt Nam đã có rất nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực với KNXK hàng năm trên 1 tỷ USD, tuy nhiên các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao còn rất hạn chế. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như điện thoại các loại, máy vi tính, các sản phẩm điện tử… mới chỉ thực hiện chủ yếu ở khâu gia công, lắp ráp. Thêm vào đó, công nghệ đầu tư của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn là công nghệ trung bình và công nghệ thấp, số lượng dự án FDI công nghệ cao còn rất hạn chế. Do đó, tác động tích cực của FDI trong việc nâng cao tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam là chưa đáng kể.

Thứ tư, tác động tích cực của FDI tới việc tăng giá trị gia tăng VA cho hàng

hoá xuất khẩu Việt Nam còn chưa đáng kể

Một trong những trường hợp làm tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu đó là hàng hoá trung gian đầu vào được cung cấp ngay ở thị trường trong nước thay vì phải nhập khẩu từ nước ngoài, từ đó giảm chi phí mua vào của các hàng hoá trung gian đầu vào (IC). Thực tế ở Việt Nam, sự tác động tích cực của FDI tới tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu trong trường hợp này còn rất hạn chế, tỷ lệ IC từ nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu của khu vực FDI tại Việt Nam vẫn còn rất cao. Xuất khẩu của khu vực FDI tăng song nhập khẩu để tạo ra hàng hoá xuất khẩu cũng tăng không kém, do đó, mặc dù KNXK tăng mạnh nhưng VA và tỷ lệ nội địa của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam lại không tăng, thậm chí còn giảm. Điều này cho thấy được sự tác động tích cực của FDI tới việc làm tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam là chưa đáng kể.

Thứ năm, tác động tích cực của FDI tới việc chuyển dịch cơ cấu hàng hoá nhập

khẩu Việt Nam thông qua giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng còn chậm

FDI có tác động tích cực trong việc làm giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng thông qua kênh thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hoá được sản xuất bởi chính các

122

3.2.4.3. Những tác động tiêu cực

DN FDI tại Việt Nam. Thêm vào đó, thông qua kênh CGCN và tri thức từ khu vực FDI sang khu vực kinh tế trong nước, các DN trong nước cũng có thể sản xuất được những mặt hàng tiêu dùng mà trước đây phải nhập khẩu. Tuy nhiên, tác động tích cực này vẫn chưa được phát huy tối đa ở Việt Nam do Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu hàng tiêu dùng, vẫn có sự gia tăng về giá trị nhập khẩu nhóm hàng tiêu dùng tuy rẳng tốc độ tăng có giảm theo thời gian.

Bên cạnh những tác động tích cực, vẫn còn tồn tại một số tác động tiêu cực của

FDI đối với xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Cụ thể:

Một là, FDI làm tăng KNNK Việt Nam do nhập khẩu của các DN FDI

Tác động tiêu cực này ở Việt Nam là rất rõ ràng bởi Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, trình độ công nghệ còn thấp, trình độ nguồn nhân lực còn hạn chế, hầu hết các DN FDI đều phải nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên vật phụ liệu đầu vào và thậm chí cả nguồn nhân lực chất lượng cao từ nước chủ đầu tư và các nước khác. Bên cạnh đó, do sự yếu kém của ngành CNHT, sự phát triển của công nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào bên ngoài. Các DN FDI tại Việt Nam vẫn phải nhập khẩu hầu hết các sản phẩm CNHT để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy, sự gia tăng của các DN FDI tại Việt Nam sẽ kéo theo sự gia tăng nhập khẩu của khu vực FDI và do đó làm tăng KNNK cả nước.

Hai là, thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh, FDI có tác động tiêu cực tới các

DN xuất khẩu nội địa Việt Nam, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa

Sự có mặt của các DN FDI với tiềm lực tài chính mạnh, trình độ công nghệ cao và nguồn nhân lực có chất lượng hơn đã tạo ra áp lực cạnh tranh quá khốc liệt khiến nhiều DN xuất khẩu nội địa, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa, mất nguồn cung ứng đầu vào cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu và mất thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra vào tay các DN FDI. Sự yếu kém hơn về tiềm lực tài chính, về công nghệ, về quy mô sản xuất, về trình độ nguồn nhân lực, về kinh nghiệm và thị trường xuất khẩu đã khiến các DN nội địa buộc phải cắt giảm sản xuất, thậm chí là phải rút lui khỏi thị trường khi có sự xuất hiện của các DN FDI trong cùng lĩnh vực. Thêm vào đó, sự xuất hiện của các DN FDI với trình độ công nghệ cao hơn sẽ làm xuất hiện thêm phân khúc thị trường có nhu cầu về các sản phẩm có hàm lượng công nghệ chất xám cao, điều này tạo áp lực cạnh tranh ngày càng càng lớn hơn đối với các DN nội địa của Việt Nam.

Ba là, FDI gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám” của các DN xuất khẩu nội

địa Việt Nam thông qua kênh di chuyển lao động

Sự di chuyển lao động từ các DN xuất khẩu nội địa sang DN FDI đã và đang diễn ra rất mạnh ở Việt Nam. Rất nhiều lao động Việt Nam sau một thời gian làm việc và tích luỹ kinh nghiệm tại các DN xuất khẩu nội địa đã chuyển tới làm việc cho các

123

DN FDI. Đây là hiện tượng “chảy máu chất xám” của các DN xuất khẩu nội địa. Chẳng hạn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, có một thực tế xảy ra là ở các khu vực có các DN FDI, đặc biệt là khu vực gần nhà máy của Samsung, các DN nội địa Việt Nam rất khó tuyển lao động. Nguy cơ cạnh tranh về nguồn nhân lực R&D còn cao hơn. Các hãng công nghệ lớn của nước ngoài như Samsung, LG đã vào tận nhiều trường đại học có danh tiếng như Bách Khoa, Công nghệ thông tin để hỗ trợ học bổng cho sinh viên giỏi, ra trường sẽ được tuyển dụng ngay. Bên cạnh đó, DN trong nước khó giữ chân được nhân lực làm R&D do chính các DN này dày công đào tạo bởi chính sách lương thưởng và chế độ đãi ngộ của DN FDI cao hơn hẳn. Hiện tượng này có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN nội địa do mất nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng và kinh nghiệm sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Đây là một trong những tác động tiêu cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam, làm giảm sức mạnh cạnh tranh, giảm khả năng sản xuất xuất khẩu, do đó làm giảm giá trị xuất khẩu của khối các DN nội địa.

Bốn là, việc nhận CGCN chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc có thể gây ra những tác động tiêu cực tới xuất khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung

3.2.4.4. Nguyên nhân của những tác động tiêu cực và những tác động tích cực chưa được như kỳ vọng

Đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện CGCN cho Việt Nam chủ yếu vẫn là các đối tác châu Á, trong đó phần lớn là Trung Quốc với đa phần là công nghệ có trình độ trung bình và thấp. Bắc Mỹ và châu Âu là những thị trường nguồn của công nghệ cao, thiết bị hiện đại, có tác động lớn đến sự đổi mới công nghệ và kỹ thuật trong nước thì lại xuất siêu, ngược lại Việt Nam lại nhập siêu rất lớn từ thị trường châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc với phần lớn là công nghệ thấp và trung bình. Tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc ngày càng tăng, nếu năm 2005 tỷ lệ nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ khoảng 16%, thì đến năm 2015 tỷ lệ này đã lên 30%, trong đó hơn 90% lượng nhập khẩu là cho sản xuất (khoảng 60% là nguyên vật liệu đầu vào và hơn 30% là máy móc thiết bị). Do đó, việc học hỏi và nhận CGCN từ các đối tác đầu tư có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu sẽ không giúp các DN xuất khẩu nội địa nâng cao được trình độ công nghệ. Kết quả là hàng hoá được sản xuất bằng những công nghệ này có giá trị kinh tế thấp, khả năng cạnh tranh thấp trên thị trường xuất khẩu trong bối cảnh công nghệ sản xuất của thế giới ngày càng hiện đại như hiện nay. Điều này ảnh hưởng tiêu cực tới xuất khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Việc tạo ra những tác động tiêu cực và một số tác động tích cực của FDI chưa được như kỳ vọng tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua, theo tác giả là do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

124

Thứ nhất, phần lớn các DN xuất khẩu nội địa là các DN nhỏ và vừa nên năng

lực tài chính còn hạn chế

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2018, cả nước có hơn 702 nghìn DN tồn tại dưới các hình thức, trong đó số lượng DN nhỏ và vừa chiếm tới 98%, DN lớn chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ với 2%. Trong số các DN nhỏ và vừa lại có đến gần 98% là DN nhỏ và siêu nhỏ, chỉ có 2% DN vừa. Như vậy, đại đa phần các DN Việt Nam nói chung và các DN xuất khẩu nội địa nói riêng đều là các DN nhỏ và siêu nhỏ với năng lực tài chính rất hạn chế (dưới 20 tỷ đồng theo quy định tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP).

Sự hạn chế về năng lực tài chính của các DN xuất khẩu nội địa khiến cho các DN này không thể cạnh tranh được với các DN FDI trong cùng lĩnh vực với tiềm lực tài chính mạnh, dẫn tới mất nguồn cung ứng đầu vào sản xuất và mất thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra vào tay các DN FDI. Điều này buộc các DN xuất khẩu nội địa phải cắt giảm sản xuất, thậm chí phải rút lui khỏi thị trường trước sức ép cạnh tranh được tạo ra bởi các DN FDI.

Sự hạn chế về năng lực tài chính cũng chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho tác động lan toả tích cực của FDI tới hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN nội địa thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh chưa được như kỳ vọng. Sự xuất hiện của các DN FDI được kỳ vọng là sẽ tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với các DN xuất khẩu nội địa, buộc các DN này phải đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong sản xuất xuất khẩu, kết quả là làm tăng cơ hội và khả năng xuất khẩu của các DN nội địa. Tuy nhiên, do năng lực tài chính rất hạn chế, đại đa phần DN xuất khẩu nội đại đã không thể đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể cạnh tranh với các DN FDI. Do đó, tác động tích cực này của FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa vẫn chưa được phát huy tối đa.

Việc nhận CGCN chủ yếu từ các nước ở khu vực châu Á mà điển hình là Trung Quốc một phần là do đó là những đối tác đầu tư lớn của Việt Nam và họ có thể yêu cầu góp vốn bằng công nghệ, thứ nữa và chủ yếu là do năng lực tài chính của các DN trong nước còn hạn chế. Vì phải chấp nhận nhập khẩu công nghệ từ những quốc gia có trình độ công nghệ trung bình và thấp nên tác động lan toả tích vực của FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa thông qua kênh CGCN chưa đạt được.

Sự hạn chế về năng lực tài chính cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng “chảy máu chất xám” của các DN xuất khẩu nội địa. Do tiềm lực tài chính mỏng nên chế độ đãi ngộ chưa thoả đáng, cũng như chưa thể mạnh tay trong việc tổ chức các chức các chương trình đào tạo cán bộ và bồi dưỡng nhân tài. Trong khi đó, với chế đỗ đãi ngộ tốt hơn, môi trường và điều kiện làm việc tốt hơn, kế hoạch đào tạo bài bản và bố trí lao động phù hợp hơn, các DN FDI có thể dễ dàng chiêu mộ được các nhân viên xuất sắc. Hiện tượng “chảy máu chất xám” này sẽ làm giảm sức mạnh cạnh tranh, giảm khả năng sản xuất xuất khẩu và do đó làm giảm giá trị xuất khẩu của khối các DN nội địa.

125

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn thấp

Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2015, dân số Việt nam đã vượt mức 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới, thứ 7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á. Lực lượng lao động Việt Nam chiếm khoảng 59,67%. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là rất thấp, khoảng 17%. Chất lượng nguồn nhân lực không cao dẫn tới năng suất lao động của Việt Nam hiện rất thấp. Theo Báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam xếp vào nhóm có năng suất lao động thấp nhất châu Á - Thái Bình Dương. Năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/5 so với Malaysia, 2/5 so với Thái Lan, 1/10 so với Hàn Quốc, 1/11 so với Nhật Bản. Cũng trong một nghiên cứu mới đây của ILO và ABD, các chuyên gia của ILO và ADB cho rằng, lao động Việt Nam hiện thiếu chuyên môn, chưa được đào tạo, các kỹ năng được trang bị không phù hợp với đòi hỏi của thị trường và nhiều lao động phải đào tạo lại.

Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nguyên nhân chính khiến cho tác động lan toả tích cực của FDI tới giảm KNNK thông qua kênh CGCN và tri thức vẫn chưa đạt được. Việc CGCN và tri thức từ các DN FDI sang các DN xuất khẩu nội địa thông qua kênh di chuyển lao động bị hạn chế do khả năng tiếp thu và hấp thụ công nghệ và kiến thức của đội ngũ lao động trong nước nhìn chung còn thấp. Việt Nam vẫn chưa thể phát huy tối đa được tác động tích cực này của FDI để có thể tự sản xuất được công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu đầu vào sản xuất. Kết quả là Việt Nam vẫn chưa tự chủ được công nghệ, máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu đầu vào sản xuất để có thể hạn chế nhập khẩu.

Nguồn nhân lực chất lượng thấp cũng là nguyên nhân khiến cho tác động tích tực của FDI tới việc nâng cao chất lượng cơ cấu hàng hoá xuất khẩu thông qua tăng tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao và tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam còn chưa đáng kể. Thiếu nguồn lao động có chất lượng đang là một vấn đề khó khăn, ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN xuất khẩu. Một là, DN không tăng được VA cho sản phẩm xuất khẩu. Hai là, DN không tạo ra được nhiều mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng công nghệ chất xám cao đòi hỏi trình độ cao hơn của người lao động trong việc tiếp cận công nghệ sản xuất hiện đại hơn. Do đó, DN khó có thể tham gia vào các khâu sản xuất có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị của thế giới. Đối với các DN xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao như điện tử, máy vi tính…, lao động lĩnh lực này ở Việt Nam hiện rất dồi dào nhưng chất lượng chưa cao. Lao động đã qua đào tạo chiếm đa số nhưng lại thiếu kỹ năng thực hành và ứng dụng, thiếu kỹ năng nghiên cứ và phát triển. Đây cũng chính là nguyên nhân giải thích tại sao một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như điện thoại các loại, máy vi tính, các sản phẩm điện tử của các DN FDI mới chỉ thực hiện chủ yếu ở khâu gia công, lắp ráp.

126

Do trình độ nguồn nhân lực kém, các nhà cung cấp trong nước không thể sử dụng và cải tiến công nghệ, các sản phẩm tạo ra không đáp ứng được các điều kiện và tiêu chuẩn của các DN FDI. Thậm chí ngay cả khi được các DN FDI trợ giúp về công nghệ, cũng rất ít các nhà cung cấp trong nước có khả năng sản xuất với số lượng lớn và ổn định, đáp ứng được các yêu cầu của DN FDI. Sự hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực của các DN trong nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới khả năng trở thành đối tác quan trọng và lâu dài của các DN FDI.

Thứ ba, nền tảng công nghệ của các DN nội địa nói riêng và của Việt Nam nói

chung còn rất hạn chế

Nguyên nhân chủ yếu của việc Việt Nam phải nhập khẩu công nghệ đó chính là do nền tảng công nghệ trong nước còn thấp, nguồn cung công nghệ trong nước còn rất hạn chế. Mặc dù số lượng các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ ở Việt Nam là tương đối nhiều, nhưng các kết quả nghiên cứu chưa có sự gắn kết với nhu cầu thực tế của các DN. Mặt khác, do năng lực nghiên cứu và nguồn vốn đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học còn hạn chế nên chúng ta chưa thể tạo ra được những sản phẩm công nghệ mang tính đột phá phục vụ cho hoạt động sản xuất, đặc biệt là hoạt động sản xuất xuất khẩu. Do đó, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu công nghệ chủ yếu từ nước ngoài.

Sự yếu kém về trình độ công nghệ cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến cho các nhà đầu tư FDI chưa tìm đến Việt Nam như một điểm đến cho các hoạt động R&D. Mặc dù đã có một số TNC lớn như Nissan, Samsung, HP, Bosch, Panasonic… thành lập các cơ sở R&D tại Việt Nam trong thời gian vừa qua, nhưng nhìn chung, mới chỉ có số lượng rất nhỏ như muối bỏ bể và hoạt động R&D ở các DN FDI mới chỉ dừng ở những công nghệ nhỏ, đơn giản hoặc nghiên cứu để cải tiến thích nghi phù hợp với điều kiện Việt Nam. Vì vậy, tác động lan toả về công nghệ từ FDI tới hoạt động sản xuất xuất khẩu của Việt Nam chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Thứ tư, mức độ liên kết giữa các DN nội địa Việt Nam và các DN FDI còn khan hiếm và lỏng lẻo, các DN nội địa Việt Nam hầu như vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng toàn cầu

Theo Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết năm 2018, FDI vào Việt Nam thông qua hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất lên tới 71,39% trong tổng số các dự án FDI, DN liên doanh chỉ chiếm một con số khá khiêm tốn là 23,2% trong tổng số các dự án FDI. Thực tế này cho thấy ở Việt Nam hiện nay, số lượng các DN nội địa có năng lực đủ mạnh để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài thành lập liên doanh còn hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá công nghệ công nghệ cao. Sự không mấy mặn mà của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc liên doanh, liên kết với các DN nội địa Việt Nam khiến cho tác động lan tích cực của FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa thông qua kênh CGCN và

127

tri thức bị hạn chế bởi tác động này được phát huy ở các DN liên doanh tốt hơn rất nhiều so với các DN 100% vốn nước ngoài.

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, đại đa số các DN FDI hoạt động tại Việt Nam đều thực hiện hoạt động xuất khẩu. Nguồn nguyên nhiên vật liệu và linh kiện đầu vào cho hoạt động sản xuất của khối các DN FDI đều phải nhập khẩu từ bên ngoài, hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của các DN FDI khá biệt lập với các DN nội địa ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực. Do vậy, sự thiếu liên doanh liên kết với các DN FDI chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam hầu như vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng của các DN FDI.

Thứ năm, ngành CNHT trong nước chưa phát triển khiến cho nhập khẩu của

Việt Nam vẫn tăng cùng với sự gia tăng của dòng vốn FDI

Năng lực của CNHT phát triển, bắt đầu xuất khẩu SP CNHT

SP CNHT phát triển cao, có sự cạnh tranh trong nước

Số lượng SP CNHT tăng và xuất hiện sản phẩm độc đáo, nhập khẩu giảm

Số lượng SP CNHT tăng nhưng chất lượng không cao

SP CNHT ít, phải nhập khẩu

Theo Báo cáo của Bộ Công Thương, ngành CNHT của Việt Nam hiện nay vẫn đang ở tình trạng kém phát triển. Các DN CNHT ở Việt Nam hiện nay mới chỉ tham gia cung cấp khâu đóng gói, bao bì. Theo đánh giá của WB, ngành CNHT của Việt Nam hiện vẫn ở giai đoạn thứ 1 trong 5 giai đoạn phát triển của ngành CNHT, được minh hoạ cụ thể trong hình 3.5 dưới đây.

Hình 3.5: Các giai đoạn phát triển của ngành CNHT

Nguồn: Lê Xuân Sang và Nguyễn Thị Thu Huyền và tổng hợp của tác giả

CNHT trong nước kém phát triển là nguyên nhân chính dẫn tới tác động tiêu cực của FDI trong việc làm tăng KNNK của Việt Nam do các DN FDI phải nhập khẩu hầu hết các sản phẩm CNHT mà trong nước chưa đáp ứng được. Hầu hết các nguyên nhiên phụ liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN FDI nói riêng và Việt Nam nói chung đều phải nhập khẩu (80-85%), tỷ lệ nội địa hoá ở hầu hết các ngành công nghiệp đều ở mức rất thấp, chỉ đạt từ 5 - 10%. Như vậy, sự gia tăng của các DN FDI tại Việt Nam sẽ kéo theo sự gia tăng nhập khẩu của khu vực FDI và do đó làm tăng KNNK cả nước.

128

CNHT trong nước kém phát triển cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến cho tác động tích cực của FDI tới việc nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu thông qua tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam còn chưa đáng kể. Xuất khẩu của khu vực FDI tăng song nhập khẩu để tạo ra hàng hoá xuất khẩu cũng tăng không kém, do đó, mặc dù KNXK tăng mạnh nhưng VA và tỷ lệ nội địa của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam lại không tăng, thậm chí còn giảm.

CNHT trong nước kém phát triển cũng là một nguyên nhân làm giảm sự liên kết giữa DN FDI và DN nội địa. Do các DN CNHT trong nước kém phát triển, nhà đầu tư nước ngoài không mấy mặn mà trong việc liên kết với các DN này vì họ vẫn phải nhập các sản phẩm hỗ trợ cho hoạt động sản xuất từ nước ngoài để đảm bảo yêu cầu về số lượng và chất lượng. Do đó, các DN nội địa của Việt Nam vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng của các DN FDI khiến cho những tác động lan toả tích cực của FDI tới xuất nhập khẩu của Việt Nam chưa được phát huy tối đa.

Thứ sáu, cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn yếu kém

Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hàng đầu khi quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư. Đối với các nhà đầu tư có mục đích xuất khẩu, ngoài cơ sở hạ tầng thông thường, họ đặc biệt quan tâm đến cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là hệ thống hạ tầng giao thông phục vụ cho việc thông thương hàng hoá trong nước và giữa các quốc gia. Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của WEF, chất lượng hạ tầng giao thông của Việt Nam còn rất hạn chế và xếp sau nhiều nước trong khu vực cả về chất lượng được bộ, đường sắt, hệ thống cảng biển và đường hàng không. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới quyết định đầu tư tại Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư có mục tiêu xuất khẩu.

Bảng 3.31: Xếp hạng cạnh tranh toàn cầu về chất lượng hạ tầng giao thông

Quốc gia Đường bộ Đường sắt

Singapore Malaysia Thái Lan Indonesia Việt Nam 2 18 37 83 123 7 18 63 52 71 Hệ thống cảng biển 1 15 47 103 111 Đường hàng không 1 20 32 80 95

Nguồn: Nguyễn Bích Ngọc 2017 (trang 105)

Hệ thống cảng biển, đặc biệt là các cảng nước sâu nhìn chung chưa được chú trọng đầu tư. Việt Nam cũng chưa có cảng chung chuyển quốc tế, do đó hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam không thể được vận chuyển trực tiếp từ Việt Nam tới nước nhập khẩu hoặc ngược lại mà phải vận chuyển thông qua một cảng chung chuyển của nước khác. Chính sự yếu và thiếu của hệ thống hạ tầng giao thông của Việt Nam đã gây ra nhiều bất tiện, làm tăng chi phí vận chuyển của hàng hoá xuất nhập khẩu, từ đó

129

ảnh hưởng tới quyết định đầu tư tại Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư có mục tiêu xuất khẩu.

Thứ bảy, chính sách thu hút FDI còn nhiều bất cập khiến tác động lan toả tích

cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam chưa được như kỳ vọng

Chính sách thu hút FDI của Việt Nam trong thời gian qua còn chạy đua thu hút về mặt số lượng. Thu hút FDI ồ ạt, đại trà, ai vào cũng chấp nhận, thu hút để lập thành tích, để lấp đầy các khu công nghiệp bằng mọi giá. Dòng vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian qua với động cơ chủ yếu là tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hoá và tìm kiếm nguồn lực đầu vào sản xuất với chi phí thấp như lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên thiên nhiên, ưu đãi về tài chính như thuế và tiền thuê đất… Dòng FDI mang hàm lượng công nghệ cao chưa tìm đến Việt Nam. Do đó, tác động tích cực của FDI tới việc nâng cao chất lượng cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu vẫn chưa được phát huy đáng kể. Tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa được cải thiện nhiều, tốc độ tăng chậm. Thêm vào đó, các mặt hàng tiêu dùng có hàm lượng công nghệ chất xám cao vẫn còn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian qua. Đã đến lúc phải đặt ra chiến lược thu hút vốn FDI theo hướng “đi săn” các nhà đầu tư có chất lượng để có thể phát huy tối đa tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của dòng vốn này tới nền kinh tế nói chung và xuất nhập khẩu của Việt Nam nói riêng.

Các DN FDI đầu tư vào Việt Nam chủ yếu với mục đích tìm kiếm thị trường tiêu thụ và tận dụng các nguồn lực của Việt Nam để tối đa hoá lợi nhuận, chứ không phải mục đích CGCN cho các DN trong nước. Mặc dù Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành từ năm 1987 và các Luật điều chỉnh Luật Đầu tư, các Luật liên quan khác đều thể hiện rõ quan điểm khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam nhưng các quy định và chính sách về CGCN thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài chưa rõ ràng, các ràng buộc chưa đủ mạnh. Các quy định về tỷ lệ nội địa hóa trong hàng hoá xuất khẩu mới chỉ áp dụng với một số ngành và tỉ lệ yêu cầu còn thấp. Luật CGCN hiện nay cũng chưa có điều khoản nào quy định vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thẩm định và thẩm tra công nghệ đối với các công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài vào để có thể ngăn chặn các dòng công nghệ cấm và công nghệ lạc hậu vào Việt Nam.

Vấn đề thu hút FDI vào các ngành CNHT trong nhiều năm qua hầu như chỉ tập trung vào các tập đoàn lớn, tạo nhiều việc làm, tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp lớn. Đa số các tập đoàn lớn trong các ngành chế tạo là các DN lắp ráp, VA rất thấp, không có tác động lan tỏa tới DN nội địa. Trong khi các DN CNHT thường có quy mô nhỏ và vừa, có nhu cầu thuê diện tích sản xuất nhỏ gần như chưa được quan tâm khi thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, các dự án sản xuất CNHT được Chính phủ Việt Nam

130

ưu đãi và khuyến khích đầu tư vào Việt Nam thời gian qua như Intel, Foxconn… hầu hết là sản xuất linh phụ kiện phục vụ 100% cho xuất khẩu. Nguyên vật liệu, linh phụ kiện đầu vào của các dự án này hầu hết cũng 100% nhập khẩu. Các nhà sản xuất CNHT xuất khẩu loại này ít có động cơ nội địa hóa.

Chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp vẫn chưa được chú trọng, định hướng chiến lược thu hút FDI vào nông nghiệp chưa rõ ràng. Mặt khác, việc tùy tiện thay đổi quy hoạch, chính sách ở nhiều địa phương cũng là những trở ngại lớn khiến cho nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà với ngành nông nghiệp. Chiến lược thu hút FDI vào nông nghiệp vẫn thất bại bởi không giải quyết được bài toán lợi ích trong hợp tác đầu tư, đó là lợi ích giữa DN, nhà đầu tư nước ngoài với lợi ích của nông dân. Bên cạnh đó, liên quan tới FDI vào ngành này còn "dính" tới nhiều cơ quan Nhà nước về khâu phối hợp về mặt chính sách đầu tư cũng có nhiều hạn chế (Hà Thanh, 2015). Đây cũng chính là những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới dòng vốn FDI vào nông nghiệp còn hạn chế, giá trị xuất khẩu còn rất thấp, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nhiều sản phẩm nông nghiệp trong khi nông nghiệp là thế mạnh của Việt Nam.

3.3. Kết quả kiểm định và ước lượng mô hình đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam

3.3.1. Kết quả kiểm định

Để lựa chọn mô hình ước lượng tác động tốt nhất, như đã nói ở chương 2, luận án sử dụng kiểm định Hausman để chọn ra mô hình ước lượng tác động hiệu quả hơn trong 2 mô hình: (i) mô hình ước lượng tác động ngẫu nhiên (REM) và (ii) mô hình ước lượng tác động ngẫu nhiên (REM).

Các kiểm định được thực hiện thông qua phần mềm Stata 12, các kết quả kiểm định chi tiết được tác giả đưa vào Phụ lục 6, 7, 8, 9, 10 và 11. Bảng 3.32 dưới đây tóm tắt kết quả kiểm định Hausman của các mô hình ước lượng tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam.

Bảng 3.32: Kết quả kiểm định Hausman các mô hình

Mô hình Chi2(4) Prob>chi2

Mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK (Phụ lục 6) 24.13 0.0858

Mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK trước WTO (Phụ lục 7) Mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK sau WTO (Phụ lục 8) Mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNNK (Phụ lục 9) 3.37 10.53 18.14 0.4986 0.0912 0.0615

Mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNNK trước WTO (Phụ lục 10) Mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNNK sau WTO (Phụ lục 11) 26.27 3.18 0.0852 0.5274

Nguồn: Kết quả kiểm định của tác giả

131

Kết quả của kiểm định Hausman cho thấy lựa chọn mô hình khá đồng nhất trong các ước lượng. Cụ thể, tất cả các mô hình đều có hệ số P-value >0.05, nghĩa là mô hình ước lượng tác động ngẫu nhiên (REM) tốt hơn mô hình ước lượng tác động ngẫu nhiên (REM). Do đó, luận án sử dụng các mô hình ước lượng tác động ngẫu nhiên (REM) để đánh giá tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam.

3.3.2. Kết quả ước lượng tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam

3.3.2.1. Tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu ở Việt Nam

Kết quả hồi quy tác động của FDI và các biến độc lập khác tới KNXK ở Việt Nam được tóm tắt trong bảng 3.33 dưới đây. Kết quả ước lượng chi tiết tại Phụ lục 12.

Bảng 3.33: Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam

Coef. P>|z| Biến phụ thuộc

lnFDI lnGDPPC lnVNGDPPC 0.0371108 0.7203549 1.505179 0.473 0.000 0.000

- 0.2728825 - 0.0000352 22.52915 0.030 0.662 0.000

lnRER Distance _cons Số quan sát 219

R-sq 0.8276

Nguồn: Kết quả ước lượng của tác giả * Tất cả các ước lượng đều thoả mãn độ tin cậy 95%

Kết quả ước lượng trong bảng 3.33 cho thấy tác động của FDI tới KNXK ở Việt

Nam trong sự tác động tổng thể của các biến độc lập khác của mô hình. Cụ thể:

Thứ nhất, hệ số R bình phương bằng 0.8276, nghĩa là các biến độc lập trong mô hình giải thích được được 82.76% ảnh hưởng đến KNXK của Việt Nam. Đây là một giá trị khá cao khi phân tích số liệu thực tế. Điều đó chứng tỏ mô hình sử dụng trong nghiên cứu là khá tốt. Các biến trong mô hình nghiên cứu đều có ý nghĩa về mặt thống kê khi hệ số Pvalue <0.05 (chỉ trừ cá biệt biến khoảng cách địa lý).

Thứ hai, biến FDI (lượng vốn FDI thực hiện) có tác động dương tới KNXK ở Việt Nam, nghĩa là vốn FDI thực hiện tại Việt Nam tăng sẽ làm tăng KNXK của Việt Nam. Cụ thể, theo kết quả ước lượng trong bảng 3.33, khi lượng vốn FDI thực hiện tại Việt Nam của quốc gia đối tác đầu tư tăng 1% thì sẽ làm cho KNXK hàng hoá của Việt Nam vào quốc gia đối tác đó tăng 0.0371%. Điều đó đồng nghĩa với việc thu hút FDI có ảnh hưởng tích cực tới KNXK của Việt Nam. Kết quả ước lượng của mô hình hoàn toàn phù hợp với giả thuyết được đưa ra ban đầu về tác động của FDI thực hiện tại

132

Việt Nam của quốc gia đối tác đầu tư tới KNXK của Việt Nam vào quốc gia đối tác đó. Tuy nhiên, kết quả ước lượng cũng cho thấy tác động này không lớn như kỳ vọng (tốc độ tăng của KNXK chỉ bằng 1/10 tốc độ tăng của vốn FDI thực hiện). Điều này chứng tỏ nguồn vốn FDI chưa phát huy tối đa tác động tích cực của nó trong việc làm tăng KNXK ở Việt Nam.

3.3.2.2. Tác động của FDI tới kim ngạch nhập khẩu ở Việt Nam

Thứ ba, đối với các biến kiểm soát khác của mô hình như GDPPC (GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác), VNGDPPC (GDP bình quân đầu người của Việt Nam), RER (tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và đồng tiền của quốc gia đối tác), Distance (khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và quốc gia đối tác), chiều tác động và mức độ tác động của các biến này tới KNXK ở Việt Nam được tác giả giải thích chi tiết tại Phụ lục 13.

Kết quả hồi quy tác động của FDI và các biến độc lập khác tới KNNK ở Việt Nam được tóm tắt trong bảng 3.34 dưới đây. Kết quả ước lượng chi tiết được trình bày tại Phụ lục 14.

Bảng 3.34: Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam

Coef. P>|z|

Biến phụ thuộc lnFDI lnGDPPC - 0.0037153 1.020408 0.093 0.000

lnVNGDPPC lnRER Distance 1.173454 0.2275539 - 0.0003281 0.000 0.0850 0.063

22.58882 0.000

219

_cons Số quan sát R-sq 0.8454

Nguồn: Kết quả ước lượng của tác giả * Tất cả các ước lượng đều thoả mãn độ tin cậy 95% Kết quả ước lượng trong bảng 3.34 cho thấy tác động của FDI tới KNNK ở

Việt Nam trong sự tác động tổng thể của các biến độc lập khác của mô hình. Cụ thể:

Thứ nhất, hệ số R bình phương bằng 0.8454, nghĩa là các biến độc lập trong mô hình giải thích được được 84.54% ảnh hưởng đến KNNK của Việt Nam. Đây là một giá trị khá cao khi phân tích số liệu thực tế. Điều đó chứng tỏ mô hình sử dụng trong nghiên cứu là khá tốt.

Thứ hai, biến FDI (lượng vốn FDI thực hiện) có tác động ngược chiều tới KNNK hàng hoá của Việt Nam. Nghĩa là vốn FDI thực hiện tại Việt Nam tăng sẽ làm giảm KNNK của Việt Nam. Cụ thể, theo kết quả ước lượng trong bảng 3.34, khi lượng

133

vốn FDI thực hiện tại Việt Nam của quốc gia đối tác đầu tư tăng 1% thì sẽ làm cho KNNK của Việt Nam đối với hàng hoá của quốc gia đó giảm 0.0037%. Kết quả hồi quy này được thực hiện trong dài hạn (giai đoạn 1995-2016). Như vậy, kết quả hồi quy này phù hợp với giả thuyết đặt ra ban đầu về tác động của FDI tới KNNK hàng hoá của Việt Nam trong dài hạn. Mặc dù tác động này khá nhỏ (hệ số chỉ là 0.00371) nhưng cũng phần nào cho thấy tác động tích cực của FDI tới việc làm giảm KNNK của Việt Nam trong dài hạn. Con số này một mặt thể hiện các sản phẩm của các DN FDI đã có thể thay thế được các sản phẩm nhập khẩu từ đó có thể làm giảm KNNK cho Việt Nam. Khi hàng hoá đã được sản xuất tại Việt Nam thì nhu cầu về hàng hoá ngoại cũng giảm đi dẫn đến nhập khẩu giảm. Thực tế cho thấy hầu hết người dân Việt Nam hiện nay khi được hỏi đều trả lời họ sẽ chọn mua hàng hoá được sản xuất tại Việt Nam nếu hàng hoá này có chất lượng tương đối so với hàng hoá ngoại nhập. Mặt khác, con số nhỏ bé này cũng nói lên rằng kỳ vọng về (i) tác động lan toả của FDI về công nghệ và tri thức giúp Việt Nam có thể tự sản xuất được máy móc, thiết bị và các nguyên vật liệu đầu vào cho khu vực FDI và (ii) FDI vào ngành CNHT giúp phát triển ngành này ở Việt Nam để thay thế nhập khẩu các sản phẩm CNHT vẫn chưa đạt hiệu quả. Kết quả là Việt Nam vẫn phải nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đầu và các sản phẩm CNHT dẫn tới KNNK của các DN FDI vẫn tăng. Do đó, FDI chưa thể phát huy tối đa tác động tích cực của nó trong việc làm giảm KNNK cho Việt Nam như kỳ vọng ban đầu.

3.3.2.3. Ảnh hưởng của việc gia nhập WTO đến tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam

Thứ ba, đối với các biến kiểm soát khác của mô hình như GDPPC (GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác), VNGDPPC (GDP bình quân đầu người của Việt Nam), RER (tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và đồng tiền của quốc gia đối tác), Distance (khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và quốc gia đối tác), chiều tác động và mức độ tác động của các bi ến này tới KNNK ở Việt Nam được tác giả giải thích chi tiết tại Phụ lục 15.

Việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007 đánh dấu sự hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu rộng và toàn diện nhất. Tác giả muốn xem xét ảnh hưởng của việc gia nhập WTO lên sự tác động của FDI cũng như các biến kiểm soát khác tới KNXK, KNNK của Việt Nam. Tác giả tiến hành ước lượng sự tác động của FDI và các biến kiểm soát khác tới KNXK và KNNK của Việt Nam trong hai giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO (gia đoạn 1995- 2006 và giai đoạn 2007-2016) để thấy được sự ảnh hưởng của việc gia nhập WTO đến sự tác động của FDI và các biến giải thích khác tới KNXK và KNNK của Việt Nam.

a. Đối với kim ngạch xuất khẩu

Kết quả ước lược tác động của FDI và các biến giải thích khác tới KNXK trong hai giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO (gia đoạn 1995-2006 và giai đoạn 2007- 2016) được tóm tắt tại bảng 3.35. Kết quả chi tiết tại Phụ lục 16 và 17.

134

Bảng 3.35: So sánh kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO

Sau WTO Trước WTO Biến độc lập

P>z 0.935 0.015 0.000 0.315 0.296 0.000 lnFDI lnGDPPC lnVNGDPPC lnRER Distance _cons Coef. 0.0036933 0.5543981 1.511825 - 0.1238977 - 0.0000848 21.00658 Coef. 0.0286742 0.5915158 1.984467 - 0.0329604 - 0.0000231 24.37594 P>z 0.701 0.005 0.000 0.806 0.781 0.000

Nguồn: Kết quả ước lượng của tác giả * Tất cả các ước lượng đều thoả mãn độ tin cậy 95%

Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam ở cả hai giai đoạn

trước và sau khi gia nhập WTO cho thấy:

Thứ nhất, tác động của các biến giải thích như GDP, tỷ giá hối đoái, khoảng cách địa lý đều có cùng chiều tác động với KNXK ở Việt Nam trong cả hai giai đoạn trước và sau WTO, tuy nhiên mức độ tác động của các biến trên ở giai đoạn sau WTO đều giảm tương đối so với giai đoạn trước WTO. Điều này chứng tỏ, việc gia nhập WTO đã làm giảm ảnh hưởng của các rào cản tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Kết quả này là hợp lý và hợp với xu thế trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Thứ hai, tác động của biến FDI tới KNXK ở Việt Nam có sự khác biệt đáng kể giữa hai giai đoạn trước và sau WTO. Theo đó, trong giai đoạn trước WTO, 1% vốn FDI từ quốc gia đối tác vào Việt Nam tăng thêm sẽ làm tăng 0.0036% KNXK của Việt Nam vào quốc gia đó. Kết quả ước lượng trong bảng 3.35 cho thấy sau khi Việt Nam gia nhập WTO, con số này đã tăng lên hơn 8 lần. Cụ thể, khi thu hút thêm 1% vốn FDI sẽ giúp KNXK của Việt Nam tăng 0.0286%. Đây là một sự gia tăng rất đáng kể nhưng nó cũng hoàn toàn hợp lý bởi lẽ: (i) Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam có cơ hội rất lớn trong việc tiếp cận thị trường quốc tế. Các hàng rào thuế quan liên tục được gỡ bỏ theo đúng cam kết đã tạo điều kiện rất tốt để hàng hoá của Việt Nam xâm nhập thị trường nước ngoài. (ii) Chính sách thu hút FDI của Việt Nam thời gian gần đây có nhiều thay đổi khi bắt đầu có chọn lọc những dự án FDI dựa trên thế mạnh của Việt Nam. Theo đó, Việt Nam định hướng sẽ phát triển những ngành công nghiệp, dịch vụ công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Cụ thể là trong những năm gần đây, Samsung luôn giữ một vai trò đầu tàu trong việc duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Đây chính là một động lực vô cùng quan trọng khiến Việt Nam có xuất siêu trong những năm vừa qua.

135

b. Đối với kim ngạch nhập khẩu

Kết quả ước lược tác động của FDI và các biến giải thích khác tới KNNK trong hai giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO (gia đoạn 1995-2006 và giai đoạn 2007- 2016) được tóm tắt tại bảng 3.36. Kết quả chi tiết tại Phụ lục 18 và 19.

Bảng 3.36: So sánh kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO

Sau WTO Trước WTO Biến độc lập P>z Coef. Coef. P>z

lnFDI 0.904 0.005035 - 0.033527 0.478

lnGDPPC 0.000 0.8226682 0.2254852 0.431

lnVNGDPPC 0.000 1.711048 0.802268 0.000

lnRER 0.185 0.1615312 0.1012863 0.520

Distance 0.022 - 0.0001802 - 0.0000405 0.709

_cons 0.000 25.38252 15.8619 0.000

Nguồn: Kết quả ước lượng của tác giả * Tất cả các ước lượng đều thoả mãn độ tin cậy 95%

Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam ở cả hai giai đoạn

trước và sau khi gia nhập WTO cho thấy:

Thứ nhất, tác động của các biến giải thích như GDP, tỷ giá hối đoái, khoảng cách địa lý đều có cùng chiều tác động với KNNK trong cả hai giai đoạn trước và sau WTO, mức độ tác động của các biến tới KNNK ở giai đoạn sau WTO đều giảm so với giai đoạn trước WTO. Điều này chứng tỏ, việc gia nhập WTO đã làm giảm ảnh hưởng của các rào cản tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Kết quả này là hợp lý và hợp với xu thế trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Thứ hai, tác động của biến FDI tới KNNK ở Việt Nam cũng có sự khác biệt giữa hai giai đoạn trước và sau WTO. Trong giai đoạn trước WTO, FDI có sự tác động dương tới KNNK. Tuy nhiên, ở giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO, FDI lại có sự tác động âm tới KNNK, cụ thể khi FDI thực hiện tăng lên 1% thì KNNK sẽ giảm 0.0335%. Kết quả này phù hợp với giả thuyết được tác giả đưa ra về tác động tác của FDI tới KNNK ở Việt Nam trong dài hạn. Mặc dù mức độ tác động rất nhỏ, tuy nhiên điều đó cho thấy, trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO, FDI cũng phát huy tốt hơn tác động tích cực của nó trong việc giảm KNNK cho Việt Nam. Điều đó cũng chứng tỏ trong giai đoạn này, các sản phẩm của khu vực FDI đã phần nào thay thế được các sản phẩm nhập khẩu, đồng thời FDI cũng bước đầu phát huy tác động tích

136

cực trong việc tạo ra máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào và một số sản phẩm CNHT phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước và hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN FDI.

3.3.3. Tóm tắt kết quả ước lượng tác động của FDI tới kim ngạch nhập khẩu ở Việt Nam

Kết quả ước lượng cho thấy FDI có tác động thuận chiều tới KNXK ở Việt Nam. Cụ thể, khi lượng vốn FDI thực hiện tại Việt Nam của quốc gia đối tác đầu tư tăng 1% thì sẽ làm cho KNXK hàng hoá của Việt Nam vào quốc gia đối tác đó tăng 0.0371%. Ngược lại, FDI có tác động ngược chiều tới KNNK ở Việt Nam. Cụ thể, khi lượng vốn FDI thực hiện tại Việt Nam của quốc gia đối tác đầu tư tăng 1% thì sẽ làm cho KNNK của Việt Nam đối với hàng hoá của quốc gia đó giảm 0.0037%. Kết quả hồi quy cũng phù hợp với giả thuyết đặt ra ban đầu về tác động của FDI tới KNXK và KNNK (trong dài hạn) ở Việt Nam.

Kết quả ước lượng cũng cho thấy việc gia nhập WTO làm tăng mức độ tác động tích cực của FDI tới cả KNXK và KNNK ở Việt Nam. Đối với xuất khẩu, ở giai đoạn sau gia nhập WTO, FDI có tác động mạnh hơn tới KNXK so với giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO. Đối với nhập khẩu, ở giai đoạn trước WTO, FDI có tác động làm tăng KNNK, ngược lại ở giai đoạn sau WTO, FDI có tác động làm giảm KNNK. Sự thay đổi mức độ tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam trong hai giai đoạn trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO đều là tích cực. Kết quả này cho thấy, hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

3.4. Tiểu kết chương 3

Chương 3 của luận án đã phân tích thực trạng hoạt động FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018, đồng thời đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong giai đoạn này.

Chương 3 cũng đã chỉ ra những tác động tích cực, những tác động tích cực chưa được như kỳ vọng và những tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Tác giả cũng đã phân tích những nguyên nhân của những tác động tiêu cực và những tác động tích cực chưa được như kỳ vọng của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong giai đoạn này.

Những tác động tích cực bao gồm: (1) FDI góp phần làm tăng KNXK và góp phần cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam; (2) FDI góp phần thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá của chính các DN FDI; (3) FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam theo hướng tích cực, làm tăng tỷ trọng các mặt hàng chế

137

biến - tinh chế; (4) FDI giúp mở rộng phạm vi thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Những tác động tích cực chưa được như kỳ vọng bao gồm: (1) Tác động lan toả tích cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh và kênh CGCN còn rất hạn chế; (2) Kỳ vọng về tác động lan toả tích cực của FDI tới giảm KNNK của Việt Nam thông qua kênh CGCN và chuyển giao tri thức vẫn chưa đạt được; (3) Tác động tích cực của FDI tới chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Việt Nam thông qua tăng tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao còn rất hạn chế; (4) Tác động tích cực của FDI tới việc tăng giá trị gia tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam còn chưa đáng kể; (5) Tác động tích cực của FDI tới việc chuyển dịch cơ cấu hàng hoá nhập khẩu Việt Nam thông qua giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng còn chậm.

Những tác động tiêu cực bao gồm: (1) FDI làm tăng KNNK Việt Nam do nhập khẩu của các DN FDI; (2) Thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh, FDI có tác động tiêu cực tới các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa; (3) FDI gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám” của các DN xuất khẩu nội địa Việt Nam thông qua kênh di chuyển lao động; (4) Việc nhận CGCN chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc có thể gây ra những tác động tiêu cực tới xuất khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Nguyên nhân của những tác động tiêu cực và những tác động tích cực chưa được như kỳ vọng của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam bao gồm: (1) Phần lớn các DN xuất khẩu nội địa là các DN nhỏ và vừa nên năng lực tài chính còn hạn chế; (2) Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn thấp; (3) Nền tảng công nghệ của các DN nội địa nói riêng và của Việt Nam nói chung còn rất hạn chế; (4) Mức độ liên kết giữa các DN nội địa Việt Nam và các DN FDI còn khan hiếm và lỏng lẻo, các DN nội địa Việt Nam hầu như vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng toàn cầu; (5) Ngành CNHT trong nước chưa phát triển khiến cho nhập khẩu của Việt Nam vẫn tăng cùng với sự gia tăng của dòng vốn FDI; (6) Cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn yếu kém; (7) Chính sách thu hút FDI còn nhiều bất cập khiến tác động lan toả tích cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam chưa được như kỳ vọng.

Trong chương 3, tác giả luận án cũng đã tiến hành kiểm định và ước lượng mô hình đánh đánh giá tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam. Kết quả ước lượng hoàn toàn phù hợp với các giả thuyết mà tác giả đề ra ở cuối chương 2 và đã minh chứng được một phần cho những nhận định được tác giả đưa ra ở phần phân tích định tính theo đúng mục tiêu nghiên cứu mà tác giả đã đặt ra ban đầu.

138

CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM

4.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước về dòng vốn FDI

4.1.1. Bối cảnh quốc tế

Theo bản Báo cáo về đầu tư thế giới của UNCTAD năm 2018, dòng đầu tư FDI toàn cầu đạt 1.300 tỷ USD, giảm 13% so với năm 2017. Báo cáo của UNCTAD đã nêu bật lên sự sụt giảm mạnh mẽ của xu hướng đầu tư sử dụng vốn FDI trên toàn cầu. Trong năm 2018, sự sụt giảm dòng vốn FDI toàn cầu được thể hiện ở cả hai hình thức đầu tư truyền thống, đó là M&A (sử dụng vốn FDI để mua lại hay sáp nhập một cơ sở kinh doanh có sẵn sau đó phát triển nó), và greenfield investment (bỏ vốn xây dựng một cơ sở kinh doanh mới). Trong đó, greenfield investment - phương thức sử dụng vốn được cho là sẽ bùng nổ trong tương lai, chứng kiến mức giảm 14% so với năm 2017. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, bên cạnh sự thiếu vắng các dự án đầu tư xuyên lục địa M&A lớn và xu hướng tái cơ cấu của doanh nghiệp, còn là sự “thất sủng” của những nền kinh tế vốn trước đây được xem như “thiên đường đầu tư”, ví dụ Mỹ và Vương quốc Anh (với các mức giảm lần lượt là 40% và 92%). Những bất ổn chính trị, trong đó điển hình là cuộc chiến thương mại giữa Mỹ cùng các “ông lớn” khác của thế giới và kế hoạch Brexit được cho là nguyên nhân dẫn đến sự thất sủng này.

Năm 2018, các nước đang phát triển Châu Á vẫn là khu vực nhận vốn FDI lớn nhất thế giới với 512 tỷ USD, chiếm 39,38% dòng vốn FDI toàn cầu, tăng 3,9% so với năm 2017. Các quốc gia chính có dòng vốn FDI tăng là Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, Indonesia và các quốc gia thành viên khác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cũng như Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ. Dòng vốn FDI vào Châu Phi tăng 11% so với năm 2017, lên 46 tỷ USD. Sự gia tăng này là do nhu cầu tăng và do đó, giá của một số mặt hàng cơ bản cũng tăng và sự tăng trưởng của đầu tư không liên quan đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở một số ít quốc gia. Theo UNCTAD, sự suy giảm vốn FDI ở một số quốc gia lớn của châu Phi, trong đó có Nigeria và Ai Cập, đã được bù đắp bằng sự gia tăng ở các quốc gia khác, bao gồm cả Nam Phi.

Báo cáo của UNCTAD (2018) cũng nhận định rằng, dòng FDI thế giới đang có sự chuyển dịch quan trọng. Theo đó vốn FDI từ các nước phát triển, các tập đoạn MNCs ngày càng chảy nhiều hơn vào các nước công nghiệp hoá thay vì các nước đang phát triển như những năm trước đây. Sự tăng trưởng nhanh của dòng vốn FDI vào các nước phát triển (chiếm 54% dòng vốn FDI toàn cầu, so với 46% trong năm 2017) cho thấy sự thay

139

đổi trong xu hướng chuyển dịch của dòng FDI thế giới cũng như sự thay đổi trong xu hướng đầu tư của các nhà kinh doanh. Mặc dù FDI thế giới suy giảm song Mỹ vẫn là quốc gia thu hút FDI số 1 thế giới, tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc) và Singapore. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, có hai nguyên nhân chính khiến dòng vốn FDI đang có xu hướng quay trở lại các nước phát triển và các nước công nghiệp hoá: (1) các nước đang phát triển đã giảm lợi thế về nhân công và (2) các nước phát triển lại có nhiều lợi thế về cơ sở hạ tầng, nhân công trình độ cao và thị trường tiêu thụ lớn. Trung Quốc là điểm đến quan trọng thứ hai trên toàn cầu, là nước có tỷ lệ lớn nhất các dự án FDI trong khu vực. Nhìn chung, tỷ trọng đầu tư FDI từ EU vào Trung Quốc trong tổng FDI của EU ra nước ngoài còn thấp, từ 2003 đến 2015 hầu như không vượt quá 2%về lưu lượng vốn và chưa tới 7% các dự án FDI. Nhiều DN EU quan ngại về những vấn đề mà họ cho là rào cản trong tiếp cận thị trường của Trung Quốc và phân biệt đối xử với nhà đầu tư EU hoạt động tại Trung Quốc, cùng với sự chi phối của DNNN trong một số ngành. Tuy nhiên, các cam kết mới đây của Chính phủ Trung Quốc về cải thiện môi trường kinh doanh cho nhà đầu tư nước ngoài cùng với các chính sách để thúc đẩy mở cửa hơn nữa nền kinh tế và có thể là quan hệ có đi có lại được khởi xướng từ Báo cáo chung Quan hệ Kinh tế EU-Trung Quốc đến 2025, đã thiết lập bối cảnh cho sự gia tăng đầu tư FDI từ EU tới Trung Quốc và FDI từ Trung Quốc tới EU. Đối với đầu tư FDI từ Hoa Kỳ vào Trung Quốc, dưới thời Tổng thống Donald Trump, vốn FDI từ Hoa Kỳ vào Trung Quốc đã sụt giảm kể từ năm 2012. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn là nguồn cung cấp đầu tư FDI chính ở Trung Quốc với tỷ trọng trên 10%tổng FDI vào Trung Quốc.

Theo FDImarkets (2017), trong số 10 ngành có sự di biến động FDI lớn nhất thế giới, có một nửa là các nghành công nghiệp dựa trên dịch vụ. Trong số các dự án đầu tư mới vào ASEAN, các Con hổ Châu Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam) có tỷ lệ thu hút đầu tư phi dịch vụ khá cao như dệt may, máy móc/thiết bị công nghiệp, ô tô, xe máy, điện tử, sản phẩm tiêu dùng và chế biến thực phẩm cũng như đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ như vật liệu kim loại, nhựa, hóa chất, bao bì. Đối với những ngành có mức độ di biến động FDI cao nhất, tốc độ tăng trưởng gộp hàng năm (CAGR) cao khá nhất quán ở hầu hết các ngành. Trong nhóm các quốc gia ASEAN, 6/20 ngành có chỉ số CAGR cao nhất cho giai đoạn 2011- 2016 có sự khác biệt so với 20 ngành có tốc độ tăng trưởng toàn cầu cao nhất, là: (1) năng lượng thay thế & tái tạo; (2) đồ uống; (3) gốm sứ & thủy tinh; (4) linh kiện điện tử; (5) hàng điện tử tiêu dung; (6) khách sạn, du lịch. Nhìn chung, ngành có mức tăng trưởng FDI cao nhất là bất động sản. Lĩnh vực năng lượng thay thế và tái tạo cũng đang có sự tăng trưởng nhanh trong vòng 10 năm qua. Điện tử tiêu dùng, dược phẩm, thực phẩm & thuốc lá là những ngành tăng trưởng chậm nhất trong nhóm khu vực, nhưng vẫn đang có CAGR ấn tượng.

140

Hình 4.1: 20 ngành có đầu tư FDI hàng đầu theo tốc độ tăng trưởng của ASEAN

Nguồn: FDImarkets, 2017

Sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng sản phẩm công nghiệp thế giới kéo theo sự thay đổi trong xu hướng đầu tư của các nhà kinh doanh đã dẫn tới sự thay đổi trong xu hướng dịch chuyển của dòng FDI toàn cầu. Cơ hội thu hút dòng vốn FDI chất lượng có hàng lượng công nghệ cao sẽ thuộc về các quốc gia có nền tảng phát triển kinh tế ổn định, chất lượng nguồn nhân lực tốt, điều kiện kinh doanh thuận lợi và các chính sách thu hút phù hợp. Do vậy, để đón dòng dịch chuyển vốn FDI thế hệ mới của thế giới, Việt Nam cần có những thay đổi mang tầm chiến lược trong thời gian tới.

4.1.2. Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới của Việt Nam

Việt Nam đang phải đối mặt với một thách thức đặc thù, đó là vốn FDI thu hút đạt kỷ lục nhưng vẫn hạn chế về “hiệu ứng lan toả và giá trị gia tăng”. Sự thống trị của các dự án chế tạo, chế biến trong nhóm tìm kiếm thị trường, thâm dụng lao động, có giá trị gia tăng tương đối thấp đã kéo theo dòng vốn FDI vào Việt Nam cao nhưng

giá trị gia tăng trong nước lại tương đối thấp, việc làm có mức lương thấp, hiệu ứng lan toả kém và một “nền kinh tế kép”, lạm dụng ưu đãi, chênh lệch về kỹ năng ngày càng lớn và rủi ro rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Đây chính là những hạn chế còn tồn tại của dòng FDI thế hệ cũ và hiện tại ở Việt Nam. Để có thể khắc phục những hạn

chế này, vào tháng 4 năm 2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng thế giới đã công bố Dự thảo Chiến lược và định hướng chiến lược thu hút FDI thế hệ mới, giai đoạn 2018-2030. Điểm nhấn chính của “Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới” chính là sự dịch chuyển trọng tâm từ thu hút nhà đầu tư phù hợp cho sản phẩm của Việt Nam

141

sang phát triển sản phẩm phù hợp (tức là môi trường kinh doanh và điều kiện đầu tư

phù hợp) cho loại hình đầu tư mà Việt Nam cần trong tương lai. Nhờ đó, có thể tăng tối đa hiệu ứng lan toả và giá trị gia tăng của FDI.

Hình 4.2 chỉ rõ những đổi mới cần thiết về cách tiếp cận để thu hút FDI thế hệ

mới vào Việt Nam trong thời gian tới.

Tình hình hiện nay Mục tiêu thu hút FDI thế hệ mới

Động cơ hàng đầu của nhà đầu tư - Chi phí nhân công thấp - Dịch vụ tiện ích chi phí thấp - Phân tán rủi ro khỏi Trung Quốc

Động cơ hàng đầu của nhà đầu tư - Kỹ năng nghề cao - Công nghệ hiệu quả nguồn lực - Vị trí tốt trong FTA, ASEAN

Xúc tiến đầu tư Thụ động, mở cửa liên ngành “khi nhà đầu tư tới”

Xúc tiến đầu tư Chủ động, có mục tiêu “để thu hút nhà đầu tư chúng ta mong muốn”

Công cụ Marketing chính Ưu đãi rộng rãi để thu hút nhà đầu tư dựa trên lợi thế chi phí ngắn hạn

Công cụ Marketing chính Chiến lược chính thống theo ngành để thu hút nhà đầu tư dựa trên lợi thế cạnh tranh dài hạn

Các ưu đãi tập trung vào Ưu đãi thuế dựa trên giá trị FDI

Các ưu đãi tập trung vào Ưu đãi thuế dựa trên hiệu quả Trên cơ sở VA trong nước

Vai trò của IPA Phê duyệt và giám sát đầu tư

Vai trò của IPA Xúc tiến và tạo điều kiện cho đầu tư

Kết quả - Gia tăng nhiều hơn giá trị trong nước - Đổi mới môi trường tích cực

Kết quả - Nền kinh tế kép với hàm lượng trong nước thấp - Tác động bất lợi đối với môi trường

Hình 4.2: Những thay đổi về cách tiếp cận trong thu hút FDI thế hệ mới

Nguồn: Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư & WB

Về lĩnh vực đầu tư, các chuyên gia WB đã chỉ ra các lĩnh vực ưu tiên mới đó là: công nghiệp ô tô, xe máy; CNHT (sản xuất kim loại, khoáng chất, hoá chất, nhựa phẩm cao cấp và linh kiện công nghệ cao); máy móc, thiết bị công nghiệp; logistics;

sản phẩm nông nghiệp mới giá trị cao; công nghệ môi trường; năng lượng tái tạo; dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin. Cùng với đó là các ngành dịch vụ xuyên suốt quan trọng cần tiếp tục mở cửa để tạo điều kiện tiếp tục tăng trưởng như dịch vụ tài chính

142

và giáo dục. Bên cạnh đó, cũng không quên các loại hình FDI cơ bản, những lĩnh vực đã làm nên thành công của Việt Nam trong thu hút FDI.

Về chính sách ưu đãi, chính sách ưu đãi thu hút FDI trong “Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới” chuyển từ ưu đãi dựa trên lợi nhuận sang ưu đãi dựa trên hiệu quả. Việt Nam cần xem xét lại toàn bộ khung chính sách ưu đãi đầu tư hiện tại và thiết lập một khung chính sách ưu đãi mới với sự cân bằng giữa chính sách ưu đãi dựa trên lợi nhuận với chính sách ưu đãi dựa trên hiệu quả trong thu hút FDI. Bên cạnh đó, việc Việt Nam đang phụ thuộc nhiều vào chính sách miễn thuế có thời hạn, miễn thuế có thời hạn một phần cũng như các chế độ thuế suất ưu đãi và miễn thuế nhập khẩu để thu hút FDI. Tuy nhiên, cơ chế này đã không còn phù hợp khi Việt Nam thực hiện chiến lược thu hút FDI thế hệ mới, dòng FDI mang tính đổi mới sáng tạo, sử dụng công nghệ tiên tiến, lao động có trình độ và tay nghề cao.

Về đối tác đầu tư, mặc dù Việt Nam hiện đang thu hút hiệu quả FDI từ các nhà đầu tư lớn như Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng về dài hạn, phải thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư từ EU và Mỹ để đa dạng hoá nguồn vốn FDI. Đồng thời, tận dụng đầu tư từ khu vực này cho các hoạt động mang lại VA cao hơn, cũng như tăng cường CGCN cho khối kinh tế tư nhân trong nước. Bên cạnh hàng rào thuế quan được xoá bỏ thì Việt Nam cũng cần phải cải thiện môi trường đầu tư như cải thiện thủ tục hành chính và đồng bộ hoá với EU và Mỹ.

Hình 4.3 chỉ rõ những đổi mới cần thiết về để thu hút FDI thế hệ mới vào Việt

Nam trong thời gian tới.

Hình 4.3: Những thay đổi về chính sách trong thu hút FDI thế hệ mới

Nguồn: Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư & WB

143

“Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới” được thực hiện thành công sẽ làm gia tăng sự đóng góp của khu vực FDI trong nâng cao năng suất, kích thích đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh quốc tế hoá, nâng cao giá trị gia tăng, duy trì tăng trưởng kinh tế “xanh”, cải thiện thu nhập cho người lao động, thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các địa phương trên cả nước.

4.2. Định hướng phát triển xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2030

Theo Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030”, mục tiêu tổng quát phát triển xuất nhập khẩu của Việt Nam là tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá đến năm 2030 tăng gấp 3 lần năm 2010, cán cân thương mại được cân bằng và mục tiêu cụ thể là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình quân 11-12%/năm trong thời kỳ 2011-2020 và duy trì tốc độ tăng. trưởng khoảng 10% thời kỳ 2021-2030. Bên cạnh đó, phấn đấu tốc độ tăng trưởng nhập khẩu thấp hơn tăng trưởng xuất khẩu; giảm dần thâm hụt thương mại, kiểm soát nhập siêu ở mức dưới 10% KNXK và tiến tới cân bằng cán cân thương mại vào năm 2020, thặng dư thương mại thời kỳ 2021-2030.

Chiến lược cũng đề ra 7 nhiệm vụ chủ yếu gồm: (1) Phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (2) Phát triển thị trường, xúc tiến thương mại; (3) Hoàn thiện chính sách thương mại, tài chính, tín dụng và đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu; (4) Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa và đẩy nhanh xã hội hóa dịch vụ logistics; (5) Đào tạo phát triển nguồn nhân lực; (6) Kiểm soát nhập khẩu; (7) Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và vai trò của Hiệp hội ngành hàng.

4.2.1. Định hướng phát triển xuất khẩu

Đối với xuất khẩu, “Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030” đề ra mục tiêu là: “Nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ; mở rộng và đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh; hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu vực và thế giới”.

Trên cơ sở mục tiêu nêu trên, một số định hướng cụ thể phát triển xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2030 là: Một là, phát triển xuất khẩu các mặt hàng mới phù h.ợp với xu hướng biến đổi của thị trường thế giới và lợi thế của Việt Nam là khâu đột phá trong phát triển xuất khẩu của Việt Nam. Các mặt hàng mới là các mặt hàng chế tạo công nghệ trung bình và công nghệ cao. Hai là, tập trung phát triển các mặt hàng công nghiệp mới có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ và chất xám cao, trên cơ sở

144

thu hút mạnh đầu tư trong nước và nước ngoài vào các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu, những ngành chế tạo công nghệ trung bình và công nghệ cao. Ba là, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm xuất khẩu hàng thô, nông sản, thuỷ sản, tăng tỷ trọng hàng công nghiệp, đặc biệt là hàng công nghiệp chế tạo như điện tử, viễn thông, vật liệu xây dựng, đồ gỗ. Bốn là, không khuyến khích phát triển sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng thu hút nhiều lao động rẻ, ô nhiễm môi trường, giá trị gia tăng thấp. Chú trọng phát triển các mặt hàng xuất khẩu thân thiện môi trường, hạn chế sử dụng năng lượng và tài nguyên. Năm là, tập trung phát triển thị trường cho các sản phẩm có sức cạnh tranh lớn, có giá trị gia tăng cao hoặc các nhóm sản phẩm có tỷ trọng kim ngạch lớn. Trước hết là khai thác cơ hội mở cửa thị trường từ các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu và các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN… Khai thác các thị trường tiềm năng như Nga, Đông Âu, châu Phi và châu Mỹ La tinh.

Định hướng xuất khẩu sẽ được phát triển theo mô hình tăng trưởng bền vững và hợp lý, vừa mở rộng quy mô xuất khẩu, vừa chú trọng nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu. Định hướng phát triển xuất khẩu đưa ra 4 nhóm ngành cụ thể:

Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản: Có lộ trình giảm dần xuất khẩu khoáng sản thô; đầu tư công nghệ để tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, tận. dụng cơ hội thuận lợi về thị trường và giá cả để tăng giá trị xuất khẩu. Định hướng tỷ trọng nhóm hàng này trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ 11,2% năm 2010 xuống còn 4,4% vào năm 2020 và 3% vào năm 2030.

Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản (là nhóm hàng có lợi thế và năng lực cạnh tranh dài hạn nhưng giá trị gia tăng còn thấp): Cần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hướng mạnh vào chế biến sâu, phát triển sản phẩm xuất khẩu có ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến.

Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo (là nhóm hàng có tiềm năng phát triển và thị trường thế giới có nhu cầu): Phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, phát triển CNHT… Định hướng tỷ trọng nhóm hàng này trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ 40,1% năm 2010 lên. 62,9% vào năm 2020 và trên 70% vào năm 2030.

Nhóm hàng mới (nằm trong nhóm hàng hoá khác): Rà soát các mặt hàng mới có kim ngạch hiện nay còn thấp nhưng có tiềm năng tăng trưởng cao trong thời gian tới để có các chính sách khuyến khích phát triển, tạo sự đột phá trong xuất khẩu.

4.2.2. Định hướng phát triển nhập khẩu

Định hướng nhập khẩu, chủ động điều chỉnh nhịp độ tăng trưởng nhập khẩu hàng hóa, đồng thời phát triển sản xuất nguyên, nhiên, phụ liệu phục vụ các ngành hàng xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu trong nước và phát triển CNHT, kiểm soát chặt việc

145

nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu, góp phần giảm nhập siêu trong dài hạn. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, khuyến khích nhập khẩu công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn trên cơ sở khai thác lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do với các nước có nền công nghiệp phát triển.

Thứ hai, hạn chế nhập khẩu các loại hàng hóa sản xuất trong nước, nhập khẩu hàng

xa xỉ, có chính sách phát triển ngành CNHT và các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu.

Thứ ba, áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước, hạn chế ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe, thông qua việc xây dựng các biện pháp phi thuế quan phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, các biện pháp tự vệ khẩn cấp, áp thuế chống bán phá giá, các tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch động thực vật…

Thứ tư, ngăn chặn việc nhập lậu hàng từ các nước ASEAN và Trung Quốc để bảo vệ hàng sản xuất trong nước. Tranh thủ mở cửa thị trường trong các FTA mới để đa dạng hóa thị trường nhập khẩu và nhập khẩu công nghệ nguồn.

4.3. Quan điểm tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoan 1988-2018, định hướng thu hút FDI và phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2030, tác giả luận án đề xuất 04 quan điểm như sau:

Tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam cần dựa trên việc điều chỉnh các chính sách thu hút FDI để tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu theo hướng tích cực. Thứ nhất, Việt Nam cần có chính sách khuyến khích thu hút FDI vào các ngành chế biến sâu - tinh chế, vào lĩnh vực công nghệ cao có định hướng xuất khẩu như ngành công nghiệp ô tô, xe máy; máy móc, thiết bị công nghiệp; logistics; sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao; công nghệ môi trường; năng lượng tái tạo; dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin; CNHT (sản xuất kim loại, khoáng chất, hoá chất, nhựa phẩm cao cấp và linh kiện công nghệ cao). Thứ hai, Việt Nam cần có chính sách tăng cường thu hút các nhà đầu tư đến từ những quốc gia công nghệ nguồn như Mỹ và EU, khuyến khích nhà đầu tư thực hiện hoạt động R&D tại Việt Nam để có thể tăng cường tác động lan toả tích cực về công nghệ từ FDI tới xuất khẩu của Việt Nam. Thứ ba, Việt Nam cần có chính sách tăng cường thu hút FDI vào các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao để tăng cường tác động tích cực của FDI trong việc làm giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng thông qua kênh thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hoá được sản xuất bởi chính các DN FDI tại Việt Nam.

146

Bên cạnh đó, chính sách thu hút FDI vào ngành nông nghiệp cần tập trung thu hút nhiều hơn vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và tối đa hoá VA nhằm lấp đầy chỗ trống trong chuỗi cung ứng để hạn chế nhập khẩu và tăng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế và VA cao.

Tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam cần dựa trên việc tạo lập các điều kiện thuận lợi để phát huy được tối đa những tác động lan toả tích cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa. Thứ nhất, Việt Nam cần đổi mới giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước, từ đó có thể nâng cao khả năng hấp thụ công nghệ và tri thức từ FDI, nâng cao được khả năng đổi mới và sáng tạo công nghệ tiến tới tự chủ được công nghệ, giảm nhập khẩu và tăng tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chất xám cao trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu. Thứ hai, Việt Nam cần tăng cường mối liên kết thương mại và sản xuất giữa các DN FDI và các DN nội địa để có thể tăng cường tác động lan toả tích cực của nguồn vốn FDI tới hoạt động xuất nhập khẩu của các DN trong nước thông qua kênh CGCN, chuyển giao tri thức, học hỏi kỹ năng và kinh nghiệm quản lý và sản xuất từ các DN FDI. Thứ ba, Việt Nam cần phải phát triển ngành CNHT trong nước. CNHT kém phát triển chính là nguyên nhân chính dẫn tới làm tăng KNNK và làm giảm VA của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam khiến cho FDI chưa phát huy tối đa được tác động tích cực trong việc làm giảm nhập khẩu của Việt Nam. Thêm vào đó, ngành CNHT quá yếu sẽ không hấp dẫn các MNCs đầu tư sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt là các MNCs có mục tiêu xuất khẩu, làm cho FDI chưa phát huy hết tác động tích cực tới tăng KNXK. Thứ tư, Việt Nam cần nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đặc biệt hạ tầng khu vực nông nghiệp. Cơ sở hạ tầng yếu kém là một trong những nguyên nhân dẫn tới sức hấp dẫn trong thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ cao ở Việt Nam kém hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cơ sở hạ tầng yếu kém cũng chính là nguyên nhân khiến cho FDI không chảy vào lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam, dẫn tới những tác động tích cực của FDI vẫn chưa được phát huy tới xuất nhập khẩu của ngành này.

Tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam cần dựa trên việc giải quyết các nguyên nhân gây ra các tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu. Thứ nhất, Việt Nam cần nâng cao năng lực tài chính cho các DN xuất khẩu nội địa, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa (SMEs). Nâng cao năng lực tài chính của các DN xuất khẩu nội địa sẽ góp phần hạn chế một số tác động tiêu cực và tăng cường một số tác động tích cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam, cụ thể: (1) Nâng cao năng lực tài chính của các DN xuất khẩu nội địa sẽ hạn chế được tác động tiêu cực của FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh từ các DN FDI; (2) Nâng cao năng lực tài chính cũng giúp các DN xuất khẩu nội địa có điều kiện đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh như đổi mới

147

công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực... để có thể cạnh tranh được với các DN FDI. Từ đó có thể tăng cường tác động tích cực của FDI tới xuất khẩu của các DN này thông qua kênh tạo áp lực cạnh tranh; (3) Nâng cao năng lực tài chính của các DN xuất khẩu nội địa sẽ góp phần hạn chế nhập khẩu cũng như nhận CGCN từ khu vực châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Với tiềm lực tài chính mạnh hơn, các DN có thể nhập khẩu hoặc nhận CGCN từ các quốc gia có trình độ công nghệ cao, công nghệ nguồn như Mỹ và EU; (4) Nâng cao năng lực tài chính cũng giúp các DN xuất khẩu nội địa hạn chế được hiện tượng “chảy máu chất xám” sang các DN FDI. Với tiềm lực tài chính mạnh hơn, các DN sẽ nâng cao chế độ đãi ngộ cũng như cải thiện môi trường làm việc tốt hơn, người lao động sẽ gắn bó lâu dài và cống hiến nhiều hơn cho DN. Từ đó, có thể nâng cao được năng suất lao động và giá trị xuất khẩu của DN. Thứ hai, Việt Nam cần phải nâng cao năng lực công nghệ trong nước, phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ của các DN nội địa. Trình độ KHCN được cải thiện sẽ tạo điều kiện cho các DN nội địa Việt Nam: (i) nâng cao được năng lực cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là trên thị trường nước ngoài từ đó tăng cơ hội và khả năng xuất khẩu hàng hoá; (ii) giảm nhập khẩu công nghệ, đặc biệt là công nghệ trình độ thấp và trung bình từ các nước châu Á và Trung Quốc; (iii) nâng cao được khả năng hấp thụ công nghệ hiện đại từ các đối tác đầu tư. Đây chính là điều kiện tiên quyết để Việt Nam có thể thu hút được dòng FDI chất lượng của thế giới kèm với những công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực có chất lượng cao. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để các DN nội địa của Việt Nam có thể tăng cường hợp tác và liên kết với các DN FDI, từ đó có thể hạn chế những tác động tiêu cực và tăng cường những tác động tích cực của dòng vốn FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

Tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam rất cần thiết phải tăng cường sự tham gia sâu hơn của các DN nội địa vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI. Tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI không chỉ giúp tăng tỷ lệ nội địa hoá và gia tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam mà còn giúp Việt Nam giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ bên ngoài, tăng xuất khẩu và mở rộng hơn nữa phạm vi thị trường xuất khẩu cho các DN Việt Nam.

Cuối cùng, để tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam cần phải tăng cường và nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là về đầu tư và thương mại. Kết quả ước lượng ở chương 3 cho thấy việc gia nhập WTO làm tăng mức độ tác động tích cực của FDI tới cả KNXK và KNNK ở Việt Nam. Sự thay đổi mức độ tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam trong hai giai đoạn trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO đều là tích cực. Kết quả này cho thấy, hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

148

4.4. Giải pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam

4.4.1. Giải pháp điều chỉnh chính sách thu hút FDI nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu theo hướng tích cực

4.4.1.1. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích thu hút FDI vào các ngành chế biến sâu - tinh chế, vào lĩnh vực công nghệ cao có định hướng xuất khẩu

Điều chỉnh chính sách thu hút FDI sẽ giúp Việt Nam thu hút được những dòng vốn FDI có chất lượng, những nhà đầu tư từ các nước công nghệ nguồn, tăng cường thu hút FDI vào các ngành chế biến sâu - tinh chế, vào lĩnh vực công nghệ cao, vào các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, vào ngành nông nghiệp công nghệ cao có định hướng xuất khẩu. Từ đó, có thể tăng cường các tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian tới.

4.4.1.2. Nhà nước cần có chính sách tăng cường thu hút các nhà đầu tư đến từ những quốc gia công nghệ nguồn, khuyến khích nhà đầu tư thực hiện hoạt động R&D tại Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra với tốc độ nhanh càng đòi hỏi Việt Nam có sự chọn lọc hơn trong thu hút FDI, đặc biệt là chuyển từ số lượng sang chất lượng của dòng vốn này. Theo đó, ưu tiên thu hút FDI vào các ngành chế biến sâu - tinh chế, vào lĩnh vực công nghệ cao có định hướng xuất khẩu như ngành công nghiệp ô tô, xe máy; máy móc, thiết bị công nghiệp; logistics; sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao; công nghệ môi trường; năng lượng tái tạo; dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin; CNHT (sản xuất kim loại, khoáng chất, hoá chất, nhựa phẩm cao cấp và linh kiện công nghệ cao)... Chiến lược thu hút FDI cần hướng vào thúc đẩy CGCN, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao, VA cao và nâng cấp chuỗi giá trị của ngành và sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế, đóng góp thiết thực vào tăng cường năng lực cạnh tranh của khu vực DN trong nước. Việt Nam cũng cần định hướng thu hút các TNCs có quy mô lớn, có năng lực công nghệ và sẵn sàng CGCN thông qua các hoạt động R&D và đào tạo nhân lực. Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới bên cạnh định hướng thu hút FDI theo ngành, lĩnh vực, nhà đầu tư thì cần coi trọng đầu ra của chiến lược, đặc biệt là tạo liên kết sản xuất giữa DN FDI với DN trong nước, tạo cơ hội cho DN trong nước tham gia mạng sản xuất của DN FDI.

Công nghệ đầu tư có nguồn gốc châu Âu, Mỹ, Nhật Bản là công nghệ có trình độ tiên tiến, có hàm lượng chất xám cao hơn, có tác động tiêu cực tới môi trường ít hơn là những công nghệ có nguồn giốc châu Á như Trung Quốc, Đài Loan. Bài học kinh

149

nghiệm lớn từ Thái Lan cũng cho thấy hiệu quả lớn từ việc quốc gia này lựa chọn Nhật Bản là đối tác đầu tư chiến lược. Công nghệ Nhật bản đã giúp Thái Lan cải thiện được trình độ công nghệ của các DN nội địa Thái Lan thông qua kênh CGCN và chuyển giao tri thức, học hỏi kinh nghiệm từ các DN FDI Nhật Bản. Kết quả là năng lực và giá trị xuất khẩu, giá trị gia tăng của hàng hoá xuất khẩu Thái Lan được cải thiện và có hiệu quả rõ rệt. Do đó, thu hút các nhà đầu tư đến từ những quốc gia có công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn sẽ giúp tăng cường tác động lan toả tích cực về công nghệ từ FDI tới xuất khẩu của Việt Nam.

Ngoài các nhà đầu tư có vai trò chiến lược như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore…, điều Việt Nam cần quan tâm là thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư đến từ EU và Mỹ, để đa dạng hóa vốn FDI cũng như nâng cao chất lượng dòng vốn này, đồng thời tận dụng được đầu tư từ khu vực này cho các hoạt động mang lại VA cao hơn, cũng như tăng CGCN cho khối kinh tế tư nhân trong nước. Từ đó có thể tăng cường tác động lan toả tích cực của FDI tới xuất khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung trong qua kênh CGCN và chuyển giao tri thức từ FDI.

FDI từ châu Âu và Mỹ vào Việt Nam còn rất khiêm tốn nếu so với FDI của các nước đó vào Thái Lan, Indonesia, Singapore, Malaysia. Từ đầu thế kỷ XXI, Chính phủ có chủ trương thu hút FDI từ các TNCs lớn của thế giới vào công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, nhưng đến nay mới có khoảng 60 TNCs trong số 500 TNCs hàng đầu thế giới hoạt động tại Việt Nam (trong khi đó Trung Quốc đã thu hút được hơn 400 TNCs). Việc thu hút FDI từ EU và Mỹ, những quốc gia trình độ công nghệ nguồn, công nghệ hiện đại sẽ tăng cường được các tác động lan toả tích cực về công nghệ và tri thức tới xuất khập khẩu của các DN nội địa, góp phần hạn chế nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu, tăng tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng công nghệ chất xám cao và tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam. Ngoài ra, yếu tố công nghệ còn đảm bảo yêu cầu “xuất khẩu xanh” và “tăng trưởng xanh” của Việt Nam.

Trong hơn 30 thu hút đầu tư nước ngoài, dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam khá nhiều nhưng chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ, công nghệ thấp. Trong thời gian tới, để có thể chuyển sang một thời kỳ sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn, Nhà nước phải có cơ chế, chính sách cụ thể để khuyến khích và thu hút dòng FDI vào hoạt động R&D. Cùng với dòng vốn FDI chất lượng này, chắc chắn quá trình CGCN cũng sẽ xảy ra nhanh hơn và hiệu quả hơn, do nhiều người lao động Việt Nam có cơ hội làm việc và tiếp cận với công nghệ tiên tiến từ các tập đoàn lớn. Tăng cường thu hút được dòng FDI vào hoạt động R&D không chỉ giúp tạo ra những sản phẩm có giá trị cao hơn mà còn là cơ hội mới để phát triển KHCN của Việt Nam. Ấn Độ và Trung Quốc đã tận dụng rất tốt tác động tích cực này của FDI để có được những tập đoàn công nghệ riêng của mình.

4.4.1.3. Nhà nước cần có chính sách tăng cường thu hút FDI vào các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao nhằm hạn chế nhập khẩu và gia tăng xuất khẩu

150

FDI có tác động tích cực trong việc làm giảm tỷ trọng nhóm hàng tiêu dùng

thông qua kênh thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hoá được sản xuất bởi chính các

DN FDI tại Việt Nam. Thêm vào đó, thông qua kênh CGCN và tri thức từ khu vực

FDI sang khu vực kinh tế trong nước, các DN trong nước cũng có thể sản xuất được

những mặt hàng tiêu dùng mà trước đây phải nhập khẩu. Tuy nhiên, tác động tích

cực này vẫn chưa được phát huy tối đa ở Việt Nam, Việt Nam hiện vẫn phải nhập

khẩu hàng tiêu dùng, đặc biệt là các sản phẩm của ngành nông nghiệp.

Tính luỹ kế đến hết năm 2018, có khoảng hơn 4 tỷ USD vốn FDI chảy vào khu

vực nông nghiệp của Việt Nam, chỉ chiếm khoảng 1,4% tổng lượng vốn FDI. Điều này

là một nghịch lý khi Việt Nam là một nước có nhiều lợi thế về nông nghiệp. Dòng vốn

FDI vào ngành nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, còn rất

khiêm tốn so với tiềm năng của Việt Nam.

Tăng cường thu hút FDI vào ngành nông nghiệp là một trong những giải pháp

trọng tâm của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, chính sách thu hút FDI vào

ngành nông nghiệp cần tập trung thu hút nhiều hơn vào lĩnh vực nông nghiệp công

nghệ cao và tối đa hoá VA nhằm lấp đầy chỗ trống trong chuỗi cung ứng để hạn chế

nhập khẩu và tăng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế và VA cao.

Khuyến khích các dự án FDI nông nghiệp công nghệ cao cần tập trung một số ngành

như trồng hoa, rau, chế biến nông sản, sản xuất giống cây trồng, sản xuất thuốc thú y,

sản xuất thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ... Bên cạnh đó, để đẩy mạnh thu hút FDI vào

nông nghiệp, cần nâng cao tính minh bạch của hệ thống pháp luật về đầu tư nước

ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp và phải tạo hành lang pháp lý rõ ràng, thuận lợi cho

các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào ngành nông nghiệp. Thực hiện đầy đủ các

cam kết của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế.

Thu hút FDI vào khu vực nông nghiệp sẽ giúp Việt Nam cải thiện được nhiều

mặt của sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông

nghiệp, đặc biệt là tận dụng được mạng lưới kênh phân phối rộng lớn của các TNCs.

FDI vào khu vực nông nghiệp nếu được chú trọng đúng mức sẽ đưa sản phẩm nông

nghiệp Việt Nam đi khắp thế giới, vừa đẩy mạnh xuất khẩu vừa giảm được nhập khẩu,

cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam.

151

4.4.2. Giải pháp tạo lập các điều kiện thuận lợi để phát huy được tối đa những tác động lan toả tích cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa

4.4.2.1. Đổi mới giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước

Sự thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng cao là một trong những nguyên nhân chính khiến cho nguồn vốn FDI không phát huy tối đa được những tác động lan toả tích cực tới xuất khẩu của Việt Nam thông qua kênh CGCN và tri thức. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước là một giải pháp cấp bách và vô cùng cần thiết đối với Việt Nam hiện nay để có thể tăng cường những tác động lan toả tích cực từ FDI tới xuất khẩu thông qua kênh CGCN, chuyển giao tri thức, học hỏi kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất và xuất khẩu hàng hoá. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước, đặc biệt là nguồn nhân lực sản xuất hàng hoá xuất khẩu, theo tác giả cũng cần phải có sự điều tiết, chiến lược ở tầm vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các DN xuất khẩu nội địa.

Một là, Nhà nước cần tăng cường hoạt động đào tạo nâng cao kiến thức sản xuất và xuất khẩu hàng hoá cho các DN nội địa. Trước hết, cần phải cải cách nội dung và phương pháp đào tạo theo phương châm thiết thực, bám sát yêu cầu của thực tiễn và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Cần đào tạo tập trung, chọn lọc, tránh đào tạo dàn trải nguồn nhân lực. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực trong các lĩnh vực, các ngành công nghiệp mũi nhọn có tầm quan trọng chiến lược, các ngành liên quan đến yếu tố công nghệ có định hướng xuất khẩu. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo nghề, giải quyết vấn đề thiếu hụt và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong một xuất ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu đang gặp khó khăn về nguồn lao động có kỹ năng như ngành dệt may, da giày, điện tử, gỗ, nhựa, cơ khí... Thêm vào đó, Nhà nước (thông qua các cơ quan chức năng như Bộ Công Thương, Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Ngoại giao và các tham tán thương mại) tổ chức các hoạt động đào tạo kiến thức, các hội thảo, các hội chợ quốc tế về xuất khẩu hàng hoá, hỗ trợ các DN nội địa nâng cao được kiến thức về các thị trường nước ngoài và cách thức xuất khẩu vào các thị trường đó.

Hai là, các DN nội địa cần chủ động trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo các mục tiêu phát triển của DN. DN cần chủ động hợp tác đào tạo giữa DN và cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu để nâng cao tay nghề, kỹ năng của người lao động, đồng thời cải thiện khả năng nghiên cứu và sáng tạo công nghệ trong DN. Từ đó, tạo tiền đề vững chắc cho hoạt động sản xuất xuất khẩu của DN cũng như tạo tiền đề để DN có thể tăng cường liên kết và hợp tác với các DN FDI trong sản xuất hàng hoá xuất khẩu. DN có thể thực hiện tự đào tạo trong DN bằng cách cử cán bộ đi học về các nghiệp vụ nghiên

152

cứu thị trường, chủ động tham gia các hội chợ thương mại quốc tế, tham gia các hội thảo về xuất khẩu hàng hoá… Những hoạt động thực tế này có thể giúp các cán bộ, người lao động trong DN tích luỹ được kinh nghiệm và kiến thức thực tế về xuất khẩu hàng hoá, từ đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sản xuất xuất khẩu của DN.

Bên cạnh đó, việc phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài hợp lý sẽ tạo hiệu quả cao về hiệu suất làm việc và phát triển DN. Phát hiện, bồi dưỡng, tuyển dụng, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài, phải vừa khai thác được chất xám của họ trong nghiên cứu, chế tạo, ứng dụng thành quả nghiên cứu, vừa khuyến khích họ tranh

thủ học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng. Từ đó, xây dựng đội ngũ cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực hoạt động của DN. DN cũng cần phải chú trọng đến các chính sách đãi ngộ đối với người lao động. Bởi vì, chính sách đãi ngộ là nền tảng để giữ chân cũng như phát triển một đội ngũ nhân viên chất lượng cao. Phải

4.4.2.2. Tăng cường mối liên kết thương mại và sản xuất giữa các DN FDI và các DN nội địa

có chính sách đãi ngộ, phúc lợi, khen thưởng hợp lý để người lao động tin tưởng và gắn bó lâu dài với DN, khắc phục và tránh tình trạng “chảy máu chất xám” đang xảy ra ở các DN xuất khẩu trong nước sang các DN FDI.

Thông qua liên kết sản xuất và thương mại giữa DN FDI và DN nội địa sẽ giúp các DN nội địa có được các tác động lan toả tích cực từ FDI tới hoạt động sản xuất xuất khẩu của các DN này nhờ quá trình học hỏi về công nghệ, tri thức cũng như kinh nghiệm từ các đối tác nước ngoài. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và Thái Lan đã cho thấy điều này. Tăng cường liên kết giữa DN FDI và DN nội địa là cách để nước nhận đầu tư có thể tăng cường tác động lan toả tích cực từ FDI tới xuất khẩu của các

DN nội địa thông qua kênh CGCN và chuyển giao tri thức (bí kíp sản xuất, kỹ năng quản lý…). Để tăng cường mối liên kết giữa các DN FDI và DN nội địa, tác giả luận án đề xuất một số giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích và hỗ trợ DN nội địa nâng cao năng lực quản trị, năng lực công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Khuyến khích việc nhân rộng các mô hình thành công của các DN FDI như Samsung… Chính phủ cũng cần có chính sách phát triển CNHT, cải thiện môi trường đầu tư, ưu đãi khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành CNHT. Đặc biệt thu hút đầu tư các công ty vệ tinh cấp 1 của các tập đoàn lớn, các nhà đầu tư, các DN của Việt Nam để tạo các lớp cung ứng cho các DN FDI. Chính phủ phải thực hiện giám sát chặt chẽ sau đầu tư. Đây là kinh nghiệm từ Trung Quốc và một số nước đã thành công trong việc thiết lập mạng lưới kết nối chặt chẽ giữa DN trong nước và

153

DN FDI. Cụ thể, nếu sau một thời gian cam kết, nhận các ưu đãi mà các DN FDI không có sự liên kết, hay CGCN thích ứng thì các ưu đãi này sẽ phải được rút lại.

Thứ hai, khuyến khích các DN nội địa chủ động tìm kiếm đối tác nước ngoài để hợp tác sản xuất và kinh doanh. Việc chủ động tìm kiếm đối tác sẽ giúp các DN chủ động được kế hoạch sản xuất kinh doanh, từ đó sẽ có được sự chuẩn bị tốt nhất cho việc liên kết với các DN FDI. Đây chính là cơ sở để cho các DN nội địa hấp thụ tốt nhất các tác động lan toả tích cực từ các DN FDI. Để làm được điều này, các DN nội địa luôn phải nỗ lực không ngừng trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực tài chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - những rào cản chủ yếu kiến cho DN nội địa khó kết nối vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, khó kết nối được với các DN FDI. Đây là nền tảng cơ bản để các DN xuất khẩu nội địa có thể chủ động tiếp nhận và tăng cường các tác động lan toả tích cực từ FDI.

4.4.2.3. Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước

Thứ ba, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm thành công các đối tác trong nước. Thường xuyên tổ chức chức các sự kiện làm cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận và kết nối được với các DN nội địa. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp với các Bộ, Ban, Ngành có liên quan tổ chức các cuộc hội thảo, triển lãm công nghệ và sản phẩm, các hoạt động xúc tiến đầu tư… để các nhà đầu tư nước ngoài có được nhiều thông tin hơn về các DN sản xuất trong nước. Từ đó, sẽ giúp các nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và tìm kiếm đối tác trong nước để hợp tác sản xuất và kinh doanh. Việc có nhiều thông tin về các DN sản xuất nội địa cũng giúp các nhà đầu tư tìm ra mô hình hợp tác thích ứng với từng sản phẩm. Minh chứng trường hợp Tập đoàn Samsung, trước đây Samsung từng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các nhà cung cấp linh kiện. Sau đó, DN này đã thay đổi cách làm, tự mình tìm hiểu, lựa chọn các nhà sản xuất trong nước có tiềm năng, cử chuyên gia đến làm việc trực tiếp với DN Việt Nam. Chuyên gia Samsung tập trung hỗ trợ DN nâng cao trình độ quản lý DN, đầu tư đúng công nghệ theo đúng tiêu chuẩn “đặt hàng”, giảm tiêu hao năng lượng, giảm hàng tồn kho, chi phí phân phối…Nhờ cách làm này, đến nay, Samsung đã có 29 nhà cung cấp nội địa cấp 1 là các DN nội địa của Việt Nam. Điều này không những giúp Samsung chủ động được nguồn cung đầu vào ở Việt Nam mà còn giúp Samsung tiết kiệm được chi phí và nâng cao được tỷ suất lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh tại Việt Nam.

Việc phát triển các ngành CNHT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Việc thay thế nhập khẩu bằng các sản phẩm CNHT trong nước sẽ góp phần giảm nhập khẩu của khu vực FDI và Việt Nam, đồng thời, nâng cao được tỉ lệ nội địa hoá, từ đó nâng cao VA cho hàng hoá xuất khẩu

154

Việt Nam. CNHT phát triển cũng sẽ góp phần tăng cường mối liên kết giữa các DN FDI và các DN nội địa, giúp các DN nội địa có cơ hội được tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong sản xuất và phân phối hàng hoá của các DN FDI, từ đó có thể tận dụng được những tác động lan toả tích cực về CGCN và tri thức cũng như kinh nghiệm sản xuất hàng hoá xuất khẩu từ các DN FDI. Bên cạnh đó, CNHT phát triển cũng là tiền đề để có thể thu hút được những dòng vốn FDI có chất lượng vào những lĩnh vực sản xuất hàng hoá xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao chất xám (bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và Thái Lan). CNHT của Việt Nam hiện đang vẫn còn rất yếu và thiếu. Để có thể phát triển các ngành CNHT, theo tác giả luận án, Việt Nam cần thực hiện các giải pháp cụ thể sau:

Một là, cần tăng cường vốn đầu tư cho phát triển các ngành CNHT. Nhìn chung, đầu tư của Nhà nước cho phát triển CNHT ở Việt Nam hiện nay còn rất khiêm tốn. Mặc dù nhận thức được vai trò quan trọng của CNHT, nhưng mức đầu tư cho ngành CNHT còn rất hạn chế. Do thiếu vốn, các DN CNHT không có điều kiện để đổi mới trang thiết bị, công nghệ, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quy hoạch vùng nguyên liệu… dẫn tới sản phẩm sản xuất ra không đáp ứng được các tiêu chuẩn cả về số lượng và chất lượng của các DN FDI. Do đó, các DN CNHT trong nước vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng của các DN FDI. Tăng cường vốn cho đầu tư phát triển CNHT là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Để thực hiện được mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp, sản phẩm CNHT đáp ứng được 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất và đến năm 2030, tỷ lệ này là 70%, Nhà nước cần phải có cơ chế rõ ràng và chi mạnh tay hơn nữa cho đầu tư phát triển CNHT.

Hai là, cần quy hoạch và phát triển các cụm CNHT theo ngành hoặc nhóm ngành sản xuất để đễ dàng tạo mối liên kết giữa DN CNHT và DN sản xuất. Khi chọn các ngành hoặc nhóm ngành để xây dựng các cụm CNHT cần dựa vào các dấu hiệu về lợi thế vùng, mức độ tập trung của các DN sản xuất tại mỗi vùng cũng như điều kiện để phát triển các cụm CNHT ở các vùng. Chẳng hạn, các DN điện tử và ô tô hiện nay tập trung ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, chúng ta nên xây dựng các cụm CNHT của hai ngành này tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Hay cần xây dựng các cụm CNHT các ngành da giày, dệt may, chế biến gỗ ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vì các DN sản xuất của các ngành này đều tập trung ở đây. Đồng bằng Sông Hồng cũng là nơi tập trung của các DN dệt may, một cụm CNHT của ngành này cũng nên được xây dựng ở đây. Bên cạnh đó, việc lựa chọn mô hình cụm CNHT cũng cần dựa vào đặc trưng của mỗi ngành công nghiệp và lợi thế của các vùng. Chẳng hạn, đối với cụm CNHT ngành điện tử và ô tô có thể lựa chọn theo mô hình của Nhật Bản, cụ thể trong một cụm ngành công nghiệp có doanh nghiệp chủ đạo, có năng lực, quy mô sản xuất lớn và liên kết với nhiều nhà cung cấp trong mỗi khâu sản xuất trong chuỗi giá trị. Còn đối với cụm CNHT ngành dệt may, da giày, chế biến gỗ thì có thể lựa chọn theo mô

155

hình của Ý, cụm ngành công nghiệp được hình thành từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, được liên kết thành các hiệp hội khác nhau nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc quy hoạch phát triển các cụm CNHT cần được thực hiện theo tuần tự: (1) hình thành cụm CNHT; (2) xây dựng năng lực cho các cụm CNHT; (3) thu hút các doanh nghiệp chủ đạo CNHT của ngành; (4) thu hút các DN có liên quan. Như vậy mới có thể đảm bảo được sự tồn tại và phát triển vững chắc của các cụm CNHT này trong tương lai.

4.4.2.4. Nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đặc biệt hạ tầng khu vực nông nghiệp

Ba là, cần có chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành CNHT. Để có được nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng chuyên môn, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành CNHT theo hướng hỗ trợ ngay từ giai đoạn đào tạo bằng hình thức miễn, giảm học phí, hỗ trợ chỗ ăn, ở hoặc có thể hoàn tiền đào tạo khi các đối tượng được đào tạo tham gia và cam kết làm việc trong ngành CNHT trong khoảng thời gian nhất định (có thể là 5 năm hay 10 năm và khuyến khích cam kết lâu dài). Đặc biệt, cả Nhà nước và các DN sản xuất cần có cơ chế khuyến khích, thưởng cả về vật chất lẫn tinh thần ở mức cao cho những phát minh, sáng chế hay cải tiến kỹ thuật nâng cao chất lượng, làm giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm CNHT trong nước so với các sản phẩm nhập khẩu cùng loại. Có như vậy mới thực sự thu hút, tạo sức bật và đột phá cho ngành CNHT trong thời gian tới.

Một trong những nguyên nhân dẫn tới sức hấp dẫn trong thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ cao ở Việt Nam kém hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới là do cơ sở hạ tầng của Việt Nam kém phát triển hơn. Cơ sở hạ tầng yếu kém cũng chính là nguyên nhân khiến cho FDI không chảy vào lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam, dẫn tới những tác động lan toả tích cực của FDI vẫn chưa được phát huy tới xuất nhập khẩu của ngành này. Kết quả là, mặc dù là thế mạnh nhưng Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khá nhiều các sản phẩm nông nghiệp và chưa có nhiều sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Chính vì vậy, nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng là một nhiệm vụ cần thiết để Việt Nam tăng cường thu hút hơn nữa các dự án FDI quy mô lớn và chất lượng cao nhằm tăng cường tác động tích cực của FDI tới xuất nhập khẩu của Việt Nam nói chung và ngành nông nghiệp của Việt Nam nói riêng. Để nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng nhằm tăng cường thu hút dòng FDI chất lượng cao, từ đó tăng cường tác động lan toả tích cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam, tác giả luận án đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Nhu cầu về vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là rất lớn. Trong khi đó, nguồn vốn ngân sách hạn hẹp, khả năng huy động vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã giảm khi Việt Nam bước vào ngưỡng quốc gia có mức thu nhập trung bình và trần nợ công bị khống chế. Điều này đang đặt ra nhiều thách thức và áp lực không nhỏ cho Việt Nam

156

trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong bối cảnh hiện nay và trong những năm tới. Để có thể huy động được vốn đáp ứng nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng trong giai đoạn tới, bên cạnh các nguồn vốn Nhà nước, Chính phủ cần khuyến khích đầu tư tư nhân, tăng cường và phát triển hình thức hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển cơ sở hạ tầng. Đây là nguồn vốn chủ yếu trong giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Nhà nước cần rà soát, sửa đổi, ban hành các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống chính sách thu hút đầu tư theo hình thức PPP, nhằm tạo sự đột phá trong thu hút vốn tư nhân tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.

Thứ hai, cần tập trung, ưu tiên phát triển hệ thống cảng biển và cảng hàng

không hiện đại nhằm phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu

Việt Nam mặc dù có lợi thế bờ biển dài, vị trí địa lý thuận lợi, tuy nhiên hệ thống cảng biển còn kém phát triển. Số lượng cảng biển nhiều song đều có quy mô nhỏ và chưa được chú trọng đầu tư, số lượng cảng nước sâu còn ít, phần lớn hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam đều phải quá cảng ở Singapore, làm tăng chi phí cho hoạt động xuất nhập khẩu. Hệ thống cảng hàng không của Việt Nam chưa phát triển, quy mô còn rất nhỏ so với các nước trong khu vực và trên thế giới, hàng hoá phải quá cảnh qua các cảng hàng không của các nước khác, cũng làm tăng chi phí cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Do đó, phát triển hệ thống cảng biển và hàng không không những góp phần giảm chi phí cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn là điều kiện để tăng cường thu hút nguồn vốn FDI cho Việt Nam.

Thứ ba, cần chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng khu vực nông nghiệp

Để nhanh chóng xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay, đó là vốn đầu tư từ Nhà nước. Trong khi yêu cầu phải tăng tỷ lệ đầu tư cho phát triển hạ tầng nông thôn nhưng hiện nay vốn đầu tư cho khu vực này mới chỉ đáp ứng được khoảng 55-60%. Do đó, cần nhanh có cơ chế chính sách khuyến khích hơn nữa các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nông thôn. Cùng với việc tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tầng nông thôn, cần nâng cao ý thức của người dân cũng như đào tạo các kỹ năng xác định các cơ sở hạ tầng cần thiết và kỹ năng giám sát chất lượng các dự án phát triển kết cấu hạ tầng quy mô nhỏ tại địa phương để góp phần nâng cao được hiệu quả vốn đầu tư. Đổi mới cơ chế, chính sách để huy động mạnh nguồn lực đất đai vào phát triển hạ tầng. Nhà nước có thể thực hiện chính sách giao đất không thu tiền đối với diện tích xây dựng cơ sở hạ tầng do nhà đầu tư trúng thầu. Mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm theo hướng Nhà nước đầu tư vốn, người dân đóng góp vốn hoặc nhân công. Khuyến khích, vinh danh các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhiều đóng góp cho xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng khu vực nông nghiệp.

157

4.4.3. Giải pháp giải quyết các nguyên nhân gây ra các tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam

4.4.3.1. Nâng cao năng lực tài chính cho các DN xuất khẩu nội địa, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa

Nâng cao năng lực tài chính cho các DN nhỏ và vừa (SMEs) là rất cần thiết và là yêu cầu cấp bách hiện nay để có thể tăng cường tác động lan toả tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu của các DN nội địa nói riêng và Việt Nam nói chung. Để tăng cường năng lực tài chính cho các SMEs phải xuất phát cả từ sự hỗ trợ của Nhà nước và sự nỗ lực của chính bản thân các DN.

Thứ nhất, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách hỗ trợ tài chính cho các DN

xuất khẩu nội địa, đặc biệt là các SMEs

Chính sách hỗ trợ vốn của Nhà nước cần phải được triển khai một cách cụ thể, rõ ràng, có hướng dẫn triển khai và minh bạch hoá các điều kiện tiếp cận các nguồn vốn để từ đó các doanh nghiệp có phương án tiếp cận các nguồn vốn và hoạch định kế hoạch tài chính cho DN một cách chính xác và hiệu quả hơn. Các DN Việt Nam nói chung đặc biệt là các SMEs hiện rất khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại. Việc tiếp cận nguồn tài thính của các NHTM gặp 4 rào cản chủ yếu: (1) lãi suất vay cao; (2) thiếu tài sản thế chấp; (3) vướng mắc về thủ tục hành chính; (4) khó khăn về lập phương án kinh doanh. Trong đó, lãi suất vay cao và thiếu tài sản thế chấp chính là hai rào cản chính khiến cho các SMEs của Việt Nam không tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại [76]. Để rỡ bỏ được những rào cản này, giúp các SMEs có thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng cho đầu tư phát triển, cần phải có “bàn tay” điều tiết của Nhà nước. Cụ thể:

Một là, Ngân hàng Nhà nước cần xem xét cắt giảm lãi suất vay vốn đối với SMEs, đặc biệt là các DN CNHT và các DN sản xuất xuất khẩu. Chính sách tín dụng với những ưu đãi hợp lý sẽ giúp các doanh nghiệp có được nguồn vốn để đầu tư đổi mới công nghệ, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… từ đó có thể nâng cao được khả năng sản xuất sản phẩm CNHT, giảm nhập khẩu, nâng cao được khả năng sản xuất hàng hoá xuất khẩu, tiếp cận được với các thị trường xuất khẩu, đồng thời nâng cao khả năng hấp thụ những tác động lan toả tích cực từ nguồn vốn FDI.

Hai là, Ngân hàng Nhà nước cũng cần linh hoạt hơn trong việc áp dụng các hình thức cho vay tín chấp không cần tài sản thế chấp. Hiện nay, để giảm thiểu rủi ro, hầu hết các ngân hàng thương mại đều yêu cầu tài sản thế chấp khi cấp tín dụng cho các DN. Đây là một rào cản rất lớn khiến cho các DN, đặc biệt là các SMEs khó có thể tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng. Bởi các SMEs là những DN nhỏ, thậm chí mới thành lập thường không có tài sản thế chấp, hoặc tài sản thế chấp không đủ đáp ứng

158

yêu cầu của ngân hàng. Trong khi đó, họ có thể là những DN giỏi và năng động, có những dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh rất khả thi. Theo tác giả, để phá bỏ rào cản về tài sản thế chấp, không bỏ sót những dự án khả thi, các ngân hàng nên củng cố chất lượng khâu thẩm định dự án vay vốn, sẵn sàng cấp tín dụng mà không cần tài sản thế chấp đối với những dự án khả thi.

Ba là, Nhà nước nên xem xét thành lập các Quỹ hỗ trợ SMEs, Quỹ đầu tư đổi mới công nghệ cho SMEs, Quỹ đầu tư mạo hiểm cho SMEs. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tài chính, thị trường chứng khoán của Việt Nam để bản thân các DN có thể chủ động huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Hình thức huy động có thể thực hiện thông qua thị trường chứng khoán, thông qua cổ phần hoá DN, thông qua hình thức mua lại và sáp nhập (M&A). Để có thể huy động vốn thông qua các hình thức này, các DN cần phải chủ động và quyết tâm trong việc đổi mới và sang tạo để nâng cao hiệu quả kinh doanh, hoàn thiện công tác quản lý và vận hành, minh bạch hoá tài chính, phát triển các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, hợp lý hoá sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Thứ hai, các DN nội địa cần đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn

Đa dạng hóa hình thức huy động vốn là phương thức tài trợ vốn rất linh hoạt cho các DN. Nếu không đủ điều kiện vay vốn ở hình thức này thì có thể chuyển sang vay vốn ở hình thức khác. Vì vậy, nhu cầu vốn dễ dàng được đáp ứng kịp thời. Hiện nay, DN có thể huy động vốn thông qua nhiều kênh như phát hành trái phiếu, cổ phần hoá, mua lại và sáp nhập (M&A), vay vốn và góp vốn của công nhân viên, mua chịu hàng hóa giữa các doanh nghiệp, tín dụng thuê mua, tín dụng trả góp… Bên cạnh đó, DN có thể huy động vốn từ các quỹ như quỹ đầu tư đổi mới công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm trong và ngoài nước, chương trình hỗ trợ DN CNHT, chương trình hỗ trợ DN phát triển KHCN…

4.4.3.2. Nâng cao năng lực công nghệ trong nước, phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ của các DN nội địa

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề rất quan trọng, luôn được đặt ra đối với các DN. Nếu DN nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn điều đó cũng tương đương với việc tiết kiệm được một lượng vốn đáng kể mà lẽ ra phải huy động thêm nếu như không nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn. Bên cạnh đó, để có thể huy động được các nguồn vốn từ bên ngoài, các DN cần phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, hoàn thiện công tác quản lý vận hành DN, tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, tạo được niềm tin đối với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ chính là cách thức để quốc gia đó phát triển một cách bền vững.

159

Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ chính là tiền đề để Việt Nam có thể phát triển và nâng cao trình độ công nghệ trong nước. Công nghệ phát triển sẽ tạo ra cho quốc gia những lợi thế cạnh tranh trên thị trường, giảm nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài và nâng cao được khả năng hấp thụ công nghệ tiên tiến hiện đại từ các đối tác đầu tư nước ngoài. Đồng thời, công nghệ phát triển cũng là điều kiện cần giúp Việt Nam có thể thu hút được dòng FDI thế hệ mới với các yêu cầu cao về CGCN và hoạt động R&D của các nhà đầu tư nước ngoài.

Hiện nay, hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ ở Việt Nam còn rất hạn chế, non trẻ và rất manh mún. Nguyên nhân chính là do thiếu vốn đầu tư, mối liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu và các cơ sở ứng dụng còn lỏng lẻo, các DN chưa chú trọng đầu tư cho hoạt động R&D, vẫn chỉ coi đây là hoạt động thêm thắt của DN. Do đó, để tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nước, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, Nhà nước cần tăng cường vốn cho hoạt động nghiên cứu khoa học thông qua việc thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm ở một số địa bàn trọng điểm như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Bình Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai... và trong một số lĩnh vực ưu tiên như công nghệ thông tin, vật liệu mới, cơ khí chế tạo và công nghệ sinh học. Bên cạnh đó, Nhà nước cần khuyến khích, hỗ trợ DN đổi mới công nghệ, thúc đẩy hình thành quỹ phát triển khoa học công nghệ của DN, tăng cường liên kết giữa DN và các tổ chức khoa học công nghệ trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.

Hai là, cần thiết lập mạng lưới kết nối giữa các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về KHCN với các cơ sở thực hành và các DN. Việc kết nối này sẽ đảm bảo được tính ứng dụng của nghiên cứu, đảm bảo đầu ra cho các kết quả nghiên cứu, đồng thời cũng giúp các DN nâng cao được trình độ công nghệ bằng việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó. Mặt khác, DN cũng có thể hỗ trợ các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về mặt tài chính để thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ. Giải pháp này sẽ cùng một giải quyết được hai vấn đề: (i) giúp DN giải quyết được vấn đề muốn phát triển KHCN nhưng thiếu chuyên gia và (ii) giúp các viện, các trung tâm, các trường đại học, các cơ sở đào tạo về KHCN khắc phục được sự hạn chế về mặt tài chính và tính ứng dụng của các công trình nghiên cứu khoa học.

Ba là, thúc đẩy hoạt động R&D của các DN trong nước. Thúc đẩy hoạt động R&D của các DN trong nước cũng là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao trình độ công nghệ Việt Nam. Hiện nay, hoạt động R&D ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, hoạt động R&D vẫn chỉ là hoạt động phụ, thêm thắt của các DN, thậm chí hầu hết các SMEs của Việt Nam gần như không quan tâm đến hoạt động này. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn, do quy mô và trình độ nguồn nhân lực của DN còn rất hạn chế nên không thể tự thực hiện hoạt động R&D và do tâm lý ỷ lại, trông chờ vào đầu tư và

160

thực hiện hoạt động R&D của Nhà nước. Do vậy, để tăng cường hoạt động R&D của các DN trong nước, theo tác giả cần thực hiện một số giải pháp sau: (1) Nhà nước tăng cường vốn đầu tư và đầu tư có trọng tâm trọng điểm cho hoạt động R&D của các DN, đặc biệt là các SMEs; (2) hỗ trợ về chuyên gia và đào tạo cho các DN trong việc thực hiện hoạt động R&D; (3) các DN cũng phải chủ động, phải nhìn nhận lại vai trò của hoạt R&D nếu không muốn chỉ là “nhà gia công” của thế giới.

Bốn là, Nhà nước cần phải siết chặt công tác quản lý Nhà nước về CGCN, ban hành những quy định thật rõ ràng về CGCN thông qua hoạt động FDI. Thực tế hiện nay cho thấy công tác quản lý Nhà nước về CGCN mới chỉ dừng lại quản lý "phần ngọn". Vì vậy, cơ quan quản lý về công nghệ không nắm được luồng công nghệ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngay từ khâu đầu vào để góp phần hạn chế việc nhập khẩu, sử dụng công nghệ lạc hậu. Công tác thẩm định và thẩm tra công nghệ đối với các công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài vào trong nước cần phải được chú trọng và thực hiện nghiêm ngặt. Công tác quản lý Nhà nước về CGCN cần phải được siết chặt trong Luật CGCN, tránh việc các nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng để chuyển giá hoặc mang công nghệ lạc hậu vào Việt Nam. Từ đó có thể tăng cường tác động lan toả tích cực về công nghệ của dòng vốn FDI tới tới phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và xuất nhập khẩu của Việt Nam nói riêng.

Năm là, cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hội nhập quốc tế về KHCN nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, làm chủ công nghệ tiên tiến, sáng tạo công nghệ mới, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam cần tăng cường các phiên họp thường kỳ của các uỷ ban, các tiểu ban hợp tác KHCN; duy trì và đẩy mạnh sự tham gia có chiều sâu hơn của Việt Nam về hợp tác công nghệ với các nước trong khu vực và trên thế giới; tăng cường các đoàn của Bộ, của các DN KHCN và các địa phương tham gia các khoá học đào tạo về KHCN tại các nước có trình độ KHCN tiên tiến của thế giới.

Tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam rất cần thiết phải tăng cường sự tham gia sâu hơn của các DN nội địa vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI. Tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI không chỉ giúp tăng tỷ lệ nội địa hoá và gia tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam mà còn giúp Việt Nam giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ bên ngoài, tăng xuất khẩu và mở rộng hơn nữa phạm vi thị trường xuất khẩu cho các DN Việt Nam.

4.4.4. Giải pháp tăng cường sự tham gia sâu hơn của các DN nội địa Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI

Việt Nam hiện đã trở thành điểm sản xuất một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao như điện thoại di động, máy tính bảng... Tính từ năm 2015 đến nay, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu điện tử lớn 12 thế giới và lớn thứ 3 trong khối ASEAN. Tuy nhiên,

161

điều đáng buồn là tỷ lệ nội địa trong các mặt hàng này còn rất thấp. Hầu hết các DN trong nước mới chỉ tham gia được khâu gia công, linh kiện thiết bị đang phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Các DN nội địa Việt Nam chưa tận dụng được cơ hội để có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của DN FDI. Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu các DN Việt Nam cũng chỉ tham gia ở các khâu đơn giản như gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị và thiếu bền vững. Tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI không chỉ giúp tăng tỷ lệ nội địa hoá và gia tăng VA cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam mà còn giúp Việt Nam giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ bên ngoài, tăng xuất khẩu và mở rộng hơn nữa phạm vi thị trường xuất khẩu cho các DN Việt Nam. Để tăng cường sự tham gia của các DN nội địa Việt Nam vào chuỗi cung ứng của các DN FDI, theo tác giả luận án, cần phải thực hiện các giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, các DN Việt Nam cần cải thiện để tăng tính cạnh tranh toàn cầu như đạt các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng và theo lĩnh vực, tăng cường năng lực thương mại, quản trị, kết nối. Đồng thời, tìm kiếm các cơ hội từ thị trường toàn cầu và các cơ hội từ thị trường trong nước. Muốn thế, các DN phải thúc đẩy quá trình đổi mới và sáng tạo công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện và đổi mới về mẫu mã sản phẩm… Bên cạnh đó, các DN Việt Nam cũng cần phải nghiên cứu lựa chọn sản phẩm tham gia phát triển chuỗi giá trị phù hợp với năng lực cạnh tranh của Việt Nam, dung lượng thị trường lớn, có tiềm năng và có sự cam kết với định hướng của các công ty đầu chuỗi cung ứng.

Thứ hai, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa, hỗ trợ DN để DN có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng của các DN FDI. Hỗ trợ tài chính cho các DN nội địa có khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng. Kết nối các DN Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của các MNCs và các DN đối tác toàn cầu. Tăng cường triển khải nhiều hoạt động ở thượng nguồn và hạ nguồn để kết nối các DN trong nước với chuỗi giá trị. Triển khai các hoạt động dự báo, cung cấp thông tin về công nghệ, tiêu chuẩn của các thị trường để giúp các DN trong nước có thể đánh giá chính xác thông tin, cơ hội thị trường, sự cạnh tranh của các đối thủ để cải thiện quy trình sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm để có thể từng bước tham gia và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần phải tăng cường các hoạt động truyền thông, quảng bá nâng cao nhận thức của DN về tầm quan trọng của việc tận dụng cơ hội xuất khẩu thông qua kênh phân phối hiện đại, chia sẻ những kinh nghiệm thành công, khuyến khích các DN Việt Nam cùng phối hợp xây dựng các chuỗi cung ứng sản xuất hàng xuất khẩu đưa vào các chuỗi phân phối nước ngoài, thông qua đó tạo thêm giá trị gia tăng cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

162

4.4.5. Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập về đầu tư và thương mại

Kết quả ước lượng cho thấy việc gia nhập WTO làm tăng mức độ tác động tích cực của FDI tới cả KNXK và KNNK ở Việt Nam. Đối với xuất khẩu, ở giai đoạn sau gia nhập WTO, FDI có tác động mạnh hơn tới KNXK so với giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO. Đối với nhập khẩu, ở giai đoạn trước WTO, FDI có tác động làm tăng KNNK, ngược lại ở giai đoạn sau WTO, FDI có tác động làm giảm KNNK. Sự thay đổi mức độ tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam trong hai giai đoạn trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO đều là tích cực. Kết quả này cho thấy, hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Do đó, để tăng cường hơn nữa tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu, Việt Nam cần tăng cường và nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập về đầu tư và thương mại.

Mặc dù, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đạt được những kết quả tích cực, song trong bối cảnh thế giới diễn biến khó lường như hiện nay, Việt Nam cần chủ động triển khai hội nhập kinh tế quốc tế lên mức toàn diện, sâu rộng, đổi mới sáng tạo và hiệu quả hơn. Theo tác giả luận án, Việt Nam cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện, đồng bộ trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng; điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh các chính sách hội nhập quốc tế cho phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và các cam kết quốc tế. Đẩy mạnh nâng cao năng lực thực thi hội nhập quốc tế qua việc kiện toàn, củng cố và phát triển bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách, nguồn nhân lực chất lượng cao, giỏi ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của công tác hội nhập trong giai đoạn mới.

Hai là, chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia qua việc đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng cho mọi tổ chức, DN, người dân tham gia phát triển sản xuất kinh doanh; Thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu của hội nhập. Để có được điều này cần có những chính sách củng cố quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn; thực hiện hiệu quả cải cách hành chính công nhằm tăng tính minh bạch, giảm quan liêu và hạ chi phí giao dịch vốn có ảnh hưởng không nhỏ đến các DN nhỏ và vừa.

Ba là, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác có tầm ảnh hưởng chiến lược quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của Việt Nam, đưa các khuôn khổ quan hệ đã được xác lập đi vào thực chất có chiều sâu, tạo sự đan xen gắn kết lợi ích giữa Việt Nam với các đối tác một cách bình đẳng. Chủ động trong việc lựa

163

chọn đối tác và xây dựng phương án đàm phán với từng đối tác trên cơ sở cùng có lợi. Bên cạnh đó, thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký thỏa thuận. Xây dựng và triển khai chiến lược hội nhập trên mọi lĩnh vực theo kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích quốc gia và khả năng của đất nước. Chủ động và tích cực tham gia các thể chế đa phương, góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế thế giới theo hướng công bằng, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi.

Bốn là, nhận diện các động thái, xu hướng phát triển lớn của thế giới, từ đó có điều chỉnh đúng đắn, kịp thời trong chiến lược phát triển, tận dụng triệt để những cơ hội mới mở ra. Thực hiện và khai thác hiệu quả các FTA đã có hiệu lực. Tiến hành rà soát, hoàn thiện cơ chế điều phối thực thi cam kết FTA đối với các lĩnh vực cụ thể theo hướng thiết thực và hiệu quả hơn; bảo đảm lợi ích quốc gia và việc thực thi nghiêm túc các FTA; đánh giá kịp thời các vấn đề phát sinh và kiến nghị giải pháp tháo gỡ. Xây dựng và thực thi nghiêm túc các cam kết trong hội nhập tài chính về thuế, hải quan, dịch vụ bảo hiểm, chứng khoán, kế toán - kiểm toán và các dịch vụ khác. Nghiên cứu kỹ xu hướng bảo hộ và nguy cơ chiến tranh thương mại tác động đến kinh tế Việt Nam, xu hướng chuyển dịch trọng tâm hợp tác trong các khuôn khổ khu vực và thế giới như ASEAN, APEC, ASEM, WTO, tác động của tình hình kinh tế, chính trị thế giới tới tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

4.5. Tiểu kết chương 4

Trong chương 4 của luận án, tác giả đã nghiên cứu bối cảnh quốc tế về xu hướng chuyển dịch của dòng vốn FDI thế giới, Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới của Việt Nam cũng như định hướng phát triển hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam đến năm 2030.

Trên cơ sở định hướng, chiến lược thu hút FDI thế hệ mới và định hướng phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2030 và trên cơ sở những tác động tiêu cực và một số tác động tích cực chưa được như kỳ vọng của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam và nguyên nhân của chúng đã được chỉ ra ở chương 3, tác giả luận án đã đưa ra 5 quan điểm và đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

Cụ thể 5 nhóm giải pháp bao bồm: (1) Giải pháp điều chỉnh chính sách thu hút FDI nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu theo hướng tích cực; (2) Giải pháp tạo lập các điều kiện thuận lợi để phát huy được tối đa những tác động lan toả tích cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa; (3) Giải pháp giải quyết các nguyên nhân gây ra các tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (4) Giải pháp tăng cường sự tham gia sâu hơn của các DN nội địa Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI; (5) Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập về đầu tư và thương mại.

164

KẾT LUẬN

Luận án “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam” đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư, phân tích thực trạng và đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Qua một quá trình nghiên cứu, luận án cũng đã đạt được mục tiêu đề ra ban đầu và thu được một số kết quả cụ thể.

Thứ nhất, luận án đã tiến hành tổng quan các nghiên cứu liên quan tới đề tài ở trong nước và nước ngoài, từ đó, chỉ ra khoảng trống cho đề tài của luận án về nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bối cảnh nghiên cứu

Thứ hai, luận án đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trên ba khía cạnh: (1) tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (2) tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (3) tác động của FDI tới thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam thông qua

cả kênh tác động trực tiếp và kênh tác động gián tiếp.

Đối với xuất khẩu, FDI có thể tác động trực tiếp tới xuất khẩu ở nước nhận đầu tư thông qua hoạt động xuất khẩu của chính các DN FDI. Bên cạnh kênh tác động trực tiếp, FDI còn có tác động gián tiếp tới xuất khẩu của nước nhận đầu tư thông qua các

kênh tác động tràn như: (i) kênh tạo áp lực cạnh tranh đối với các DN xuất khẩu nội địa; (ii) kênh CGCN và hoạt động R&D; (iii) kênh chuyển giao tri thức và di chuyển lao động; (iv) kênh thông tin về thị trường xuất khẩu cho các DN xuất khẩu nội địa.

Đối với nhập khẩu, FDI tác động trực tiếp tới nhập khẩu ở Việt Nam thông qua hoạt động nhập khẩu của các DN FDI. FDI cũng có thể trực tiếp tác động làm giảm nhập khẩu ở Việt Nam nhờ (i) thay thế hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam bằng hàng hoá được sản xuất bởi các DN FDI. Mặt khác, FDI có thể làm cho xuất khẩu tăng nhưng kéo theo là sự gia tăng nhập khẩu của chính các DN FDI thông qua các kênh: (ii) DN FDI nhập khẩu thiết bị, công nghệ, đầu vào sản xuất mà trong nước chưa đáp ứng được; (iii) DN FDI nhập khẩu sản phẩm CNHT trong nước chưa sản xuất được. Khi những tác

động lan toả tích của của FDI phát huy đủ mạnh, FDI cũng có thể làm giảm nhập khẩu của Việt Nam thông qua các kênh tác động gián tiếp như: (i) tác động tràn thông qua các liên kết ngược giữa DN FDI và DN trong nước làm tăng khả năng cung cấp đầu vào sản xuất của các nhà cung cấp trong nước; (ii) sự có mặt của các DN FDI sẽ tạo điều kiện hu

hút thêm DN FDI vệ tinh, phát triển ngành CNHT trong nước, từ đó có thể giảm nhập khẩu các sản phẩm CNHT, góp phần làm giảm nhập khẩu, thay đổi cơ cấu hàng nhập khẩu đồng thời nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu ở Việt Nam.

165

Thứ ba, trên cơ sở lý luận về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nươc nhận đầu tư, luận án đã đề xuất khung nghiên cứu về tác động này ở Việt Nam. Thêm vào đó, kế thừa mô hình trọng lực, luận án đã đề xuất mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK và KNNK ở Việt Nam. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình là mới chỉ lượng hoá được tác động của FDI tới KNXK và KNNK mà chưa lượng hoá được tác động của FDI tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu và thị trường xuất nhập khẩu. Tác giả luận án kỳ vọng sẽ khắc phục được hạn chế này ở các nghiên cứu mà tác giả sẽ thực hiện tiếp theo.

Thứ tư, luận án đã trả lời được câu hỏi nghiên cứu của đề tài trên cơ sở phân tích và đánh giá tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988- 2018. Bên cạnh đó, luận án cũng đã chỉ ra những tác động tích cực, những tác động tích cực chưa được như kỳ vọng và những tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam, đồng thời phân tích những nguyên nhân của những tác động này.

Thứ năm, trên cơ sở nghiên cứu xu hướng dịch chuyển của dòng FDI thế giới, chiến lược thu hút FDI thế hệ mới của Việt Nam, định hướng phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2030, đồng thời trên cơ sở những tác động tiêu cực và một số tác động tích cực chưa được như kỳ vọng của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam và nguyên nhân của chúng, luận án đã đề xuất 5 quan điểm và 5 nhóm giải pháp nhằm tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian tới. Cụ thể 5 nhóm giải pháp bao bồm: (1) Giải pháp điều chỉnh chính sách thu hút FDI nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu theo hướng tích cực; (2) Giải pháp tạo lập các điều kiện thuận lợi để phát huy được tối đa những tác động lan toả tích cực của FDI tới các DN xuất khẩu nội địa; (3) Giải pháp giải quyết các nguyên nhân gây ra các tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam; (4) Giải pháp tăng cường sự tham gia sâu hơn của các DN nội địa Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN FDI; (5) Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập về đầu tư và thương mại.

Với sự đầu tư về mặt thời gian, sự nghiêm túc học hỏi trong quá trình nghiên cứu dưới sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn, tác giả hy vọng rằng các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp thêm các minh chứng và luận điểm khoa học về tác động của FDI tới hoạt động xuất nhập khẩu ở các nước tiếp nhận đầu tư nói chung và Việt Nam nói riêng. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý về FDI và xuất nhập khẩu vận dụng để phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trên cơ sở tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới.

166

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

1. Nguyễn Thị Thương (2013), “Tăng cường thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt

Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 23, tr 39-41.

2. Nguyễn Thị Thương, Nguyễn Duy Tuấn (2014), “Mối quan hệ giữa FDI và đầu tư trong nước: Nhìn từ phân tích định lượng”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số chuyên đề tháng 3/2014, tr 9-11.

3. Nguyễn Thị Thương (2014), “Vai trò của lợi ích nhóm trong việc hoạch định chính sách công”, Kỷ yếu Hội thảo “Lợi ích nhóm và nhóm lợi ích trong cơ chế thị trường: nghiên cứu kinh nghiệm tại các quốc gia phát triển”, tr 28-30.

4. Nguyễn Thị Thương (2016), “Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút FDI trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế: Phân tích trường hợp Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 223 (II), tr 68-75.

5. Nguyễn Thị Thương (2016), “Thu hút FDI của Nhật Bản vào Hà Nội thông qua hoạt động xúc tiến đầu tư”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia “Mối quan hệ giữa kiều hối và hoạt động đầu tư”, tr 401-413.

6. Nguyễn Thị Thương (2017), “Đánh giá tác động của FDI tới nhập khẩu của Việt

Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 36, tr 3-7.

7. Nguyễn Thị Thương (2017), Chủ nhiệm Đề tài “The relation between foreign direct investment and export at Vietnam”, Đề tài cấp cở sở, Mã số: KTQD/E2016.14, Chủ nhiệm.

8. Nguyễn Thị Thương (2018), “Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư ra nước ngoài: Nghiên cứu trường hợp của Viettel”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 30 tháng 10/2018, tr 108-111.

9. Nguyễn Thị Thương (2018), “Xuất khẩu nông sản Việt Nam đứng trước hội nhập

kinh tế quốc tế”, Tạp chí Thông tin và Truyền thông, số 345, tr 22-26.

10. Nguyễn Thị Thương (2019), “Việt làm và thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp FDI tại Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia “Thực trạng phát triển khu vực FDI trong thực hiện Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”, tr 192-201.

167

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Aitken & Hansen & Harrison (1997), “Spillovers, foreign investment and export

behavior”, Journal of International Economics, 16, 143-182.

2. Aitken & Harrison (1999), “Do domestic firms benefit from direct foreign

investment? Evidence from Venezuela”, American Economic Review, 43, 103-132.

3. Aizenman & Noy (2006), “FDI and trade - Two-way linkages?”, The Quarterly

Review of Economics and Finance, 46(3), 317-337.

4. Alvarez & Lopez (2008), “Is Exporting a Source of Productivity Spillovers?”,

Review of World Economics, 144(4), 723-749.

5. Barrios & Gorg & Stobl (2003), “Explaining firms’ export behaviour: R&D, spillovers and the destination market”, Oxford Bulletin of Economics & Statistics, 65(4), 475-496.

6. Belderbos & Sleuwaegen (1998), “Tariff jumping DFI and export substitution: Japanese electronics firms in Europe”, International Journal of Industrial Organization, 16(5), 601-638.

7. Bernard & Jensen (2004), “Why Some Firms Export”, The Review of Economics

and Statistics, 86(2), 561-569.

8. Bin Xu & Jiangyong Lu (2006), The impact of foreign Firms on the sophistication of Chinese exports, truy cập ngày 26/7/2019, tại địa chỉ: www.econ.hit-u.ac.jp, wakame.econ.hit-u.ac.jp.

9. Bin Xu & Jiangyong Lu (2009). “Foreign Direct Investment, Processing Trade, and China’s Export Sophistication”, China Economic Review, Elsevier, 20(3), 425-439.

10. Blomstrom & Globerman & Kokko (1999), “The determinants of host country spillovers from foreign direct investment: a review and synthesis of the literature”, Inward Investment Technological Change and Growth, 34-65.

11. Blomstrom & Kokko (1998), “Multinational corporations and spillovers”,

Journal of Economic Surveys, 12, 1-31.

12. Blomstrom & Kokko (2003), “The Economics of Foreign Direct Investment

Incentives”, NBER Working Paper, No. 9489, 1-26.

13. Bộ Công Thương (2018), Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2017, Hà Nội.

14. Bộ Công Thương (2019), Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2018, Hà Nội.

168

30/7/2019, ngoài, truy cập địa tại

15. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ (2018), Hội thảo chuyên đề về thu hút và chuyển giao công nghệ trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước chỉ: ngày http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thoi-su/2018-06-25/30-nam-don-von-fdi- chuyen-giao-cong-nghe-khong-nhu-ky-vong-59108.aspx.

16. Buckley & Clegg & Wang (2007), “The impact of foreign ownership, local ownership and industry characteristics on spillovers benefits from foreign direct investment in China”, International Business Review, 16, 142-158.

17. Bùi Thuý Vân (2011), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu ở cùng Đồng bằng Bắc bộ, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân.

18. Bwalya (2006), “Foreign direct investment and technology spillovers: Evidence from panel data analysis of manufacturing firms in Zambia”, Journal of Development Economics, 81(2), 514-526.

19. Chani & Azam & Younas (2014), “The causal relationship between foreign direct investment, imports and exports in Pakistan”, Bulletin of Business and Economics, 3(3), 142-149.

20. CIEM (2008), Chính sách huy động các nguồn vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ

của doanh nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

21. CIEM (2011), Báo cáo kết quả khảo sát về đổi mới công nghệ tại các doanh

nghiệp công nghiệp Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

22. CIEM (2013), Đánh giá tổng thể tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam sau 5 năm

gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

23. Clare (1996), “Multinationals, Linkages, and Economic Development”, American

Economic Review, 86(4), 852-873.

24. Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), Báo cáo đánh giá thực

trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và định hướng đến năm 2020.

25. Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Công nghiệp hỗ trợ tại

Việt Nam và vai trò của FDI, truy cập ngày 31/8/2019, tại địa chỉ: http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/2013/Cong-nghiep-ho-tro-tai-Viet-Nam-va-vai-tro- cua-FDI.

26. Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Công nghiệp điện tử hấp dẫn dòng vốn FDI, truy cập ngày 9/8/2019, tại địa chỉ: http://baochinhphu.vn/kinh- te/cong-nghiep-dien-tu-hap-dan-dong-von-fdi/241448.vgp.

169

27. Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Tác động của FDI đến nguồn nhân lực và việc làm của lao động Việt Nam, truy cập 30/7/2019, tại địa chỉ: http://www.ipcs.vn/vn/ta%EF%BF%BDc-do%EF%BF%BDng- cu%EF%BF%BDa-fdi-de%EF%BF%BDn-nguo%EF%BF%BDn-nhan- lu%EF%BF%BDc-va%EF%BF%BD-vie%EF%BF%BDc-la%EF%BF%BDm- cu%EF%BF%BDa-lao-do%EF%BF%BDng-vie%EF%BF%BDt-nam-W1815.htm.

28. Đào Văn Thanh (2013), Tác động tràn của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân.

29. Đặng Quý Dương (2014), Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân.

30. Djankov & Hoekman (2000), “Foreign Investment and Productivity Growth in

Czech Enterprises”, World Bank Economic Review, 14(1), 49-64.

31. Do & Levchenko (2004), “Trade and Financial Development”, World Bank Policy

Research Working Paper, 3347, Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=610391.

32. Drifield & Love (2007), “Linking FDI motivation and host economy productivity effects: Conceptual and empirical analysis”, Journal of International Business Studies, 38(3), 460-473.

33. Dunning (1979), “Towards an eclectic theory of international production: Some

empirical tests”, Journal of International Business Studies, 11(1), 9-31.

34. Eiteman & Stonehill & Moffet (1995), “Direct Investment Abroad and the ‘Hollowing Out’ of Manufacturing Industry”, The Economic Review, 52, 432-451. 35. Fosfuri & Motta & Ronde (2001), “Foreign direct investment and spillovers through workers' mobility”, Journal of International Economics, 53, 205-222 36. Franco & Rentocchini & Marzetti (2010), “Why do firms invest abroad? An analysis of the motives underlying foreign direct investment”, ICFAI Journal of International Business Law, 9, 42-65.

37. Fukakaku & Mello (2000), “Trade and foreign direct investment in Latin America and Southeast Asia: Temporal causality analysis”, Journal of International Development, 12(7), 903-924.

38. Fukao & Amano (1998), “Outward foreign direct investment and manufacturing

hollowing-out in Japanese”, The Keizai Kenkyu, 49(3), 256-276.

39. Glass & Saggi (2002), “Multinational Firms and Technology Transfer”,

Scandinavian Journal of Economics, 41, 320-340.

170

40. Gorg Holger & Eric Strobl (2001), “Multinational companies and productivity

spillovers: A meta - Analysis”, The Economic Journal, 111, 723-739.

41. Gorg & Greenaway (2004), “Much ado about nothing? Do domestic firms really benefit from foreign direct investment?”, World Bank Research Observer, 19, 171-197. 42. Greenaway & Kneller (2004), “Exporting and Productivity in the United Kingdom”,

Oxford Review of Economic Policy, 20(3), 358-371.

43. Greenaway & Sousa & Wakelin (2004), “Do domestic firms learn to export from

multinationals?”, European Journal of Political Economy, 20, 1027-1043.

44. Greenaway & Kneller (2008), “Exporting, productivity and agglomeration”,

European Economic Review, 52(5), 919-939.

45. Günther Jutta (2002), "The significance of FDI for innovation activities within domestic firms - The case of Central East European transition economies", IWH Discussion Papers 162, Halle Institute for Economic Research (IWH), 5-24.

46. Hamida (2011), “FDI and spillovers in the Swiss services/construction industry: Interaction effects between spillover mechanisms and domestic technological characteristics”, International Business Review, 7, 224-249.

47. Hamida & Gugler (2009), “Are there demonstration-related spillovers from FDI?: Evidence from Switzerland”, International Business Review, 2009, 18(5), 494-508.

48. Haskel & Pereira & Slaughter (2007), “Does inward foreign direct investment boost the productivity of domestic firms”, The Review of Economics and Statistics, 89, 482-496.

49. Hoàng Thọ Xuân & Doãn Công Khánh (2007), Nhập khẩu: thực tiễn và những vấn đề cấp bách đang đặt ra, truy cập ngày 25/7/2018, tại địa chỉ: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2007/2403/Nhap- khau-thuc-tien-va-nhung-van-de-cap-bach-dang-dat.aspx.

50. Hoekman & Djankov (1997), “Determinants of the Export Structure of Countries in Central and Eastern Europe, World Bank Economic Review, 11(3), 471-487. 51. Hội Doanh nhân Sài Gòn (2019), Doanh nghiệp Việt vang bóng một thời không thay đổi sẽ bị đào thải, truy cập ngày 25/7/2019, tại địa chỉ: http://ndh.vn/doanh- nghiep-viet-vang-bong-mot-thoi-khong-thay-doi-se-bi-thi-truong-dao-thai 20181222081420701p147c161.news.

52. IMF (1993), Balance of Payment, fifth edition, Washington, DC, 1993, page 235.

171

53. Javorcik (2004), “Does foreign direct investment increase the productivity of domestic firms? In search of spillovers through backward linkages”, American Economic Review, 94(3), 605-627.

54. Javorcik & Spatareanu (2008), “To share or not to share: Does local participation matter for spillovers from foreign direct investment?”, Journal of Development Economics, 85(1-2), 194-217.

55. Jayakumar & Kannan & Anbalagan (2014), “Impact of Foreign Direct Investment, Imports and Exports”, International Review of Research in Emerging Markets and the Global Economy (IRREM) An Online International Monthly Journal, 1(1), 51-58.

56. Karpaty & Lundberg (2004), “Foreign direct investment and productivity spillovers

in Swedish manufacturing”, Working Paper No. 2, Orebro University, Orebro.

57. Kaufmann (1997), “A Model of Spillovers Through Labor Recruitment”,

International Economic Journal, 11, 13-33.

58. Khan & Wang & Hassan (2018), “Foreign direct investment and imports-

exports: The case of Pakistan”, Research Article, Res J Econ, 2(3), 1-7.

59. Kneller & Pisu (2007), “Industrial Linkages and Export Spillovers from FDI”, The

World Economy, 30(1), 105-134.

60. Kokko, A. (1994), “Technology, Market characteristics, and spillovers”,

Journal of Development Economics, 43, 279-293.

61. Kokko, A. (1996), “Productivity spillovers from competition between local firms and foreign affiliates”, Journal of International Development, 8, 517-530.

62. Kokko & Tansini & Zejan (1996), “Local technological capability and productivity spillovers from FDI in the Uruguayan manufacturing sector”, The Journal of Development Studies, 32, 602-611.

63. Kokko & Zejan & Tansini (2001), “Trade regimes and spillover effects of FDI:

Evidence from Uruguay”, Review of World Economics, 137, 124-149.

64. Lan Hương (2018), FDI làm chậm nâng cao chất lượng nhân lực, Thời báo Ngân hàng, truy cập 30/7/2019, tại địa chỉ: http://thoibaonganhang.vn/fdi-lam-cham-

nang-cao-chat-luong-nhan-luc-81076.html.

65. Lane & Ferretti (2004), “International Investment Patterns”, IMF Working Paper,

4(134), 3-41.

172

66. Lê Quốc Hội (2008), “Lan toả công nghệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam: Ước lượng và kiểm định ở ngành công nghiệp chế biến”, Tạp chí Kinh tế

Phát triển, Số 135, trang 16-19, Đại học Kinh tế Quốc dân.

67. Lionel Fontagné (1999), “Foreign direct investment and trade: Complements or Substitutes?”, OECD Science, Technology and Industry Working Papers, 3, 3-26.

68. Liu & Wang & Wei (2001), “Causal links between foreign direct investment and

trade in China”, China Economic Review, 12(2-3), 190-202.

69. Quốc hội (2014), Luật Đầu tư 2014, số 67/2014/QH13.

70. Quốc hội (2005), Luật Thương mại 2005, số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005.

71. Lutz &Talavera & Park (2003), “The effects of regional and industry: Wide FDI spillovers on export of Ukrainian firms”, ZEW Discussion Papers, ZEW - Leibniz Centre for European Economic Research, 03-54.

72. Mayer & Adrian (2001), “South Asia's Export Structure in a Comparative

Perspective”, Oxford Development Studies, 29(1), 5-28.

73. Muhammad Albahi (2016), “Export-Import and Foreign Direct Investment (FDI): Indonesian Economic Study”, IOSR Journal of Economics and Finance

(IOSR-JEF), 7(4), 37-44.

74. Muhammad & Zhaohua & Sara & Nazeer & Khan & Khuram (2014), “Inter- Linkage between FDI, Imports and Exchange Rate: An Empirical Evidence

from Pakistan”, Developing Country Studies, 4(21), 122-129.

75. Nakamura (2002), “Foreign investment, technology transfer, and the technology

gap: A note”, Review of Development Economics, 6, 39-47.

76. Ngô Thị Mai Linh (2015), Giải pháp tài chính phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập, Luận án Tiến sĩ Kinh

tế, Hà Nội.

77. Nguyễn & Anwar (2011), “Foreign direct investment and export spillovers: Evidence

from Vietnam”, International Business Review, 20, 177-193.

78. Nguyễn Bích Ngọc (2017), Tác động lan toả của FDI tới xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân.

79. Nguyễn Khắc Minh (2009), Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng năng suất ở một số ngành công nghiệp chế tác Việt Nam 2000-2005 - Tiếp cận bán tham số, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

173

80. Nguyễn Quang A (2011), Đẩy mạnh sản xuất hàng thay thế nhập khẩu, Báo Lao động, truy cập ngày 31/8/2019, tại địa chỉ: http://www.bvsc.com.vn/News /2011723/164149/day-manh-san-xuat-hang-thay-the-nhap-khau.aspx.

81. Nguyễn Thanh Xuân & Yuqing Xing (2008), “Foreign direct investment and exports: The experiences of Vietnam”, Economics of Transition, 16(2), pp.183 - 197.

82. Nguyễn Thị Tuệ Anh & Lê Xuân Bá & Vũ Xuân Nguyệt Hồng &Trần Toàn Thắng & Nguyễn Mạnh Hải (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Dự án SIDA-CIEM về “Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001-2010”.

83. Nguyễn Thị Vi, Đinh Thiện Đức, Nguyễn Thị Thương (2019), “Việt làm và thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp FDI tại Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia “Thực trạng phát triển khu vực FDI trong thực hiện Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, trang192 - 201. 84. Nguyễn Thuỳ (2017), Công nghiệp điện tử Việt Nam: Doanh nghiệp FDI “độc diễn”, truy cập ngày 9/8/2019, tại địa chỉ: http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu- trao-doi/cong-nghiep-dien-tu-viet-nam-doanh-nghiep-fdi-doc-dien-132428.html.

85. Nhà đầu tư (2017), FDI với chuyển giao công nghệ, truy cập 30/7/2019, tại địa

chỉ: nhadautu.vn/fdi-voi-chuyen-giao-cong-nghe-d313.html.

86. OECD (2008), Benchmark Definition of FDI, page 56. 87. Penelope Pacheco (2005), “Foreign direct investment, exports and imports in

Mexico”, World Economy, 28(8), 1157-1172.

88. Pfaffermayr, M. (1996), “Foreign outward direct investment and exports in austrian manufacturing: Substitute or complements?”, Welwirtschaftliches Archiv, 132(3), 501-552.

89. Rose & Spiegel (2004), “A gravity model of sovereign lending: Trade, default,

and credit”, IMF Staff Papers, 51(1), 50-63.

90. Saggi (2002), “Trade, foreign direct investment, and international technology

transfer: A survey”, World Bank Research Observer, 17, 191-235.

91. Sajid Anwar & Nguyễn Phi Lân (2011), “Foreign direct investment and trade: The case of Vietnam”, Research in International Business and Finance, 25(1), 39-52.

92. Selma (2013), “The Effects of Foreign Direct Investments for Host Country’s

Economy”, European Journal of Interdisciplinary Studies, 5(1), 26-37.

174

93. Sinani & Meyer (2004), “Spillovers of technology transfer from FDI: the case

of Estonia”, Journal of Comparative Economics, 2004, 32, 445-466.

thu hút đầu tư FDI, 9/8/2019, ngày truy địa tại

94. Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội (2019), Chuyển giao công nghệ sau 30 năm chỉ: cập http://hittc.org.vn/2019/06/20/chuyen-giao-cong-nghe-sau-30-nam-thu-hut-dau-tu-fdi/.

95. Sun (2009), “How does FDI affect domestic firms’ exports? Industrial evidence”,

The World Economy, 32, 1203-1222.

96. Svensson (1998), “Investment, property rights and political instability: Theory

and evidence”, European Economic Review, 42(7), 1317-1341.

97. Swenson (2004), “Foreign investment and the mediation of trade flows”, Review

of International Economics, 12(4), 609-629.

98. Tabassum & Nazeer & Siddiqui (2012), “Impact of FDI on import demand and export supply functions of Pakistan: An econometric approach”, Journal of Basic & Applied Sciences, 8, 151-159.

99. Thanh Hương (2018), Doanh nghiệp FDI góp phần nâng cao chất lượng lao

động Việt Nam, truy cập ngày 31/8/2019, tại địa chỉ: https://baodautu.vn/doanh- nghiep-fdi-gop-phan-nang-cao-chat-luong-lao-dong-viet-nam-d90385.html.

100. Todo & Zhang & Zhou (2009), “Knowledge spillovers from FDI in China: The

role of educated labor in multinational enterprises”, Journal of Asian Economics,

20(6), 626-639.

101. Tổng cục Hải quan (2018), Xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2018 của Việt Nam:

Những nét nổi bật qua ghi nhận các con số thống kê của Tổng cục Hải Quan, truy cập ngày 10/7/2019, tại https://www.customs.gov.vn/Lists/ ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1560&Category.

102. Tổng cục Thống kê (2017), Tổng điều tra lao động việc làm năm 2017, truy cập ngày 30/7/2019, tại địa chỉ: http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/fdi-cu-

hich-tao-viec-lam-cai-thien-nguon-nhan-luc-144298.html.

103. Trần Thuỷ (2018), Công nghiệp hỗ trợ yếu kém, doanh nghiệp chỉ làm gia công,

Báo điện tử Vienamnet, truy cập ngày 31/8/2019, tại địa chỉ:

https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/cong-nghiep-ho-tro-yeu-kem-doanh- nghiep-chi-lam-gia-cong-545825.html.

104. Trịnh Minh Tâm (2016), Nghiên cứu tác động của FDI tới đổi mới công nghệ ở

Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân.

175

105. Tư Hoàng (2013), Thiếu vốn FDI, chúng ta đã không được như thế này, truy cập ngày 28/7/2019, tại địa chỉ: http://www.thesaigontimes.vn/home/kinhdoanh/dautu.

106. UN (1996), World Investment Report 1996, page 219.

107. UNDP (2007), Chiến lược công nghiệp của các doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.

108. UNIDO (2012), Báo cáo Đầu tư công nghiệp Việt Nam năm 2011.

109. UNIDO (2017), Báo cáo Đầu tư công nghiệp Việt Nam năm 2016.

110. VCCI (2011), Báo cáo điều tra cộng động doanh nghiệp về các vấn đề hội nhập.

111. Vũ Thị Ngọc Phùng (2006), “Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ

2001-2005”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 10.

112. Wagner (2007), “Exports and productivity: A survey of the evidence from firm-level

data”, The World Economy, 30, 60-82.

113. Wang & Blomstrom (1992), “Foreign investment and technology transfer: A

simple model”, European Economic Review, 36, 137-155.

114. World Bank (1997), “Vietnam: Deepening reform for further growth”, Washington, D.C.

115. WTO (1996), “Trade and foreign direct investment”, World Trade Organization, 57.

116. Zhang & Liu (2008), “The study of the use of FDI to enhance the product integrated circuits and micro-electronic components”,

competitiveness of International Business Research, 1(3), 48-53.

176

DANH MỤC PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1 Số liệu nghiên cứu của các đối tác

Country

Year

FDI

Import

Export

GDP

POP

GDPPC

RER

Distance

Malaysia

1995

4178.239335

190.5

110.6

128612.2437

20487607

0.006277563

4407.535392

1296.21

Malaysia

1996

5078.414948

200.3

77.7

141476.942

21017613

0.006731352

4385.069744

1296.21

Malaysia

1997

5136.514576

226.8

141.6

151836.9348

21562793

0.007041617

4153.052731

1296.21

Malaysia

1998

2163.401816

115.2

140662.624

22114654

0.006360607

3380.920529

1296.21

249

Malaysia

1999

3895.263158

256.5

149295.9472

22661298

0.006588146

3669.254386

1296.21

305

Malaysia

2000

3787.631579

388.9

413.9

162521.8782

23194257

0.007006988

3728.355263

1296.21

Malaysia

2001

553.9473684

464.4

337.2

163363.2138

23709119

0.006890311

3875.04386

1296.21

Malaysia

2002

3192.894737

683.3

347.8

172170.1056

24208391

0.007112001

4020.921053

1296.21

Malaysia

2003

3218.947368

925

453.8

182136.1709

24698819

0.007374287

4081.469298

1296.21

Malaysia

2004

4376.052632

1215.3

624.3

194491.2647

25190652

0.007720771

4143.684211

1296.21

Malaysia

2005

3924.786635

1256.5

1028.3

204861.8095

25690611

0.00797419

4187.624188

1296.21

Malaysia

2006

7690.731246

1482

1254

216303.0283

26201961

0.008255223

4360.272196

1296.21

Malaysia

2007

9071.369835

2289.9

1555

236695.3534

26720370

0.008858236

4685.03271

1296.21

Malaysia

2008

7572.512432

2596.1

2030.4

244552.6787

27236006

0.008979021

4887.009743

1296.21

Malaysia

2009

114.6644346

2561.3

1775.2

238375.7044

27735040

0.008594749

4841.84118

1296.21

Malaysia

2010

10885.61418

3413.4

2093.1

255016.6092

28208035

0.009040566

5778.458377

1296.21

Malaysia

2011

15119.37119

3919.7

2770.8

268516.9663

28650955

0.009372008

6702.526086

1296.21

Malaysia

2012

8895.774251

3412

4500.3

283214.1194

29068159

0.009743105

6743.069851

1296.21

Malaysia

2013

11296.2787

4095.9

4984.5

296507.4043

29468872

0.010061715

6643.612893

1296.21

Malaysia

2014

10619.43177

4203.6

3926.4

314317.7796

29866559

0.010524071

6461.627335

1296.21

Malaysia

2015

9857.162233

4188

3577.1

330121.6976

30270962

0.010905557

5555.643589

1296.21

Malaysia

2016

13515.79613

5171.3

3342

344052.3424

30684804

0.011212467

5287.707574

1296.21

Singapore

1995

11535.26766

1425.2

689.8

102240.6307

3524506

0.0290085

7787.811976

1497.13

Singapore

1996

9682.130955

2032.6

1290

109941.3275

3670704

0.02995102

7824.300596

1497.13

Singapore

1997

13752.70728

2128

1215.9

119056.6923

3796038

0.031363409

7868.593368

1497.13

Singapore

1998

7313.866999

1964

740.9

116407.4074

3927213

0.029641226

7927.812373

1497.13

Singapore

1999

16577.94595

1878.5

876.4

123502.6769

3958723

0.031197605

8226.267338

1497.13

Singapore

2000

15515.29518

2694.3

885.9

134491.3825

4027887

0.033390058

8218.127222

1497.13

Singapore

2001

17006.87467

2478.3

1043.7

133210.6344

4138012

0.03219194

8218.441565

1497.13

Singapore

2002

6157.249991

2533.5

961.1

138821.0488

4175950

0.033242986

8533.228836

1497.13

Singapore

2003

17051.42015

2875.8

1024.7

144978.2178

4114826

0.035233134

8902.383025

1497.13

Singapore

2004

24390.31413

3618.4

1485.3

158822.4422

4166664

0.038117411

9315.901106

1497.13

Singapore

2005

18090.32998

4482.3

1917

170716.905

4265762

0.04002026

9528.322812

1497.13

Singapore

2006

36923.89024

6273.9

1811.7

185842.7576

4401365

0.042223891

10066.02962

1497.13

Singapore

2007

47733.20977

7613.7

2234.4

202775.8709

4588599

0.044191238

10686.15698

1497.13

177

Country

Year

FDI

Import

Export

GDP

POP

GDPPC

RER

Distance

Singapore

2008

12200.70525

9378

2713.8

206400.7334

4839396

0.042650102

11522.15795

1497.13

Singapore

2009

23821.2097

7015.2

2075.6

205155.3355

4987573

0.0411333

11732.49275

1497.13

Singapore

2010

55075.86435

4101.1

2121.3

236421.7822

5076732

0.04656968

13650.75388

1497.13

Singapore

2011

49155.97534

6390.6

2149.3

251137.6604

5183688

0.048447681

16306.36298

1497.13

Singapore

2012

56236.64737

6691

2367.7

260860.3594

5312437

0.049103709

16666.7173

1497.13

Singapore

2013

64684.56805

5685.2

2691.5

273906.4906

5399162

0.050731297

16729.33483

1497.13

Singapore

2014

73986.66193

6834.7

2942

283691.1624

5469724

0.051865718

16690.73833

1497.13

Singapore

2015

70579.74651

6038.3

3177.7

289173.8907

5535002

0.052244586

15782.05772

1497.13

Singapore

2016

61596.84701

4762.8

2419.9

294946.6813

5607283

0.052600641

15877.13696

1497.13

Thailand

1995

2067.936429

439.8

101.3

210023.5084

59467274

0.003531749

443.0331992

808.89

Thailand

1996

2335.837475

494.5

107.4

221894.8225

60130186

0.00369024

435.3360453

808.89

Thailand

1997

3894.755071

575.2

235.3

215784.7475

60846582

0.003546374

372.5037861

808.89

Thailand

1998

7314.804931

673.5

295.4

199312.3147

61585103

0.003236372

320.7977874

808.89

Thailand

1999

6102.677671

561.8

312.7

208425.4684

62298571

0.00334559

368.7336323

808.89

Thailand

2000

3365.987583

810.9

372.3

217712.232

62952642

0.003458349

353.2065084

808.89

Thailand

2001

5067.170388

792.3

322.8

225210.772

63539196

0.003544438

331.4097904

808.89

Thailand

2002

3341.612007

955.2

227.3

239058.7117

64069087

0.003731265

355.6673734

808.89

Thailand

2003

5232.27034

1282.2

335.4

256245.4313

64549866

0.003969728

373.8634843

808.89

Thailand

2004

5860.255943

1858.6

518.1

272361.4459

64995299

0.004190479

391.4732627

808.89

Thailand

2005

8215.637195

2374.1

863

283767.4936

65416189

0.004337879

394.3029668

808.89

Thailand

2006

8917.470351

3034.4

930.2

297864.8267

65812536

0.004525959

422.2125834

808.89

Thailand

2007

8633.903441

3744.2

1030

314054.0558

66182067

0.004745304

466.5693476

808.89

Thailand

2008

8561.557725

4905.6

1288.5

319473.5858

66530984

0.004801877

489.3615969

808.89

Thailand

2009

6411.458545

4471.1

1314.2

317266.8752

66866839

0.004744757

497.7307285

808.89

Thailand

2010

14746.67292

5602.3

1182.8

341105.0095

67195028

0.005076343

587.4231508

808.89

Thailand

2011

2473.685996

6383.6

1938.3

343970.1534

67518382

0.005094467

672.633129

808.89

Thailand

2012

12899.03606

5791.9

2832.2

368883.7991

67835957

0.00543788

670.0749148

808.89

Thailand

2013

15935.96066

6283.4

3069.6

378963.4504

68144501

0.005561174

681.2939978

808.89

Thailand

2014

4975.45566

7053.3

3473.5

382429.1437

68438730

0.005587905

651.1117155

808.89

Thailand

2015

8927.579181

8275.5

3256.6

393677.2852

68714511

0.005729172

633.547857

808.89

Thailand

2016

3063.235324

8849.4

3690.7

406424.4799

68971331

0.005892658

621.4517965

808.89

Korea, Rep.

1995

2067.936429

1253.6

235.3

543606.436

45092991

0.012055231

14.31172261

3270.73

Korea, Rep.

1996

2335.837475

1781.4

558.3

584890.6762

45524681

0.012847771

13.71438575

3270.73

Korea, Rep.

1997

3894.755071

1564.5

417

619528.9868

45953580

0.013481626

12.2815793

3270.73

Korea, Rep.

1998

7314.804931

1420.9

229.1

585633.1976

46286503

0.012652353

9.467427473

3270.73

Korea, Rep.

1999

6102.677671

1485.8

319.9

651860.2392

46616677

0.013983413

11.72860968

3270.73

Korea, Rep.

2000

3365.987583

1753.6

352.6

710035.0241

47008111

0.015104522

12.52721698

3270.73

Korea, Rep.

2001

5067.170388

1886.8

406.1

742166.2871

47370164

0.015667378

11.40606386

3270.73

Korea, Rep.

2002

3341.612007

2279.6

468.7

797327.3037

47644736

0.016734846

12.21296658

3270.73

178

Country

Year

FDI

Import

Export

GDP

POP

GDPPC

RER

Distance

Korea, Rep.

2003

5232.27034

2625.4

492.1

820714.6509

47892330

0.017136662

13.01560838

3270.73

Korea, Rep.

2004

5860.255943

3359.4

608.1

860928.3593

48082519

0.017905226

13.7481328

3270.73

Korea, Rep.

2005

8215.637195

3594.1

663.6

894708.4107

48184561

0.018568363

15.48545901

3270.73

Korea, Rep.

2006

8917.470351

3908.4

842.9

941019.8943

48438292

0.01942719

16.7515803

3270.73

Korea, Rep.

2007

8633.903441

5340.4

1243.4

992431.5412

48683638

0.02038532

17.33118014

3270.73

Korea, Rep.

2008

8561.557725

7255.2

1793.5

1020509.644

49054708

0.020803501

14.79270388

3270.73

Korea, Rep.

2009

6411.458545

6707.6

2077.8

1027729.852

49307835

0.020843135

13.36414943

3270.73

Korea, Rep.

2010

14746.67292

9757.6

3092.2

1094499.339

49554112

0.022086953

16.10028957

3270.73

Korea, Rep.

2011

2473.685996

13175.9

4866.7

1134795.396

49936638

0.022724706

18.50572565

3270.73

Korea, Rep.

2012

12899.03606

15535.4

5580.9

1160809.421

50199853

0.023123761

18.48960445

3270.73

Korea, Rep.

2013

15935.96066

20677.9

6682.9

1194428.841

50428893

0.023685407

19.11984372

3270.73

Korea, Rep.

2014

4975.45566

21728.5

7167.5

1234340.056

50746659

0.024323573

20.08431779

3270.73

Korea, Rep.

2015

8927.579181

27578.5

8915.4

1268781.059

51014947

0.024870771

19.18173862

3270.73

Korea, Rep.

2016

3063.235324

32162.9

11406.1

1304658.664

51245707

0.025458887

18.90242057

3270.73

1995

10256

419

256.7

134779.7179

6156100

0.021893686

1426.898632

1113.96

1996

11475.11

795.4

311.2

140519.362

6435500

0.021835034

1426.457302

1113.96

1997

13927.25

598.9

430.7

147685.401

6489300

0.022758295

1509.068403

1113.96

1998

14765.0198

557.3

318.1

138997.6094

6543700

0.02124144

1713.031503

1113.96

1999

24577.82806

504.7

235.7

142481.9641

6606500

0.021566936

1797.378881

1113.96

2000

70495.73931

598.1

315.9

153401.0127

6665000

0.023015906

1818.437547

1113.96

2001

31291.71964

537.6

317.2

154261.3254

6714300

0.022975042

1888.144468

1113.96

2002

6747.855221

804.8

340.2

156817.0186

6744100

0.023252475

1959.182365

1113.96

2003

18567.35707

990.9

368.7

161609.9218

6730800

0.024010507

1991.791612

1113.96

2004

22194.2386

1074.3

380.1

175670.148

6783500

0.025896683

2021.828454

1113.96

2005

40963.12727

1235

353.1

188648.9202

6813200

0.02768874

2039.120093

1113.96

2006

44901.79397

1440.8

453

201915.9698

6857100

0.029446263

2059.036196

1113.96

2007

62121.01142

1950.7

582.5

214969.4847

6916300

0.031081573

2064.384674

1113.96

2008

67035.18759

2633.3

877.2

219543.8922

6957800

0.031553637

2093.566062

1113.96

2009

54275.70707

2120.9

1034.1

214145.1102

6972800

0.030711495

2201.449135

1113.96

2010

82709.14298

860.4

1464.2

228637.6976

7024200

0.032549998

2395.741714

1113.96

2011

96135.08127

969.7

2205.7

239645.82

7071600

0.033888486

2634.859969

1113.96

2012

74887.1359

969.5

3705.4

243720.5098

7150100

0.034086308

2685.260591

1113.96

2013

76857.45342

1049

4113.5

251279.6645

7178900

0.03500253

2698.996476

1113.96

2014

129847.4559

1036.9

5264.7

258221.0345

7229500

0.035717689

2727.337209

1113.96

2015

181047.4311

1320.4

6959.3

264403.6227

7291300

0.036262892

2799.054085

1113.96

Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China Hong Kong, China

179

Country

Year

FDI

Import

Export

GDP

POP

GDPPC

RER

Distance

2016

133259.1823

1497.6

6088.1

269812.3263

7336600

0.036776208

2825.856013

1113.96

Hong Kong, China

Japan

1995

39.33200328

915.7

1461

5063810

125439000

0.040368705

117.3538102

3869.76

Japan

1996

207.6414984

1260.3

1546.4

5220784.563

125757000

0.041514862

101.4219434

3869.76

Japan

1997

3200.076742

1509.3

1675.4

5276986.92

126057000

0.041861911

96.56376599

3869.76

Japan

1998

3268.105339

1481.7

1514.5

5217422.593

126400000

0.041277077

101.3557124

3869.76

Japan

1999

12308.39345

1618.3

1786.2

5204275.924

126631000

0.041097961

122.4085485

3869.76

Japan

2000

10688.16833

2300.9

2575.2

5348930.988

126843000

0.042169698

131.4683291

3869.76

Japan

2001

4926.033619

2183.1

2509.8

5370660.99

127149000

0.042239113

121.1659195

3869.76

Japan

2002

11557.37387

2504.7

2437

5377003.783

127445000

0.042190779

121.8577349

3869.76

Japan

2003

8771.535612

2982.1

2908.6

5459177.414

127718000

0.042743994

133.7800388

3869.76

Japan

2004

7527.948175

3552.6

3542.1

5579537.554

127761000

0.04367168

145.5367972

3869.76

Japan

2005

5459.618343

4074.1

4340.3

5672311.469

127773000

0.044393663

143.8865359

3869.76

Japan

2006

-2396.909736

4702.1

5240.1

5752857.407

127854000

0.044995522

137.5266093

3869.76

Japan

2007

21631.20444

6188.9

6090

5848025.943

128001000

0.045687346

136.7697861

3869.76

Japan

2008

24624.84533

8240.3

8467.8

5784079.008

128063000

0.045165887

157.7237792

3869.76

Japan

2009

12226.47158

6836.4

6335.6

5470748.522

128047000

0.042724535

182.3775471

3869.76

Japan

2010

7440.979284

9016.1

7727.7

5700098.115

128070000

0.044507676

212.0408199

3869.76

Japan

2011

850.7170351

10400.7

11091.7

5693518.985

127833000

0.044538726

256.991804

3869.76

Japan

2012

546.9626922

11602.1

13064.5

5778642.195

127629000

0.045276874

261.0337275

3869.76

Japan

2013

10648.44164

11558.3

13544.2

5894230.516

127445000

0.04624921

214.4912698

3869.76

Japan

2014

19752.24942

12857

14674.9

5916317.346

127276000

0.046484155

199.6134193

3869.76

Japan

2015

5585.489706

14225.1

14100.3

5996413.817

127141000

0.047163494

179.2535185

3869.76

Japan

2016

34904.73609

15064

14671.5

6052671.805

126994511

0.047660893

201.6216207

3869.76

China

1995

35849.2

329.7

361.9

1479027.475

1204855000

0.001227556

1321.721864

865

China

1996

40180

329

340.2

1625870.831

1217550000

0.001335363

1326.960683

865

China

1997

44237

404.4

474.1

1775951.216

1230075000

0.001443775

1409.359676

865

China

1998

43751

515

440.1

1915143.415

1241935000

0.001542064

1602.617076

865

China

1999

38753

673.1

746.4

2061986.772

1252735000

0.001645988

1684.313311

865

China

2000

42095.3

1401.1

1536.4

2237080.554

1262645000

0.001771742

1711.390091

865

China

2001

47053

1606.2

1417.4

2423651.071

1271850000

0.001905611

1779.031666

865

China

2002

53073.6189

2158.8

1518.3

2644946.069

1280400000

0.002065719

1846.028568

865

China

2003

57900.93747

3138.6

1883.1

2910382.357

1288400000

0.002258912

1873.808702

865

China

2004

68117.27218

4595.1

2899.1

3204657.62

1296075000

0.002472587

1902.425867

865

China

2005

104108.6939

5899.7

3228.1

3569853.222

1303720000

0.002738205

1935.355602

865

China

2006

124082.0356

7391.3

3242.8

4023919.954

1311020000

0.003069305

2005.941393

865

China

2007

156249.3352

12710

3646.1

4596579.617

1317885000

0.003487846

2116.9972

865

China

2008

171534.6503

15973.6

4850.1

5040346.714

1324655000

0.003805026

2346.101512

865

China

2009

131057.0529

15411.3

5403

5514129.889

1331260000

0.004142038

2498.03016

865

China

2010

243703.4346

20203.6

7742.9

6100620.489

1337705000

0.004560513

2749.213744

865

180

Country

Year

FDI

Import

Export

GDP

POP

GDPPC

RER

Distance

865

China

2011

280072.2191

24866.4

11613.3

6682402.685

1344130000

0.004971545

3174.165868

865

China

2012

241213.8682

29035

12836

7207389.755

1350695000

0.00533606

3299.572531

865

China

2013

290928.4315

36886.5

13177.7

7766512.756

1357380000

0.005721694

3378.669002

865

China

2014

268097.1811

43647.6

14928.3

8333286.913

1364270000

0.006108239

3442.374358

865

China

2015

242489.3316

49458

16567.7

8908300.778

1371220000

0.006496624

3484.160091

865

China

2016

170556.5257

50018.8

21960.1

9504208.187

1378665000

0.006893776

3301.237719

3136

1995

2143.62811

10.4

597711.9809

963922588

0.000620083

340.4022544

61.5

India

3136

1996

2426.057022

9.1

642836.3798

982365243

0.000654376

311.3631181

88.4

India

3136

1997

3577.330042

668870.1016

1000900030

0.000668269

321.7371567

84.8

13.2

India

3136

1998

2634.651658

108.7

710235.81

1019483581

0.000696662

321.5754775

12.6

India

3136

1999

2168.591054

137.9

17

773061.5336

1038058156

0.000744719

323.8422472

India

3136

2000

3584.217307

178.4

802754.7588

1056575549

0.00075977

315.2479757

47.2

India

3136

2001

5128.093562

228

841479.3775

1075000085

0.000782771

312.0636931

45.4

India

3136

2002

5208.967106

324.7

52

873489.0454

1093317189

0.000798935

314.3262637

India

3136

2003

3681.984671

457.1

942148.6165

1111523144

0.000847619

332.9431063

32.3

India

3136

2004

5429.25099

593.5

1016794.518

1129623456

0.000900118

347.4675136

78.6

India

3136

2005

7269.407226

596

97.8

1111202.106

1147609927

0.000968275

359.6128267

India

3136

2006

20029.11927

880.3

137.8

1214143.478

1165486291

0.001041748

353.019336

India

3136

2007

25227.74089

1357

179.7

1333146.055

1183209472

0.00112672

389.4968866

India

3136

2008

43406.27708

2094.3

389

1385018.195

1200669765

0.001153538

374.7197173

India

3136

2009

35581.37293

1536.1

419.6

1502464.745

1217726215

0.001233828

352.5460039

India

3136

2010

27396.88503

1762

991.6

1656617.073

1234281170

0.001342172

407.0549172

India

3136

2011

36498.6546

2346.4

1553.9

1766589.341

1250288729

0.001412945

439.4588584

India

3136

2012

23995.68501

2160.5

1782.2

1862981.302

1265782790

0.001471802

389.7656877

India

3136

2013

28153.03127

2879.3

2354.7

1981953.27

1280846129

0.001547378

357.2386752

India

3136

2014

34576.64369

3111

2510.7

2130703.228

1295604184

0.001644563

346.5208627

India

3136

2015

44009.49213

2655.2

2469.7

2301373.679

1310152403

0.001756569

338.2215096

India

India

3136

2016

44458.57155

2745.5

2687.2

2464933.097

1324509589

0.001861016

326.4364718

1995

57800

130.4

169.7

10299024.62

266278000

0.038677715

11038.25

13813.37

1996

86520

245.8

204.2

10689963.36

269394000

0.03968152

11032.58333

13813.37

1997

105590

251.5

286.7

11169624.85

272657000

0.040965847

11683.33333

13813.37

1998

179030

324.9

468.6

11666663.21

275854000

0.042292891

13268

13813.37

1999

289443

322.7

504

12213269.67

279040000

0.043768885

13943.16667

13813.37

2000

350066

363.4

732.8

12713058.21

282162411

0.045055818

14167.75

13813.37

2001

171471

410.8

1065.3

12837135.35

284968955

0.045047487

14725.16667

13813.37

2002

109466

458.3

2452.8

13066422.98

287625193

0.045428646

15279.5

13813.37

2003

111346

1143.3

3938.6

13433168.2

290107933

0.046304036

15509.58333

13813.37

United States United States United States United States United States United States United States United States United States

2004

207877

1133.9

5024.8

13941713.4

292805298

0.04761428

15746

13813.37

United

181

Country

Year

FDI

Import

Export

GDP

POP

GDPPC

RER

Distance

States

2005

138327

862.9

5924

14408093.84

295516599

0.048755616

15858.91667

13813.37

2006

294288

987

7845.1

14792303.79

298379912

0.049575401

15994.25

13813.37

2007

340065

1700.5

10104.5

15055395.3

301231207

0.049979534

16105.125

13813.37

2008

332734

2646.6

11886.8

15011490.54

304093966

0.049364645

16302.25

13813.37

2009

153788

2710.5

11407.2

14594842.18

306771529

0.047575609

17065.08333

13813.37

2010

259344

3766.9

14238.1

14964372

309326085

0.048377336

18612.91667

13813.37

2011

257410

4529.2

16955.4

15204019.63

311580009

0.048796518

20509.75

13813.37

2012

250345

4826.4

19665.2

15542161.72

313874218

0.049517166

20828

13813.37

2013

288131

5223.8

23852.5

15802855.3

316057727

0.049999902

20933.41667

13813.37

2014

237655

6287

28634.7

16208861.25

318386421

0.050909399

21148

13813.37

2015

506161

7785

33451

16672691.92

320742673

0.051981521

21697.5675

13813.37

2016

479415

9701.6

38449.7

16920327.94

323071342

0.052373348

21935.00083

13813.37

United States United States United States United States United States United States United States United States United States United States United States United States

Australia

1995

12026.42601

100.6

55.4

688161.9521

18072000

0.038078904

8182.345496

5179.11

Australia

1996

6181.381325

132.8

64.8

715336.1414

18311000

0.039065924

8633.617575

5179.11

Australia

1997

7631.27309

192.6

230.4

743574.8598

18517000

0.040156335

8671.149441

5179.11

Australia

1998

5956.935413

253.9

471.5

776590.6227

18711000

0.041504496

8335.069632

5179.11

Australia

1999

3311.038586

215.7

814.6

815473.0166

18926000

0.043087447

8995.881588

5179.11

Australia

2000

14892.97818

293.5

1272.5

847014.443

19153000

0.044223591

8214.013775

5179.11

Australia

2001

10717.13315

266.4

1041.8

863362.2813

19413000

0.044473409

7616.035474

5179.11

Australia

2002

14656.3218

286.3

1328.3

896627.0002

19651400

0.045626622

8301.538253

5179.11

Australia

2003

8985.24603

278

1420.9

924138.2499

19895400

0.046449845

10058.65545

5179.11

Australia

2004

42907.67282

458.8

1884.7

962449.985

20127400

0.047817899

11580.04858

5179.11

Australia

2005

25093.14144

498.5

2722.8

993282.5335

20394800

0.048702735

12110.91228

5179.11

Australia

2006

30551.10066

1099.7

3744.7

1022863.028

20697900

0.049418686

12044.10383

5179.11

Australia

2007

44440.09004

1059.4

3802.2

1061217.602

20827600

0.050952467

13476.27445

5179.11

Australia

2008

45160.02427

1357.9

4351.6

1100462.922

21249200

0.05178844

13674.33843

5179.11

Australia

2009

28683.26615

1045.9

2386.1

1120402.84

21691700

0.051651223

13309.33728

5179.11

Australia

2010

35210.73374

1443.6

2704

1142876.773

22031750

0.05187408

17073.57217

5179.11

Australia

2011

65554.89065

2123.3

2602

1169995.189

22340024

0.052372155

21155.77978

5179.11

Australia

2012

57550.42682

1772.2

3208.7

1212515.735

22733465

0.05333616

21565.51851

5179.11

Australia

2013

53997.29914

1586

3488.1

1243675.644

23128129

0.053773292

20209.06133

5179.11

Australia

2014

45978.79762

2054.7

3988.2

1276128.832

23475686

0.054359597

19063.18709

5179.11

Australia

2015

37419.46012

377.8

2905.6

1307031.702

23815995

0.054880416

16300.59817

5179.11

Australia

2016

42579.99114

2864.9

1343181.238

24190907

0.05552422

16305.95669

5179.11

2424.9

182

PHỤ LỤC 2 Số liệu nghiên cứu của Việt Nam

Năm

GDP Việt Nam (VNGDP)

Dân số Việt Nam (VNPOP)

GDP bình quân đầu người của Việt Nam (VNGDPPC)

20736.16446

74910461

0.000276813

1995

24657.47057

76068743

0.000324147

1996

26843.70044

77133214

0.000348017

1997

27209.60205

78115710

0.000348324

1998

28683.65901

79035871

0.00036292

1999

31172.5184

79910412

0.000390093

2000

32685.19874

80742499

0.000404808

2001

35064.1055

81534407

0.000430053

2002

39552.51332

82301656

0.00048058

2003

45427.85469

83062821

0.00054691

2004

57633.25562

83832661

0.00068748

2005

66371.66482

84617540

0.000784372

2006

77414.42553

85419591

0.000906284

2007

99130.3041

86243413

0.001149425

2008

106014.6598

87092252

0.001217269

2009

115931.7497

87967651

0.001317891

2010

135539.4386

88871561

0.001525116

2011

155820.0019

89802487

0.001735141

2012

171222.0251

90753472

0.001886672

2013

186204.6529

91714595

0.002030262

2014

193241.1087

92677076

0.002085101

2015

205276.1721

93638724

0.002192215

2016

183

PHỤ LỤC 3 Thống kê mô tả số liệu

184

PHỤ LỤC 4 Giả thuyết nghiên cứu về tác động của các biến kiểm soát khác tới KNXK và KNNK trong mô hình

Đối với các biến số kiểm soát của mô hình, căn cứ vào các nghiên cứu của

Brugstrand (1985), Brun & cộng sự (2005), tác giả đưa ra một số giả thuyết nghiên

cứu như sau:

H4: GDP bình quân đầu người của Việt Nam có tác động thuận chiều tới

KNXK và KNNK của Việt Nam với các quốc gia đối tác.

H5: GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác i có tác động thuận

chiều tới tới KNXK và KNNK của Việt Nam với quốc gia đối tác i.

H6: Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và quốc gia đối tác i có tác động

ngược chiều tới KNXK và KNNK của Việt Nam với quốc gia đối tác i.

H7: Tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và đồng tiền của quốc gia đối tác i

có tác động ngược chiều tới KNXK của Việt Nam vào quốc gia đối tác i và có tác

động thuận chiều tới KNNK của Việt Nam từ quốc gia đối tác i.

185

PHỤ LỤC 5 Thực trạng FDI tại Việt Nam giai đoạn 1988-2018

Giai đoạn 1988-1990 là giai đoạn đầu tiên thu hút FDI của Việt Nam sau khi Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam có hiệu lực (năm 1988). Kết quả thu hút FDI trong giai đoạn này còn khá khiêm tốn, chỉ có 211 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng trên 1,6 tỷ USD. Trong giai đoạn này, FDI chưa có tác động rõ rệt đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Giai đoạn 1991-1995, đây là giai đoạn FDI vào Việt Nam tăng trưởng nhanh cả về quy mô và tốc độ của cả vốn đăng ký và vốn thực hiện. Trong giai đoạn này đã có 1.397 dự án FDI được cấp phép tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 18,736 tỷ USD. Vốn FDI thực hiện trong giai đoạn này đạt 7,153 tỷ USD, đạt 38,93% tổng vốn đăng ký trong cả giai đoạn. Dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn này tăng mạnh là do những lợi thế rất hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài như chi phí đầu tư thấp, nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ, thị trường còn rất tiềm năng (chưa được khai thác) ở nhiều lĩnh vực. Sự gia tăng của nguồn vốn FDI trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Giai đoạn 1996-1999 là thời kỳ suy thoái của dòng vốn FDI vào Việt Nam. Đây là giai đoạn có nhiều biến động do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á (1997). Tốc độ tăng trưởng vốn FDI đăng ký và thực hiện bắt đầu giảm từ năm 1996 (21,58% và 5,23% năm 1996 so với 85,95% và 24,59% năm 2015). Trong ba năm tiếp theo 1997, 1998 và 1999, số dự án và vốn FDI đăng ký vào Việt Nam giảm sâu với tốc độ tăng trưởng ẩm lần lượt là -38,19%, -18,17% và - 53,17%. Trong 3 năm này, Việt Nam chỉ thu hút được 961 dự án với khoảng 13,11 tỷ USD vốn đăng ký. Các dự án FDI trong giai đoạn này chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ. Nhiều dự án được cấp phép từ những năm trước bị ngừng triển khai do chủ đầu tư của các dự án này đến từ các nước châu Á như Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan… đều chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ.

Giai đoạn 2000-2003, dòng vốn FDI vào Việt Nam có dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên tốc độ phục hồi còn rất chậm và không ổn định. Số dự án và vốn đăng ký năm 2000 đều tăng so với năm 1999 với 391 dự án và 2,762 tỷ USD (tăng 21,03% so với năm 1999). Năm 2001 đạt 3,625 tỷ vốn đăng ký, tăng 18,21% so với năm 2000. Tuy nhiên, đến năm 2002 vốn FDI vào Việt Nam lại giảm xuống còn 2,993 tỷ USD, giảm 8,33% so với năm 2001. Đến năm 2003, FDI đăng ký vào Việt Nam phục hồi nhẹ tăng 5,98% so với năm 2002, tuy nhiên quy mô vốn thực hiện lại giảm 5,58% so với năm 2002. Hầu hết các dự án FDI trong giai đoạn này đều có quy mô rất nhỏ, điều này phần nào có thấy được sự rụt rè và e ngại của các nhà đầu tư nước ngoài đối với sự bất ổn về nền tài chính của châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng thời kỳ hậu khủng hoảng.

Giai đoạn 2004-2008 là giai đoạn FDI vào Việt Nam phục hồi và phát triển mạnh. Năm sau tăng gần gấp đôi so với năm trước. Năm 2004 chỉ mới đạt 4,534 tỷ USD thì năm 2006 lên tới 12,004 tỷ USD tăng 264,76% so với 2004. Số dự án và lượng vốn FDI vào

186

Việt Nam năm 2007 cũng tăng mạnh so với năm 2006 với tốc độc tăng là 77,84%. Đỉnh điểm là vào năm 2008, Việt Nam đạt kỷ lục về thu hút FDI với 1.171 dự án và tổng vốn đăng ký là 71,726 tỷ USD, tăng 235,98% so với năm 2007. .NNg.u.yên. n.h.ân. c.ủa. sự tăng trưởng cô cùng ấn tượng này c.ũn.g. đã được. rất n.h.i.ều. n.g.h.i.ên. c.ứu. đề c.ập. Th.e.o đó, m.ột số lý g.i.ải. được. đưa. ra. b.a.o g.ồm.: (i.) sự kỳ vọn.g. c.ủa. n.h.à đầu. tư vào tri.ển. vọn.g. ki.n.h. tế c.ủa. Vi.ệt N.a.m., đặc. b.i.ệt kh.i. Vi.ệt N.a.m. g.i.a. n.h.ập WTO (tháng 1/2007); (i.i.) ản.h. h.ưởn.g. c.ủa. Lu.ật Đầu. tư n.ăm. 2005 kh.i. được. b.a.n. h.àn.h. và c.ó h.i.ệu. lực.; (i.i.i.) th.ị trườn.g. c.h.ứn.g. kh.oán. và ti.ếp th.e.o đó là th.ị trườn.g. b.ất độn.g. sản. ph.át tri.ển. qu.á n.ón.g.; (i.v) m.ột loại. c.h.ín.h. sác.h. kíc.h. th.íc.h. đầu. tư c.ủa. Vi.ệt N.a.m.. Tu.y n.h.i.ên., sự tăn.g. trưởn.g. qu.á m.ức. đồn.g. th.ời. kéo th.e.o m.ột số h.ệ qu.ả xấu. c.h.o n.ền. ki.n.h. tế n.h.ư tỷ lệ lạm. ph.át tăn.g. c.a.o, ô n.h.i.ễm. m.ôi. trườn.g., b.ất b.ìn.h. đẳn.g. tron.g. th.u. n.h.ập trở lên. trầm. trọn.g. h.ơn..

Giai đoạn 2009-2012, bước sang năm 2009, FDI vào Việt Nam có xu hướng giảm mạnh so với năm 2008, lượng vốn cam kết chỉ bằng gần 1/3 so với năm 2008 với 23,1 tỷ USD. Nguyên nhân của sự giảm sút này chính là do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra vào cuối năm 2008 đầu năm 2009. Tất cả các nền kinh tế phát triển đều bị ảnh hưởng nặng nề, dòng FDI chảy ra từ các nền kinh tế này này cũng giảm mạnh, và do đó dòng FDI vào Việt Nam cũng giảm mạnh. Năm 2010, Việt Nam thu hút được 1.237 dự án với tổng vốn đăng ký là 19,886 tỷ USD, giảm 14,03% so với năm 2009. Đến năm 2011, tổng vốn đăng ký là 15,518 tỷ USD, giảm 21% so với năm 2010, tuy nhiên vốn FDI thực hiện trong năm này không thay đổi so với năm 2010, vẫn đạt 11 tỷ USD, chiếm 70,42% tổng vốn đăng ký. Năm 2012, tổng vốn đăng ký tăng nhẹ 4,67% so với năm 2011, đạt 16,347 tỷ USD, tuy nhiên vốn thực hiện lại giảm 4,91% so với năm trước và đạt 10,46 tỷ USD. Nhìn chung, trong giai đoạn này, lượng vốn FDI đăng ký năm sau có sự sụt giảm so với năm trước, tuy nhiên, vẫn tương đối cao so với các năm trước khủng hoảng (trừ năm 2008) và đặc biệt là tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký luôn đạt ở mức tương đối cao (trên 50%, chỉ trừ năm 2009 là 43,28%).

Giai đoạn 2013-2018, đây là giai đoạn phục hồi sau khủng hoảng, FDI vào Việt Nam có dấu hiệu tăng trưởng qua các năm. Tốc độ tăng cả vốn đăng ký và vốn thực hiện tuy chậm nhưng chắc chắn và tương đối ổn định. Giai đoạn 2013-2016, lượng vốn đăng ký luôn đạt trên 20 tỷ USD mỗi năm, tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký cũng đạt tương đối cao lần lượt qua các năm từ 2013 đến 2016 là 53,17%; 61,05%; 60,13% và 58,76%. M.ột n.g.u.yên. n.h.ân. để lý g.i.ải. cho h.i.ện. tượn.g. n.ày đó là d.o Vi.ệt N.a.m. đa.n.g. th.a.y đổi. c.h.i.ến. lược. th.u. h.út FD.I. c.ủa. m.ìn.h. từ lượn.g. sa.n.g. c.h.ất. Th.e.o đó, Vi.ệt N.a.m. c.h.ỉ tập tru.n.g. th.u. h.út FD.I. th.u.ộc. n.h.ữn.g. n.g.àn.h. ưu. ti.ên. n.h.ư c.ôn.g. n.g.h.ệ th.ôn.g. ti.n., n.ôn.g. n.g.h.i.ệp c.ôn.g. n.g.h.ệ c.a.o... Đi.ều. n.ày kh.i.ến. c.h.o tốc độ. FD.I. vào Vi.ệt N.a.m. tăng chậm., tu.y n.h.i.ên., tron.g. d.ài. h.ạn. vi.ệc. th.u. h.út d.òn.g. vốn. FD.I. c.ó c.h.ất lượn.g. sẽ tạo ra. độn.g. lực. qu.a.n. trọn.g. tron.g. vi.ệc. th.úc. đẩy tăn.g. trưởn.g. và ph.át tri.ển. c.ủa. n.ền. ki.n.h. tế Vi.ệt N.a.m.. Năm 2017 là một năm khởi sắc trong thu hút FDI với 37,1 tỷ USD đăng ký, tăng 38% so với năm 2016. FDI thực hiện năm 2017 đạt 17,5 tỷ USD. Năm 2018, tổng FDI vào Việt Nam đạt 36,37 tỷ USD, giảm 0,73 tỷ USD so với năm 2017. Tuy nhiên, vốn FDI thực hiện lại đạt cao nhất trong các năm với 19,1 tỷ USD tăng 9,14% so với năm 2017.

187

PHỤ LỤC 6 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK

PHỤ LỤC 7 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK trước WTO

188

PHỤ LỤC 8 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNXK sau WTO

PHỤ LỤC 9 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNNK

189

PHỤ LỤC 10 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNNK trước WTO

PHỤ LỤC 11 Kiểm định Hausman mô hình đánh giá tác động của FDI tới KNNK sau WTO

190

PHỤ LỤC 12

Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam

191

Biến VNGDPPC (GDP bình quân đầu người của Việt Nam) có tác động lớn nhất tới KNXK của Việt Nam. Kết quả ước lượng cho thấy nếu GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng 1% thì KNXK của Việt Nam tăng hơn 1.5051%. Điều này tương đối dễ hiểu, GDP được cấu thành bởi giá trị hàng hoá được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. GDP gia tăng phản ánh lượng hàng hoá, dịch vụ được sản xuất và cung ứng tăng thêm. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển dịch dần thành một công xưởng mới của thế giới thì GDP bình quân đầu người của Việt Nam ảnh hưởng nhiều nhất đến KNXK là hoàn toàn hợp lý.

Biến GDPPC (GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác) có tác động dương tới KNXK hàng hoá ở Việt Nam. Tác động này là tác động thuận chiều với hệ số là 0.7203, nghĩa là nếu GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác của Việt Nam tăng 1% thì KNXK hàng hoá của Việt Nam vào quốc gia đó sẽ tăng 0.7203%. Kết quả này phù hợp với giả thuyết ban đầu về tác động của GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác tới KNXK hàng hoá của Việt Nam vào quốc gia đối tác đó. Tác động này tương đối hợp lý vì khi thu nhập của một quốc gia tăng thì nhu cầu về các loại hàng hoá (cả thông thường lẫn xa xỉ) sẽ tăng, dẫn tới việc nhập khẩu hàng hoá của quốc gia này tăng, trong đó có cả hàng hoá từ Việt Nam. Kết quả là tổng KNXK của Việt Nam sẽ tăng.

Biến RER (tỷ giá hối đoái) có tác động ngược chiều tới KNXK của Việt Nam. Kết quả ước lượng trong bảng 3.34 cho thấy nếu tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và đồng tiền của quốc gia đối tác tăng 1% thì KNXK của Việt Nam vào quốc gia đó sẽ giảm 0.2728%. Kết quả này cũng phù hợp với giả thuyết ban đầu về ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái tới KNXK ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu phản ánh hoàn toàn chính xác ý nghĩa kinh tế, khi đồng Việt Nam tăng giá sẽ khiến cho giá của hàng hoá xuất xứ từ Việt Nam trở lên đắt hơn tương đối trên thị trường nước ngoài. Điều này khiến hàng hoá Việt Nam kém cạnh tranh hơn và dẫn đến lượng xuất khẩu giảm.

Biến Distance (khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và quốc gia đối tác) có tương quan âm với KNXK hàng hoá của Việt Nam vào quốc gia đối tác đó. Cụ thể kết quả ước lượng cho thấy, nếu khoảng cách địa lý giữa Việt Nam với quốc gia đối tác tăng 1% thì KNXK của Việt Nam vào quốc gia đó sẽ giảm 0.00003%. Có thể thấy tác động này khá nhỏ, không thực sự ảnh hưởng đến KNXK cũng như chính sách xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Kết quả ước lượng này cũng phù hợp với giả thuyết ban đầu về ảnh hưởng của khoảng cách địa lý giữa Việt Nam với quốc gia đối tác tới KNXK hàng hoá của Việt Nam vào quốc gia đối tác đó. Tuy nhiên, tác động âm này cũng đặt ra yêu cầu cho Việt Nam trong việc tối ưu hoá các phương thức cũng như tuyến đường vận chuyển hàng hoá của mình tới các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Bởi trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, khoảng cách địa lý thực sự đã không còn gây trở ngại tới việc giao thương buôn bán hàng hoá giữa các quốc gia trên thế giới.

PHỤ LỤC 13 Giải thích kết quả ước lượng tác động của các biến kiểm soát trong mô hình tới KNXK ở Việt Nam

192

PHỤ LỤC 14

Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam

193

PHỤ LỤC 15 Giải thích kết quả ước lượng tác động của các biến kiểm soát trong mô hình tới KNNK ở Việt Nam

Biến VNGDPPC (GDP bình quân đầu người của Việt Nam) có tác động dương và lớn nhất tới KNNK hàng hoá của Việt Nam. Với hệ số 1.1734, nghĩa là nếu GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng 1% thì KNNK hàng hoá của Việt Nam sẽ tăng

1.1734%. Kết quả này phù hợp với giả thuyết ban đầu về tác động của GDP bình quân đầu người của Việt Nam tới KNNK. Một khi thu nhập của Việt Nam tăng lên, nhu cầu về các loại hàng hoá sẽ tăng, dẫn tới việc nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam cũng sẽ tăng. Kết quả là tổng KNNK cả nước sẽ tăng.

Biến GDPPC (GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác) có tác động dương tới KNXK của Việt Nam với hệ số 1.0204. Cụ thể, khi GDP bình quân đầu người của quốc gia đối tác tăng 1% sẽ làm cho KNNK hàng hoá của Việt Nam từ quốc

gia đối tác tăng 1.0204%. Kết quả này hợp lý và phù hợp với giả thuyết ban đầu.

Biến RER (tỷ giá hối đoái) có tác động thuận chiều tới KNNK hàng hoá của Việt Nam. Kết quả ước lượng trong bảng 3.35 cho thấy nếu tỷ giá hối đoái giữa đồng VND với đồng tiền của quốc gia đối tác tăng 1% thì KNNK của Việt Nam từ quốc gia đó sẽ

tăng 0.2275%. Kết quả này cũng phù hợp với giả thuyết ban đầu về ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của Việt Nam với đồng tiền của quốc gia đối tác tới KNNK hàng hoá của Việt Nam từ quốc gia đối tác đó. Một khi đồng tiền của Việt Nam mạnh lên so với đồng tiền của quốc gia đối tác, Việt Nam sẽ nhập khẩu nhiều hơn từ quốc gia đó, và

do đó KNNK hàng hoá của Việt Nam từ quốc gia đó sẽ tăng lên. Kết quả là tổng KNNK cả nước sẽ tăng.

Biến Distance (khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và quốc gia đối tác) có tác động ngược chiều với KNNK hàng hoá của Việt Nam từ quốc gia đối tác đó. Cụ thể kết quả ước lượng cho thấy, nếu khoảng cách địa lý giữa Việt Nam với quốc gia đối tác tăng 1% thì KNNK hàng hoác của Việt Nam từ quốc gia đó sẽ giảm 0.0001%. Có

thể thấy tác động này rất nhỏ, không thực sự ảnh hưởng đến KNNK cũng như chính sách nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam. Kết quả ước lượng này cũng phù hợp với giả thuyết ban đầu về ảnh hưởng của khoảng cách địa lý giữa Việt Nam với quốc gia đối tác tới KNNK hàng hoá của Việt Nam từ quốc gia đối tác đó.

194

PHỤ LỤC 16 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam trước WTO

PHỤ LỤC 17 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNXK ở Việt Nam sau WTO

195

PHỤ LỤC 18 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam trước WTO

PHỤ LỤC 19 Kết quả ước lượng tác động của FDI tới KNNK ở Việt Nam sau WTO