intTypePromotion=3

Tài liệu hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em (Phần 1) - NXB Đại học Huế

Chia sẻ: Bin Bin | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

0
382
lượt xem
69
download

Tài liệu hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em (Phần 1) - NXB Đại học Huế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em (Phần 1) có nội dung giới thiệu các kiến thức cơ bản về vai trò, nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ, cơ sở khoa học của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ, các lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tài liệu hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em (Phần 1) - NXB Đại học Huế

  1. ĐẠI HỌC HUẾ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA ----- ***----- Biên soạn: GVC. Ths. Trịnh Thị Hà Bắc TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ÔN THI TỐT NGHIỆP PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ EM Nhà xuất bản Đại học Huế, 2009 1
  2. MỤC LỤC PHẦN I: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN ........................................................................................3 A. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ.........................................3 I. Vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển của trẻ em ................................................................3 II. Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ.....................................................................................4 B. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ EM ..........................................................................................................................................................5 I. Cơ sở tâm lý học .......................................................................................................................5 II. Cơ sở giáo dục học ..................................................................................................................5 III. Cơ sở ngôn ngữ học ...............................................................................................................6 IV. Cơ sở sinh lí học ....................................................................................................................6 C. PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ...................................................6 I. Nhóm phương pháp trực quan ..................................................................................................6 II. Nhóm phương pháp dùng lời nói ............................................................................................6 III. Nhóm phương pháp thực hành...............................................................................................7 IV. Phương pháp sử dụng trò chơi ...............................................................................................8 D. CÁC LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ..................................................8 I. Luyện phát âm chuẩn cho trẻ....................................................................................................8 II. Phát triển vốn từ cho trẻ ........................................................................................................10 III. Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp...................................................................................................16 IV. Dạy trẻ nói mạch lạc ............................................................................................................18 V. Phương pháp dạy trẻ làm quen chữ cái .................................................................................20 PHẦN II: CÂU HỎI VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI ...................................................................................23 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................................37 2
  3. PHẦN I: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN A. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ I. Vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển của trẻ em Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát triển theo sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người. Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức và giao tiếp hữu hiệu nhất của con người. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có phương tiện để nhận thức và thể hiện nhận thức của mình, để giao tiếp và hợp tác với nhau… Nói đến sự phát triển của xã hội không thể không nói đến vai trò đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ. Trong sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, ngôn ngữ đóng một vai trò cũng đặc biệt quan trọng. 1. Đối với việc phát triển trí tuệ. USinxki đã nói: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốn quí của mọi tri thức”. Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ - Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh. Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy. + Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh. Thông qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng... của chúng và trẻ học được từ tương ứng (từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc). Ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh. Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành. + Sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích cực hoạt động trí tuệ. - Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức hữu hiệu, thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức thế giới xung quanh chính xác, rõ ràng, sâu và rộng. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo trong hoạt động trí tuệ do vậy việc phát triển trí tuệ không thể tách rời với việc phát triển ngôn ngữ. 2. Đối với việc giáo dục đạo đức - Ngôn ngữ đóng vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh những hành vi và việc làm của trẻ. - Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên, không nên, qua đó rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức (ngoan - hư, tốt - xấu...) - Ngôn ngữ có tác dụng to lớn trong việc hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp ở trẻ. Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ những hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống. 3. Đối với việc giáo dục thẩm mĩ - Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp. - Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận thức được cái đẹp ở thế giới xung quanh, qua đó làm cho tâm hồn trẻ càng thêm bay bổng, trí tưởng tượng càng phong phú, đồng thời trẻ càng yêu quí cái đẹp, trân trọng cái đẹp và có ý thức sáng tạo ra cái đẹp. - Thông qua ngôn ngữ văn học, trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, cái đẹp trong cuộc sống. 3
  4. Có thể khẳng định rằng ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào quá trình giáo dục cho trẻ những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp. 4. Đối với việc giáo dục thể lực Để giáo dục thể lực cho trẻ cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong đó, ngôn ngữ đóng góp một vai trò quan trọng đáng kể. Trong các hoạt động góp phần phát triển thể lực như các trò chơi vận động, các giờ thể dục, trong chế độ ăn...giáo viên đều cần dùng đến ngôn ngữ để hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu cần đạt. Quá trình phát âm là quá trình rèn luyện bộ máy cấu âm, rèn luyện phổi, khí quản và các bộ phận khác của cơ thể. II. Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ 1. Dạy trẻ phát âm đúng - Luyện cho trẻ nghe âm thanh ngôn ngữ - Dạy trẻ phát âm đúng là dạy cho trẻ biết phát âm chính xác các âm vị, âm tiết, từ, câu theo chuẩn mực âm thanh tiếng mẹ đẻ. - Dạy trẻ phát âm đúng là còn phải dạy cho trẻ biết điều chỉnh âm lượng, biết thể hiện đúng ngữ điệu, có tác phong văn hoá trong quá trình giao tiếp. - Sửa các lỗi phát âm cho trẻ. 2. Phát triển vốn từ Trẻ nói được nhờ nghe người lớn nói và bắt chước. Phát triển vốn từ cho trẻ là việc tổ chức có kế hoạch, có khoa học nhằm cung cấp, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hoá vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp. 3. Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là dạy trẻ nói được các mô hình câu, các thành phần câu cũng như vị trí của các thành phần bằng cách cho trẻ thường xuyên được nghe, được nói theo các mô hình câu chuẩn để từ đó dần dần nắm được cách cấu tạo các loại câu của tiếng mẹ đẻ. Nghe những người xung quanh nói đúng, trẻ sẽ nắm được cấu trúc ngữ pháp của câu, biết được kiểu mẫu của câu nói. Cô giáo sẽ củng cố cách sử dụng đúng một số kiểu câu, sửa một số kiểu câu sai cho trẻ, cho trẻ làm quen với các kiểu câu mới khó hơn và cuối cùng sẽ hình thành cho trẻ thói quen nói đúng ngữ pháp. 4. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày có logic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có hình ảnh một nội dung nhất định. Đơn vị giao tiếp thấp nhất là câu và cao nhất là ngôn bản. Vì thế, sự mạch lạc của lời nói rất cần thiết. Nó được phát triển ngay từ khi trẻ bắt đầu học nói. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thực chất là rèn luyện khả năng tư duy ngôn ngữ và sử dụng lời nói để giao tiếp bởi vì sự mạch lạc của ngôn ngữ chính là sự mạch lạc của tư duy. Dạy lời nói mạch lạc có hai dạng là đối thoại và độc thoại. Về ngôn ngữ đối thoại: Dạy trẻ biết nghe và hiểu lời nói đối thoại, biết nói chuyện, trả lời câu hỏi và biết đặt ra các câu hỏi. Khi nói chuyện, cần phải biết điều khiển bản thân một cách có văn hoá, cần phải lịch sự khi trả lời và đặt câu hỏi. Về ngôn ngữ độc thoại: Dạy trẻ biết kể lại những truyện trẻ nghe được. Dạy trẻ biết kể lại những gì trẻ được chứng kiến. Dạy trẻ tự đặt được truyện đơn giản mà nội dung và hình thức của truyện cần phải thể hiện tính độc lập và sáng tạo của trẻ... 5. Giáo dục văn hoá giao tiếp Văn hoá giáo tiếp ngôn ngữ thể hiện trong tất cả các thành tố ngôn ngữ như: 4
  5. - Sử dụng âm thanh, ngữ điệu sao cho phù hợp, biểu cảm. - Sử dụng từ chính xác, phong phú, gợi cảm. - Sử dụng các mẫu câu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. - Lời nói rõ ràng, mạch lạc, sử dụng các phương tiện biểu cảm, các phương tiện tu từ; tăng cường hiệu quả giao tiếp một cách có văn hoá. - Bên cạnh đó cũng cần chú ý rèn luyện cho trẻ sử dụng phối hợp các phương tiện phi ngôn ngữ… Tất cả những nội dung trên tạo cho trẻ những thói quen giao tiếp ngôn ngữ lịch sự, có văn hoá. 6. Phát triển ngôn ngữ nghệ thuật qua việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học Qua dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học, giáo viên giúp trẻ biết nghe và hiểu được tác phẩm văn học, biết đánh giá các nhân vật trong tác phẩm; nhớ nội dung các bài thơ, biết cách đọc diễn cảm… Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là cho trẻ làm quen với phong cách ngôn ngữ văn chương. Qua làm quen tác phẩm văn học, vốn từ của trẻ được mở rộng, trẻ làm quen với cách dùng từ, cách đặt câu, cách diễn đạt (có vần, nhịp, nói có ngữ điệu…). 7. Chuẩn bị cho trẻ học tập ở trường phổ thông Để trẻ vào lớp 1 được thuận lợi trong việc học đọc học viết, ở lứa tuổi mẫu giáo, cho trẻ làm quen với câu, từ, âm tiết, các nguyên âm, phụ âm… Luyện cho trẻ cách phát âm chuẩn, cách dùng từ, diễn đạt… Tập cho trẻ một số thao tác, kỹ năng của hoạt động học tập qua việc dạy trẻ làm quen chữ cái (Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện sức khoẻ, cơ tay, sự tỉ mỉ, chính xác, khéo léo… ). B. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ EM Phương pháp dạy lời nói cho trẻ được xây dựng trên cơ sở những căn cứ khoa học, cơ sở lí luận và thực tiễn giáo dục mầm non. Các nhà nghiên cứu phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi mầm non dựa vào các thành tựu tâm lí học, giáo dục học trẻ em…, các kết quả nghiên cứu về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ các độ tuổi đã xây dựng nội dung, yêu cầu, tìm ra các phương pháp, biện pháp phù hợp với trẻ từng độ tuổi để dạy trẻ học nói một cách có hiệu quả. Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dựa vào những cơ sở chính sau đây: I. Cơ sở tâm lý học Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thực chất là phát triển hoạt động lời nói. Quá trình phát triển lời nói của trẻ gắn bó rất chặt chẽ với 2 cơ chế của hoạt động lời nói là sản sinh ngôn ngữ và tiếp nhận ngôn ngữ. Quá trình hình thành lời nói ở trẻ gắn bó rất chặt chẽ với hoạt động của tư duy. Sự mạch lạc trong lời nói của trẻ thực chất là sự mạch lạc của tư duy. Việc tiếp thu ngôn ngữ có nhiều đặc điểm khác với việc tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác. Ngôn ngữ được hình thành từ rất sớm. Ban đầu trẻ không có ý thức về ngôn ngữ và học nói theo cách tự nhiên, về sau, khi tư duy phát triển thì có thể tổ chức học nói có ý thức hơn. Tâm lý của trẻ trước tuổi học được chia thành nhiều thời kỳ, do vậy cần dựa vào đó để tìm ra phương pháp, hình thức tổ chức dạy nói cho phù hợp. II. Cơ sở giáo dục học Phát triển ngôn ngữ cho trẻ có mối quan hệ mật thiết với giáo dục học. Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ góp phần thực hiện các mục tiêu giáo dục trẻ. Từ mục tiêu chung đó, phương 5
  6. pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ xác định mục đích của mình là phát triển ngôn ngữ cho trẻ để giao tiếp và tư duy. Giáo dục học là cơ sở để xác định nội dung và phương pháp tốt nhất để dạy nói cho trẻ. III. Cơ sở ngôn ngữ học Phát triển ngôn ngữ cho trẻ bao gồm tất cả các kiến thức về ngôn ngữ học. Kiến thức về ngôn ngữ học sẽ là những kiến thức cơ sở giúp cho các nhà giáo dục hiểu đúng nhiệm vụ, nội dung, tìm ra các phương pháp, biện pháp hữu hiệu để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ có mối quan hệ khăng khít với ngôn ngữ học bởi vì nó là khoa học ứng dụng của ngôn ngữ học. IV. Cơ sở sinh lí học Ngôn ngữ có cơ sở sinh lý. Hoạt động lời nói có cơ sở sinh lí học. Đây là cơ sở tự nhiên của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát triển của bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung, bộ máy phát âm nói riêng. Vì thế cần phải phát triển ngôn ngữ đúng lúc mới đạt kết quả tốt. C. PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ I. Nhóm phương pháp trực quan Nhóm phương pháp trực quan được sử dụng nhằm vào các mục đích phát triển ngôn ngữ sau: - Rèn luyện phát âm cho trẻ. Dạy cho trẻ cách thức phát âm. - Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ. - Củng cố kiến thức, củng cố vốn từ. - Phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Tập cho trẻ diễn đạt... - Trẻ sử dụng những giác quan, bộ máy vận động của mình để tích lũy dần dần những kinh nghiệm, những hình ảnh, những biểu tượng và kỹ xảo ngôn ngữ. Điều đó giúp trẻ suy nghĩ mạch lạc và biểu hiện những ấn tượng của mình bằng lời nói trôi chảy. Phương pháp trực quan là phương pháp chủ đạo trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Vì vậy, phương pháp trực quan được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực dạy nói cho trẻ và được tiến hành trên giờ học, mọi lúc, mọi nơi. Các dạng trực quan thường sử dụng là quan sát, vật thật, tham quan, xem phim… II. Nhóm phương pháp dùng lời nói II.1. Đọc thơ ( ca dao, tục ngữ, đồng dao) Lời thơ, ca dao... mang tính nhịp điệu cao, có vần điệu, vì vậy, khi đọc cần đọc chậm rãi, vừa phải, chú ý ngắt giọng sau mỗi câu và nhấn vào các từ mang vần. Cần truyền đạt được âm điệu vui tươi, sảng khoái đến với trẻ. Đọc thơ, ca dao, đồng dao... giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp điệu của tiếng Việt. Khi đọc thơ cho trẻ nghe, cô giáo kết hợp giải thích các từ khó, từ xa lạ đối với trẻ. Đây là việc làm góp phần phát triển vốn từ nói riêng, phát triển ngôn ngữ nói chung cho trẻ. 6
  7. II.2. Kể và đọc truyện Là PP chủ yếu giúp trẻ làm quen với văn học. Khi đọc, kể chuyện cô giáo sử dụng ngữ điệu giọng nói để bộc lộ được đặc điểm, tính cách nhân vật. Đọc kể phải chậm rãi, vừa phải để trẻ còn lắng nghe và ghi nhớ được các từ ngữ, câu văn trong truyện... điều đó giúp trẻ tích luỹ vốn từ và học được cách thể hiện qua giọng đọc, giọng kể của cô. II.3. Kể lại chuyện Là hình thức kể lại một cách sáng tạo câu chuyện theo mẫu trẻ đã được nghe, nhận biết được sự tác động lên cảm xúc, giúp trẻ ghi nhớ và kể lại những điều đã được nghe. Trẻ sẽ biết vận dụng ngôn ngữ của mình để kể lại chuyện một cách sáng tạo, phù hợp. II.4. Đàm thoại Là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa người với người. Đàm thoại được sắp xếp có tổ chức, có kế hoạch nhằm mục đích đi sâu, làm cho chính xác và hệ thống tất cả những biểu tượng và kiến thức mà trẻ thu lượm được. Mục đích của đàm thoại là củng cố và hệ thống hóa bằng công cụ ngôn ngữ tất cả những kiến thức mà trẻ thu nhận được. Qua quá trình đàm thoại, trẻ được nói về những suy nghĩ, hiểu biết của mình, điều đó đã góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ. II.5. Nói mẫu Được sử dụng khi chỉ cho đứa trẻ cách thức tốt nhất để diễn đạt ý nghĩ của mình, nói rõ hơn có nghĩa là sử dụng câu đúng để diễn đạt. Nói mẫu còn sử dụng để củng cố, nhắc lại chính xác hóa từ, câu hay một đoạn văn. Tuy nhiên, số lượng câu trong mẫu phải phù hợp với khả năng chú ý và trí nhớ của trẻ. Ví dụ: Mẫu câu: Chủ ngữ - Vị ngữ - Bổ ngữ Cháu đi chơi ( C - V - B) Khi nói mẫu cô giáo phải chú ý không nhắc lại cái sai của trẻ. II.6. Giảng giải Cô dùng lời lẽ của mình để nói cho trẻ hiểu về bản chất, đặc điểm... của một vật hoặc một hành động nào đó. Cô sử dụng những từ trẻ đã biết để giải nghĩa cho những từ trẻ chưa biết. Cách làm này hay được áp dụng trong việc phát triển vốn từ. II.7. Câu hỏi Câu hỏi hướng sự chú ý của trẻ tới việc nhận thức đối tượng. Câu hỏi ở lứa tuổi mẫu giáo thường được kết hợp với trực quan. Câu hỏi đưa ra có mục đích phát triển ngôn ngữ yêu cầu trẻ biết lựa chọn từ ngữ, sử dụng các kiểu câu và diễn đạt khi trả lời. Câu hỏi cũng góp phần quan trọng trong việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp. III. Nhóm phương pháp thực hành III.1. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua trò chơi Ngôn ngữ và tư duy liên hệ chặt chẽ với hoạt động, lao động của con người. Hoạt động chính của trẻ em là vui chơi. Vui chơi được thể hiện qua các trò chơi. Từ những kinh nghiệm trong trò chơi trẻ khám phá ra những biểu tượng rồi liên hệ chúng với từ. Mỗi vật có tên riêng, mỗi hành động có một động từ riêng để chỉ nó... cho nên cô giáo cần tổ chức tốt hoạt động chơi, cung cấp đồ dùng, đồ chơi để trẻ có điều kiện tăng cường hoạt động ngôn ngữ. III.2. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động, lao động Trong trường mầm non, trẻ được tham gia vào các hoạt động nói chung, lao động nói riêng. Tất cả các hoạt động và hình thức lao động đều tạo ra những khả năng to lớn để làm phong phú ngôn ngữ cho trẻ. 7
  8. IV. Phương pháp sử dụng trò chơi Trò chơi chiếm giữ một vị trí quan trọng trong các hoạt động giáo dục ở trường mầm non. Đối với việc dạy nói cho trẻ thì điều này càng rõ. Có nhiều trò chơi có thể sử dụng được vào mục đích dạy nói cho trẻ. Ví dụ: Trò chơi luyện phát âm như ngửi hoa, thổi bóng... Các trò chơi để phát triển vốn từ: Chiếc túi kỳ diệu, cái gì biến mất... Các trò chơi để phát triển kỹ năng nói mạch lạc, giao tiếp ngôn ngữ có văn hoá như các trò chơi đóng vai theo chủ đề: gia đình, bán hàng, cô giáo, bác sĩ... Kết quả của việc sử dụng các trò chơi để phát triển lời nói cho trẻ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tìm tòi, sáng tạo của cô giáo. Có nhiều trò chơi có sẵn, cũng có thể cần đến sự sáng tạo của cô tạo ra các trò chơi mới để phục vụ cho mục đích dạy học. D. CÁC LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ I. Luyện phát âm chuẩn cho trẻ 1. Khái niệm Luyện phát âm chuẩn cho trẻ là hướng dẫn trẻ phát âm đúng âm thanh ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ, phát âm rõ ràng từ, câu theo đúng qui định và luyện cho trẻ biết điều chỉnh giọng nói của mình sao cho diễn cảm, phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp (điều chỉnh cường độ giọng nói to, nhỏ, tốc độ nhanh hay chậm, nhịp độ sao cho nhịp nhàng, ngắt nghỉ đúng chỗ và nói có ngữ điệu, thể hiện sắc thái biểu cảm của lời nói). Luyện phát âm cho trẻ còn là phát triển khả năng nghe âm thanh ngôn ngữ, điều khiển hơi thở đúng… 2. Đặc điểm về ngữ âm của trẻ từ 0 đến 6 tuổi 2.1. Giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 đến 12 tháng tuổi) Trong giai đoạn tiền ngôn ngữ, trẻ em đã tự học cách sử dụng bộ máy phát âm, tập phát âm các âm vị, tập lắng nghe và nhìn sự chuyển động của cơ quan phát âm (của người nói). Đây là cơ sở ban đầu rất quan trọng để trẻ tiếp thu ngôn ngữ ở giai đoạn sau. 2.2.Giai đoạn ngôn ngữ (từ 1 đến 6 tuổi) - Với trẻ từ 1 đến 3 tuổi: Trẻ ở độ tuổi này có thể nghe và hiểu được các từ gần gũi, quen thuộc (bà, bố, mẹ), các câu đơn giản (bé chào bà), đồng thời trẻ cũng bắt đầu thể hiện nhu cầu, mong muốn của mình bằng lời nói, tuy nhiên cách phát âm của trẻ còn rất khó khăn. Trẻ vẫn còn sử dụng các âm bập bẹ để thể hiện các nhu cầu khác nhau. Đến 3 tuổi, cơ quan phát âm và tai nghe ngôn ngữ của trẻ ở độ tuổi này đã phát triển, hoàn thiện hơn. Trẻ có khả năng phát âm đúng hầu hết các âm đơn và thanh điệu. - Với trẻ từ 3 đến 6 tuổi: Ở thời kỳ này trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, âm cuối, thanh điệu dần dần được định vị. Trẻ phát âm đúng hầu hết các âm vị của tiếng mẹ đẻ. Trẻ đã biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp. Tuy vậy, trẻ vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm, còn nhầm lẫn khi phát âm một vài phụ âm và nguyên âm, thanh điệu. Kết luận: Khả năng hoàn chỉnh về mặt phát âm của trẻ được tăng dần theo từng độ tuổi, trẻ nhanh chóng định vị được các âm vị có cấu âm đơn giản, những âm vị có cấu âm phức tạp trẻ dễ mắc lỗi nhưng nếu kiên trì tập luyện thì trẻ sẽ có khả năng định vị các âm vị của tiếng mẹ đẻ. 3. Nội dung, phương pháp luyện phát âm cho trẻ ở giai đoạn tiền ngôn ngữ 3.1. Nội dung + Hình thành sự tập trung thính giác và thị giác cho trẻ. + Tiếp tục phát triển thính giác, thị giác, giúp trẻ nhìn ra hướng phát âm, phân biệt được ngữ điệu lời nói khác nhau, nghe những bài hát có giai điệu êm dịu. 8
  9. + Nhìn và nghe người lớn lắc các đồ vật có âm thanh theo nhịp điệu. + Phát triển các vận động ngôn ngữ và luyện tập bộ máy phát âm, giúp trẻ phát âm được âm thanh để thể hiện cảm xúc, kích thích trẻ phát âm những âm bập bẹ. + Tập cho trẻ phát âm và dạy trẻ nói một số từ (ba ba, măm măm...), bắt chước tiếng kêu của một số đồ vật. 3.2. Phương pháp + Cô giáo nói chuyện trực tiếp với từng trẻ. Cô gọi tên trẻ, cầm tay hoặc vuốt ve trẻ khi nói chuyện. + Cô đưa đồ chơi có màu sắc sặc sỡ, có tiếng kêu khác nhau ra trước mắt trẻ và kết hợp với trò chuyện để trẻ vừa xem vừa nghe âm thanh ngôn ngữ, âm thanh của đồ vật. + Cô chú ý lắng nghe các âm trẻ phát ra và kịp thời nhắc lại. Cô phát âm mẫu cho trẻ phát âm theo. + Cô dạy trẻ nói một số từ bằng việc nói theo cô. + Tăng cường trò chuỵện với trẻ. + Cô cần kết hợp ngữ điệu giọng nói với biểu hiện của nét mặt. + Hát cho trẻ nghe để trẻ làm quen với các giai điệu khác nhau. 4. Nội dung, phương pháp luyện phát âm cho trẻ ở giai đoạn ngôn ngữ (1 - 6 tuổi) 4.1. Nội dung 4.1.1. Rèn luyện thính giác ngôn ngữ Là rèn luyện khả năng tri giác âm thanh ngôn ngữ, giúp trẻ phân biệt âm thanh nói chung (phân biệt tiếng gõ ghế, tiếng chuông reo...) và phân biệt âm thanh ngôn ngữ với nhau ( phân biệt m và n, n và l...), phân biệt âm tiết (tầm và tấm...). 4.1.2. Luyện cơ quan phát âm Cơ quan phát âm gồm : răng, lưỡi, môi, ngạc cứng, ngạc mềm, phổi... Luyện cơ quan phát âm là làm cho các bộ phận của cơ quan này chuyển động linh hoạt, nhịp nhàng, giúp trẻ dễ dàng điều khiển nó khi phát âm. Luyện cơ quan phát âm có hai nội dung. Đó là luyện vận động tự do và luyện vận động theo phương thức phát âm. 4.1.3. Luyện thở ngôn ngữ Luyện thở là điều chỉnh luồng hơi sao cho thích hợp với việc nói năng. Các bài tập luyện thở có hai nội dung: thở tự do và thở ngôn ngữ (thể hiện qua việc phát âm các từ hay việc ngừng nghỉ khi đọc thơ, trò chuyện...). 4.1.4. Luyện giọng Giúp trẻ có khả năng điều khiển giọng nói của mình, làm cho giọng nói của mình trở nên biểu cảm, rõ ràng, thể hiện được thái độ, tình cảm của người nói trong những âm điệu âu yếm, trầm bổng, vang, to, nhỏ, nhanh, chậm... 4.2. Phương pháp luyện phát âm cho trẻ ở giai đoạn ngôn ngữ 4.2.1. Luyện phát âm theo mẫu + Đối với trẻ 1-3 tuổi, tiếp tục cho trẻ bắt chước người lớn phát âm theo mẫu như lứa tuổi trước. Dạy trẻ phát âm với cường độ, tốc độ khác nhau. + Đối với trẻ 3-6 tuổi cần củng cố, chính xác hoá lại các âm vị bằng cách phát âm mẫu. Cô giáo có thể chỉ ra cho trẻ biết vị trí của các bộ phận phát âm như môi, răng... 4.2.2. Luyện phát âm qua trò chơi - Cô giáo phải nắm được mục đích, yêu cầu, nội dung chơi, cách thức chơi và chơi mẫu cho trẻ xem. - Trong quá trình trẻ chơi, cô phải luôn theo dõi, sửa sai cho trẻ. Một số trò chơi luyện phát âm như: + Trò chơi luyện thở giúp trẻ biết hít thở đều, biết cách lấy hơi khi nói... + Trò chơi luyện thính giác: Đoán tiếng kêu của các con vật... 9
  10. + Trò chơi truyền tin. + Trò chơi luyện cơ quan phát âm: Trò chơi gọi gà (bập bập), “kim đồng hồ quay”... + Trò chơi luyện giọng: Bắt chước tiếng kêu của các con vật (ò ó o, meo meo, ù ù) 4.2.3. Luyện phát âm qua xem vật thật, đồ chơi, tranh ảnh + Cho trẻ xem tranh, vật thật, đồ chơi...rồi yêu cầu trẻ gọi tên vật đó (cô phải chuẩn bị sẵn các DDĐC). Ví dụ: rổ, rá, rùa, rắn, cá rô...tranh vẽ con rùa... + Trong quá trình trẻ chơi và phát âm, cô phải theo dõi, sửa sai cho trẻ. 4.2.4. Luyện phát âm qua việc đọc thơ, đọc câu nói có vần, đọc đồng dao và tập nói nhanh, nói đúng. Cô đọc cho trẻ nghe các bài ca dao, đồng dao, câu nói có vần sau đó hướng dẫn trẻ đọc để rèn luyện kỹ năng phát âm đúng, rõ ràng, có nhịp điệu... Tập cho trẻ nói nhanh, nói đúng cũng là hình thức luyện tập tốt, sử dụng cho trẻ 4-6 tuổi. Cô sẽ chọn những câu nói trong đó có những âm cần luyện rồi nói mẫu từng câu, từng từ một cách rõ ràng và yêu cầu trẻ nói theo. Ví dụ: Lúa nếp là lúa nếp làng. Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng. II. Phát triển vốn từ cho trẻ 1. Khái niệm Phát triển vốn từ cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp. 2. Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ. 2.1. Làm giàu vốn từ cho trẻ, giúp trẻ làm quen với các từ mới, làm cho vốn từ của trẻ thêm phong phú - Việc làm giàu vốn từ cần tiến hành trên nguyên tắc mở rộng dần từ cụ thể đến khái quát. - Ở giai đoạn đầu, cần cung cấp cho trẻ những từ ngữ mang ý nghĩa cụ thể (Các đồ vật trong gia đình, các cây, con …gần gũi, các động từ biểu thị hoạt động cơ bản của con người, các tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật…) - Ở giai đoạn sau, cung cấp cho trẻ những từ mang ý nghĩa khái quát hơn . - Làm giàu những từ ngữ chỉ số, những từ ngữ trừu tượng. - Cho trẻ biết một từ có thể có nhiều nghĩa (đi học, đi găng tay), có nghĩa chính và nghĩa phụ (đối với trẻ mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn). - Trên cơ sở nghĩa vốn có, có thể phát triển thêm các nghĩa mới của từ. Có thể cho trẻ biết một số ẩn dụ (răng lược, chân ghế, mũi kim) và hoán dụ (đỏ mặt tía tai) dễ hiểu. - Để làm phong phú vốn từ, có thể cho trẻ tìm từ trái nghĩa. - Cần phải dạy trẻ MG biết ghi nhớ và sử dụng các thành ngữ (đen như mực, chậm như rùa, đỏ như gấc), tục ngữ với nội dung phù hợp và cách nói gợi cảm, dễ nhớ của các thành ngữ, tục ngữ đó. 2.2. Củng cố vốn từ, giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của từ - Nhắc lại nhiều lần những từ mới học. - Củng cố những từ khó phát âm. - Tích cực sửa sai cho trẻ và chú ý dạy trẻ phát âm đúng những từ mới học. - Chú ý đến việc củng cố nghĩa của từ, nhắc lại nhiều lần ý nghĩa của từ để củng cố vững chắc cho trẻ. 2.3. Tích cực hóa vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết lựa chọn từ để sử dụng một cách chính xác, biểu cảm làm cho ngôn ngữ của trẻ mang sắc thái tu từ - Giúp trẻ biết lựa chọn từ để sử dụng một cách chính xác, thành thạo. 10
  11. - Giúp trẻ có một trí nhớ linh hoạt để tìm ra những từ ngữ cần thiết cho sự diễn đạt. - Tích cực hoá vốn từ giúp trẻ vận dụng từ vào lời nói làm cho vốn từ ngữ thụ động chuyển sang từ ngữ tích cực. - Ngăn ngừa trẻ sử dụng những từ ngữ thô tục, thiếu văn hoá. 3. Đặc điểm vốn từ của trẻ Đặc điểm vốn từ của trẻ thể hiện ở các nội dung sau: * Vốn từ xét về mặt số lượng - Số lượng từ của trẻ tăng nhanh theo thời gian, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó quan trọng nhất là các tác động của môi trường như: sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh, trình độ của cha mẹ... - Sự tăng có tốc độ không đồng đều. - Năm thứ 3 có tốc độ tăng nhanh nhất. - Từ 3-6 tuổi tốc độ tăng vốn từ giảm dần. * Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại Danh từ là những từ loại xuất hiện sớm nhất, sau đó là các từ loại như động từ, tính từ, đại từ, số từ, trạng từ, quan hệ từ... - Giai đoạn 3-4 tuổi, về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ. Trong đó tỉ lệ danh từ, động từ cao hơn nhiều so với các loại khác. - Giai đoạn 5-6 tuổi, tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi nhường chỗ cho tính từ và các từ loại khác tăng lên. * Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ mẫu giáo Có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ. - Trẻ nhà trẻ hiểu được nghĩa của từ ở mức độ zerô (0) và 1. - Trẻ mẫu giáo hiểu được ở mức độ 2 và 3. Như vậy, khả năng hiểu nghĩa của từ ở trẻ mầm non tăng dần theo độ tuổi. 4. Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ ở trường mầm non 4.1. Những từ ngữ về cuộc sống riêng - Mẫu giáo bé + Gọi tên nơi ở, tên bố mẹ anh chị em, tên trường mầm non, tên cô giáo, tên các bạn. + Gọi đúng tên vị trí các phần trong nhà, trường, lớp. + Làm quen với các đồ dùng trong nhà hàng ngày. Gọi đúng tên nơi để các đồ dùng. + Biết và gọi tên công việc của người lớn trong gia đình, trường mầm non. - Mẫu giáo nhỡ + Mở rộng thế giới đồ vật trong tầm nhìn của trẻ: cho trẻ tiếp xúc với tất cả những đồ vật có trong nhà, trường mầm non. Trẻ phân biệt được những đặc điểm của các đồ dùng, đồ vật gần nhau. + Nhớ địa chỉ trường, nhận biết được môi trường xung quanh một cách có phương hướng; sử dụng được các từ chỉ hoạt động hàng ngày của trẻ. + Nhận biết và gọi đúng các màu xanh, đỏ, đen, trắng, tím, vàng... - Mẫu giáo lớn + Hiểu và dùng từ đúng về cuộc sống gia đình, về công việc của bố mẹ, anh chị em + Nắm được từ ngữ về nội qui, qui định ở trường lớp, nơi công cộng + Hiểu biết chi tiết và gọi tên các sự vật trong tầm nhìn của trẻ, nói về đặc điểm, công dụng của đồ vật; điện thoại để nói chuyện với người ở xa... + Nắm được các khái niệm và dùng đúng các từ chỉ thời gian. + Cung cấp các từ khái quát ở mức độ 3. + Cho trẻ biết và sử dụng đúng một số từ ghép, từ láy. + Bước đầu cho trẻ biết một vài từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa. + Bước đầu cho trẻ biết một số ẩn dụ. + Bước đầu dạy trẻ một số thành ngữ. 11
  12. 4.2. Những từ ngữ về cuộc sống xã hội - Mẫu giáo bé + Cho trẻ làm quen với cuộc sống của đất nước: ngày lễ hội, Tết Nguyên đán, tết Trung thu. + Nói được một số từ ngữ về các chú bộ đội, công an, các bác công nhân, nông dân... + Gọi đúng tên và lợi ích của một số phương tiện giao thông phổ biến ở địa phương. - Mẫu giáo nhỡ + Cho trẻ biết thêm các ngày lễ lớn; kể về nơi Bác làm việc; kể về Lăng Bác, về Bảo tàng Hồ Chí Minh. + Cung cấp cho trẻ tên gọi một số cơ quan nhà nước và chức năng của chúng. + Quan sát, gọi tên và hiểu chức năng của các công trình công cộng. + Tiếp tục cung cấp vốn từ về bộ đội, công an, nông dân, công nhân... - Mẫu giáo lớn + Mở rộng vốn từ về phương tiện giao thông và các đặc điểm, hoạt động của nó. + Hình thành khái niệm về tổ quốc, quê hương, nhân dân. + Cung cấp hiểu biết, vốn từ về địa phương. + Mở rộng hiểu biết và vốn từ về các ngày lễ lớn. + Hiểu về gia đình và xã hội: gia đình; họ hàng; nhân dân. + Hiểu về những sinh hoạt chung của xã hội. 4.3. Những từ ngữ nói về thế giới tự nhiên - Mẫu giáo bé + Cho trẻ nhận biết và gọi tên một số loại rau thông thường. + Nhận biết và gọi đúng tên một số con vật nuôi trong gia đình. + Dạy cho trẻ nói đúng những từ chỉ các hiện tượng tự nhiên. - Mẫu giáo nhỡ + Cho trẻ nhận biết và gọi tên đúng mùi vị một số loại quả. + Cho trẻ gọi tên các con vật tương đối giống nhau, cho trẻ so sánh để thấy được những điểm giống và khác nhau giữa chúng. + Cung cấp cho trẻ tên gọi về ích lợi và tác hại của một số loài vật. + Mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, đặc điểm các mùa. - Mẫu giáo lớn + Cho trẻ so sánh những con vật, yêu cầu trẻ tìm kiếm những điểm giống nhau để dần dần biết phân loại, khái quát. + Cho trẻ nhận biết và nói về các mùa trong năm, đặc điểm của các mùa. 5. Các phương pháp làm giàu và củng cố, chính xác hoá, tích cực hoá vốn từ cho trẻ các độ tuổi 5.1.Trẻ dưới 3 tuổi 5.1.1. Tiết học phát triển vốn từ. Nhận biết - Tập nói Mục đích: Nhằm hướng dẫn trẻ xem xét sự vật, hiện tượng xung quanh gần gũi với trẻ, giúp trẻ nhận biết được sự vật, những đặc điểm, cấu tạo của sự vật, hành động với sự vật. Trên cơ sở đó cung cấp những từ tương ứng. Yêu cầu: - Phải có đồ dùng trực quan. - Một biểu tượng được cung cấp phải gọi ra từ tương ứng. - Tiết học phải được tiến hành từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp... Phương pháp hướng dẫn: * Trẻ dưới 24 tháng tuổi Căn cứ vào đặc điểm độ tuổi của trẻ để sử dụng các phương pháp theo mức độ tăng dần sau: - Dùng các loại đồ chơi sặc sỡ có phát ra âm thanh...để thu hút sự chú ý của trẻ kèm theo việc trò chuyện với trẻ. 12
  13. - Cho trẻ cầm nắm các đồ chơi để phát triển xúc giác. - Cho trẻ chơi các đồ chơi có màu sắc rực rỡ, phát ra âm thanh, cho trẻ chơi các trò chơi đòi hỏi sự chú ý và phát triển các giác quan (lồng hộp, bỏ vào lấy ra, lăn bóng, ú oà...). - Cho trẻ chơi với những đồ chơi nhỏ bằng cao su, nhựa. Trong khi trẻ chơi với các đồ chơi đó, cô phát âm chính xác, rõ ràng các từ biểu thị tên gọi các sự vật đó rồi yêu cầu trẻ chỉ vào vật và bắt chước cách phát âm của cô. - Cho trẻ tiếp xúc với vật thật sau đó cô hỏi trẻ và yêu cầu trẻ trả lời. Nếu trẻ không chú ý thì dùng thủ pháp dấu vật để thu hút sự chú ý của trẻ. Khi dạy, cô cần dùng những câu ngắn gọn, dễ hiểu, cần kết hợp chặt chẽ giữa lời nói và hành động với sự vật. - Dạy trẻ biết sử dụng từ trong một câu trọn vẹn (câu có 4-6 từ). - Dạy trẻ nói theo 4 chủ đề: chủ đề về hoa, chủ đề về các loại quả, về các con vật, đồ vật. Mỗi chủ đề cho trẻ làm quen với 4-5 đối tượng. Trên 1 tiết học cho trẻ làm quen một đối tượng, biết tên gọi 4-5 chi tiết hoặc công dụng, hoạt động của nó. - Cô cho trẻ quan sát đối tượng, giới thiệu tên gọi, các chi tiết, công dụng, hoạt động của nó đồng thời dạy trẻ nói bằng cách trả lời các câu hỏi của cô. * Trẻ từ 24-36 tháng tuổi Với lứa tuổi này dạy theo chủ đề, mỗi chủ đề theo 2 loại bài: Loại 1: Dạy trẻ từng vật riêng lẻ, dạy trẻ tên gọi của vật, các chi tiết, đặc điểm, cấu tạo, công dụng của vật và hoạt động của chúng. Loại 2: Dạy trẻ ở mức độ khái quát theo từng thể loại.. Cấu trúc một tiết học Nhận biết - Tập nói ở nhà trẻ. - Cô chuyển từ hoạt động chơi sang hoạt động học: Chú ý không quá đột ngột, gò bó, phải gây được hứng thú của trẻ. Tuỳ theo đặc điểm của trẻ mà lựa chọn hình thức cho phù hợp. - Cô giới thiệu vật cần dạy: cần ngắn gọn, hấp dẫn bằng các thủ thuật khác nhau (bắt chước tiếng kêu, dấu để trẻ tìm, đoán vật, cho trẻ trực tiếp tiếp xúc với vật...) - Cô hướng dẫn trẻ nhận biết - tập nói theo trình tự: Cô giới thiệu tên gọi của vật (hoặc hỏi trẻ nếu trẻ đã biết vật đó), sau đó giới thiệu các chi tiết, đặc điểm của vật. Cho trẻ nhận biết - tập nói bằng các câu hỏi khác nhau. Nếu trẻ không trả lời được, cô gợi ý cho trẻ. Lưu ý: Trong khi hướng dẫn cần cho trẻ trực tiếp tiếp xúc với vật, vừa cho trẻ chơi vừa hỏi trẻ. Cần động viên khuyến khích trẻ ngay trong quá trình dạy. Phải phát huy tính tích cực của trẻ - Củng cố: Nhắc lại tên gọi của vật, của các chi tiết, đặc điểm của vật - Kết thúc tiết học: Khen trẻ, khéo léo nhắc nhở những trẻ chưa chú ý 5.1.2. Phát triển vốn từ trong giao tiếp tự do Căn cứ vào đặc điểm độ tuổi của trẻ để sử dụng các phương pháp theo mức độ tăng dần sau: - Cô tăng cường nói chuyện với từng nhóm trẻ trong hoạt động chơi. Trong giờ chơi, cô nói chuyện, chơi với từng trẻ hoặc 2-3 trẻ. Ví dụ: Chơi ú oà, tìm vật theo tên gọi, trốn cô... - Trong giờ chơi, cô tập cho trẻ vỗ tay, bắt tay, vừa làm động tác vừa nói rõ ràng từ biểu thị hành động đó. Sau khi trẻ đã hiểu từ biểu thị hành động, cô có thể yêu cầu trẻ làm hoặc cô làm cho trẻ bắt chước. - Trong giờ ăn, giờ đón trẻ, trả trẻ, cô thường xuyên nói với trẻ một số từ và tập cho trẻ nói theo. - Cô cùng chơi với trẻ, cho trẻ chơi với các đồ chơi, gọi tên 1-2 chi tiết của đồ chơi rồi hỏi trẻ. - Khi nói chuyện với trẻ cô nên gọi tên trẻ, tên các bạn, tên cô trong lớp rồi hỏi trẻ. - Khi ăn, mặc, vệ sinh, cô gọi tên các đồ dùng quen thuộc, gọi tên các hành động mà cô, trẻ thực hiện (ăn cháo, uống nước...) để cho trẻ làm quen dần. - Trong khi chơi, cô có thể dạy trẻ biết tên gọi các bộ phận của cơ thể. Dạy trẻ làm theo một số yêu cầu của cô, thông qua đó dạy trẻ một số từ chỉ hành động của sự vật (ăn, nằm, đưa cho cô...). 13
  14. - Cô tăng cường nói chuyện với trẻ trong giờ chơi tự do. Dạy trẻ nhận biết các đồ dùng đồ vật quen thuộc. Cô có thể sử dụng các loại câu hỏi để hỏi trẻ. Chú ý dạy trẻ phát âm đúng. Trong khi chơi, có thể đưa thêm từ mới vào dạy trẻ thông qua việc đưa thêm đồ chơi, động tác chơi. Ví dụ: Con chải đầu cho em bé đi. - Trong giờ giao tiếp tự do, chú ý không chỉ cung cấp danh từ mà còn cung cấp động từ, tính từ chỉ hành động, đặc điểm của sự vật Ví dụ: Quả bóng tròn, lăn nhanh, màu đỏ... - Cô khuyến khích trẻ nói, sử dụng nhiều từ trong khi chơi với bạn. Chú ý sửa cho trẻ khi cháu dùng từ không chính xác. - Trò chuyện với trẻ về trò chơi, hỏi trẻ về đồ vật, đồ chơi ở nhà, về những người thân trong gia đình..., chú ý dạy trẻ những từ mới trong khi trẻ chơi. - Tổ chức cho trẻ chơi các đồ chơi với từ đơn giản. 5.2. Trẻ từ 3-6 tuổi 5.2.1. Phát triển vốn từ trong giao tiếp tự do - Bằng cách đưa thêm đồ chơi, nội dung chơi vào cho trẻ để đưa thêm từ mới cho trẻ làm quen, chú ý cách dùng từ và sửa sai cho trẻ. - Trong thời gian giao tiếp tự do, cô có thể trò chuyện với trẻ về những nội dung mà trẻ quan tâm, chú ý củng cố vốn từ cho trẻ. - Cô tăng cường tổ chức các trò chơi với từ, nội dung chơi phong phú hơn so với trẻ 2-3 tuổi... - Trong giao tiếp tự do, cô tăng cường trò chuyện với trẻ, gợi cho trẻ tự kể, khéo léo nhắc trẻ những từ trẻ chưa sử dụng được, khuyến khích trẻ dùng những từ hay, những từ có hình ảnh. Khi trẻ nói chuyện, cô phải chú ý lắng nghe trẻ. - Đối với MGN và MGL, trong giao tiếp tự do, cô có thể sử dụng câu đố để củng cố, tích cực hoá vốn từ cho trẻ, giúp trẻ hiểu rõ ý nghĩa của từ. Cùng ở dạng đố, cô có thể tổ chức dưới dạng trò chơi. Ví dụ: Câu đố: Quả gì cong cong Xếp thành một nải Nải xếp thành buồng Khi chín vàng thơm Ăn ngon ngọt lắm ? Hoặc trò chơi: Thi xem ai đoán nhanh… 5.2.2. Phát triển vốn từ trên các tiết học * Tiết học: Làm quen với môi trường xung quanh - Tiết học này cung cấp một số lượng lớn các từ. Để những tiết học này có hiệu quả cao trong việc phát triển vốn từ cho trẻ, cô cần phải thực hiện tốt những yêu cầu chung về tổ chức tiết học nhưng cũng cần đầu tư thích đáng cho nhiệm vụ phát triển vốn từ bằng việc xác định những từ ngữ cần cung cấp, cho trẻ lặp đi lặp lại nhiều lần những từ mới, từ khó... * Tiết học: Làm quen với tác phẩm văn học - Cung cấp cho trẻ những từ có hình ảnh. - Cần giải thích các từ trong tác phẩm một cách rõ ràng, dễ hiểu, có thể dùng nhiều cách khác nhau để giải thích. Với những từ khó có thể giải thích thì không nên cố gắng mà làm sai lệch đi nghĩa của từ. * Tiết học: Phát triển ngôn ngữ mạch lạc - Cô khuyến khích, hướng dẫn trẻ sử dụng những từ hay. - Cô có thể kể một câu chuyện ngắn, trong đó có các từ không hay và đề nghị trẻ chọn từ khác thay thế. 14
  15. Ngoài những tiết học trên còn có nhiều tiết học khác có thể góp phần phát triển vốn từ cho trẻ. Khi sử dụng các tiết học này cần phải sử dụng phương pháp trực quan, phải tích cực hoá quá trình nhận thức và ngôn ngữ của trẻ. Ví dụ: Tiết học gọi tên những từ biểu thị khái niệm về loại (đồ chơi, đồ gỗ...) Ngoài ra, có thể tổ chức các tiết hướng dẫn trẻ quan sát các sự vật, hiện tượng, giới thiệu tranh, quan sát đồ chơi, trò chơi học tập, trò chơi ngôn ngữ…để phát triển từ, làm chính xác hoá, tích cực hoá vốn từ cho trẻ. 5.2.3. Hướng dẫn trẻ quan sát - Cho trẻ quan sát vật thật, đồ chơi. Thực hiện theo các bước sau: + Chuẩn bị quan sát: Chọn đối tượng phù hợp. Chọn những kiến thức cần thiết. Chọn các từ ngữ phù hợp. Chọn bài thơ, bài hát...để tăng sự hấp dẫn của hoạt động. + Tổ chức quan sát Khởi động (hát, đọc thơ...). Cô lắng nghe trẻ tự do trao đổi, nhận xét, chú ý đến vốn từ. Cô hướng trẻ quan sát theo mục đích đã đặt ra. Cho trẻ quan sát và dùng từ ngữ nói về những gì trẻ đã tri giác. Lưu ý cung cấp những từ ngữ thể hiện tính chất của sự vật. + Củng cố kiến thức: Dùng các bài thơ, câu đố, bài hát - Cho trẻ xem tranh + Hướng dẫn trẻ quan sát toàn bộ bức tranh (vẽ ai, cái gì), sau đó mới đi vào chi tiết. + Cô miêu tả lại ngắn gọn về toàn bộ bức tranh. + Dùng các câu hỏi theo nội dung tranh để cho trẻ hiểu được từ, đặc biệt là các từ khái niệm (ở giữa, bên phải, kế bên...). 5.2.4. Sử dụng đồ chơi để phát triển vốn từ - Lựa chọn đồ chơi phù hợp lứa tuổi. - Sử dụng nhiều đồ chơi khác nhau. - Cho trẻ hoạt động với đồ chơi. 5.2.5. Sử dụng các trò chơi học tập - Sử dụng trò chơi phát triển khả năng khái quát hoá, giúp trẻ hiểu nghĩa khái quát của từ, biết sử dụng đúng... 5.2.6. Một số biện pháp dùng lời - Trò chuyện với trẻ theo câu hỏi. - Sử dụng lời kể của cô giáo. - Cho trẻ tự kể về những gì trẻ đã được làm quen. - Cho trẻ quan sát trực quan kết hợp với lời giải thích. - Đối chiếu, so sánh với những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa. - Dùng lời để định nghĩa khái niệm, nêu lên những nét đặc trưng trong nghĩa của từ. - Đặt từ vào ngữ cảnh. Kết luận: Phát triển vốn từ cho trẻ là một nội dung quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ. Nó là cơ sở thành lập câu và phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Việc phát triển vốn từ phải được thực hiện trong tất cả các hình thức dạy nói cho trẻ và phải có kế hoạch cụ thể trong từng ngày, từng tuần. 15
  16. III. Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp 1. Khái niệm Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là luyện cho trẻ nói đúng theo cấu trúc của tiếng Việt, giúp cho lời nói của trẻ có nội dung thông báo rõ ràng. Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là dạy trẻ nói được các mô hình câu, các thành phần câu cũng như vị trí của các thành phần bằng cách cho trẻ thường xuyên được nghe, được nói theo các mô hình câu chuẩn để từ đó dần dần nắm được cách cấu tạo các loại câu của tiếng mẹ đẻ. 2. Đặc điểm hệ thống ngữ pháp của trẻ từ 1 đến 6 tuổi 2.1. Giai đoạn dưới 3 tuổi - 15 tháng trẻ đã biết dùng những câu đầu tiên. Đó là những câu 1 từ. Câu 1 từ thường gắn liền với văn cảnh. Nhờ văn cảnh cùng ngữ điệu câu nói, nét mặt, cử chỉ của trẻ mà người nghe hiểu được điều mà trẻ muốn nói. Ví dụ: Đi (trẻ đòi đi chơi). Nước (trẻ muốn uống nước). - Sau câu 1 từ là sự xuất hiện của câu cụm từ. Loại câu này chưa thể hiện rõ các thành phần câu. Ví dụ: Mẹ Hương. Anh Thành. - Tiếp sau câu cụm từ là các loại câu đơn đầy đủ 2 thành phần chính. Ví dụ: Hà ngã. Lan khóc. Đến cuối 3 tuổi, các dạng câu đơn của trẻ phong phú hơn, được mở rộng thêm các thành phần khác như BN, ĐN, TN. Ví dụ: Cháu ăn kẹo. Áo màu xanh. Mai cháu đi đu quay. Trẻ cuối 3 tuổi cũng đã bắt đầu biết sử dụng các loại câu ghép: + Đó là loại câu ghép đẳng lập mô tả các sự việc hiện tượng. Ví dụ: Bác cho cháu kẹo, anh Thành cho cháu kẹo. + Câu ghép chính phụ chỉ mục đích, nguyên nhân, điều kiện. Ví dụ: Vì trời mưa nên sân ướt. Nhìn chung, tỉ lệ câu nói đúng ngữ pháp, câu mở rộng thành phần, câu ghép được tăng dần theo độ tuổi. Các câu có cấu trúc đơn giản giảm dần. Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận thức của trẻ. Trẻ càng lớn, sự hiểu biết của trẻ càng tăng, do vậy, biểu hiện trao đổi càng nhiều. Từ đó dẫn đến sự thay đổi ngày càng đa dạng trong cấu trúc câu nhằm thoả mãn nhu cầu giao tiếp của trẻ. Tuy nhiên, trẻ vẫn mắc một số lỗi trong cấu trúc câu. Cụ thể là: + Sắp xếp sai trật tự từ trong câu. Ví dụ: Khăn cháu cài áo (cháu cài khăn vào áo). + Thiếu từ trong câu (diễn đạt thiếu rõ ràng). Ví dụ: Ông đưa bánh bà (Ông đưa bánh cho bà). 2.2. Giai đoạn từ 4 đến 6 tuổi Trẻ ở độ tuổi này thường sử dụng các loại câu: Câu cụm từ, câu đơn đầy đủ thành phần, câu đơn mở rộng thành phần, câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ. Xét về loại hình câu thì số lượng không tăng nhưng các thành phần trong từng loại câu đều có sự mở rộng, phát triển. Ví dụ: Áo đẹp. Quả bóng màu xanh rất đẹp. Hôm nay ở lớp, con ăn cơm với thịt và rau. 16
  17. Các loại câu phức của trẻ cũng được mở rộng. Trẻ biết cấu tạo các câu hoàn chỉnh để kể lại nội dung câu chuyện hoặc diễn tả sự hiểu biết, diễn tả điều mong muốn của bản thân. Ví dụ: Cháu thích quả bóng mà xanh này lắm. Các câu chính phụ của trẻ đã có đủ các từ chỉ quan hệ, ý của câu được diễn đạt rõ ràng mạch lạc hơn. Ví dụ: Bố đánh cháu vì cháu đánh em bé. Một số hạn chế về câu: Dùng từ trong câu còn chưa chính xác (thừa hoặc thiếu), vị trí sắp xếp các từ trong câu chưa đúng nên câu dài, tối nghĩa... 3. Các nhiệm vụ, nội dung dạy trẻ nói đúng ngữ pháp - Dạy trẻ nói đúng cấu trúc câu: Câu có đủ thành phần C-V và các thành phần phụ. Từ ngữ được sắp xếp theo trật tự từ tiếng Việt để diễn đạt nội dung rõ ràng, mạch lạc. - Dạy trẻ biết mở rộng thành phần câu để giúp trẻ diễn đạt được các nội dung ngày càng phong phú. Cụ thể: + Ở trẻ dưới 3 tuổi: Dạy trẻ biết sử dụng thành thạo các loại câu đơn, câu mở rộng thành phần và bước đầu sử dụng được câu ghép. + Ở trẻ 4-6 tuổi: Dạy trẻ sử dụng thành thạo câu đơn mở rộng thành phần, sử dụng đúng và ngày càng phong phú các kiểu câu ghép. Dạy trẻ nói các kiểu câu phức đơn giản. 4. Các phương pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp 4.1. Xây dựng mẫu câu Mẫu câu của cô phải đạt được các yêu cầu: - Câu phải có đầy đủ thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ). - Từ ngữ trong câu phải chính xác, sắp xếp đúng trật tự của câu tiếng Việt. - Nội dung thông báo của câu phải đơn giản, rõ ràng. - Mẫu câu đưa ra phải từ những mẫu đơn giản đến những mẫu phức tạp tuỳ thuộc vào từng độ tuổi. Muốn cho trẻ làm quen với các mô hình câu, cô giáo phải xây dựng kế hoạch, xây dựng mẫu câu và thường xuyên cho trẻ tập nói theo mẫu của mô hình. Ví dụ: Gà gáy (mẫu C-V) Cháu ăn kẹo (mẫu C-V-B) Bạn Lan, bạn Hà đang hát (mẫu C1- C2-V) 4.2. Trẻ tập nói theo mẫu Để hình thành các mẫu câu, cô đặt các câu hỏi. Mô hình câu hỏi sẽ ứng với mô hình mẫu câu sẽ dạy. Sau khi đặt câu hỏi, cô trả lời mẫu một câu hoặc vài câu rồi hướng dẫn trẻ tập nói. Cô cần lặp đi lặp lại một cách có ý thức những mô hình câu. Trẻ nghe nhiều lần sẽ bắt chước, ghi nhớ và khi cần giao tiếp trẻ sẽ vận dụng một cách tự nhiên. Cần tạo cho trẻ sự hứng thú, tự nhiên trong quá trình học câu của trẻ bằng các biện pháp: + Thường xuyên trò chuyện với trẻ trong các sinh hoạt hàng ngày theo các mô hình câu. + Quan sát, đàm thoại với trẻ theo các chủ đề. + Cho trẻ xem tranh ảnh, mô hình, đồ dùng đồ chơi rồi gợi ý cho trẻ trả lời theo các kiểu câu. + Dạy trẻ kể chuyện. Lưu ý: Khi dạy trẻ làm quen với mô hình câu ghép cô giáo cần giảng giải cho trẻ hiểu mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh để trẻ liên kết các sự vật hiện tượng đó trong câu. Ví dụ: Vì trời mưa nên sân ướt. 17
  18. 4.3. Sửa lỗi ngữ pháp - Sửa lỗi dùng từ sai: Cô giáo cần giảng giải lại để trẻ hiểu đúng nghĩa của từ trẻ cần dùng. Phân tích để trẻ hiểu được mối quan hệ giữa các hành động, sự việc, từ đó giúp trẻ biết cách xếp thứ tự các từ để diễn đạt nội dung mình muốn thông báo. Cô nói mẫu câu đúng và yêu cầu trẻ nói lại. - Sửa câu nói thiếu thành phần chính: Cô đặt câu hỏi về thành phần thiếu, sau khi trẻ trả lời, cô giúp trẻ nói câu đủ thành phần. Biện pháp sửa sai nên sử dụng với trẻ ở tuổi nhà trẻ và MGB. Với trẻ độ tuổi này, cô nói mẫu câu đúng và yêu cầu trẻ nói lại. 4.4. Đàm thoại Cô trò chuyện với trẻ theo một chủ đề nào đó do cô gợi ý. Trong khi trò chuyện, cô đặt ra những tình huống để dẫn trẻ vào việc sử dụng các mẫu câu mà cô định luyện cho trẻ. Ví dụ: Trò chuyện về gia đình, về đồ dùng trong gia đình… 4.5. Sử dụng hệ thống câu hỏi Đây là một biện pháp dẫn dắt trẻ sử dụng các mẫu câu cô định luyện cho trẻ. Ví dụ: Cô dự định luyện câu đơn, câu ghép cho trẻ, cô sẽ dựa vào các chủ đề quen thuộc với trẻ hoặc dựa vào các tác phẩm văn học để xây dựng hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải mang tính khoa học, thiết thực và phù hợp. 4.6. Cho trẻ được thực hành giao tiếp, kể chuyện Cô thường xuyên tổ chức trò chuyện với trẻ và tổ chức cho trẻ nói chuyện với nhau về những đề tài đã định. Khuyến khích trẻ kể chuyện, kể lại những gì trẻ biết, thu nhận được… IV. Dạy trẻ nói mạch lạc 1. Khái niệm Có nhiều quan niệm về ngôn ngữ mạch lạc. Theo Cao Đức Tiến, lời nói mạch lạc (lời nói liên kết) là sự trình bày chi tiết có logic, có trình tự, chính xác ý nghĩ của mình, nói đúng ngữ pháp và có hình ảnh một nội dung nhất định. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày có logic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có hình ảnh một nội dung nhất định. 2. Các hình thức ngôn ngữ mạch lạc của trẻ Có 2 hình thức cơ bản của lời nói mạch lạc là độc thoại và đối thoại. Đối thoại: Là cuộc trao đổi giữa 2 hoặc một số người. Trong đối thoại sẽ hình thành cặp trao đáp luân phiên. Mục đích của đối thoại là hỏi về một cái gì đó và đòi hỏi trả lời (có khi không chỉ là hỏi và đáp). Đối thoại về căn bản là lời nói hội thoại. Mỗi một lời hội thoại tách riêng của những người tham gia đối thoại không có nghĩa kết thúc, tất cả được lĩnh hội trong sự thống nhất đối thoại. Trong đối thoại thường sử dụng câu không đầy đủ (thành phần bỏ có thể hiểu được do hoàn cảnh nói năng). Trong đối thoại thường dùng nhiều từ ngữ chêm, xen… Câu trong đối thoại thường ngắn, nhiều câu. Lời nói mang phong cách khẩu ngữ. Lời nói đối thoại trẻ nắm tương đối dễ vì nghe nhiều trong đời sống hàng ngày. Độc thoại: Lời nói mạch lạc của một người. Mục đích của độc thoại là thông báo về những sự kiện nào đó. Độc thoại thường là lời nói của phong cách sách vở. Bất kỳ lời độc thoại nào cũng là sáng tác văn học ở dạng phôi thai. Khi miêu tả, tường thuật, phán đoán, hình thức độc thoại của lời nói được sử dụng. Trong độc thoại, dùng các cấu trúc cú pháp đơn giản hoặc phức hợp của ngôn ngữ chuẩn làm cho lời nói trở thành mạch lạc. Từ ngữ trong độc thoại thường mang tính chính xác, mạch lạc, có tính chủ động, có tính liên kết, câu dài, nhiều câu... Trẻ phải nắm được các cấu trúc cú pháp để hiểu lời nói mạch lạc và truyền đạt thông báo của mình. Trẻ học độc thoại khó vì ít nghe trong đời sống hàng ngày. Cần phải phát triển lời nói độc thoại cho trẻ ngay từ tuổi MG bằng các hình thức giao tiếp khác nhau. 18
  19. 3. Các phương pháp phát triển ngôn ngữ đối thoại cho trẻ mẫu giáo 3.1. Trò chuyện với trẻ - Đối với trẻ nhà trẻ và MGB, cô tiến hành trò chuyện kết hợp với trực quan, hướng chú ý của trẻ lên đối tượng, sau đó gợi cho trẻ nhớ lại bằng những câu hỏi đơn giản... - Đối với trẻ MGN và MGL, cô hướng trẻ vào cuộc nói chuyện, tiếp xúc một cách tự nhiên, khuyến khích trẻ tự nói. Cô nghe trẻ nói, làm cho cuộc nói chuyện có nội dung, nhẹ nhàng, thoải mái... * Yêu cầu khi trò chuyện với trẻ + Cô phải tổ chức thường xuyên ở mọi lúc mọi nơi, trong mọi hoạt động, mọi hoàn cảnh. Cô phải chuẩn bị trước về chủ đề trò chuyện, ghi ngắn gọn nội dung cần dạy trẻ. + Trò chuyện phải dựa vào sự hiểu biết và kinh nghiệm của trẻ. + Cô phải để cho trẻ tự do suy nghĩ, tự do nói. + Giọng nói, nét mặt, cử chỉ của cô phải thu hút trẻ, phải coi trẻ như người bạn, bình đẳng khi nói chuyện. + Trong quá trình trò chuyện với trẻ không được làm cho trẻ mất hứng. Trò chuyện với trẻ có tác dụng rất lớn cho việc phát triển ngôn ngữ đối thoại ở trẻ, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, đồng thời còn có tác dụng mở rộng hiểu biết cho trẻ. Trong quá trình trò chuyện trẻ được thoải mái, tự do, không bị gò ép cho nên kích thích được trẻ nói nhiều, nói hay. Ở nhà trẻ, trường mẫu giáo, cô cần tăng cường tổ chức trò chuyện với trẻ. 3.2. Đàm thoại Để chuẩn bị tốt đàm thoại, cô phải cung cấp những kiến thức, khắc sâu những biểu tượng về nội dung cần đàm thoại từ trước khi tổ chức buổi đàm thoại. Đàm thoại vừa là hình thức vừa là phương pháp phát triển ngôn ngữ đối thoại cho trẻ. Mục đích của đàm thoại là phát triển ngôn ngữ mạch lạc (cụ thể là ngôn ngữ đối thoại) và phát triển tư duy trong sự thống nhất. * Yêu cầu của đàm thoại + Đàm thoại phải được chuẩn bị kỹ, đầy đủ về nội dung cũng như phương pháp. + Đàm thoại phải nhẹ nhàng, thoải mái, không áp đặt trẻ, nội dung đàm thoại phải đầy đủ, có ý nghĩa. + Trong đàm thoại không nhồi nhét kiến thức, không đi lệch khỏi đề tài đàm thoại, phải đi đến kết luận cuối cùng. + Không đặt nhiều câu hỏi quá vụn vặt. + Phải khuyến khích trẻ tích cực tư duy, khuyến khích trẻ nêu nhận xét, trình bày ý kiến, sự hiểu biết của mình. * Cấu trúc đàm thoại + Mở đầu: Hướng chú ý của trẻ vào đề tài đàm thoại với nhiều cách khác nhau những phải hấp dẫn, truyền cảm, kích thích trẻ chuẩn bị suy nghĩ và phát biểu tích cực. + Phát triển đề tài đàm thoại: Là phần chính, phần khó nhất. Trong phần này, cô sử dụng câu hỏi là chính. Câu hỏi phải có hệ thống, logic, phải chính xác, rõ ràng. Câu hỏi phải kích thích được trẻ trình bày sự hiểu biết, suy nghĩ của mình. Không nên đặt nhiều câu hỏi vụn vặt hoặc gộp nhiều câu hỏi với nhau. Một câu hỏi có thể hỏi nhiều trẻ. Có thể sử dụng đồ dùng trực quan trong khi đàm thoại nhưng không được lạm dụng. Số lượng cháu trong cuộc đàm thoại không quá nhiều. Cần chú ý để mỗi trẻ đều được phát biểu. Việc đưa ra kết luận cuối cùng về nội dung đàm thoại, cô có thể trực tiếp trình bày, có thể gợi hỏi trẻ sau đó cô nhấn mạnh lại (MGL) + Kết thúc: Cô nhận xét, động viên, khuyến khích trẻ, nhắc nhở những trẻ còn chưa tích cực. Chú ý không được làm giảm chú ý, hứng thú của trẻ ở các giờ đàm thoại sau. Để đàm thoại có kết quả và được củng cố, cô giáo có thể đề nghị cha mẹ trẻ ở nhà trò chuyện với trẻ về đề tài đã được đàm thoại trên lớp. 19
  20. 4. Các phương pháp phát triển ngôn ngữ độc thoại Ngôn ngữ độc thoại bắt đầu được dạy một cách có hệ thống từ lớp MGN. Để phát triển ngôn ngữ độc thoại cho trẻ mẫu giáo, cô sử dụng phương pháp kể chuyện mô tả, kể lại tác phẩm văn học. Trong tất cả các lớp, các độ tuổi, cô sử dụng mẫu lời nói của cô, ngoài ra còn sử dụng kết hợp với tranh, vật thể để dạy trẻ. 4.1. Dạy trẻ ngôn ngữ độc thoại trong giao tiếp tự do - Dạy trẻ kể lại thông báo của cô: Cô cần sắp xếp nội dung thông báo có trình tự, logic, súc tích... trước khi kể cho trẻ, sau đó trẻ sẽ kể lại cho người khác nghe những điều được nghe cô kể. - Đề nghị trẻ kể lại những gì trẻ đã gặp. - Đề nghị cha mẹ trẻ lắng nghe con mình kể lại những gì trẻ đã gặp dọc đường, trẻ được học, chơi ở trường. Gợi cho trẻ hứng thú kể lại chuyện. 4.2. Dạy trẻ ngôn ngữ độc thoại trên tiết học Các tiết học dạy trẻ phát triển ngôn ngữ độc thoại bao gồm: - Kể lại những tác phẩm văn học. - Kể chuyện theo tranh. - Kể về đồ chơi, đồ vật. - Kể theo trí nhớ. - Kể chuyện sáng tạo. V. Phương pháp dạy trẻ làm quen chữ cái 1. Ý nghĩa của việc dạy trẻ làm quen chữ cái 1.1. Góp phần phát triển năng lực hoạt động ngôn ngữ của trẻ Làm quen chữ cái giúp trẻ rèn luyện khả năng nghe, bắt chước, khả năng phát âm, nói và khả năng hiểu ngôn ngữ tiếng Việt (khi chơi các trò chơi với chữ cái, tập đọc diễn cảm các bài thơ, ca dao, đồng dao…). Việc phát triển năng lực hoạt động ngôn ngữ giúp trẻ hoàn thiện thêm ngôn ngữ nói, cung cấp thêm vốn từ về thế giới xung quanh, tập cách diễn đạt, suy nghĩ, chuẩn bị cho việc hình thành năng lực đọc và viết tíếng Việt ở bậc Tiểu học. 1.2. Góp phần phát triển trí tuệ cho trẻ - Qua các bài học làm quen chữ cái, ghi nhớ có chủ định ở trẻ được rèn luyện và phát triển. - Khả năng quan sát, so sánh, phân tích được rèn luyện. - Hình thành lòng ham hiểu biết, thích khám phá những điều mới lạ. 1.3. Góp phần chuẩn bị cho trẻ MG vào lớp 1 Thông qua làm quen chữ cái, dần dần hình thành ở trẻ những thói quen học tập đầu tiên, hình thành và rèn luyện khả năng tập trung chú ý có chủ định và sự nỗ lực ý chí để giải quyết nhiệm vụ học tập: Lắng nghe, tập thực hiện nhiệm vụ học tập. Giờ học cũng giúp cho trẻ rèn luyện các đức tính cẩn thận, khoa học, tỷ mỉ, cụ thể. 1.4. Góp phần giáo dục tình cảm, mở rộng vốn hiểu biết của trẻ Giờ học làm quen chữ cái cung cấp cho trẻ những biểu tượng về thế giới xung quanh, mở rộng sự hiểu biết cho trẻ, hình thành ở trẻ thái độ tích cực đối với thế giới xung quanh cũng như giáo dục tình cảm cho trẻ. 2. Nhiệm vụ của việc dạy trẻ làm quen chữ cái - Giúp trẻ nhận biết các chữ cái, ghi nhớ âm và các chữ cái ghi âm, tập phát âm chính xác. - Dạy trẻ 1 số kỹ năng cần thiết như cầm bút, cầm sách, cách tô từng con chữ, tư thế ngồi. . . 2. Phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với nhóm chữ cái cụ thể Hiện nay, ngành giáo dục mầm non song song thực hiện chương trình cải cách và chương trình đổi mới. Trên tổng thể, hầu hết các trường mầm non đều tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi làm 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản