intTypePromotion=3

Tài liệu tập huấn Công tác tổ trưởng chuyên môn các trường THCS, THPT

Chia sẻ: Bùi Quốc Hùng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:202

0
224
lượt xem
75
download

Tài liệu tập huấn Công tác tổ trưởng chuyên môn các trường THCS, THPT

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Tài liệu tập huấn Công tác tổ trưởng chuyên môn các trường THCS, THPT" được mở đầu là nội dung "Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh vào dạy học-giáo dục quản lý nhà trường" cùng 4 chuyên đề: chuyên đề 1 những vấn đề chung về quản lý tổ chuyên môn trong trường trung học, chuyên đề 2 tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý hoạt động dạy học trong trường trung học, chuyên đề 3 tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên trường trung học, chuyên đề 4 xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tài liệu tập huấn Công tác tổ trưởng chuyên môn các trường THCS, THPT

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỤC NHÀ GIÁO VÀ CÁN BỘ QUẢN LÝ CƠ SỞ GIÁO DỤC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC TÀI LIÊU TẬP HUẤN CÔNG TÁC TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN CÁC TRƯỜNG THCS, THPT HÀ NỘI, 7-2011 1
  2. BAN SOẠN THẢO 1. Ông Hoàng Đức Minh, Cục trưởng Cục NG&CBQLCSGD - Chủ biên 2. Bà Nguyễn Thị Minh Phương, NCVCC Viện KHGD Việt Nam - Đồng chủ biên 3. Ông Lê Trần Tuấn, Chuyên viên chính Vụ Giáo dục Trung học. 4. Bà Trần Thị Minh Hằng, Trưởng khoa Quản lý giáo dục Học viện Quản lý giáo dục 5. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Phó Trưởng khoa Quản lý giáo dục Học viện QLGD 6. Bà Vũ Thị Ngọc Anh, NCVC Viện Khoa học giáo dục Việt Nam 7. Ông Phạm Quang Huân, Phó Viện trưởng Viện NCSP -Trường ĐHSP Hà Nội 8. Bà Trần Thị Hải Yến, Phó Hiệu trưởng Trường THPT Trần Phú, Hà Nội 9. Ông Phạm Tuấn Anh, Trưởng phòng CBQLCSGD Cục NG&CBQLCSGD 10. Ông Nguyễn Đức Luyện, Chuyên viên chính Cục NG&CBQLCSGD 2
  3. CÁC CHỮ VIẾT TẮT Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ GD&ĐT Đại học sư phạm ĐHSP Sở Giáo dục và Đào tạo Sở GD&ĐT Cao đẳng sư phạm CĐSP Phòng Giáo dục và Đào Phòng GD&ĐT Trang Tr tạo Giáo viên GV Học sinh HS Cán bộ quản lý giáo dục CBQLGD Trung học cơ sở THCS Hướng dẫn viên HDV Trung học phổ thông THPT Học viên HV Giáo dục GD Kế hoạch KH Đồng chí Đ/c Tổ chuyên môn TCM Tổ trưởng chuyên môn TTCM Kế hoạch cá nhân KHCN Trắc nghiệm khách TNKQ quan Kế hoạch chuyên môn KHCM Phương pháp dạy học PPDH Chương trình CT Sách giáo khoa SGK Giáo dục phổ thông GDPT Phổ thông PT Nhà xuất bản Nxb Công nghệ thông tin CNTT Giáo viên chủ nhiệm GVCN Dạy học DH Phương pháp PP MỤC LỤC Trang Bảng kê các chữ viết tắt 2 3
  4. Lời nói đầu 5 Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh vào dạy học – giáo dục – quản lý 7 nhà trường Chuyên đề 1: Những vấn đề chung về quản lý tổ chuyên môn trong 51 trường trung học I. Mục tiêu 51 1. Mục tiêu chung 51 2. Mục tiêu cụ thể 51 II. Nội dung 51 1. Khái quát về quản lý, lãnh đạo, quản lý giáo dục 51 2. Khái quát về trường THCS và THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân 54 3. Tổ chuyên môn trong trường THCS và THPT 58 4. Tổ trưởng chuyên môn và quản lý tổ chuyên môn 60 Chuyên đề 2. Xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn I. Mục tiêu 1. Mục tiêu chung 2. Mục tiêu cụ thể II. Nội dung 1. Những vấn đề chung xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn 2. Xây dựng kế hoạch hoạt động trong năm học của tổ chuyên môn 3. Hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch chuyên môn cá nhân 4. Một số kỹ thuật có thể vận dụng hiệu quả vào việc xây dựng KHTCM và KHCN 5. Thực hành tổng hợp: Xây dựng kế hoạch năm học của tổ chuyên môn Chuyên đề 3. Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý hoạt động dạy học trong trường tung học I. Mục tiêu 1. Mục tiêu chung 2. Mục tiêu cụ thể II. Nội dung 1. Hoạt động dạy học và chương trình giáo dục phổ thông 2. Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý dạy học 3. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của tổ trưởng chuyên môn Chuyên đề 4. Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong trường trung học I. Mục tiêu 1. Mục tiêu chung 2. Mục tiêu cụ thể II. Nội dung 1. Vai trò của tổ trưởng chuyên môn trong việc phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên 2. Những yêu cầu về đội ngũ giáo viên của trường THCS, THPT 3. Quản lý phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho GV trong tổ chuyên môn 4. Kiểm tra, đánh giá giáo viên 4
  5. Hướng dẫn triển khai tập huấn ở địa phương LỜI GIỚI THIỆU Ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, tổ chuyên môn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị các điều kiện thực hiện các hoạt động dạy - học trong nhà trường. Người tổ trưởng chuyên môn được ví như “ cánh tay nối dài của Lãnh đạo nhà trường”, trực tiếp điều hành các công việc cụ thể trong hoạt động dạy - học. Công tác lãnh đạo, quản lý của tổ trưởng chuyên môn là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của tổ chuyên môn, góp phần quan trọng đ ến chất lượng giáo dục của các nhà trường. Trong những năm qua, vấn đề bồi dưỡng tăng cường năng lực cho đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và giáo viên trong các nhà trường đã được Bộ Giáo dục và Đào 5
  6. tạo hết sức quan tâm. Tuy nhiên, đối với đội ngũ tổ trưởng chuyên môn thì chưa có s ự quan tâm thỏa đáng, chưa có những tài liệu mang tính đặc thù để tập huấn bồi dưỡng. Trước yêu cầu thực tiễn hiện nay, việc bồi dưỡng tăng cường năng l ực quản lý cho t ổ trưởng chuyên môn là vấn đề cấp thiết, là một trong những giải pháp có tính đ ột phá nâng cao chất lượng dạy - học ở các nhà trường nói chung và trường trung học nói riêng. Nhận thức được tầm quan trọng đó, ngày 19 tháng 5 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Kế hoạch số 242/KH-BGDĐT triển khai tập huấn bồi dưỡng cốt cán các tỉnh, thành phố về công tác của tổ trưởng chuyên môn trong trường THCS, THPT với mục tiêu: Bồi dưỡng cho cốt cán cấp tỉnh, thành phố về kiến thức, kỹ năng công tác tổ trưởng chuyên môn trường THCS, THPT; hướng dẫn đ ội ngũ cốt cán cấp tỉnh, thành phố tiếp tục triển khai bồi dưỡng cho giáo viên làm công tác tổ trưởng chuyên môn ở trường THCS, THPT. Thực hiện Kế hoạch trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai tổ chức xây dựng tài liệu tập huấn với tiêu đề: “Tài liệu tập huấn tổ trưởng chuyên môn trong trường trung học cơ sở, trung học phổ thông”. Tài liệu được mở đầu là nội dung “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh vào dạy học – giáo dục- quản lý nhà trường” cùng 4 chuyên đề: 1. Chuyên đề 1: Những vấn đề chung về quản lý tổ chuyên môn trong trường trung học 2. Chuyên đề 4: Xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn 3. Chuyên đề 2: Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý hoạt động dạy học trong trường trung học 4. Chuyên đề 3: Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý phát tri ển chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên trường trung học Các chuyên đề nêu trên cố gắng bao quát kiến thức, kỹ năng quản lý chủ yếu của TTCM ở trường THCS, THPT. Tài liệu được trình bày đan xen, kết hợp giữa lý thuy ết và tổ chức các hoạt động nhằm tăng cường tối đa khả năng vận dụng, thực hành của các học viên tham gia tập huấn. Tài liệu được biên soạn bởi tập thể tác giả có nhiều kinh nghiệm từ các cơ quan: Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, Học viện Quản lý giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục của một số trường THCS, THPT trong toàn quốc. Tài liệu đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quí báu của các nhà khoa học, các nhà giáo và các CBQL có bề dày kinh nghiệm ở các Sở GD&ĐT, các trường THCS, THPT. Các tác giả dù đã có nhiều cố gắng, song trong sự vận động phát triển không ngừng về khoa học quản lý và thực tiễn giáo dục của trường THCS, THPT, chắc chắn 6
  7. tài liệu chưa đáp ứng được mọi nhu cầu của đội ngũ TTCM, đồng thời khó tránh khỏi thiếu sót. Trong quá trình triển khai, Hội đồng biên soạn mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý thực tiễn và học viên đ ể bổ sung, điều chỉnh tài liệu thêm hoàn thiện và hữu ích. Hội đồng biên soạn chân thành cảm ơn mọi ý kiến đóng góp cho việc nâng cao chất lượng của tài liệu. HỘI ĐỒNG BIÊN SOẠN QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO DẠY HỌC - GIÁO DỤC - QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG I. HỒ CHÍ MINH NHÀ GIÁO DỤC KIỆT XUẤT CỦA NHÂN DÂN VÀ THỜI ĐẠI Bác Hồ được UNESCO tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc - Danh nhân văn hoá thế giới. Ông Hans D'orvin - P.Tổng Giám đốc UNESCO (đương nhiệm) gọi Hồ Chí Minh là người thày của Văn hoá hoà bình. Hồ Chí Minh cũng là nhà giáo dục kiệt xuất 7
  8. của nhân dân, thời đại. Người đã để lại cho nhân dân ta, đội ngũ người làm công tác giáo dục hiện nay và mai sau kho tàng vô giá những tư tưởng giáo dục cách mạng, bao quát nhiều lĩnh vực của sự nghiệp đào tạo lớp người mới của dân tộc. Không chỉ là nhà tư tưởng giáo dục, Người còn là nhà quản lý giáo dục thực tiễn, nhà sư phạm tài năng, mẫu mực, trong sáng của một nhân cách vô cùng cao đ ẹp, những cử chỉ giáo dục nhân đạo hết lòng vì người học, tấm gương sáng về "Học không biết chán, dạy người không biết mỏi". Tư tưởng giáo dục của Người định hình cho triết lý phát triển giáo dục Việt Nam ngay những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nó bao quát cả năm cấp độ: Nền giáo dục, Hệ thống giáo dục quốc dân, Nhà trường, Bài học và Nhân cách. Tư tưởng này vừa kế thừa tinh hoa văn hoá của dân tộc, vừa thâu góp tinh hoa văn hoá của thời đại, hướng tới việc xây dựng và phát triển một nền giáo dục Việt Nam toàn dân quán triệt các mục tiêu: Dân chủ, Nhân văn, Hiện đại, một nền giáo dục làm "Phát triển hài hoà những năng lực sẵn có" của thế hệ trẻ Việt Nam. Do tư tưởng giáo dục của Người, đất nước từ chỗ 95% nhân dân còn mù chữ thành đất nước có sức mạnh văn hoá làm thất bại hai cuộc xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ... Bước vào thiên niên kỷ mới, UNESCO từng có khuyến cáo: "Quốc gia nào, cộng đồng nào coi nhẹ giáo dục hoặc không biết cách làm giáo dục thì đều lạc hậu và điều này còn tồi tệ hơn là sự phá sản". Tư tưởng giáo dục của Bác Hồ là di sản vô giá cho các thế hệ người Việt Nam nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của giáo dục và làm giáo dục hiệu quả. Tư tưởng này luôn luôn là kim chỉ nam cho việc thực hiện công cuộc đ ổi mới giáo dục, chiến lược giáo dục chiến lược con người để đất nước vững bước hoàn thành công nghiệp hoá - hiện đại hóa và thực hiện sự hội nhập quốc tế. II. TẤT THÀNH - ÁI QUỐC - CHÍ MINH : NẾP NHÀ - LẬP CHÍ - THÂN DÂN 1. Câu đối ngày Bác đi xa Câu chuyện sau đây thường được kể lại: Ngày Bác đi xa, Sài Gòn còn nằm trong vòng kìm kẹp của Mỹ - Thiệu. Cần thông báo cho đồng bào, nhưng công khai thì không được. Một bộ phận kẻ thù của cách mạng tuy kính nể Bác nhưng bọn đầu sỏ còn ngoan cố. Một tờ báo Sài Gòn đã cho đăng đôi câu đối sau: Chí khí tráng sơn hà, kim cổ anh hùng duy hữu nhất Minh tinh quang vũ trụ, Á Âu hào kiệt thị vô song. Cái hay của đôi câu đối là chữ đầu của vế trên và vế dưới khớp lại thành tên Bác: "Chí Minh" và nội dung là tổng kết đánh giá sự nghiệp vĩ đại của Bác: 8
  9. Chí khí quyện vào sông núi, anh hùng xưa nay hiếm có ai như Người Ngôi sao sáng này bừng trong vũ trụ, hào kiệt từ Á sang Âu khó người nào sánh nổi. Tác giả đôi câu đối còn khuyết danh. Có người nói một nhân sĩ Sài Gòn tưởng nhớ Bác, lại có tài liệu cho rằng đó là lời viếng Bác của lãnh tụ một nước lớn, bạn thân thiết của Bác. Ở thời điểm tháng 9-1969, đọc đôi câu đối trên, đồng bào ta tự hào về Bác, quý trọng tấm lòng và tài năng tác giả viết được hai vế đối hay, hàm súc, song cứ nghĩ liệu nhân loại này, thế giới này có đồng thuận với sự ca ngợi đó không? Điều này đã sớm được giải đáp: Trên hành tinh này biết bao bạn bè đồng chí dù có thế vị khác nhau đều công nhận: Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, là con người tiêu biểu cho Nhân đạo và Nhân loại, là nhân cách của thời đại. Bác là lãnh tụ Cộng sản duy nhất được tôn vinh là Danh nhân văn hoá thế giới. Mỗi cán bộ giáo dục chúng ta vô cùng tự hào phấn khởi vì Bác trên con đường cứu nước giải phóng dân tộc, lúc khởi thuỷ là một nhà giáo - thầy giáo Nguyễn Tất Thành. Bác sĩ Nguyễn Kính Chi, nhân sĩ đáng kính là học trò của Bác tại trường Dục Thanh (trường giáo dục thanh niên) đã kể lại trong hồi ký của mình: "Trên bờ phía nam của sông Phan Thiết, cách cửa biển chừng vài cây số lúc bấy giờ có mấy ngôi nhà nho nhỏ lợp ngói âm dương, chung quanh không tường không vách chỉ có những song gỗ lưa thưa, những hôm trời nồm gió biển thổi vào mát rượi. Đó là trường học Dục Thanh của Hội Liên thành. Trường và Hội đều đã đ ược l ập ra trong phong trào Duy Tân mấy năm trước. Trong hoàn cảnh hồi bấy giờ, đó là hành đ ộng yêu nước nhằm mở mang dân trí khuyến khích thực nghiệp. Trường dạy cả chữ Hán, chữ Pháp và chữ Quốc ngữ cho khoảng sáu, bảy mươi học sinh từ lớp tư đến lớp nhất. Thầy Thành dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ cho lớp ba và lớp tư. Thầy Thành ở đấy được bảy, tám tháng. Bỗng một buổi sáng thứ hai vào khoảng tháng 10 năm 1911 có tin thầy đã bỏ đi và không cho ai biết. Học sinh r ất xôn xao. Người nào cũng tiếc không những vì thầy dạy chu đáo mà còn vì ai nấy đ ều cảm thấy người thầy này dạy học không chỉ vì kiếm sống mà còn vì cái lẽ gì khác". 2/. Nếp nhà - Lập chí - Thân dân Từ thầy giáo Nguyễn Tất Thành đến nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Vương, Lý Thụy, ông Chín và rồi lãnh tụ Hồ Chí Minh trong bất cứ hoàn cảnh nào, đ ịa điểm nào, Bác cũng thực hiện: Cách mạng là giáo dục, giáo dục phục vụ cách mạng. Bác là Anh hùng giải phóng dân tộc - Danh nhân văn hoá thế giới vì Người đã thâu góp và phát triển tinh hoa của dân tộc, thời đại. 9
  10. Song để đi đến sự thâu góp này thì khởi nguyên Bác được thừa hưởng một "Nếp nhà", nhân tố quan trọng tạo nên tính cách một con người, cái khắc tạo vào con người những nguyên tắc sống cơ bản để nên người, thành người. Chú bé Nguyễn Sinh Cung và sau này người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã được nuôi dưỡng trưởng thành trong một gia đình hấp thu những điều cao đẹp của Nho gia phương Đông. Từ năm 1923, Bác từng tâm sự với nhà thơ Xôviết Ôxíp Mandenxtam: "Tôi xuất thân từ một gia đình nhà Nho Việt Nam. Bên nước tôi những gia đình như thế thanh niên đều theo học đạo Khổng". Khi khai lý lịch với tư cách đại biểu tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản (1935) tại Matxcơva ở mục thành phần gia đình, Bác đã không ngần ngại ghi "Nhà nho". "Nhà nho" ở gia đình Nguyễn Tất Thành ứng xử theo nguyên tắc: "Khiêm - Cung - Tín - Mẫn - Huệ" (Khiêm tốn, Cung kính, Trung tín, Cần mẫn, Huệ ái) Không phải ngẫu nhiên mà hai anh em Bác đã được ông ngoại đặt tên cho là Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung. Phải chăng cụ Hoàng Đường đã gửi vào các cháu niềm kỳ vọng "Khiêm - Cung" sẽ là lý tưởng hành động sống của các cháu trong cuộc đời. "Nhà nho" trong gia đình Bác được thấm nhuần nguyên tắc Tu thân và Xử thế: */ "Phú quí bất năng dâm Bần tiện bất năng di Uy vũ bất năng khuất" (Giàu sang không thể quyến rũ Nghèo khổ không thể chuyển lay Uy vũ không thể khuất phục) */ "Hoành mi lãnh đối thiên phu chỉ Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu" (Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ Cúi đầu làm ngựa trước nhi đồng) 10
  11. Trong diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ 2 tại chiến khu Việt Bắc năm 1951, những ý tưởng trên đây của Mạnh Tử, Lỗ Tấn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh với các đồng chí của mình. "Nếp nhà" mà Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành lớn lên là "Nếp nhà" với: "Gia đạo nhân văn Gia phong trong sáng Gia pháp nghiêm minh Gia giáo nền nếp Gia cảnh thuận hoà" Từ "Nếp nhà" này chú bé Nguyễn Sinh Cung đã bộc lộ cái "chí" của mình từ lúc 5 tuổi: "Con siêng hơn hòn núi Con đường lười hơn con" (Thơ Con Đường) Ta lớn mau mau Vượt qua ao lớn (Thơ Biển) Từ ông ngoại và cha, chú sớm hấp thụ tinh hoa trong "Tứ thư" của Nho gia, rồi "Minh tâm bảo giám", "Ấu học ngũ ngôn thi" với các thông điệp: "Nhất sinh hành thiện Thiện do bất túc Nhất nhật hành ác Ác tự hữu dư" (Một đời làm điều thiện Mà điều thiện chưa đủ Một ngày làm điều ác Thì điều ác đã thừa) (Minh Tâm bảo giám) Đạc sơn thông đại hải 11
  12. Luyện thạch bồ thanh thiên Thế thượng vô nan sự Nhân tâm tự bất kiên (Đào núi lấp biển Luyện đá vá trời Mọi điều không có gì khó cả Chỉ sợ con người không đủ kiên nhẫn) (Ấu học ngũ ngôn thi) Các ý tưởng này đã truyền vào tâm thức Nguyễn Sinh Cung, để rồi sau này trên bước đường hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã có những lời tự sự hoặc lời khuyên thanh niên: "Thiện ác nguyên lai vô định tính Đa do giáo dục đích nguyên nhân" (Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên) "Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí cũng làm nên" Trên con đường lập chí, Nguyễn Tất Thành đã được thân sinh - ông Bảng Sắc trang bị cho một vốn tri thức nền tảng. Khi ở Huế dù gia cảnh khá thanh bần, song ông Bảng Sắc đã mua tân thư cho các con đọc để họ sớm có nhận thức mới. Trạc tuổi 13, Nguyễn Tất Thành đã làm quen với các từ "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" và anh đã có chí hướng tìm đến cội nguồn các phạm trù này. Nhà nghiên cứu Kôbêlép người Nga kể lại: "Qua tác phẩm "Thú tội" của Rousseau, Thành biết được rằng chàng thanh niên Rousseau trước khi trở thành nhà khai sáng vĩ đại đã có tới mười năm lưu lạc trên các nẻo đường của các nước châu Âu và ông đã học được nhiều ở một ngành khoa học quan trọng và cũng là khó khăn nhất - khoa học về cuộc sống". Thành nung nấu chí "vượt biển" tìm đến các con đường mà Rousseau đã đi - Anh tâm sự với nhà thơ Ôxíp Mandenxtam: 12
  13. "Lần đầu tiên vào tuổi 13 tôi đã nghe những từ: Tự do, Bình đ ẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi bấy giờ thì người da trắng nào cũng đều là người Pháp cả. Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau cái từ ấy. Nhưng trong các trường bản xứ, bọn Pháp dạy như vẹt. Chẳng những chúng tôi không được phép đọc các nhà văn mới, mà thậm chí còn bị cấm đọc cả Rousseau và Montesquieu. Phải làm sao đây? Tôi quyết định đi ra nước ngoài. Tôi lần mò đến tận bờ biển và thế là tôi đã ra đi. Năm ấy tôi hai mươi mốt tuổi". Đỉnh cao kiến thức trong hành trình lập chí của Nguyễn Ái Quốc là sự giác ngộ Chủ nghĩa Mác - Lênin. Tuy nhiên trong hành trình đi tới đỉnh cao này Nguy ễn Ái Quốc luôn luôn biết trau chuốt các giá trị của đạo Khổng và tiếp nhận tinh hoa của các nguồn ánh sáng khác rồi gộp bội chúng lại, tìm ra cho bản thân mình, dân tộc mình con đ ường giải phóng. Bác từng khuyên các đồng chí của mình: "Chúng ta, người Việt Nam, hãy tự học, tự tu dưỡng bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và hãy nghiên cứu về cách mạng trong các tác phẩm của Lênin". (Phát biểu trên báo Thanh niên Quảng Châu số 80, ngày 20/02/1927) Cuốn Hồ Chí Minh truyện do Nhà xuất bản Tam liên Thượng Hải ấn hành năm 1949 đã ghi lại nhận thức của Bác: "Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao. Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng h ọ nh ất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy". (Sđd tr 91) Nguyễn Ái Quốc khẳng định từ năm 1921: "Đức Khổng vĩ đại đã khởi xướng nền đại đồng và thuyết giải quyền bình đẳng về của cải. Ngài nói tóm tắt là: Nền hoà bình trên thế giới chỉ nảy nở từ một 13
  14. nền đại đồng trong thiên hạ. Người ta không sợ thiếu mà chỉ sợ không công b ằng. Sự công bằng sẽ xoá bỏ sự nghèo khổ" (1, 35). Sau này năm 1927, trên báo Thanh niên, Người nhấn mạnh: "Nếu Khổng Tử còn sống ở thời đại chúng ta thì chắc hẳn bậc vĩ nhân ấy sẽ sớm tuỳ thời biến dịch và sẽ nhanh chóng trở thành người kế tục xứng đáng của Lênin". Năm 1950, trong Hội nghị bàn về công tác huấn luyện tại chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh đã cho treo song song thông điệp của Khổng Tử với lời dạy: "Học nhi bất yếm, giáo nhân bất quyện" mà Người dịch là "Học không biết chán, dạy người không biết mỏi" và thông điệp của Lênin "Học, học nữa, học mãi". Nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện đã có một nhận xét khá xác đáng: "Giữa các nhà Mácxít và các bậc chân nho không chỉ có sự tương đồng trong các mục tiêu chính trị mà còn có cả sự thân thiết trong lĩnh vực tư tưởng khiến đôi bên dễ dàng gần gũi nhau. Nhiều nhà nho đã nhảy vọt từ đạo Khổng sang học thuyết của Mác. Trường hợp nổi tiếng nhất chắc chắn là trường hợp của Hồ Chí Minh". "Nếp nhà" - "Lập chí" là nền móng để Nguyễn Ái Quốc hướng tới đ ỉnh cao văn hoá mà ở con người này là văn hoá "Thân dân". Nhà thơ Xô viết Ôxíp Manđenxtam đã dự cảm rất sâu sắc khi lần đầu tiên gặp Nguyễn Ái Quốc năm 1923 (lúc đó Nguyễn Ái Quốc 33 tuổi) tại Matxcơva. "Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và sự tế nhị. Từ Nguyễn ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không phải nền văn hoá châu Âu mà có lẽ nền văn hoá tương lai. Qua phong thái thanh cao trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái trên toàn thế giới". "Văn hoá tương lai" mà Ôxíp Manđenxtam đề cập ở đây chính là văn hoá của một con người suốt đời chỉ có một ham muốn: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành". Từ một ý tưởng của nho gia trong sách Đại học, Hồ Chí Minh đã nói đ ến phạm trù thân dân. Sách Đại học nêu: "Đại học chi đạo Tại minh minh đức 14
  15. Tại tân dân" Tân dân = làm mới nhân dân. Cách diễn đạt này có thể coi là tích cực khi nho gia khuyên người quân tử phải biết làm mới nhân dân, đem đến cho nhân dân cuộc sống mới. Cái tài tình và sâu sắc của Hồ Chí Minh là thêm vào (trong cách viết của người Việt) một chữ "H". "Tân dân" thành "Thân dân" đã làm cho tư tưởng của Nho gia nhân văn hơn, cao đẹp hơn, chí tình, chí nghĩa hơn. Nói chuyện với tri thức Thủ đô năm 1956, Bác Hồ tóm tắt lý tưởng của con người trong 11 chữ "Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân". Người giải thích: "Minh minh đức là chính tâm" Thân dân tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết" (8, 215). (1) Quan điểm "Thân dân" của Hồ Chí Minh tuy dựa vào luận điểm của nho gia "Dân vi bản", "Dân vi quí", song phản ảnh tâm thức của người Việt Nam. Trong Di chúc trước lúc đi xa, Người nhấn mạnh: "Đầu tiên là công việc đối với con người" (1969) Suốt quá trình lãnh đạo Nhà nước, Người luôn luôn căn dặn đồng chí của mình: "Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân: Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi Nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi Nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi Nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi " (1955) Quan điểm "Thân dân" của Hồ Chí Minh xem xét con người với thái đ ộ: "Mỗi con người đều có cái thiện, cái ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi" (12, 558). Đất nước chúng ta đã đi vào con đường hội nhập sâu với thế giới trước bối cảnh toàn cầu hoá. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (9/1950 - 1956) đã đào tạo được những con người Việt Nam có các phẩm chất "Nhân - Nghĩa - Trí - Dũng - Liêm" chiến thắng chủ nghĩa thực dân cũ là bọn thực dân Pháp. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956 - 1979) tiếp tục thành quả cuộc cải cách lần thứ nhất đã đào tạo những con người đánh thắng chủ nghĩa thực dân mới là đ ế quốc 15
  16. Mỹ. Cuộc cải cách lần thứ ba từ 1979 và ngày nay là cuộc Đổi mới giáo dục đang thực hiện đào tạo thế hệ trẻ có khả năng đưa đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu. Chỉ có thể thành công trong sự nghiệp vĩ đại này nếu xây dựng mỗi gia đình Việt Nam thành "Gia đình học hiệu". Năm 1947, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào thời kỳ nóng bỏng và gian khổ, Bác Hồ đã giao cho chính quyền Thanh Hoá, các vị trí thức Thanh Hoá mà đại diện là các ông Đặng Thai Mai, Lê Thước nhiệm vụ xây dựng các gia đình tỉnh Thanh Hoá thành "Gia đình học hiệu", mỗi người dân Thanh Hoá là một "tiểu giáo viên". Ngày nay, UNESCO phát động các quốc gia kiến tạo xã hội học tập đã lưu ý vấn đề gia đình học hiệu (learning family). Tự hào thay ý tưởng của thời đại đã được Bác cảm nhận từ trước đó hàng mấy thập niên khi đất nước còn vô vàn khó khăn và Bác đã truyền tâm ý của mình cho đồng chí, cho nhân dân thực hiện ý tưởng này. "Nếp nhà" là cái cơ bản để có gia đình học hiệu, để tuổi trẻ lập được chí và rồi lập thân, lập nghiệp. Phát động thế hệ trẻ lập thân, lập nghiệp song không lập chí làm sao lập được thân, lập được nghiệp. Ngày 26/5/1946, trong một lần đến thăm một đơn vị thanh niên, Bác căn dặn: "Các em cần làm được như lời Tôn Trung Sơn đã nói "Những người thanh niên tốt muốn làm việc to chứ không muốn làm quan lớn". Sau đó Bác trao cho họ lá cờ "Trung với nước, hiếu với dân". Bác còn căn dặn thanh niên: "Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó. Chúng ta phải nhận rằng thanh niên ta rất hăng hái. Nhưng chúng ta cũng phải nhận rằng phong trào thanh niên ta còn chật hẹp, mặc dầu từ ngày Cách mạng tháng Tám đến nay, thanh niên có cơ hội để phát triển một cách mau chóng và rộng rãi hơn. Vậy nên nhiệm vụ của các bạn là phải tìm đủ mọi cách để gây một phong trào thanh niên to lớn và mạnh mẽ. Theo ý tôi, muốn đạt mục đích đó, thì mỗi thanh niên, nhất là mỗi cán bộ phải kiên quyết làm bằng được những điều sau đây: a) Các sự hi sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc). b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng quyết làm cho kì được. c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý. 16
  17. d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc. đ) Quyết tâm làm gương về mọi mặt, siêng năng, tiết kiệm, trong sạch. e) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, nên nói ít, làm nhiều, thân ái đoàn kết. Tôi lại khuyên các bạn một điều nữa, là chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực; nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ chỗ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hiện được, hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà làm không được" (5, 185 - 186). 3/. Tất Thành - Ái Quốc - Chí Minh và nhân cách con người có 3H & 3T Trong hành trình cách mạng, Bác Hồ mang nhiều tên, song "Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh" gợi mở và thúc đẩy thế hệ trẻ Việt Nam sống có mục đích, sống với lòng yêu nước, sự bền chí và thông minh. Một nhà giáo dục khả kính của Việt Nam từ " Tất Thành - Ái Quốc - Chí Minh " đã thu hoạch về 3H-3T của người thanh niên trên con đường sáng nghiệp. Tất Thành : Tính mục đích: Thế tự lập (T1) Ái Quốc : Lòng yêu nước: Tình gắn bó (T2) Chí Minh: Sự bền chí thông minh: Tâm ổn định (T3) (Tất Thành & Ái Quốc) : Tư duy Hiện thực (H1) (ái Quốc & Chí Minh): Lý tưởng Hoài bão (H2) Hiện thực (Tất Thành & Chí Minh) : Làm việc Hiệu quả (H3) "Nếp nhà - Lập chí - Thân dân" trong hành trình cách mạng của Bác Hồ mãi mãi là di sản vô giá cho ngành giáo dục, cho các nhà trường rèn luyện thế hệ tr ẻ đ ưa đ ất nước tiến đến đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu. Ái Quốc Tất Thành  Tình gắn bó Thế tự lập Con người sáng nghiệp 17 Chí Minh Tâm ổn định
  18. Hiệu quả Hoài bão III. BÁC HỒ NGƯỜI KHAI SÁNG CHO TƯ DUY VÀ CHIẾN LƯỢC HÀNH ĐỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP Ở VIỆT NAM NGAY NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG 1/. Vấn đề "Xã hội học tập" mà ngày nay các quốc gia coi là tiêu điểm của chính sách phát triển đã được Bác Hồ khai sáng trong tư duy và chiến lược hành động cho nước ta ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng. Xã hội học tập chỉ thành hình và phát triển khi người quản lý thúc đẩy được mọi người dân có nhu cầu học tập, có khát vọng học tập. Nhu cầu này gắn liền với việc quản lý hỗ trợ cho nhân dân nâng cao năng lực tiếp nhận sự học tập và mở rộng cơ hội học tập cho nhân dân. Quản lý phải làm sao cho bộ ba "Nhu cầu - Năng lực - Cơ hội" gắn bó chặt chẽ với nhau. Không tạo ra nhu cầu đích thực thì dù có ra sức nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội đến đâu cũng không thể hiện thực được mục tiêu về xã hội học tập. Song khi đã tạo ra nhu cầu - Người dân có tha thiết học mà người quản lý không giúp người dân có năng lực để "Học được" và cơ hội "Được học" thì cũng không thể hình thành xã hội học tập. Nhu cầu càng lớn thì năng lực và cơ hội càng phải được nâng cao và mở rộng và ngược lại càng nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội học tập thì càng phải thúc đẩy nhu cầu. Để cho ba nhân tố này rời rạc với nhau thì không thể nói đến xã hội học tập. Xã hội học tập hội tụ và làm phát triển ba nguồn vốn: vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội (human capital, organizational capital, social Nhu cầu nó là nhân tố đưa quốc gia tăng capital), trưởng có chất lượng và phát triển bền vững. xã hội  Năng lực học tập Cơ hội 18
  19. Hiện nay có quan niệm xã hội phải tiến tới "Kinh tế tri thức", đ ạt "Kinh t ế tri thức", mới có thể xây dựng xã hội học tập. Không ai phủ nhận tầm quan trọng của kinh tế tri thức tạo ra nhu cầu rộng lớn và điều kiện thuận lợi về học tập để có một xã hội học tập đích thực và bền vững. Tuy nhiên cứ phải chờ có "Kinh tế tri thức" mới xây dựng được xã hội học tập thì những nước nghèo, những nước chậm phát triển và đang phát triển sẽ mất bao nhiêu năm (?) mới đi tới xã hội học tập. Thực tế của Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và suốt năm 1946 đã chứng minh một điều khác hẳn. Khi bắt đầu xây dựng chính quy ền cách mạng (2/9/1945), 95% nhân dân còn mù chữ, nạn đói đã làm kiệt quệ nền kinh tế; giặc ngoại xâm với những kẻ thù hung bạo xảo quyệt nhất can thiệp vào nước ta. Bác Hồ người chèo lái con thuyền cách mạng trong lúc đất nước còn nguy nan đã chấn hưng dân khí, khai sáng cho dân tộc ý chí quyết tâm đẩy lùi cái dốt c ủa b ản thân, cái dốt của cộng đồng, của đất nước. Bác đã lãnh đạo, tạo cho toàn dân có nhu c ầu tr ở thành một dân tộc thông thái, làm cho mọi người giác ngộ "Dân cường nước th ịnh", "Dân mạnh nước giàu" và trên cơ sở này Người tổ chức cho chính quyền cách mạng dù còn trứng nước có các phương án quản lý hiệu quả nâng cao năng lực học tập của mọi người và mở rộng cơ hội học tập cho mọi người. 2/. Ngày 2/9/1945 tiếp theo bản Tuyên ngôn độc lập mà vị Chủ tịch nước long trọng đọc trước quốc dân đồng bào, tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước thế giới, Chính phủ đã nêu ra chương trình, nội dung chính của chính sách phát triển đất nước. Mục tiêu của giáo dục trong chương trình này đã được khẳng định: "Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức. Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cấp bách. Trong thời hạn rất ngắn sẽ thi hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ đến triệt để. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinh hoạt trở nên bình thường mới giải quyết mà ngay trong hoàn cảnh eo hẹp này chúng ta phải kiên quyết tiến hành. (Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Hồ Chủ tịch giao cho 19
  20. việc trình bày chính sách nội chính của Chính phủ. Tư liệu: Những sự kiện giáo dục phổ thông 1945 - 1985. Viện Khoa học Giáo dục 1985, tr2)". Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người nêu nhiệm vụ giáo dục - chống giặc dốt là nhiệm vụ cấp bách của chính quyền mới với lời khẳng định: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" (4, 8). Trong tháng 9 năm 1945, Người có bức thư tâm huyết gửi học sinh các lứa tuổi với lời kêu gọi tha thiết: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em" (4, 33). Tháng 10/1945, Người ra lời kêu gọi chống nạn thất học như một mệnh lệnh hội tụ toàn dân tộc đưa đất nước vào công cuộc đại nghĩa mở ra kỷ nguyên mới c ủa đ ất nước. Người viết: "Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia d ạy cho những người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà máy thì mở lớp cho những tá điền những người làm của mình. Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới để xứng đáng mình là một phần tử trong nước có quyền bầu cử và ứng cử. Công việc này mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức" (4, 37). Dưới sự lãnh đạo của Bác chỉ có 4 tháng của năm 1945 hệ thống giáo dục quốc dân với các thiết chế: Nha bình dân học vụ, Nha giáo dục phổ thông, Hội đ ồng cố vấn học chính đã hình thành. Trong hoàn cảnh lúc đó hệ thống này đã tạo ra những cơ hội cho nhân dân xoá được nạn thất học, hé mở những cánh cửa cho nhân dân phát triển s ự tiến hoá. Bước sang năm 1946, dù còn biết bao sự bộn bề của các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự của đất nước, Bác Hồ vẫn dành cho sự nghiệp giáo dục sự chăm lo tỉ mỉ chu đáo. Kiên trì quốc sách của một đất nước dưới chính thể mới là làm cho ba lĩnh vực: kinh tế, giáo dục, quốc phòng phải luôn luôn gắn bó với nhau, Bác đã chỉ đạo cho chính quyền mới coi giáo dục là then chốt của sự kết hợp này. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản