
Xuân Diệu với di sản và di
sản của Xuân Diệu
Một câu khác củaTruyện Kiều: Trên yên sẵn có con dao; theo Xuân Diệu, đó phải là án,
trên án - nó “là câu thơphá niêm bằng trắc duy nhất trong Truyện Kiều. Trên án, sẵncó,
hai dấu sắc ánh lên nhưcon dao sáng loáng, nhưánh mắt nàng Kiều sáng quắc, quyết
định nếu sau này nhục quá thì sẽliều thân tựtử. Nhà bình luận TảnĐà không thấy chỗ
táo bạoấy của Nguyễn Du lại chép là: Trên yên sẵn có con dao, hóa ra bằng phẳng, vô
vị!Yên thếnào được! Đã vào sóng gió rồi không thểnào yên!”(15). Không chỉ ở bản Tản
Đà, bảnđược Xuân Diệu chọnđọc, mà nhiều bản khác trong sự đọc của tôi, trong đó các
bản của Nguyễn Khắc Viện, Đào Duy Anh, Đặng Thanh Lê đều ghi là: Trên yên sẵn có
con dao.
Khác vớilên và ngang đều là Nôm, và là không thểlẫn lộn, yên (hoặcan) là Hán,
và do thếhẳn không thểcó sai biệt khi đọc; nghĩa là khó chuyểnyên thành án được
(nếu làán thì phải chuyển từyến); vậy cần trởlại bản gốc Kiều Nôm để phân định đúng
sai. Những công việc thuộc loại này, để “có một bảnKiềuđúng với nguyên tác” đặt ra
từnửađầu thếkỷtrước, cho đến nay dường nhưvẫn chưa thểgọi là xong, khiến cho
một chuyên gia cỡnhưHoàng Xuân Hãn, cho đến cuốiđời, ởtuổi 88 vẫn còn bỏdở.
Chữvà nghĩa. Một chữvới bao là nghĩa. Vậy phải khảo cho đủ để chọn cho được
một nghĩa phù hợp nhất với văn cảnh và với phong cách tác giả. Chữmang nghĩa và
chữcòn tạo nghĩa. Đã chữ, rồi lại còn “bóng chữ” -đó là câu chuyện vềsau này ởnhà
thơLê Đạt. Là người có công lớn trong việc khảo chữ, Xuân Diệuđã thực hiện với bao
là chí thú, là tâm huyết cái phần việcđã được phân công cho các nhà Ngôn ngữhọc, Từ
vựng học.

Chữvà câu. Có biết bao là câu hay, hoặc là hay nhất trong Truyện Kiềuđã được
Xuân Diệu dẫn ra. Thông thường đã gọi là hay nhất thì phải là một hoặc một vài. Thế
nhưng đọcKiềumà chọn một vài câu hay thì làm sao mà chọnđược! Phải là hàng chục,
hàng trăm. Thậm chí gần nhưlà tất cả. “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Chọn
hay là khó, vì quá nhiều, quá bộn, thì chọn... dởvậy. Vậy là có câu gần với “vần vè” và
“khá là cọc cạch, bí ép” này: Cùng nhau lạy tạGiác Duyên. Bộhành một lũtheo liền
một khi...
NếuTruyện Kiềukhó tìm chỉmột vài câu hay nhất thì Văn tếthập loại chúng
sinh là dễtìm hơn. Đó là câu Đêm trường dạtối tăm trờiđấtchất nặng biết bao là nghĩa
đời, tình người. Câu thơgần nhưlà sựdồn tụtất cảbóng tối mênh mông trong bài Văn
tế. Nếuđược chọn hai thì đó là Đòn gánh tre chín dạn hai vai...
*
Đọc Xuân Diệu viết vềcha ông tôi không chỉhứng thú trong việc phát hiện ra
nhiều chiều cạnh chữnghĩa trong kho tàng văn chương dân tộc, mà đặc biệt cảmđộng
trước cái tình của Xuân Diệuđối với ngôn ngữvà văn chương dân tộc. Hiểu nỗi mừng
bất ngờmà quá lớn của nhà thơvào năm 1957, khi lầnđầu tiên được tiếp xúc với văn
bản Quốc ngữQuốc âm thi tập,để rồi có ngay bài viếtNguyễn Trãi - nhà thơmở đầu
nền văn học cổ điển Việt Nam vào năm 1957. Và nhưvậy thì rất cần ghi công tất cả
những ai đã từng đi sưu tầm, phát hiện, thâu góp - kểtừDương Bá Cung thời Tự Đức,
rồi khảo chứng, biên dịch, biên soạn thơvănỨc Trai; và tiếpđó là sựhoàn thiệnđếnđộ
chính xác tốiưu văn bản - nó là việc của nhiều người, nhiềuđời, để cho tất cảnhững ai
có tấm lòng nhưXuân Diệuđược hưởng cái hạnh phúc được học, đượcđọc, được bình,
nghĩalàđược nhân rộng ra các giá trịvốn có của người xưa, cho lớp lớp công chúng
đương thời và hậu thế. Lại nghĩ đến hành trình thơdân tộc, kểtừlúc có chữNôm cho
đếnQuốc âm thi tập, ai mà không sẵn lòng chia sẻcái niềm vui sướng muốn reo to lên
của Xuân Diệu: “Chao ôi, hú vía! Nghĩa là 254 bài thơNôm của Nguyễn Trãi rất có thể
chúng ta nay không đượcđọc một tí gì! Nghĩa là cảcái mảng tình cảm tinh vi nhất của
Nguyễn Trãi, chưa kểcái kho văn Quốc ngữcổnhất do Nguyễn Trãi sáng tác, rất có
thểchỉcòn lại có một cái tên sách mà thôi!”(16).
Vậy là, vớiQuốc âm thi tập, ngoài việc soi chiếu tâm hồn, trí tuệmột danh nhân
bậc nhất của lịch sửbằng những lời có cánh nhất: “Các bạnơi; hơn năm thếkỷrồi, thơ
Nguyễn Trãi không bao giờngủ, Nguyễn Trãi vẫn thức trong thơcủa ông (...). Thơ

Nguyễn Trãi đứng rất cao, trán nhà thi sĩchạm mây, nhưng trong ruột thơ, vẫn cháy
một ngọn lửađời rấtấm (...). Trong thơông, nỗiđau khổriêng mình cũng đồng thời là
nỗi khổ đau của nước nhà, vì ông là kết tinh hình ảnh của trung với hiếu, của lo nước
yêu dân, khắc khoải nhưcon cuốc suốt mộtđời, cho dẫu chết rồi, lòng ưu ái của ông
vẫn cứcòn cháy ran trên trang thơ, trong lịch sử”(17), những người yêu mến lịch sửvăn
chương dân tộcđã có sựhiện hữu trước mắt mình cảmột cái kho ngôn ngữvăn chương
cổnhất còn lưu lạiđược, với những 254 bài. Cái kho này đâu dễkém giá trịso với áng
thiên cổhùng vănĐại cáo bình Ngô.
Để rồi, từNguyễn Trãi, sau hơn 300 năm nữamàđến với tuyệt tác 3254 câu
củaTruyện Kiều(cái phần lẻ254 câu này là trùng với sốbài trong Quốc âm thi tập); và
cái sống động đến kỳdiệu của thơHồXuân Hương. Với Xuân Diệu, đây là một chọn
lựa có ý thức, ngay trong khởiđộng đầu tiên trên hành trình vềvới di sản của mình, để
có từ1959: Ba thi hào dân tộc.
Trởlại những khám phá của Xuân Diệu trong di sản cổ điển của cha ông, và sự
chí thú say mê đi vào chữnghĩa, vầnđiệu, âm giọng của cha ông, ta biếtđây tuyệt
không phải là một quan tâm hình thức, mà là một xuất phát quan trọng để đến với nội
dung, để từhình thức mà đến với nội dung - nó là mục tiêu cuối cùng của mọi tìm kiếm
văn chương học thuật. Xuân Diệu cũng đã từng nói điều này nhưcách nói của một nhà
lý luận văn học: “Chúng ta trước hết phải tìm tòi nội dung, tìm tòi trong quần chúng đã
đành. Chúng ta còn phải tìm tòi rất nhiều vềhình thức, vềkỹthuật nữa. Không có hình
thức thì cũng không có nghệthuật. Phải có một hình thứcđẹpđẽ, tương xứng với nội
dung mới làm công chúng yêu mến, say sưa. Rất sai lầm là người nào khinh kỹthuật”.
Vậy là chữvà nghĩa, và vầnđiệu, và câu, và bài... trong cấu trúc văn chương của
cha ông, đối với người tiếp nhận là Xuân Diệu, đâu phải chỉlà biểu tượng của hình thức,
của kỹthuật, của nghệthuật. Nó còn là (hoặc chính là) hồn cốt, là thần thái, là bản sắc,
là bản lĩnh của dân tộc trong trường tồn của lịch sử. Với Xuân Diệu, chữcủa nhân dân -
như được thểhiện trong văn học dân gian - qua tiếp nhận và sáng tạo của các đỉnh cao
văn chương không bao giờlà vô hồn. Việc thổi cho được cái hồnđó vào văn chương -
chữnghĩa, đó là sứmệnh của nhà văn, nhà thơ. “Người thi sĩlà con đẻ của ngôn ngữ
dân tộc, là người phải cảm xúc sâu xa nhất cái hay, cái đẹp, cái kho tàng sâu kín của
ngôn ngữdân tộc mình, nó chứađựng tâm hồn dân tộc mình”. Hiểu vì sao mỗi dân tộc,
bên bảo tàng lịch sửcần có bảo tàng văn chương; và cũng chẳng nên so sánh lớn nhỏ
giữa hai loại; bởi mỗi loạiđápứng một nhu cầu riêng, và bởi, trên thếgiới, mỗi dân tộc

