intTypePromotion=3

Tài liệu về Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long - part 2

Chia sẻ: Nguyễn Thị Ngọc Huỳnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

1
159
lượt xem
64
download

Tài liệu về Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long - part 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có chiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích pyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dầy tầng đất vùng và không gian vùng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tài liệu về Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long - part 2

  1. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có chiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích pyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dầy tầng đất vùng và không gian vùng. Các con sông nằm được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùng rộng lớn mang vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùng đầm lầy biển. Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong vùng phụ cận của những nhánh sông gần cửa sông mà tại đây ảnh hưởng rửa bởi thủy triều khá mạnh. Ngược lại, vùng châu thổ sông Sài Gòn, nằm kế bên hạ lưu châu thổ sông Mekong, được biểu thị bởi một tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm do lượng vật liệu phù du trong nước sông khá thấp và châu thổ này bị chia cắt bởi nhiều nhánh sông thủy triều và do bởi những vành đai thực vật chịu mặn thì rộng lớn hơ n vành đai này ở vùng châu thổ sông Mekong, và kết quả là trầm tích của chúng chứa nhiều axít tiềm tàng. Hình 1. Đồng bằng sông Cửu Long  Khí hậu: Nhóm III lớp DH06QM Page 11
  2. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm. Một năm có hai mùa mưa và mùa nắng phân biệt. Mùa mưa kéo dài khoảng 5 tháng, tương ứng với chủ yếu thời kỳ gió mùa Tây Nam, mưa lớn xảy ra khi các luồng áp thấp nhiệt đới xuất hiện trên lục địa Châu Á, thường bắt đầu vào cuối tháng 4 đầ u tháng 5 và chấm dứt vào cuối tháng 11 hằng năm. Bảy tháng còn lại trong năm là mùa khô, thời kỳ này gió mùa Đông Bắc lại chiếm ưu thế do sự hiện diện của các trung tâm áp cao từ vùng Siberi - Mông Cổ di chuyển xuống. Lượng mưa trong mùa khô rất ít, chỉ chiếm khoảng 5 - 10% so với tổng lượng mưa trong cả năm.Lượng mưa trung bình ở ĐBSCL biến động trong khoảng 1.400 - 2.200 mm/năm.  Nguồn nước: Đồng bằng sông Cửu Long nhận nước ngọt từ dòng sông Mekong và nước mưa. Cả hai nguồn nước này đều đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt, dồi dào vào mùa mưa và hạn chế khi khô hạn. Lượng nước bình quân của sông Mekong chảy qua đồng bằng sông Cửu Long hơn 460 tỉ m3, mang theo hơn 200 triệu tấn phù sa, tạo nên một đồng bằng Sông Cửu Long trù phú và phì nhiêu. Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch chằng chịt lớn nhỏ thuận lợi cho giao thông thủy và cung cấp nước ngọt quanh năm cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của vùng. Vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) sông Mekong là nguồn cung cấp nước mặt duy nhất. Mùa mưa, lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2400mm ở phía tây đồng bằng đến 1300mm tại vùng đồng bằng trung tâm và khoảng 1600mm ở vùng phía đông đồng bằng. Cũng vào mùa mưa thường có lũ xảy ra vào tháng 9, còn gọi là mùa nước nổi, một đặc điểm thú vị của đồng bằng.  Thủy triều ven biển ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long là bộ phận cuối cùng ở lưu vực sông Mekong tiếp giáp với biển nên chế độ nước ở đây chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều. Căn cứ vào đặc điểm hình thành và diễn biến của thủy triều, ta có thể chia vùng biển ĐBSCL ra làm 2 đoạn và lấy mũi Cà Mau làm điểm trung gian: Nhóm III lớp DH06QM Page 12
  3. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long a. Khu vực biển Đông Kéo dài từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, dài 400 km chịu ảnh hưởng rõ rệt theo chế độ thủy triều bán nhật triều không đều, biên độ triều khá lớn trên 2 m, đạt tối đa 3,5 m, đặc biệt trong chu kỳ triều Maton (chu kỳ 19 năm) có thể lên đến 4 - 4,2 m. Tuy vậy, triều biển Đông cũng chịu một phần ảnh hưởng triều biển Tây từ vịnh Thái Lan (bán nhật triều không đều) nhất là đoàn càng đi về phía Cà Mau. Mỗi ngày có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống nhưng biên độ triều trong 2 lần khác nhau. Trong mỗi chu kỳ 1/2 tháng, thấy rõ sự chênh lệnh đáng kể về biên độ kỳ nước cường. Nước lớn thường xảy ra vào những ngày mồng 2 đấn mồng 3 âm lịch, hoặc ngày 18 - 19 âm lịch. Nước kém xảy ra vào thời gian giữa 2 kỳ nước cường (ngày mồng 7 - 8 âm lịch hoặc 20 - 21 âm lịch). Các đặc trưng này xảy ra đều đặn suốt chiều dài 300 km dọc bờ biển, chỉ riêng đoạn gần đến mũi Cà Mau thì mới có sự biến động lớn về tính chất và biên độ c ủa thủy triều. Theo Nguyễn Ngọc Thụy (1979) thì biên độ thủy triều ngoài khơi vùng nam biển Đông gia tăng dân khi tiến sát đến thềm lục địa ĐBSCL và giảm dần khi sóng triều truyền sâu vào sông Cửu Long. Tại vùng biển Tây Nam biển Đông, sóng bán nhật triều được tăng cường về biên độ khi tiến về phía đất liền do cấu trúc địa hình, địa mạo của đáy biển ở đây tương đối phức tạp. Điều này, ở vịnh Thái Lan cũng có ảnh hưởng tương tự nhưng mức độ thấp hơn. b. Khu vực phía Tây: Từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên dài 250 km. Ở khu vực này chịu chi phối bởi thủy triều nhật triều không đều của vùng biển vịnh Thái Lan, đoạn gần mũi Cà mau bị ảnh hưởng của thủy triều biển Đông. Triều phía Tây tiến vào đất liền qua các sông thiên nhiên như sông Bảy Háp, sông Ông Đốc, sông Cái Lớn, sông Cái Bé, ... và một số kênh đào. Biên độ trung bình triều phía Tây nhỏ hơn 1 m, tối đa không quá 1,1 - 1,2 m., trung bình khoảng 0,7 - 0,8 m, đồng thời cũng ít chênh lệch giữa các vùng về biên độ song tính chất thủy triều lại có một số điểm khác nhau về cơ bản ở một số vùng. Ví dụ như khu vực Rạch Giá là dạng triều hỗn hợp thiên về bán nhật triều với số ngày trong tháng có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống là chủ yếu (tức chịu ảnh hưởng chế Nhóm III lớp DH06QM Page 13
  4. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long độ nhật triều không đều thiên về bán nhật triều), từ Rạch Giá đi về phía Hà Tiên thì triều hỗn hợp lại thiên về nhật triều, với số ngày trong tháng có 1 lần dao động triều chiếm ưu thế. Chế độ thủy văn của đồng bằng sông Cửu Long có 3 đặc điểm nổi bật:  Nước ngọt và lũ lụt vào mùa mưa mang theo phù sa, các sinh vật phù du, ấu trùng.  Nước mặn xâm nhập vào vùng ven biển ở mùa khô.  Nước chua phèn vào mùa mưa ở vùng đất phèn. Thời kỳ đầu mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 7, khi phèn từ trong đất xâm nhập vào các kênh, làm hạn chế nguồn nước cho tưới tiêu và sinh hoạt. Đồng bằng sông Cửu Long có trữ lượng nước ngầm không lớn, chỉ chủ yếu phục vụ cho mục đích sinh hoạt người dân. II.3.3. Hệ sinh thái: Trong các vùng đất ngập nước ở Đồng bằng sông Cửu Long, có thể xác định được 3 hệ sinh thái tự nhiên. Tất cả các hệ sin h thái này đều rất “nhạy cảm” về môi trường. Những nét đặc trưng chủ yếu của 3 hệ sinh thái như sau: a. Hệ sinh thái rừng ngập mặn: Rừng ngập mặn nằm ở vùng rìa ven biển trên các bãi lầy mặn. Các rừng này đã từng bao phủ hầu hết vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long nhưng nay đang biến mất dần trên quy mô lớn. Trong số các rừng ngập mặn còn lại, trên 80% (khoảng 77.000 ha) tập trung ở tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. b. Hệ sinh thái đầm nội địa (rừng Tràm): Trước đây rừng Tràm đã từng bao phủ một nửa diện tích đất phèn. Hiện nay chỉ còn lại trong khu vực đất than bùn U Minh và một số nơi trong vùng đất phèn ở Đồng Tháp Mười và đồng bằng Hà Tiên là những nơi bị ngập theo mùa. Rừng Tràm rất quan trọng đối với việc ổn định đất, thuỷ văn và bảo tồn các loại vật. Rừng Tràm thích hợp nhất cho việc cải tạo các vùng đất hoang và những vùng đất Nhóm III lớp DH06QM Page 14
  5. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long không phù hợp đối với sản xuất nông nghiệp như vùng đầm lầy than bùn và đất phèn nặng. Cây tràm thích nghi được với các điều kiện đất phèn và cũng có khả năng chịu được mặn. Hình 2. Rừng ngập mặn Hiện nay, rừng tràm chỉ phân bố ít ỏi ở vùng đất than bùn U Minh, ở vùng đất than bùn Đồng Tháp Mười và cánh đồng Hà Tiên. Những vùng đất ngập nước dưới rừng tràm có khả năng giữ nước ngọt quanh năm cung cấp cho sinh hoạt cùa người dân và cho khu động vật hoang dã, han chế quá trình phèn hóa và làm giảm tốc độ dòng chảy trong lũ , là nơi cư trú cho rất nhiều loài thủy sàn nước ngọt , cung cấp gỗ, củi, cá, mật ong và bảo tồn đa dạng sinh học. Tầng than bùn ở vùng rừng Tràm U Minh có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái. Trong điều kiện khô như bị thoát nước, than bùn sẽ bị oxi hóa rất nhanh làm cho đất bị phèn hóa và sinh ra các độc tố như sắt và nhôm. c. Hệ sinh thái cửa sông: Cửa sông là nơi nước ngọt từ sông chảy ra gặp biển. Chúng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các thuỷ triều và sự pha trộn giữa nước mặn và nước ngọt. Cửa sông duy trì những quá trình quan trọng như vận chuyển chất dinh dưỡng và phù du sinh vật, du đẩy các ấu trùng tôm cá, xác bồi động thực vật và nó quyết định các dạn g trầm tích ven biển. Hệ sinh thái cửa sông nằm trong số các hệ sinh thái phong phú và năng động Nhóm III lớp DH06QM Page 15
  6. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long nhất trên thế giới. Tuy nhiên chúng rất dễ bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường và do các thay đổi của chế độ nước (nhiệt độ, độ mặn, lượng phù sa), những yếu tố có thể phá vỡ hệ sinh thái này. Nhiều loài tôm cá ở Đồng bằng sông Cửu Long là những loài phụ thuộc vào cửa sông. Mô hình di cư và sinh sản của các loài này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ sông và thuỷ triều, phụ thuộc rất nhiều vào môi trường cửa sông. Hệ động vật: Hệ động vật ở Đồng bằng sông Cửu Long gồm 23 loài có vú, 386 loài và bộ chim, 6 loài lưỡng cư và 260 loài cá. Số lượng và tính đa dạng của hệ động vật thường lớn nhất trong các khu rừng tràm và rừng ngập mặn còn lại. Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng trú đông quan trọng đối với các loài chim di trú: diệc, cò trắng, vạc, sếu mỏ đỏ phương đông; đặc biệt là tại khu bảo tồn quốc gia Tràm Chim và vùng rừng U Minh. Những vùng ngập nước ở đồng bằng sông Cửu Long còn là nơi cư trú của các loài bò sát và động vật lưỡng cư. Các loài động vật, chim, bò sát, động vật lưỡng cư và cá là nguồn đánh bắt quan trọng của người dân trong vùng. II.3.4. Tài nguyên đất đồng bằng sông Cửu Long: Tổng diện tích đồng bằng sông Cửu Long không kể hải đảo là khoảng 3,96 triệu ha. Trong đó khoảng 2,6 triệu ha được sử dụng để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản (chiếm 65%); trong quỹ đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm chiếm trên 50%, trong đó chủ yếu là đất lúa trên 90%. Đất chuyên canh các loại cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày khoảng 150.000 ha, đất trồng cây lâu năm chiếm trên 320.000 ha, khoảng 8,2% diện tích đất tự nhiên của đồng bằng. Đồng bằng sông Cửu Long có những nhóm đất chính là:  Đất phù sa: Diện tích 1.184.857 ha, phân bố ở phần trung tâm của đồng bằng và dọc hai bờ sông Tiền và sông Hậu, là lớp phủ trầm tích nước ngọt trẻ nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Loại đất này được sử dụng triệt để cho sản xuất nông nghiệp (lúa, cây ăn trái, rau, đậu đỗ,..v..v..). Nhóm III lớp DH06QM Page 16
  7. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long  Đất phèn: Diện tích 1.600.263 ha, là nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất và phức tạp nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Đất phèn phân bố ở các vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau. Vùng Đồng Tháp Mười, phần lớn đất phèn hình thành từ trầm tích sét nặng có độ thấm cao, khi bị oxy hóa dễ dàng xuất hiện khoáng Jarosite. ở Tứ giác Long Xuyên đất phèn tương đối đồng đều về nguồn gốc hình thành và độc tố, ít có những biến động lớn trong cùng một khu vực. Đất phèn vùng bán đảo Cà Mau hình thành trên trầm tích sông biển hỗn hợp chứa Pyrite bị phủ một lớp trầm tích sông mỏng bên trên, do đó lượng chất độc không cao, đất thường bị nhiễm mặn vào mùa khô bởi nước biển tràn vào sông rạch.  Nhóm đất mặn : diện tích 744.547 ha, gồm đất mặn do ngập nước thủy triều mặn hoặc đất mặn do nước ngầm mặn gây nên. Đất mặn bị ngập thủy triều thường mặn quanh năm và bão hòa muối. Đất mặn không bị ngập thủy triều thường có độ mặn cao nhất về mùa khô, mùa mưa nước mưa đã hòa tan muối và rửa mặn nên độ mặn giảm nhiều, có thể cấy lúa một vụ mùa mưa. Bảng 2. Phân loại đất mặn Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam, 2002 Ngoài ra, Đồng bằng sông Cửu Long còn có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha, bao gồm diện tích đất ngập nước nội địa và đất ngập nước ven biển ngập thủy triều dưới 6 mét. Nhóm III lớp DH06QM Page 17
  8. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long Hình 2. Đất ngập nước đồng bằng sông Cửu Long “Đất ngập nước” (wetlands) Theo nghĩa rộng: “Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6 mét”. Theo đó ĐNN phải có một trong ba thuộc tính sau:  Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh.  Nền đất hầu như không bị khô  Nền đất không có cấu trúc rõ rệt hoặc bão hòa nước bị ngập nước ở mức cạn ở một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hàng năm. Trong đó, đất ngập nước mặn ven biển có diện tích 1.636.069 ha, phân bố dọc ven biển Đông, phía Tây Nam bán đảo Cà Mau và vịnh Thái Lan. Theo đặ c trưng về thủy văn có đất ngập nước mặn ven biển-ngập thường xuyên và đất ngập nước mặn ven biển - ngập không thường xuyên.  Đất ngập nước mặn ven biển - ngập thường xuyên có diện tích 879.644 ha, phân bố ở vùng biển nông có độ ngập thủy triều dưới 6 mét. Nhóm III lớp DH06QM Page 18
  9. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long  Đất ngập nước mặn ven biển - ngập không thường xuyên có diện tích 756.425 ha, phân bố ở dải đất liền ven biển. Các dạng đất ngập nước chính trong vùng này là “dạng đất bị ngập nước mặn thường xuyên, không có thực vật”, “dạng đất bị ngập nước mặn không thường xuyên, canh tác nông nghiệp” và “dạng đất bị ngập nước mặn không thường xuyên, nuôi trồng thủy sản”.  Đất ngập nước mặn cửa sông có diện tích 1.052.102 ha, phân bố chủ yếu ở vùng cửa sông Cửu Long thuộc địa bàn các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng. Các dạng đất ngập nước chủ yếu là đất ngập nước mặn không thường xuyên canh tác nông nghiệp và đất ngập nước mặn không thường xuyên nuôi trồng thủy sản.  Đất ngập nước mặn đầm phá có diện tích 2.521 ha theo kết quả khoanh định trên bản đồ đất ngập nước vùng đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ 1:250.000, phân bố ở đầm Đông Hồ (Hà Tiên) và đầm Thị Tường (Cà Mau) ở vùng ven biển vịnh Thái Lan.  Đất ngập nước ngọt thuộc sông có diện tích 1.963.240 ha, bao phủ vùng đồng lụt rộng lớn ở trung tâm của đồng bằng. Dạng đất ngập nước ngọt thuộc sông ngập thường xuyên là các nhánh chính của sông Tiền, sông Hậu, các sông khác và các dòng kênh, có diện tích 128.139 ha. Dạng đất ngập nước ngọt thuộc sông ngập không thường xuyên là các cánh đồng canh tác lúa nước, các vườn cây ăn trái và các diện tích canh tác nông nghiệp khác, có diện tích 1.771.381 ha.  Đất ngập nước ngọt thuộc hồ ở đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 56.389 ha, phân bố ở vùng hồ rừng Tràm U Minh Hạ (tỉnh Cà Mau), hồ rừng Tràm U Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang) và ở Vườn quốc gia Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp).  Đất ngập nước thuộc đầm có diện tích 229.363 ha, dạng đất ngập nước chủ yếu là đất ngập nước thuộc đầm ngập không thường xuyên, sử dụng để canh tác nông nghiệp, phân bố ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên.  Vai trò của đất ngập nước: Nhóm III lớp DH06QM Page 19
  10. Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long ĐNN là những hệ sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho con người nhiều loại nhiên liệu, thức ăn, là nơi giải trí và nơi lưu trữ các nguồn gen quý hiếm. Ngoài ra, đất ngập nước còn có vai trò quan trọng trong thiên nhiên và môi trường như lọc nước thải, điều hòa vi khí hậu, chống xói lở bờ biển, ổn định mực nước ngầm, là nơi trú chân của nhiều loài chim di cư quý hiếm... Hình 3. Hiện trạng đất đồng bằng sông Cửu Long II.3.5. Đặc điểm kinh tế xã hội đồng bằng sông Cửu Long: ĐBSCL có 13 đơn vị hành chính bao gồm: 1 thành phố trực thuộc trung ương (Thành phố Cần Thơ) và 12 tỉnh (Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Dân số: đến năm 2004 dân số toàn vùng đạt trên 17,076 triệu người, mật độ dân số: tỷ lệ nữ giới chiếm 51,2%, tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị là 18,17%. Theo thống kê về lao động việc làm, dân số trong độ tuổi lao động có việc làm thường Nhóm III lớp DH06QM Page 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản