intTypePromotion=1
ADSENSE

Tâm lí con người trước sự tác động của xã hội đô thị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Chia sẻ: ViSasuke2711 ViSasuke2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

45
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tâm lí con người là hệ quả của sự biến đổi xã hội đô thị, đồng thời là sự thể hiện sâu sắc nhất bản chất của xã hội ấy. Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ đã tác động đến hầu hết các cá nhân trong xã hội theo ba hướng: Tâm lí hăm hở, nhập cuộc; tâm lí cô đơn, lạc lõng và tâm lí bất an, mất niềm tin, chối bỏ đô thị.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tâm lí con người trước sự tác động của xã hội đô thị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Social Sci., 2016, Vol. 61, No. 10, pp. 71-75<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1067.2016-0086<br /> <br /> TÂM LÍ CON NGƯỜI TRƯỚC SỰ TÁC ĐỘNG CỦA XÃ HỘI ĐÔ THỊ<br /> TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI<br /> Đỗ Thanh Hương<br /> <br /> Trường Trung học phổ thông Minh Phú, Sóc Sơn, Hà Nội<br /> Tóm tắt. Tâm lí con người là hệ quả của sự biến đổi xã hội đô thị, đồng thời là sự thể hiện<br /> sâu sắc nhất bản chất của xã hội ấy. Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ đã tác động đến<br /> hầu hết các cá nhân trong xã hội theo ba hướng: tâm lí hăm hở, nhập cuộc; tâm lí cô đơn,<br /> lạc lõng và tâm lí bất an, mất niềm tin, chối bỏ đô thị. Những phản ứng khác nhau trước<br /> hiện thực đời sống của con người đô thị đã cho ta thấy một xã hội đa diện: vừa là nơi tập<br /> trung ánh sáng văn minh với ước vọng đổi thay cuộc đời; vừa là nơi hỗn tạp, xô bồ, ở đó<br /> con người dễ dàng tha hóa, đánh mất chính mình.<br /> Từ khóa: Đô thị, tha hóa, bất an, mất niềm tin, cô đơn, giá trị truyền thống,. . .<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Đô thị là đề tài phổ biến trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 và nhất là giai đoạn<br /> từ sau 1986 – giai đoạn Đổi Mới gắn liền với quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế. Tiểu thuyết<br /> Việt Nam đương đại đã đón nhận được làn sóng ấy và đề tài đô thị trở nên khá phổ biến ở thể loại<br /> này. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài đô thị trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX<br /> [4,5,8,10]. Những nghiên cứu này, bên cạnh việc làm rõ bức tranh hiện thực đô thị đương thời cũng<br /> đã quan tâm đến những xung đột tình cảm có tính đời thường của người thị dân, cuộc xung đột<br /> sâu sắc bên trong con người, giữa cái tốt và cái xấu. . . Với tiểu thuyết Việt Nam đương đại, những<br /> nghiên cứu tập trung nhiều vào vấn đề cách tân tự sự [1,9,11] hoặc bàn về con người [2,6]. Tuy<br /> nhiên, các tác giả mới chỉ tập trung vào đặc điểm của các tầng lớp người và tính phức hợp, đa bình<br /> diện của con người trong xã hội hiện đại nói chung mà chưa thể hiện rõ sự tác động của đô thị và<br /> quá trình đô thị hóa lên đời sống tâm lí của con người.<br /> Nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam đương đại, bài báo này trình bày các nghiên cứu về tâm<br /> lí của con người trước sự tác động của đô thị và quá trình đô thị hóa. Để làm rõ sự tác động này,<br /> chúng tôi tập trung nghiên cứu tiểu thuyết của một số tác giả: Nguyễn Bắc Sơn (Lửa đắng), Chu<br /> Lai (Phố), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa), Nguyễn Ngọc Tư (Sông) Đỗ Phấn (Rụng xuống<br /> ngày hư ảo), Nguyễn Xuân Thủy (Nhắm mắt nhìn trời), Nguyễn Đình Tú (Kín). . . Từ đó, chúng<br /> tôi muốn góp thêm một hướng quan sát, đánh giá về con người đương đại; một hướng tiếp cận với<br /> tiểu thuyết Việt Nam đương đại và một kênh đánh giá về bản chất xã hội hiện đại.<br /> Ngày nhận bài: 15/7/2016. Ngày nhận đăng: 20/9/2016<br /> Liên hệ: Đỗ Thanh Hương, e-mail: dothanhhuong1808@gmail.com<br /> <br /> 71<br /> <br /> Đỗ Thanh Hương<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> Tâm lí hăm hở “nhập cuộc”<br /> <br /> Quá trình đô thị hóa và cơ chế thị trường khiến xã hội trở nên bề bộn và có phần bấn loạn.<br /> Trước thực trạng ấy, những con người tâm huyết với sự đổi mới nước nhà đã hăm hở “nhập cuộc”.<br /> Đó là Kiên (Lửa đắng) với sáng kiến tinh gọn bộ máy hành chính, thực hiện kiêm nhiệm chức<br /> danh Chủ tịch và Bí thư. Chính anh là người đã thí điểm và thành công ngoài sức tưởng tượng ở<br /> cơ sở mình. Thành phố của Kiên được chọn làm điểm để nhân rộng mô hình này ở các địa phương<br /> khác. Sự thành công ấy là bước đệm để đưa Kiên đến với vị trí ở Trung ương. Đó là Triển, là Thu<br /> Phong (Lửa đắng) – những nhà báo chống tiêu cực điển hình. Họ đã bất chấp sự nguy hiểm đến<br /> tính mạng (Triển bị tạt axit) và sự nguy hại đối với những người thân trong gia đình (con gái của<br /> Triển bị bắt cóc), thậm chí, chấp nhận cả gia đình tan vỡ (gia đình Triển) nhưng họ vẫn tâm huyết<br /> với vũ khí là cây bút trong tay. Họ đã phát huy tối đa sức mạnh của cơ quan quyền lực thứ tư trong<br /> công tác chống tiêu cực, phanh phui những vụ việc mờ ám nhằm đem lại sự trong sạch cho xã hội.<br /> Quá trình đô thị hóa cùng với cơ chế thị trường đã tạo một hành lang thông thoáng cho<br /> những người nhạy bén về kinh tế. Đô thị đã tạo nên một trường lực hấp dẫn mạnh mẽ với những<br /> doanh nhân trẻ. Đó là sự tự tin, chủ động lao vào thương trường của Tâm, Nhã (Cơ hội của Chúa).<br /> Họ là những trí thức nhưng sẵn sàng từ bỏ trường đại học (Tâm), vứt bỏ danh vọng (Nhã) để làm<br /> giàu. Họ đã lựa chọn những con đường khác nhau: nếu như Tâm muốn đường hoàng chân chính<br /> làm ăn trong cái “thị trường Việt Nam vẫn còn trinh nguyên”, muốn có “một dây chuyền công<br /> nghệ sản xuất sinh lãi ít nhưng tạo ra một tư cách pháp nhân sạch sẽ” thì Nhã lại biết đến sức mạnh<br /> của quyền lực ngầm khi làm kinh tế.<br /> Có tiền là có sức mạnh và phải làm kinh tế mới có thể có nhiều tiền. Cuộc sống hiện đại đã<br /> làm thay đổi suy nghĩ của Thảo (Phố). Thảo đã quyết tâm từ bỏ bộ quân phục để sang Đức làm ăn.<br /> Ba năm quay về, trong tay chị đã có 100 ngàn đê mác (gần 1 tỉ đồng tiền Việt lúc bấy giờ). Có vốn,<br /> chị xoay ra làm ăn. Chị xây lại nhà theo kiến trúc hiện đại rồi cho thuê, mỗi tháng thu về không<br /> dưới năm triệu đồng. Gia đình Thảo Nam đã đổi đời. Lãm (Phố) cũng hăm hở không kém. Anh đi<br /> buôn thuốc lào để lấy vốn buôn mía rồi tích tiểu thành đại, anh xây dựng được hẳn một cơ sở sản<br /> xuất mía đường và sẽ còn mở rộng thêm cơ sở. Từ chỗ phải nằm đường nằm chợ, giờ đây vợ chồng<br /> Lãm đã có cả một ngôi nhà to, rộng bằng gỗ ở một khu đất đẹp.<br /> Xã hội thời mở cửa đã tạo cơ hội cho những con người tâm huyết, nhạy bén hăm hở “nhập<br /> cuộc”. Mỗi người đều có những thành công nhất định chứng minh sự lựa chọn của họ là đúng đắn.<br /> Các nhà văn cũng đặt niềm tin và dành một sự cổ vũ không nhỏ cho những con người dám nghĩ,<br /> dám làm như vậy. Sự phát triển của xã hội ngày nay có một phần đóng góp không nhỏ của họ.<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Tâm lí cô đơn, lạc lõng<br /> <br /> Trong khi có rất nhiều người có thể hòa nhập một cách tích cực với xã hội hiện đại thì vẫn<br /> có một bộ phận không ít những người không-thể-nhập-cuộc. Họ có cảm giác rằng mình không<br /> thuộc về nơi đang sống, không thuộc về cái xã hội mà họ là một phần trong đó. Sự lạc lõng khiến<br /> họ cảm thấy cô đơn, cô độc và mất niềm tin vào cuộc sống hiện tại.<br /> Nguyễn (Nhắm mắt nhìn trời) đã cùng Thành thực hiện một kế hoạch để “gia nhập” đời<br /> sống đô thị: dành tiền mua đất trong diện quy hoạch ở ngoại ô, gia nhập Hội nông dân, chờ đến<br /> khi quy hoạch, mở rộng thành phố thì nơi đó sẽ là đô thị. Quá trình gia nhập Hội nông dân cũng<br /> là quá trình Nguyễn và Thành tiếp xúc và phải làm quen với cuộc sống ở cái làng mới quay ra phố<br /> này. Nguyễn sống cùng với đủ mọi hạng người, toàn là những người giàu lên nhờ nắm được cơ hội:<br /> 72<br /> <br /> Tâm lí con người trước sự tác động của xã hội đô thị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại<br /> <br /> Chị Thiện chuyên ghi đề, cho vay lãi; Tâm mặt quỷ chuyên cò đất và có một quán nhậu đặc sản là<br /> cá nhệch; Trí đền bù giàu lên nhờ nuôi cá nhệch bằng thịt người; Nhợn giàu lên nhờ buôn cứt. . .<br /> Thành, với sự nhạy bén trong các bài viết, đã đưa cái mảnh đất nửa làng nửa phố này trở thành nổi<br /> tiếng và tương lai nó sẽ tiến gần hơn đến đô thị bởi những dự án đầu tư. Nhưng Nguyễn thì không<br /> thể nhập cuộc. Anh cảm thấy buồn nôn trước những cách làm ăn của người dân nơi đây. Tất cả đã<br /> đi quá xa những gì mà Nguyễn tưởng tượng. Anh đã trở thành kẻ lạc lõng khi không thể hòa nhập<br /> vào lối sống ấy. “Trên đường phố, những dòng xe nối nhau lầm lụi. Sự thê lương phủ dài các con<br /> phố. Nguyễn cứ trôi trong dòng người ấy. Chẳng có ai ngẩng lên, chẳng có ai nhìn sang ai, thậm<br /> chí không ai thèm bấm còi. Dòng người cứ thế dịch chuyển âm thầm trong mưa bụi” [14;340].<br /> Nguyễn đã chính thức bị đẩy ra lề cuộc sống nơi đây.<br /> Đức (Rụng xuống ngày hư ảo) cũng có cảm giác tương tự Nguyễn ở thành phố của mình.<br /> Sau sự ra đi của Ngân, cái chết của Khánh rồi của Thủy làm Đức hoang mang thực sự. “Có thật<br /> là phố phường cũ không còn lưu luyến gì với anh nữa? Giờ thì anh chẳng thuộc về một cộng đồng<br /> nào. Không cũ cũng chẳng mới. Không làm việc cũng không tụ bạ” [12;278]. Đức không thể tìm<br /> thấy và đúng hơn là anh đã tự cắt hết những mối liên hệ của mình với phố phường: đám bạn cũ hay<br /> tụ bạ, bỏ việc ở cơ quan, không thể kết bạn mới vì “họ mới với anh và với cả phố phường này”. Đức<br /> nhận ra “anh cũng chẳng thuộc về một gia đình nào cả. Gia đình cũ đã không mà gia đình mới thì<br /> chưa có. Một mình anh chẳng đủ để trở thành một tế bào của xã hội. . . ” [12;279]. Đức không còn<br /> thuộc về nơi nào, tổ chức nào, và cũng không gì còn có thể chứng minh anh là Đức. Bằng chứng<br /> là khi anh bị ngất, vào bệnh viện, “cán bộ hành chính khoa cấp cứu bệnh viện phải mất hàng giờ<br /> mới dò ra tung tích anh bằng hàng chục cuộc gọi điện thoại”. Điều duy nhất khiến họ có thể biết<br /> được về anh là nhờ lòng tốt của vị tổng biên tập – sếp cũ, người mà anh rất ít khi tiếp xúc.<br /> <br /> 2.3.<br /> <br /> Tâm lí bất an, mất niềm tin, chối bỏ đô thị<br /> <br /> Trong khi có những người hăm hở lao vào cuộc sống đô thị thì một bộ phận thị dân, nhất là<br /> lớp trẻ lại muốn chối bỏ.<br /> Ân (Sông – Nguyễn Ngọc Tư) đã rất nhiều lần xách ba lô đi nhưng rồi lại phải về vì những<br /> cú điện thoại của mẹ. Rồi chuyến du khảo sông Di lần này đã đưa Ân đi mãi. Với một “tâm trạng...<br /> bở như dưa gang chín rục” và bầu khí quyển đượm “mùi rầu rĩ”, Ân bỏ thành phố bước vào cuộc<br /> hành trình bất định ngược con sông bất định tên “Di”... Trên hành trình ngược dòng sông ấy, đã rất<br /> nhiều lần Ân băn khoăn tự hỏi không biết có nên trở về. Nhưng những gì mà Ân và những người<br /> bạn đồng hành (?!) trải qua ở những điểm đến dọc bờ sông Di đã khiến cậu có thêm can đảm để<br /> lựa chọn và quyết định: Đi. Nơi nào Ân đi qua cũng để lại những câu chuyện về sự - bỏ - đi, mất<br /> hút, biến mất. Nào là sự biến mất của Hường ở Ngã Chín. Nào là sự biến mất của Bối. Nào là câu<br /> chuyện về tất tần tật mọi thứ đều trôi rồi mất hút (kể cả tuổi xuân và hạnh phúc của con người)<br /> ở chợ trôi. Nào là sự biến mất của hội tắm lu chợ Thương. . . Và trên hành trình ấy, điều ám ảnh<br /> Ân là sự ra đi của chị Ánh, có lúc tưởng chừng như đã lần được dấu chân Ánh nhưng rồi lại mất<br /> hút. Nếu Ân tìm được Ánh, có lẽ mọi chuyện sẽ khác (?). Và cả sự ra đi của San. Những tâm hồn<br /> thương tổn đi dọc sông Di gặp và chứng kiến những mảnh đời khác, thăng trầm như sông, mong<br /> manh như sông: người già ngậm nỗi niềm nước mắt, người trẻ giữ giằng xé mênh mông; đàn ông<br /> sống chậm rãi, bất cần, đàn bà cũng chơi vơi nghiêng ngả. Sông với rừng oằn mình trong thao thức<br /> nhức nhối về sự ô nhiễm, hủy diệt xói mòn. Những con người lần lượt biến mất để lại nỗi ám ảnh<br /> theo dọc sông Di. Ai cũng bỏ đi và dòng sông chính là sự bỏ đi miệt mài nhất. Ân đã gửi mình vào<br /> sông Di.<br /> Quỳnh (Kín) cũng bỏ nhà ra đi vào đúng đêm sinh nhật lần thứ hai mươi của mình. Không<br /> 73<br /> <br /> Đỗ Thanh Hương<br /> <br /> một lời từ biệt với bố, với căn biệt thự có hoa tường vi, với thành phố, mối liên hệ duy nhất giữa<br /> Quỳnh với bố là những giao dịch qua thẻ ATM. Nhưng đến cuối cùng, cô “vung tay về phía biển.<br /> Chiếc thẻ ATM lượn một vòng cung, nhỏ xíu, xa dần, rồi như một chiếc lá rụng, rớt nhẹ xuống<br /> mặt biển” [15;368]. Mối liên hệ cuối cùng của Quỳnh với gia đình đã bị chối bỏ. Cô tiếp tục cuộc<br /> hành trình trong tình trạng không quê hương, không đích đến, không người đồng hành.<br /> Sự chối bỏ đô thị là kết quả của tâm lí bất an, mất niềm tin của con người đô thị. Trong suốt<br /> hành trình, Ân (Sông) đi với tâm trạng “bở như dưa gang” vì Tú – người tình đồng tính của Ân vừa mới lấy vợ; vì mẹ cứ gọi điện giục hoài chuyện Ân lấy vợ, chuyện Ân về sửa hàng rào, đay đi<br /> đay lại điệp khúc Ân là “đàn ông trong nhà”. Nỗi đau đớn âm thầm vì mình không thể sống như<br /> người bình thường; sự ghen tị ích kỉ với hạnh phúc của người tình cũ; sự thất vọng vì mình không<br /> có quyền lựa chọn hạnh phúc. . . làm nên tâm trạng bất an của chàng trai mười bảy tuổi Thái Đình<br /> Ân. Đi, rời xa tất cả những gì đã từng gắn bó chính là lựa chọn để cậu có thể tìm lại con người thật<br /> của mình.<br /> Ở tuổi hai mươi, Quỳnh (Kín) quyết định rời xa Hà thành vì cô biết mình không - thuộc - về<br /> - nơi - ấy. Đích đến ban đầu là Hải Thành – nơi Quỳnh sinh ra và là nơi làm nên bước ngoặt trong<br /> cuộc đời Quỳnh nhưng cô cũng không biết mình cần phải tìm gì trong chuyến đi ấy. Cô quyết định<br /> sẽ dừng lại ở những điểm bất kì trên hành trình ngược dòng ấy để xem thực sự cái cần tìm là gì<br /> nhưng vô vọng. Trong hành trình, Quỳnh thường xuyên mơ thấy mẹ, được mẹ đưa đến những nơi<br /> rất lạ. Chập chờn trong kí ức là những kỉ niệm thơ bé với mẹ, với ông, với những buổi hầu đồng<br /> và câu chuyện về Mẫu Liễu. Quỳnh ra đi khi đánh mất niềm tin vào cuộc sống, khi thực sự cô đơn<br /> bởi bố không hiểu Quỳnh. Nhưng cho đến khúc đoạn cuối cùng của tiểu thuyết, khi gặp lại những<br /> người bạn hồi còn chung sống ở ga Hải Thành, Quỳnh đã hiểu mình cần làm gì và cuộc sống có ý<br /> nghĩa như thế nào với cô. Những bước chân tiếp tục hành trình trong đơn độc là những bước khám<br /> phá đầu tiên của Quỳnh về cuộc sống bây giờ là của chính cô.<br /> <br /> 3.<br /> <br /> Kết luận<br /> <br /> Các tác phẩm đã dựng nên bao nhiêu cảnh đời, số phận khác nhau trong sự chuyển mình nỗ<br /> lực vươn lên thay đổi cuộc đời. Có những người có thể nhập cuộc, có những người không thể. Và<br /> không ít trong số họ trở nên tha hóa, hoặc độc ác để trụ vững, hoặc cô đơn, lạc lõng và rời bỏ đô<br /> thị. Điểm chung nhất giữa những tiểu thuyết trên, có lẽ là việc phản ánh sự xuống cấp trầm trọng<br /> của đạo đức xã hội, sự đổ vỡ không gì cứu vãn của những giá trị truyền thống. Sự tha hóa của con<br /> người phải chăng bắt nguồn từ sự đứt chân khỏi những giá trị truyền thống ấy? Từ đó, các nhà văn<br /> gửi tới người đọc thông điệp về khát vọng nâng cao giá trị đời sống và lời cảnh tỉnh giữ gìn nhân<br /> cách con người: đổi mới nhưng đừng bao giờ quên những giá trị nhân bản, nhân văn, những tinh<br /> hoa của truyền thống. Đây là hồi chuông cảnh tỉnh riết róng: “Hỡi con người cuộc sống dẫu có trôi<br /> nổi đến đâu, có hòa nhập văn hóa đến mức độ nào nhưng một khi đã dửng dưng vô cảm, đã đánh<br /> mất bản ngã, đánh mất hạt nhân dịu ngọt của tâm hồn, đánh mất niềm cảm thông vô bờ bến với<br /> nhau thì mọi sự sẽ trở nên vô cùng ảm đạm” (Chu Lai).<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> [1]<br /> [2]<br /> [3]<br /> 74<br /> <br /> Nguyễn Thị Bình, 2008. “Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”. Tạp chí Nghiên<br /> cứu Văn học, số 5, tr.41-49.<br /> Hoàng Cẩm Giang, 2010. Về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI.<br /> http://khoavanhoc.edu.vn/, 25/10/2010.<br /> Nguyễn Việt Hà, 1999. Cơ hội của Chúa. Nxb Văn học, Hà Nội.<br /> <br /> Tâm lí con người trước sự tác động của xã hội đô thị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại<br /> <br /> [4]<br /> [5]<br /> [6]<br /> [7]<br /> [8]<br /> [9]<br /> [10]<br /> [11]<br /> [12]<br /> [13]<br /> [14]<br /> [15]<br /> [16]<br /> <br /> Trần Thị Hà, 2011. Cảm quan đô thị trong sáng tác của Thạch Lam. Luận văn Thạc sĩ,<br /> Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.<br /> Bùi Thị Hải, 2010. Cảm quan đô thị trong tiểu thuyết của Nhất Linh trước Cách mạng Tháng<br /> Tám năm 1945. Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.<br /> Nguyễn Kim Hoàn, 2010. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới. Luận<br /> văn Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH&NV.<br /> Chu Lai, 2013. Phố. Nxb Văn học, Hà Nội.<br /> Vương Thị Phương Linh, 2011. Cảm quan đô thị trong phóng sự và tiểu thuyết của Vũ Trọng<br /> Phụng. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.<br /> Nguyễn Văn Long, Lê Thị Thu Hằng, 2012. Những cách tân nghệ thuật của tiểu thuyết Việt<br /> Nam đầu thế kỉ XXI. http://vannghequandoi.com.vn, 23/10/2012.<br /> Nguyễn Thị Tố Nga, 2008. Ngoại ô và Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp trong văn xuôi về đề<br /> tài dân nghèo thành thị 1930-1945. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.<br /> Mai Hải Oanh, 2009. Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Nxb<br /> Hội nhà văn.<br /> Đỗ Phấn, 2010. Rụng xuống ngày hư ảo. Nxb Trẻ.<br /> Nguyễn Bắc Sơn, 2011. Lửa đắng. Nxb Lao động, Hà Nội.<br /> Nguyễn Xuân Thủy, 2014. Nhắm mắt nhìn trời. Nxb Trẻ.<br /> Nguyễn Đình Tú, 2014. Kín. Nxb Trẻ.<br /> Nguyễn Ngọc Tư, 2012. Sông. Nxb Trẻ.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The human psyche before the impact of social urban in Vietnamese contemporary novels<br /> Do Thanh Huong<br /> Minh Phu High School, Soc Sơn District, Hanoi<br /> We can said that human psychology is a consequence of the transformation of urban<br /> society. It is also the deepest expression of that social nature. Urbanization process has been<br /> going strongly impacts on most of the individuals in society in many directions: eager psychology,<br /> lonely psychology, lost and psychological insecurity, loss of confidence, urban denials. Different<br /> reactions before the realization of human life in urban show us a diverse society: just where<br /> focusing the light of civilization with the design to change their lives, a place which is jumped-up,<br /> gross, in which people easily deteriorate, lose themselves.<br /> Keywords: Urban, degeneracy, insecurity, loss of confidence, loneliness, traditional<br /> values,. . .<br /> <br /> 75<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2