Tăng cường gắn kết trường đại học với trường phổ thông để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên

Chia sẻ: Tony Tony | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
2
lượt xem
0
download

Tăng cường gắn kết trường đại học với trường phổ thông để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương trình đào tạo giáo viên của các khoa/trường sư phạm phải gắn với thực tế dạy học ở phổ thông. Giờ dạy của giảng viên nên giảm tính hàn lâm, giảm lý thuyết, chú trọng đào tạo kỹ năng sư phạm cho người học. Thời gian thực tập nghề của sinh viên cần được tăng thêm, hình thức thực tập nên được cải tiến. Các biện pháp vừa nêu phải được tiến hành đồng bộ thì mới có hiệu quả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tăng cường gắn kết trường đại học với trường phổ thông để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên

Đ. Lưu, L. H. Quang / Tăng cường gắn kết trường đại học với trường phổ thông...<br /> <br /> TĂNG CƯỜNG GẮN KẾT TRƯỜNG ĐẠI HỌC VỚI TRƯỜNG<br /> PHỔ THÔNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN<br /> Đặng Lưu, Lê Hồ Quang<br /> Khoa Sư phạm Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh<br /> Ngày nhận bài 25/10/2017, ngày nhận đăng 25/12/2017<br /> Tóm tắt: Để tăng cường gắn kết giữa trường đại học và trường phổ thông nhằm<br /> nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, cần khẩn trương thực hiện một số biện pháp. Bộ<br /> Giáo dục và Đào tạo nên quy định trách nhiệm của trường phổ thông trong việc phối<br /> hợp với trường đại học sư phạm để đào tạo nghề cho sinh viên. Chương trình đào tạo<br /> giáo viên của các khoa/trường sư phạm phải gắn với thực tế dạy học ở phổ thông. Giờ<br /> dạy của giảng viên nên giảm tính hàn lâm, giảm lý thuyết, chú trọng đào tạo kỹ năng<br /> sư phạm cho người học. Thời gian thực tập nghề của sinh viên cần được tăng thêm,<br /> hình thức thực tập nên được cải tiến. Các biện pháp vừa nêu phải được tiến hành đồng<br /> bộ thì mới có hiệu quả.<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Trong việc đổi mới nền giáo dục quốc<br /> gia, đội ngũ nhà giáo đóng vai trò quyết<br /> định cho sự thành công. Hễ ai quan tâm<br /> đến lĩnh vực giáo dục đều dễ dàng nhận ra<br /> điều đó. Việc cập nhật thông tin về các<br /> nền giáo dục tiên tiến trên thế giới hiện<br /> nay giúp ta có điều kiện đối sánh và thấy<br /> rõ tình trạng đáng lo ngại trong đào tạo<br /> ngành sư phạm cũng như chất lượng giáo<br /> viên ở Việt Nam. Gần đây, chủ đề này đã<br /> làm nóng các diễn đàn. Nhiều người chỉ<br /> ra một “chùm” nguyên nhân dẫn đến thực<br /> trạng nêu trên. Chất lượng đầu vào thấp.<br /> Chương trình đào tạo chủ yếu cung cấp tri<br /> thức, chưa chú ý phát triển năng lực sư<br /> phạm của người học. Khâu rèn nghề chưa<br /> đảm bảo yêu cầu khiến người học thiếu<br /> các kỹ năng cần thiết mà thực tế đòi hỏi.<br /> Sinh viên không có động lực học tập vì<br /> khó tìm việc sau khi ra trường. Đời sống<br /> của giáo viên căn bản là khó khăn, không<br /> có sức hấp dẫn đối với người học sư<br /> phạm. Tâm lý thực dụng của con người<br /> trong nền kinh tế thị trường...<br /> Do sự chi phối của một chuỗi nguyên<br /> Email: dangluu@gmail.com (Đ. Lưu)<br /> <br /> 58<br /> <br /> nhân, cho nên vấn đề chất lượng ngành sư<br /> phạm cần phải được giải quyết đồng bộ.<br /> Bên cạnh những khâu thuộc trách nhiệm<br /> của người học, của xã hội, của các nhà<br /> quản lý vĩ mô, những người hoạch định<br /> chính sách, có một “phân khúc” quan<br /> trọng thuộc chức trách của các cơ sở đào<br /> tạo. Ở “phân khúc” này, có ba điểm mấu<br /> chốt cần tập trung giải quyết: phải có một<br /> chương trình đào tạo sát yêu cầu thực<br /> tiễn, phải có một đội ngũ giảng viên đủ<br /> trình độ, tâm huyết với nghề, và cuối cùng<br /> phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở<br /> đào tạo sư phạm với các trường phổ<br /> thông để người học được rèn nghề một<br /> cách thực chất, có hiệu quả.<br /> Ngày nay, liên kết với doanh nghiệp<br /> là một nhân tố đảm bảo sự sống còn của<br /> mô hình đại học hiện đại. Chỉ có liên kết,<br /> sản phẩm đào tạo của nhà trường mới đáp<br /> ứng ở mức cao những đòi hỏi của nhà<br /> tuyển dụng trong môi trường cạnh tranh<br /> quyết liệt. Chỉ có liên kết, nhà trường mới<br /> luôn luôn có điều kiện tự soi lại mình,<br /> nhận ra những chỗ bất cập so với yêu cầu<br /> thực tế để thường xuyên điều chỉnh<br /> chương trình và cách thức đào tạo.<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> Ngành sư phạm ở các trường đại học<br /> không thể tự cho phép mình đứng ngoài<br /> bối cảnh đó.<br /> II. NỘI DUNG<br /> 1. Thực trạng mối quan hệ giữa<br /> trường đại học với trường phổ thông<br /> trong đào tạo giáo viên hiện nay<br /> Trong chương trình đào tạo giáo viên,<br /> ngoài các học phần cơ sở ngành và<br /> chuyên ngành, có một số học phần thuộc<br /> về nghiệp vụ sư phạm. Đó là Tâm lý học,<br /> Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ<br /> môn. Bên cạnh tri thức lý thuyết, những<br /> học phần này còn có nội dung rèn luyện<br /> năng lực nghề nghiệp thể hiện qua hoạt<br /> động kiến tập và thực tập sư phạm.<br /> Trước hết, phải nói ngay rằng, việc<br /> đào tạo ngành sư phạm ở Việt Nam, thời<br /> gian dành cho sinh viên thực tập còn quá<br /> ít. Xin lấy ví dụ từ Trường Đại học Vinh:<br /> trong tổng số 132 tín chỉ của khung<br /> chương trình, thực tập giảng dạy ở phổ<br /> thông chỉ có 5 tín chỉ, chiếm gần 3,8%,<br /> trong khi ở Phần Lan, sinh viên phải thực<br /> hành dạy ở phổ thông là 40 tín chỉ. Người<br /> ta quy định: “Trong đào tạo giáo viên bộ<br /> môn, thời lượng thực hành dạy ở các<br /> trường phổ thông chiếm khoảng một phần<br /> ba chương trình học” [8, tr. 237]. Những<br /> số liệu trên đặt bên cạnh nhau, tự nó đã<br /> nói lên nhiều điều.<br /> Cách tiến hành lâu nay của chúng ta<br /> là trường đại học lên kế hoạch, liên hệ với<br /> các sở giáo dục và đào tạo, từ đó có được<br /> danh sách những trường phổ thông sẽ tiếp<br /> nhận đoàn kiến tập/ thực tập. Dựa trên<br /> danh sách đó, trường yêu cầu các khoa<br /> phân công sinh viên về các trường phổ<br /> thông theo chỉ tiêu đã được ấn định. Mỗi<br /> đoàn kiến tập/ thực tập gồm sinh viên đủ<br /> các khoa, sẽ đến một trường nào đó theo<br /> phân công. Đã có một thời, trường đại học<br /> cử giảng viên phụ trách đoàn thực tập,<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 3B (2017), tr. 58-64<br /> <br /> phối hợp với trường phổ thông để giải<br /> quyết những vụ việc nảy sinh cũng như<br /> tham gia đánh giá sinh viên. Nhưng đó là<br /> câu chuyện của quá khứ. Hiện nay, nhiệm<br /> vụ quản lý đoàn thực tập được giao cho<br /> đội ngũ cán bộ là sinh viên, do nhà trường<br /> cử trên cơ sở đề xuất của các khoa.<br /> Trong thời gian làm việc ở trường<br /> phổ thông, sinh viên phải tìm hiều môi<br /> trường giáo dục, thực hành một số hoạt<br /> động trong tư cách người giáo viên như<br /> chủ nhiệm lớp, dạy học theo chương<br /> trình, các hoạt động ngoài giờ... Nếu là<br /> kiến tập, sinh viên phải có sản phẩm hoàn<br /> thành trong quá trình hoạt động ở trường<br /> phổ thông và viết bài thu hoạch để giảng<br /> viên phụ trách học phần đánh giá. Nếu là<br /> thực tập, trường sở tại sẽ phân công giáo<br /> viên hướng dẫn và đánh giá kết quả các<br /> hoạt động của sinh viên.<br /> Với cách làm như vậy, trường phổ<br /> thông chỉ đóng vai trò là “đơn vị sản<br /> xuất”, người học được đến để trải nghiệm<br /> nghề nghiệp. Sự trải nghiệm diễn ra ở<br /> những mức độ khác nhau. Là kiến tập thì<br /> sinh viên chỉ dừng lại ở quan sát, tìm hiểu<br /> và tham gia vài hoạt động của lớp học,<br /> của nhà trường. Là thực tập thì sinh viên<br /> được trực tiếp tham gia sâu hơn vào một<br /> số hoạt động của trường như làm chủ<br /> nhiệm lớp, dạy học. Dù không “khoán<br /> trắng” cho sinh viên (vì trường, khoa có<br /> tổ chức các đợt kiểm tra cũng như tổng<br /> kết cuối đợt thực tập), nhưng xem ra quan<br /> hệ giữa trường đại học và trường phổ<br /> thông theo kiểu đó vẫn mang tính chất<br /> đơn tuyến, một chiều, chưa có sự tương<br /> tác. Rốt cuộc, chất lượng học nghề, rèn<br /> nghề của sinh viên sư phạm chủ yếu vẫn<br /> phụ thuộc vào các hoạt động diễn ra trong<br /> khuôn viên của trường đại học. Thực<br /> trạng này đã được nhiều người nhận thấy<br /> và phản ánh trên một số diễn đàn [2], [6],<br /> [7], [9].<br /> 59<br /> <br /> Đ. Lưu, L. H. Quang / Tăng cường gắn kết trường đại học với trường phổ thông...<br /> <br /> Hằng năm, tại các cuộc tổng kết thực<br /> tập, cán bộ quản lý và giáo viên ở các<br /> trường phổ thông thường phàn nàn tình<br /> trạng sinh viên non yếu về kỹ năng sư<br /> phạm. Đó là một thực tế mà các giảng<br /> viên dạy phương pháp đều nhận thấy. Tuy<br /> nhiên, một khi việc đào tạo vẫn nặng về lý<br /> thuyết, một khi sinh viên chỉ được tiếp<br /> xúc với môi trường phổ thông ít ỏi như<br /> bấy lâu nay, thì tình trạng nêu trên khó mà<br /> cải thiện. Việc tập giảng được tiến hành<br /> định kỳ theo yêu cầu của các học phần<br /> phương pháp, dù được hướng dẫn bởi<br /> những giảng viên giàu kinh nghiệm,<br /> nhưng kiểu “lớp học mô phỏng” do sinh<br /> viên đóng cả vai giáo viên lẫn vai học<br /> sinh để tập tành hoàn toàn khác xa với<br /> một lớp học sinh động trong thực tế ở<br /> trường phổ thông. Không được thâm nhập<br /> thường xuyên vào môi trường đó, việc rèn<br /> nghề ở giảng đường đại học không khác<br /> gì “múa cho nhau xem, hát cho nhau<br /> nghe” trong phòng tập. Khi đứng trước<br /> cái “sân khấu hoành tráng” là lớp thực,<br /> trường thực, đòi hỏi phải có những hoạt<br /> động đa dạng, phong phú, phải giải quyết<br /> những mối quan hệ phức tạp, với vốn kỹ<br /> năng “phòng tập” còn quá ít ỏi như vậy,<br /> tất yếu sinh viên sẽ rất lúng túng.<br /> 2. Một số biện pháp xây dựng mối<br /> quan hệ gắn kết giữa trường đại học và<br /> trường phổ thông trong đào tạo giáo<br /> viên<br /> 2.1. Trước hết, để tạo nên mối quan<br /> hệ gắn kết giữa trường đại học có đào tạo<br /> ngành sư phạm với trường phổ thông,<br /> theo chúng tôi, cần xác định rõ bản chất<br /> của mối quan hệ cũng như vai trò, trách<br /> nhiệm, quyền lợi của mỗi bên trong mối<br /> quan hệ này. Trên thực tế, như đã phân<br /> tích, sự phối hợp, gắn kết giữa trường đại<br /> học và phổ thông chủ yếu theo “thời vụ”,<br /> nghĩa là khi nào có học phần kiến tập hay<br /> thực tập, trường đại học mới “nhờ”<br /> 60<br /> <br /> trường phổ thông “giúp đỡ”. Mối quan hệ<br /> như vậy là khá là lỏng lẻo, manh mún,<br /> không hề có sự ràng buộc.<br /> Kinh phí chi trả cho hoạt động hướng<br /> dẫn thực tập dường như chỉ mang tính<br /> “tượng trưng” và cũng không thống nhất<br /> ở các cơ sở đại học. Việc không có một<br /> cơ chế làm việc đồng bộ với những quy<br /> định trách nhiệm và quyền lợi cụ thể, rõ<br /> ràng khiến sự phối hợp giữa hai bên gặp<br /> không ít vướng mắc. Trường đại học thì<br /> lâm vào thế phải “cậy nhờ” trường phổ<br /> thông, còn trường phổ thông thì lâm vào<br /> thế “bị làm phiền’, “buộc phải giúp đỡ”.<br /> Việc có nhận đoàn thực tập hay không tùy<br /> vào “hảo tâm” của lãnh đạo nhà trường.<br /> Có những trường thẳng thừng từ chối. Vì<br /> là quan hệ “cậy nhờ”, cho nên cả hai bên<br /> đều không xác định rõ trách nhiệm, nghĩa<br /> vụ cũng như quyền lợi của mình. Về phía<br /> trường phổ thông, một khi việc đào tạo<br /> giáo viên - nguồn nhân lực có ý nghĩa<br /> quyết định sự hưng thịnh của xã hội – mà<br /> bị đặt vào một cái thế “phải giúp” miễn<br /> cưỡng, bị động như vậy thì hiệu quả của<br /> nó đến đâu, chắc không cần nói thêm.<br /> Nếu xét về lợi ích toàn cục, mối quan<br /> hệ giữa trường đại học và trường phổ<br /> thông phải là mối quan hệ hợp tác, cộng<br /> sinh. Theo quan niệm hiện đại, trường đại<br /> học sư phạm là cơ sở sản xuất “sản phẩm”<br /> đặc biệt (giáo viên), chịu trách nhiệm về<br /> sản phẩm này trước thị trường lao động,<br /> trước đơn vị tuyển dụng. Trường phổ<br /> thông là đơn vị “đặt hàng” cũng là đơn vị<br /> tuyển dụng và trực tiếp kiểm nghiệm chất<br /> lượng giáo viên - sản phẩm đào tạo của<br /> trường đại học. Trường phổ thông sẽ được<br /> hưởng lợi từ những “sản phẩm” đạt chất<br /> lượng cao (những giáo viên có trình độ,<br /> năng lực, phẩm chất tốt); ngược lại, nếu<br /> “sản phẩm” bị lỗi (những giáo viên yếu<br /> kém về các mặt) thì nơi trực tiếp phải<br /> hứng chịu hậu quả cũng là trường phổ<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> thông. Bởi vậy, việc xây dựng mối quan<br /> hệ chặt chẽ, gắn bó giữa trường đại học và<br /> trường phổ thông trong việc đào tạo giáo<br /> viên không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ<br /> mà còn xuất phát từ quyền lợi thiết thực<br /> của cả hai bên.<br /> Lý thuyết là như vậy, nhưng trên thực<br /> tế còn có nhiều điều vướng mắc, đặc biệt<br /> trong quá trình thực hiện. Do đó, cần có<br /> sự chỉ đạo thống nhất từ các cấp quản lý<br /> về vấn đề nói trên, và sự chỉ đạo này phải<br /> được cụ thể hóa thành các văn bản pháp<br /> lý. Cơ quan chủ quản có quyền quyết định<br /> điều này hoặc tham mưu cho cấp trên để<br /> ban hành các văn bản phải là Bộ Giáo dục<br /> và Đào tạo. Liệu có thể đưa những nội<br /> dung này vào Điều lệ trường trung học,<br /> Luật Giáo dục đại học hay là những văn<br /> bản dưới luật như các thông tư, chỉ thị...?<br /> Theo chúng tôi, đó là điều cơ quan có<br /> thẩm quyền rất cần cân nhắc. Chỉ biết<br /> rằng, khi đã có hành lang pháp lý, mọi<br /> hoạt động sẽ diễn ra bài bản hơn, thuận<br /> lợi hơn cho cả đôi bên.<br /> Khi đã có văn bản quy định, sự phối<br /> hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan,<br /> đơn vị hữu quan (trường đại học sư phạm,<br /> trường phổ thông, các sở GD&ĐT, phòng<br /> GD&ĐT, UBND các tỉnh, huyện…) là<br /> điều có thể làm được. Sự phân nhiệm theo<br /> cơ chế rành mạch như vậy nhất thiết phải<br /> đi đôi với khung quy định về kinh phí. Có<br /> chi trả thích đáng cho những giáo viên<br /> phổ thông thực sự tham gia vào công việc<br /> đào tạo sinh viên ngành sư phạm thì mới<br /> khuyến khích được sự tự giác, tích cực<br /> của họ.<br /> 2.2. Gắn kết với trường phổ thông<br /> còn phải được thể hiện ở việc đổi mới<br /> phương thức đào tạo ngành sư phạm.<br /> Chương trình đào tạo nhất thiết phải thay<br /> đổi theo hướng gắn với thực tiễn dạy học<br /> ở trường phổ thông. Hoạt động rèn nghề<br /> cho sinh viên không thể phó mặc cho<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 3B (2017), tr. 58-64<br /> <br /> giảng viên dạy các học phần nghiệp vụ sư<br /> phạm như trước đây, mà mỗi giảng viên,<br /> dù dạy bất cứ mảng kiến thức cơ bản nào,<br /> hễ lên lớp với sinh viên sư phạm đều phải<br /> đồng thời là một nhà giáo học pháp. Phải<br /> luôn đặt ra câu hỏi: những tri thức trong<br /> học phần này liên quan thế nào đến<br /> chương trình phổ thông? Với học phần<br /> này, những kỹ năng, năng lực nào cần<br /> phát triển cho sinh viên để họ biết cách xử<br /> lý trong giờ dạy ở phổ thông sau này?<br /> Muốn trả lời những câu hỏi đó, giảng viên<br /> dạy khoa học cơ bản ở ngành sư phạm<br /> cần bớt lý thuyết, bớt hàn lâm. Phải<br /> nghiên cứu kỹ chương trình phổ thông,<br /> thâm nhập thực tế phổ thông bằng mọi<br /> cách mới thấy được những chỗ nan giải<br /> của giáo viên khi dạy những nội dung liên<br /> quan đến học phần mà mình đảm trách.<br /> Giảng viên đại học nhất thiết phải thường<br /> xuyên theo dõi những thay đổi về chương<br /> trình, sách giáo khoa, về phương pháp dạy<br /> học ở phổ thông để có hướng điều chỉnh<br /> cách dạy của mình cho thiết thực.<br /> Đối với giảng viên đảm trách các học<br /> phần phương pháp dạy học, việc gắn kết<br /> với phổ thông đòi hỏi ở mức độ cao hơn.<br /> Nội dung và cách thức tổ chức dạy học<br /> cần luôn bám sát những yêu cầu đào tạo<br /> giáo viên trong bối cảnh mới. Tính hiệu<br /> quả của những phương pháp dạy học mà<br /> giảng viên đề xuất phải được kiểm<br /> nghiệm không chỉ qua thực hành trên<br /> giảng đường, mà còn qua kết quả thực tập<br /> của sinh viên ở trường phổ thông. Những<br /> thông tin về năng lực thực tế của sinh viên<br /> trong các đợt thực tập phải được nhà giáo<br /> học pháp đón nhận và xử lý. Đó chính là<br /> một kênh thông tin hết sức quan trọng<br /> giúp giảng viên tự soát xét lại cách đào<br /> tạo của mình. Hơn thế nữa, giảng viên<br /> phương pháp phải thường xuyên có mặt<br /> tại địa điểm thực tập, không chỉ giúp đỡ<br /> sinh viên về chuyên môn, mà còn phối<br /> <br /> 61<br /> <br /> Đ. Lưu, L. H. Quang / Tăng cường gắn kết trường đại học với trường phổ thông...<br /> <br /> hợp với trường sở tại trong việc đánh giá.<br /> Một cách làm rất đáng học tập từ Phần<br /> Lan: mọi giai đoạn trong quá trình thực<br /> tập của sinh viên, “tất cả đều phải qua<br /> đánh giá của giáo viên hướng dẫn cùng<br /> giáo sư và giảng viên của khoa đào tạo<br /> giáo viên” [8, tr. 238].<br /> Phát huy lợi thế từ trường phổ thông<br /> thực hành, giảng viên phương pháp có thể<br /> mạnh dạn thay đổi hình thức dạy học. Bên<br /> cạnh những giờ dạy trên giảng đường, cần<br /> có những giờ cùng sinh viên thâm nhập<br /> thực tế. Các tiết dạy ở trường thực hành<br /> mà thầy trò cùng được tham dự là những<br /> “tư liệu sống” vô cùng quý giá, qua đó,<br /> giảng viên nêu lên nhiều vấn đề cho sinh<br /> viên phân tích, thảo luận, tìm kiếm cách<br /> thức dạy học phù hợp với các kiểu bài cụ<br /> thể. Chỗ này, ngành sư phạm có thể tiếp<br /> thu những kinh nghiệm quý báu của các<br /> trường đại học y khoa. Ở nhiều trường y,<br /> buổi sáng sinh viên học trên lớp, buổi<br /> chiều thực tập tại bệnh viện. Hoạt động<br /> kiểu này diễn ra thường xuyên. Hơn thế,<br /> giảng viên dạy trên lớp có thể đồng thời là<br /> bác sĩ điều trị ở một khoa. Sinh viên được<br /> chỉ dẫn thực hành thăm khám, lập bệnh án<br /> cho những bệnh nhân mà thầy mình đang<br /> điều trị, sau đó chứng kiến cách khám<br /> bệnh, hội chẩn, điều trị của thầy. Từ cách<br /> làm của thầy, sinh viên nhận ra những<br /> non nớt, thiếu hụt của bản thân để có cách<br /> tu tập, rèn luyện nghề nghiệp. Vận dụng<br /> cách đào tạo của ngành y, giáo viên<br /> phương pháp sư phạm cần phá bỏ những<br /> rào cản tâm lý, tránh giữ kẽ không cần<br /> thiết, sẵn sàng dạy mẫu một số tiết ở<br /> trường thực hành để sinh viên dự giờ, học<br /> tập. Một nhà phương pháp có bản lĩnh thì<br /> không sợ bị phân tích, mổ xẻ cách dạy<br /> của mình. Ở phương diện là “tư liệu<br /> sống”, những bất cập trong giờ dạy của<br /> thầy cũng hữu ích không kém sự thành<br /> công.<br /> <br /> 62<br /> <br /> Gắn với phổ thông không chỉ thể hiện<br /> ở thay đổi nội dung, cấu trúc chương<br /> trình, ở phương pháp dạy học, mà còn ở<br /> hình thức đánh giá các học phần nghiệp<br /> vụ sư phạm. Sản phẩm để đánh giá không<br /> nhất thiết phải là một bài kiểm tra lý<br /> thuyết theo bộ đề như lâu nay, mà có thể<br /> là một tiểu luận do sinh viên nghiên cứu<br /> về chương trình, SGK, giáo án giảng dạy,<br /> hoặc một hoạt động trải nghiệm dạy học<br /> qua thâm nhập thực tế...<br /> 2.3. Trong quá trình đào tạo sư phạm<br /> ở trường đại học, rất cần sự tham gia hỗ<br /> trợ của giáo viên phổ thông. Sự tham gia<br /> này không chỉ ở việc hướng dẫn kiến tập,<br /> thực tập sư phạm theo định kỳ như đã đề<br /> cập ở trên, mà còn trong cả quá trình đào<br /> tạo. Giáo viên có thể được mời để tư vấn<br /> cho sinh viên về kinh nghiệm tiến hành<br /> các hoạt động trước khi các em đến các<br /> trường phổ thông. Đặc biệt, hiện nay có<br /> nhiều giáo viên phổ thông đang theo học<br /> cao học hoặc nghiên cứu sinh ở trường<br /> đại học. Có thể huy động những học<br /> viên/giáo viên này tham gia giảng dạy thể<br /> nghiệm các phương pháp cho sinh viên<br /> học tập tại trường thực hành. (Cần nói<br /> thêm, nhà trường nên tạo cơ chế thật<br /> thông thoáng, có chế độ tài chính rõ ràng<br /> để trường thực hành trở thành một môi<br /> trường hấp dẫn cho sinh viên học nghề).<br /> Ở khâu làm luận văn thạc sĩ, cán bộ<br /> hướng dẫn khoa học nên giao cho học<br /> viên những đề tài gần gũi, thiết thực, có<br /> tính khả thi, chẳng hạn, nghiên cứu một<br /> hoạt động cụ thể ở một trường phổ thông<br /> mà họ hiểu biết cặn kẽ, có thể là trường<br /> mà họ đang công tác. Những đề tài giàu<br /> khả năng ứng dụng như vậy sẽ góp phần<br /> giải quyết các bài toán thực tiễn thường<br /> xuyên đặt ra. Đây là cách mà một số nền<br /> giáo dục tiên tiến, đặc biệt là Phần Lan đã<br /> áp dụng rất hiệu quả bấy lâu nay, khiến<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản