TĂNG CƯỜNG KIẾN THỨC VĂN HÓA
TRONG ĐÀO TO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA
ThS. Ma Thị Quỳnh Hương1
Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa quốc gia luôn được xem trọng. Trong ngành du lịch nói chung, du lịch văn hóa
đang được đề cao vì nó mang lại nhiều lợi ích cả về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa. Việc chú trọng
vào du lịch văn hóa giúp các điểm đến tạo ra sự khác biệt và thu hút du khách trong môi trường
cạnh tranh khốc liệt. Du lịch văn hóa rt phù hợp với tiềm năng, định hướng phát triển bền vững
của Việt Nam. Khi xác định hướng đi du lịch gắn với văn hóa, những người làm du lịch phải có một
trình độ nhất định, được đào tạo bài bản về kiến thức văn hóa để có thể tạo được những hiệu ứng
từ các hoạt động du lịch, lưu lại được những giá trị và ấn tượng văn hóa trong lòng du khách. Vì
vậy, nguồn nhân lực du lịch văn hóa cũng phải được quan tâm phát triển đặc biệt trong đào tạo
nhân lực du lịch nói chung. Bài viết sẽ phân tích vai trò của nguồn nhân lực du lịch văn hóa trong
bối cảnh hiện nay; từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch văn hóa.
Từ khóa: Du lịch văn hóa, nhân lực du lịch văn hóa, kiến thức văn hóa.
Abstract: In the context of international integration and globalisation, the issue of preserving
and promoting national cultural identity is always of great importance. Within the tourism
industry, cultural tourism is increasingly emphasised because it brings economic, social, and
cultural benefits. Focusing on cultural tourism helps destinations create differentiation and
attract visitors in a highly competitive environment. Cultural tourism aligns well with Vietnam’s
potential and sustainable development goals. For tourism to effectively integrate with culture,
professionals must have a certain level of expertise, with formal training in cultural knowledge,
to generate impactful tourism activities that leave lasting cultural impressions on visitors.
Therefore, the development of human resources for cultural tourism must be given special
attention, particularly in the training of tourism personnel in general. This article will analyse
1
Giảng viên Khoa Du lịch - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 357
the role of human resources in cultural tourism in the current context and propose solutions to
improve the quality of cultural tourism personnel.
Keywords: Cultural tourism, cultural tourism human resources, cultural knowledge.
1. VAI TRÒ CỦA DU LỊCH VĂN HÓA VÀ NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG
BỐI CẢNH HIỆN NAY
Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, nhu
cầu hưởng thụ văn hóa của con người ngày càng cao. Để đáp ứng nhu
cầu văn hóa của con người, các công ty du lịch đã tận dụng chất liệu
văn hóa của dân tộc để khai thác, phát triển du lịch văn hóa. Du lịch
văn hóa là một trong những hình thức căn bản của du lịch, là loại hình
du lịch khai thác các giá trị văn hóa tạo thành sản phẩm du lịch nhằm
thỏa mãn nhu cầu của du khách, mang lại lợi ích kinh tế - hội cho
quốc gia, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản
văn hóa Việt Nam trong thời hội nhập. Du lịch văn hóa không chỉ tạo
nên sự hấp dẫn, sự khác biệt trong sản phẩm du lịch, mà còn là nguồn
lực, sức mạnh mềm cho phát triển bền vững quảng thương
hiệu du lịch quốc gia.
nhiều cách hiểu về du lịch văn hóa. Tổ chức Du lịch Thế giới
(UNWTO) định nghĩa: “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những
người với động chủ yếu nghiên cứu, khám phá về văn hóa như
các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các
lễ hội các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích đền đài,
du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian
hành hương”1. Theo Trần Quốc Vượng: “Du lịch văn hóa một loại
hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour
lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim”2. Luật Du lịch giải
thích: “Du lịch văn hóa loại hình du lịch được phát triển trên sở
khai thác các giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn
hóa truyền thống, tôn vinh những giá trị văn hóa mới của nhân loại”3.
1
Trần Thúy Anh (chủ biên), Du lịch văn hóa những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 2014, tr. 7.
2
Hồng Lý (chủ biên), Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch, Nxb. Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2010, tr. 24.
3
Luật Du lịch, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2017, tr. 7.
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ358
Từ góc độ tiếp cận của mình, Dương Văn Sáu cho rằng: “Du lịch văn
hóa ở Việt Nam là loại hình du lịch khai thác có chọn lọc những giá trị
các thành tố của văn hóa Việt Nam thông qua các chương trình du lịch.
Hoạt động này nhằm mục đích bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị văn
hóa của dân tộc thông qua hoạt động du lịch; đem lại lợi ích nhiều mặt
cho cả người kinh doanh, cộng đồng dân bản địa các đối tượng
du khách; tạo sự phát triển bền vững cho du lịch Việt Nam”1.
Như vậy, du lịch văn hóa là loại hình du lịch tập trung vào việc trải
nghiệm và tìm hiểu về các yếu tố văn hóa đặc trưng của một địa điểm
hoặc cộng đồng. Điều này bao gồm các hoạt động như tham quan các
di tích lịch sử, di sản văn hóa, bảo tàng, lễ hội, sự kiện văn hóa, các
hoạt động nghệ thuật. Nói cách khác, du lịch văn hóa lấy văn hóa làm
đối tượng nghiên cứu để khai thác biến các giá trị văn hóa thành sản
phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách. Chúng ta cũng
nhận thấy, du lịch văn hóa đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh hội
nhập quốc tế hiện nay, với nhiều tác động tích cực đến kinh tế, hội
ngoại giao. Du lịch văn hóa góp phần phát triển kinh tế, tạo ra nhiều
hội việc làm trực tiếp, gián tiếp trong ngành du lịch các ngành
liên quan như dịch vụ, thương mại, sản xuất hàng thủ công; tạo ra
nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng địa phương. Việc thu hút du
khách quốc tế mang lại nguồn thu lớn cho quốc gia, giúp cải thiện
sở hạ tầng và dịch vụ du lịch. Nguồn thu từ du lịch văn hóa cũng được
sử dụng để bảo tồn và phục hồi các di sản văn hóa và lịch sử.
Du lịch văn hóa giúp giới thiệu phát huy các giá trị văn hóa độc
đáo, phong phú của mỗi quốc gia đến với bạn bè quốc tế; thúc đẩy sự
hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, giúp giảm bớt những
xung đột văn hóa và tăng cường sự đoàn kết quốc tế. Du khách quốc tế
khi tham gia du lịch văn hóa sẽ hội trải nghiệm, học hỏi và chia sẻ
những giá trị văn hóa khác nhau. Đối với người dân địa phương, việc
thấy du khách quan tâm và đánh giá cao văn hóa của mình thể tạo
ra sự tự hào và tình yêu quê hương; điều này cũng góp phần vào việc
duy trì và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống.
Du lịch văn hóa thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, bảo vệ môi
trường và đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn
1
Dương Văn Sáu, Văn hóa du lịch, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2017, tr. 41.
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 359
hóa. Du khách và cộng đồng địa phương sẽ có ý thức hơn về việc bảo
vệ môi trường di sản văn hóa. Du lịch văn hóa cũng góp phần vào
chính sách ngoại giao, công cụ hiệu quả trong việc xây dựng cải
thiện hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế. Các sự kiện du lịch văn
hóa quốc tế tạo hội cho các quốc gia thiết lập củng cố mối quan
hệ ngoại giao, hợp tác phát triển.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, ngành du lịch cần tập
trung chú trọng phát triển du lịch văn hóa du khách - đặc biệt
giới trẻ, ngày càng nhu cầu tìm kiếm những trải nghiệm sâu sắc,
ý nghĩa hơn trong một chuyến đi. Du lịch văn hóa mang lại hội
để họ khám phá và trải nghiệm những nét văn hóa, lịch sử, và truyền
thống đặc sắc của địa phương, tạo ra giá trị cao hơn so với các hình
thức du lịch khác. Nhiều điểm đến trên thế giới phong cảnh thiên
nhiên tương tự nhau, nhưng văn hóa yếu tố độc nhất nhị. Việc
chú trọng vào du lịch văn hóa giúp các điểm đến tạo ra sự khác biệt và
thu hút du khách trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Nguồn nhân lực du lịch văn hóa nhóm nhân sự được đào tạo
làm việc trong lĩnh vực du lịch liên quan đến việc bảo tồn, phát huy
quảng các giá trị văn hóa của một quốc gia, khu vực hay địa phương.
Nguồn nhân lực này bao gồm các nhân kỹ năng, kiến thức
kinh nghiệm trong các lĩnh vực như:
- Hướng dẫn viên du lịch văn hóa: những người sử dụng ngôn
ngữ để giới thiệu ý nghĩa của các di sản địa điểm văn hóa khách
du lịch viếng thăm. Hướng dẫn viên du lịch văn hóa cũng dẫn dắt du
khách hòa mình vào phong tục tập quán, lịch sử, nghệ thuật của một
địa phương, đóng vai trò kết nối, quảng văn hóa Việt Nam cũng
như thực hiện tốt nhiệm vụ truyền thông, giáo dục truyền thống.
- Nhà quản lý du lịch văn hóa: là những người chuyên tổ chức, điều
hành phát triển các hoạt động du lịch liên quan đến văn hóa của một
khu vực hoặc quốc gia: phát triển sản phẩm du lịch văn hóa; quảng bá
tiếp thị du lịch văn hóa; hợp tác với cộng đồng địa phương; quản
lý và bảo tồn di sản văn hóa; đào tạo và nâng cao năng lực cho nguồn
nhân lực du lịch văn hóa; cũng như giám sát đánh giá các hoạt
động du lịch văn hóa đảm bảo chất lượng dịch vụ trải nghiệm của
du khách.
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ360
- Nhà nghiên cứu bảo tồn văn hóa: những chuyên gia hoạt
động trong lĩnh vực nghiên cứu, bảo tồn phát huy các giá trị văn
hóa của một cộng đồng, quốc gia hoặc khu vực cụ thể. Họ lên kế hoạch
và thực hiện các biện pháp để bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn
hóa, bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể: phát triển các dự án bảo
tồn nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ di sản
văn hóa; tổ chức các buổi hội thảo, triển lãm, và chương trình giáo dục
để giới thiệu truyền đạt các giá trị văn hóa đến công chúng; phát
triển tài liệu giáo dục và học liệu để giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về di
sản văn hóa của họ; đưa ra các khuyến nghị và tư vấn cho các cơ quan
chính phủ về các chính sách bảo tồn văn hóa; hay tham gia vào việc
lập kế hoạch thực hiện các chính sách, luật lệ liên quan đến bảo vệ
và quản lý di sản văn hóa.
- Nhân viên phục vụ trong các sở du lịch văn hóa: những người
trực tiếp làm việc tại các địa điểm du lịch liên quan đến văn hóa, như
bảo tàng, di tích lịch sử, khu du lịch văn hóa, trung tâm triển lãm,
các sự kiện văn hóa tiếp xúc trực tiếp với du khách. những vị trí
việc làm khác nhau: từ nhân viên lễ tân đón tiếp khách, cung cấp dịch
vụ của sở du lịch văn hóa, đến nhân viên bán hàng những quầy
hàng lưu niệm, làm trong các nhà hàng, sở lưu trú phục vụ khách du
lịch văn hóa, đến nhân viên hỗ trợ các hoạt động sự kiện văn hóa,
chăm sóc khách hàng, hay nhân viên bảo vệ… đều đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo nên trải nghiệm văn hóa cho du khách.
Nguồn nhân lực du lịch văn hóa này đóng vai trò quan trọng trong
việc tạo ra trải nghiệm tích cực cho du khách, đồng thời góp phần bảo
vệ giới thiệu các giá trị văn hóa của địa phương. Đặc biệt trong bối
cảnh hội nhập quốc tế ngày nay, nguồn nhân lực du lịch văn hóa được
đào tạo chuyên sâu về kiến thức văn hóa, lịch sử và ngoại ngữ sẽ giúp
nâng cao chất lượng hướng dẫn phục vụ du khách; mang lại trải
nghiệm sâu sắc đáng nhớ cho du khách quốc tế. Nhân lực du lịch
văn hóa, thông qua công việc của mình, góp phần nâng cao hình ảnh
và uy tín của quốc gia trên trường quốc tế, thúc đẩy các cơ hội hợp tác,
liên kết và phát triển giữa các quốc gia thông qua các hoạt động du lịch
văn hóa quốc tế. Nhân lực du lịch văn hóa khi được đào tạo để đáp ứng
tốt các yêu cầu mong đợi của du khách quốc tế sẽ giúp ngành du
lịch phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.