intTypePromotion=1
ADSENSE

Tập bài viết Bản tin Thông tin Khoa học và Công nghệ của trường Đại học Tây Bắc

Chia sẻ: Roong Kloi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:182

33
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của tập bài viết trình bày về hành động hứa với văn hóa ứng xử trong giao tiếp của người Việt, nghệ thuật nhân cách hóa trong thơ Haiku của Matsuo Baso, tìm hiểu động cơ học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Tây Bắc và rất hiều bài viết từ các nghiên cứu khoa học khác của trường.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tập bài viết Bản tin Thông tin Khoa học và Công nghệ của trường Đại học Tây Bắc

Trường Đại học Tây Bắc<br /> <br /> Bản tin Thông tin KH&CN số 1- 6.2013<br /> <br /> KHOA HỌC GIÁO DỤC<br /> ---------------------------------<br /> <br /> HÀNH ĐỘNG HỨA VỚI VĂN HÓA ỨNG XỬ<br /> TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT<br /> <br /> TS. Vũ Tiến Dũng<br /> ThS. Bùi Thị Phương Anh*<br /> Khoa Ngữ văn<br /> <br /> Tóm tắt: Hứa là một hành động nói trong đó người nói ràng buộc mình phải thực hiện hành động trong<br /> tương lai mà bản thân người nói hay người nghe đang quan tâm, và phải chịu trách nhiệm với nội dung lời nói<br /> mà mình nói ra.<br /> Hành động hứa trong văn hóa trọng chữ tình, trọng chữ tín của người Việt, thông thường có chức năng<br /> bày tỏ sự cam kết, tạo dựng niềm tin ở phía người nghe; còn trong văn hóa giao tiếp mang tính xã giao, hứa<br /> nhằm hướng việc xây dựng mối quan hệ xã hội giữa những người tham gia đối thoại, tạo lập hình ảnh cá nhân và<br /> đôi khi đảm bảo cho mối quan hệ liên nhân bền vững hơn. Như vậy, hành động hứa có liên quan tới phép lịch sự<br /> trong hoạt động giao tiếp.<br /> <br /> Ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các hành động nói và kết quả<br /> nghiên cứu đạt được cũng rất đáng tin cậy và có ý nghĩa về mặt khoa học. Đặc biệt, nghiên<br /> cứu hành động nói trong mối quan hệ với văn hóa giao tiếp, trong mối quan hệ với phép lịch<br /> sự đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ - xã hội học. Bài viết<br /> nhỏ này cũng là một sự tiếp nối về một hướng tiếp cận nghiên cứu ngôn ngữ - xã hội học, có ý<br /> nghĩa về phương diện lí thuyết, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn giao tiếp đang đặt ra – góp<br /> phần giúp cho mỗi cá nhân, nhất là các bạn nam nữ thanh niên đạt được mong muốn đặt ra<br /> trong mỗi cuộc tương tác.<br /> 1. Khái niệm hành động hứa<br /> Searle sử dụng các tiêu chí: đích ở lời, hướng khớp ghép, trạng thái thái tâm lí, nội<br /> dung mệnh đề, đã phân lập được năm loại hành động tại lời (illocutionary act). Đó là các hành<br /> động: tái hiện (representatives), điều khiển (directives), cam kết (commissives), biểu cảm<br /> (expressives), tuyên bố (declarations). Cam kết, theo Searle như hứa hẹn, tặng, biếu…có đích<br /> ở lời là trách nhiệm phải thực hiện hành động tương lai mà Sp1 bị ràng buộc; hướng khớp –<br /> ghép hiện thực - lời; trạng thái tâm lí là ý định của Sp1 và nội dung mệnh đề là hành động<br /> tương lai của Sp1.<br /> Trong Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê đã định nghĩa: Cam kết là chính thức<br /> cam đoan làm đúng những điều đã hứa. Cam kết theo Austin thì những hành động này ràng<br /> buộc người nói vào một chuỗi những hành động nhất định: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn,<br /> giao ước, thề nguyền, thông qua các quy ước, tham gia một phe nhóm... Như vậy, hứa là một<br /> hành động nói thuộc nhóm hành động cam kết. Bên cạnh hành động hứa trong tiếng Việt còn<br /> bao gồm những hành động thề, cam đoan, đảm bảo cũng thuộc nhóm hành động cam kết. Để<br /> hiểu được khái niệm hành động hứa, chúng ta cần tìm hiểu những khái niệm về các hành động<br /> cùng nhóm hành động cam kết: Cam đoan là nói chắc và hứa chịu trách nhiệm về lời nói của<br /> mình để cho người khác tin. Đảm bảo là nói chắc và chịu trách nhiệm về lời nói của mình để<br /> cho người khác yên lòng. Thề là nói chắc, hứa chắc một cách trịnh trọng, viện ra vật thiêng<br /> liêng hay cái quý báu nhất để đảm bảo. Hứa là nói với ai, với ý thức tự ràng buộc mình, là sẽ<br /> làm điều gì đó mà người ấy đang quan tâm [2].<br /> -----------------------------------------------------------------(*): Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.<br /> <br /> 1<br /> <br /> Trường Đại học Tây Bắc<br /> <br /> Bản tin Thông tin KH&CN số 1- 6.2013<br /> <br /> Như đã chỉ ra sơ bộ, nhóm hành động cam kết có sự phân biệt giữa những hành động<br /> nhỏ trong nhóm này. Cam kết bao hàm trong nó những hành động nói trực tiếp được nhắc đến<br /> như: cam đoan, hứa, đảm bảo, thề. Theo định nghĩa chung nhất trong Từ điển tiếng Việt có<br /> thể thấy trong bản thân mỗi hành động nói này có sự phân biệt với nhau. Cam đoan là hành<br /> động nói mà người nói phải chịu trách nhiệm về lời nói của mình để tạo lòng tin của người<br /> nghe vào điểu mình nói. Hứa là một hành động nói mà người nói bị ràng buộc trách nhiệm<br /> vào điều mình nói ra như hành động cam đoan nhưng giữa chúng điểm khác nhau. Hứa là<br /> hành động nói mà người nói chịu trách nhiệm thực hiện một hành động trong tương lai gắn<br /> với nội dung của phát ngôn được nói ra. Tuy nhiên, hành động hứa hướng vào vấn đề đang<br /> được người nghe hay bản thân người nói đang quan tâm, chú ý đến. Còn hành động cam đoan<br /> là việc người nói phải chịu trách nhiệm về hành động mình đưa ra, người nói chủ yếu hướng<br /> vào việc tạo dựng niềm tin ở người nghe. Hành động thề là hành động nói mà người nói cũng<br /> phải chịu trách nhiệm về lời nói của mình nói ra. Để cho lời nói của mình có sức nặng, người<br /> nói thường lấy những vật linh thiêng hay những vật quý giá đối với bản thân để đảm bảo<br /> trong quá trình thực hiện hành động này. Hành động đảm bảo được hiểu một cách chung nhất<br /> là người nói chịu trách nhiệm về việc mình nói ra để người khác yên lòng. Như vậy, chúng ta<br /> có thể hiểu một cách chung nhất về hành động hứa như sau:<br /> Hứa là một hành động nói trong đó người nói ràng buộc mình phải thực hiện hành<br /> động trong tương lai mà bản thân người nói hay người nghe đang quan tâm, và phải chịu trách<br /> nhiệm với nội dung lời nói mà mình nói ra.<br /> 2. Tiêu chí nhận diện hành động hứa<br /> Để nhận diện một hành động nói có rất nhiều tiêu chí khác nhau được đưa ra. Ngữ<br /> pháp truyền thống thường dựa vào tiêu chí hình thức để nhận diện một hành động nói. Chẳng<br /> hạn, việc nhận diện hành động mời trong tiếng Việt thường căn cứ vào sự xuất hiện của động<br /> từ ngôn hành: mời. Nói cách khác, hành động có chứa động từ ngôn hành mời trong phát ngôn<br /> thì được coi là hành động mời. Cách nhận diện hành động mời như vậy chỉ thích hợp với các<br /> hành động mời trực tiếp. Ví dụ:<br /> (1) Cháu mời bác uống nước!<br /> Cháu mời hai bác ăn cơm!<br /> Tuy nhiên, tiêu chí nhận diện này không giải quyết triệt để việc nhận diện hành động<br /> mời nói riêng mà ở tất cả các hành động nói khác, nhất là các hành động nói thiếu vắng động<br /> từ ngôn hành. Từ đây, người ta phải tìm đến các tiêu chí nhận diện khác để đáp ứng được yêu<br /> cầu nhận diện một hành động nói cụ thể.<br /> Theo Searle (1976), một hành động nói có thể được nhận diện dựa trên bốn tiêu chí<br /> chính: Đích ở lời, hướng khớp ghép, trạng thái tâm lí, nội dung mệnh đề.<br /> Các tiêu chí nhận diện các hành động tại lời của Searle cũng tương ứng với các điều<br /> kiện sử dụng các hành động tại lời. Tiêu chí đích ở lời tương ứng với điều kiện căn bản, tiêu<br /> chí trạng thái tâm lí tương ứng với điều kiện chân thành và tiêu chí nội dung mệnh đề tương<br /> ứng với điều kiện nội dung mệnh đề. Chỉ có tiêu chí hướng khớp ghép hiện thực - lời không<br /> 2<br /> <br /> Trường Đại học Tây Bắc<br /> <br /> Bản tin Thông tin KH&CN số 1- 6.2013<br /> <br /> có trong các điều kiện này.<br /> Thực tiễn cho thấy việc nhận diện một lời hứa trong tiếng Việt không mấy khó khăn.<br /> Hứa là hành động được thực hiện bằng lời, thường căn cứ vào sự xuất hiện của động từ ngôn<br /> hành: hứa. Tuy vậy, lời hứa cũng có thể xuất hiện một cách gián tiếp khi nội dung của lời nói<br /> đó thực hiện theo hướng nhận lời với ai đó sẽ thực hiện một hành động nào đó. Trong những<br /> trường hợp đó cần có sự tinh tế, nhạy cảm của những người tham gia hội thoại mới có thể<br /> nhận biết được. Ví dụ như phát ngôn: Anh sẽ đưa em đi Sầm Sơn chơi vào chủ nhật tuần này<br /> nhá. được xác định là một lời hứa khi nó đảm bảo các tiêu chí sau:<br /> 1 Đích ở lời: hướng sự ràng buộc vào Sp1, Sp1 phải thực hiện hành động đã nói trong<br /> phát ngôn của mình.<br /> 2 Hướng khớp ghép: có sự phù hợp giữa hiện thực và lời nói.<br /> 3 Trạng thái tâm lí: Sp1 mong muốn thực hiện hành động đó.<br /> 4 Nội dung mệnh đề: Sp2 đang mong chờ điều Sp1 thực hiện.<br /> Tuy nhiên, cần phân biệt lời hứa với các phát ngôn trần thuật. Chúng ta phải căn cứ<br /> vào hoàn cảnh giao tiếp để phán đoán. Thông thường, hứa sẽ được Sp1 hướng về Sp2 nhiều<br /> hơn, mong muốn sẽ thực hiện hành động đó cho Sp2. Còn phát ngôn trần thuật có tính chất<br /> khảo nghiệm, xác tín hay khẳng định mình sẽ làm một việc gì đó nhiều hơn là hứa hẹn. Ví dụ:<br /> (2) Sp1: - Tao có lỗi gì với mày.<br /> Sp2: - Lỗi lầm gì. Tao sẽ chém chúng nó. (Trần Thùy Mai)<br /> Phát ngôn: Tao sẽ chém chúng nó mang tính chất là một lời khẳng định, mang tính<br /> chất đe dọa hơn là một lời hứa. Mục đích của hành động nói này không phải là hứa hẹn với<br /> Sp1 mà nó là lời Sp2 khẳng định quyết tâm của bản thân phải thực hiện hành động mà mình<br /> đã phát ngôn. Do đó, phát ngôn này thiên về tính trần thuật (có thể có dụng ý đe dọa nữa) hơn<br /> là sự cam kết của Sp2 với việc thực hiện hành động mà Sp2 đã nói ra.<br /> 3. Hứa – xét theo góc độ của văn hóa giao tiếp<br /> 3.1. Nguồn gốc văn hóa ứng xử của người Việt<br /> Người Việt chủ yếu là những cư dân thuộc nền văn hóa lúa nước. Chính những đòi hỏi<br /> của nền sản xuất nông nghiệp nên người Việt thích sống quần tụ thành những tập thể cư dân<br /> để đáp ứng đòi hỏi về sức mạnh tập thể trong quá trình gieo trồng, thu hoạch, chống hạn,<br /> chống úng hay thực hiện những công trình thủy lợi… Điều này đã làm nên một tổ chức nông<br /> thôn chặt chẽ và nền văn hóa làng xã đặc thù trong cộng đồng của người Việt.<br /> Bắt nguồn từ nền văn hóa làng xã đã hình thành nên đăc trưng thứ nhất của nông thôn<br /> Việt Nam là tính cộng đồng chặt chẽ. Những người trong cùng làng xã rất coi trọng nhau,<br /> điều này được ghi lại trong lời ăn tiếng nói của người Việt như: Bán anh em xa mua láng<br /> giềng gần; Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau. Cũng bởi lối sống quần tụ nên đã hình thành<br /> nên đặc trưng cơ bản thứ hai của nông thôn Việt Nam là tính tự trị. Các làng xã tồn tại khá<br /> biệt lập, mỗi làng lại có quy định riêng.<br /> Chính từ hai đăc trưng bao trùm của nông thôn Viêt Nam là tính cộng đồng và tính tự<br /> trị đã chi phối mạnh mẽ đến cách thức ứng xử của người Việt, tạo nên những đặc trưng trong<br /> 3<br /> <br /> Trường Đại học Tây Bắc<br /> <br /> Bản tin Thông tin KH&CN số 1- 6.2013<br /> <br /> giao tiếp của họ.<br /> Giao tiếp là một hình thức để con người bộc lộ bản chất của mình. Trước hết xét về<br /> thái độ đối với giao tiếp, người Việt vừa thích giao tiếp lại vừa rụt rè. Do phải sống phụ thuộc<br /> lẫn nhau trong mối quan hệ sản xuất nên người Việt rất coi trọng và giữ gìn các mối quan hệ<br /> trong giao tiếp với mọi người. Giao tiếp tạo ra cho họ mối quan hệ: Dao năng liếc năng sắc,<br /> người năng chào năng quen. Sự giao tiếp còn có tác dụng củng cố tình thân hữu: Áo năng<br /> may năng mới, người năng tới năng thân. Như vậy đối với người Việt, giao tiếp là một trong<br /> những con đường tạo nên mối quan hệ thân hữu giữa người với người.<br /> Xét về quan hệ giao tiếp, người Việt lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử, thiên về<br /> tình hơn là về lý; người Việt có quan niệm: Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình. Từ<br /> đó, người Việt coi trọng tình cảm hơn các giá trị khác.<br /> Xét về chủ thể giao tiếp, người Việt rất hay hỏi (từ đặc điểm này làm cho người nước<br /> ngoài do không hiểu văn hóa giao tiếp của người Việt đã đánh giá là tò mò thái quá). Tuy<br /> nhiên, người Việt có cách ứng xử khá linh hoạt trong giao tiếp: Đi với bụt mặc áo cà sa, đi<br /> với ma mặc áo giấy.<br /> Xét về cách thức giao tiếp, người Việt ưa sự tế nhị, ý tứ, nhã nhặn và trọng sự hòa<br /> thuận. Người Việt thường có thói quen giao tiếp theo kiểu vòng vo tam quốc, ít khi mở đầu<br /> bằng cách trực tiếp nói thẳng vào vấn đề như người phương Tây. Lối nói gián tiếp, ưa tế nhị,<br /> kín đáo và ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và tư duy trọng các mối quan hệ. Nó tạo<br /> thói quen đắn đo, cân nhắc kĩ càng khi nói năng: Ăn có nhai, nói có nghĩ hay Chó ba quanh<br /> mới nằm, người ba năm mới nói. Chính sự đắn đo, cân nhắc nên người Việt Nam có lối nói<br /> nước đôi trong ứng xử:<br /> Người khôn ăn nói nửa chừng<br /> Để cho người dại nửa mừng nửa lo.<br /> Từ tâm lý ưa hòa thuận khiến cho người Việt Nam luôn có chủ trương nhường nhịn:<br /> Một điều nhịn chín điều lành; Chồng nói thì vợ bớt lời – Cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê.<br /> Đặc biệt, người Việt rất coi trọng chữ tín, đề cao chữ tín trong quan hệ, ứng xử và<br /> những người thất tín thường bị mọi người trong cộng đồng nhìn nhận thiếu tích cực: Một lần<br /> bất tín, vạn sự bất tin. Muốn giữ gìn chữ tín phải thực hiện được những điều mình nói. Điều<br /> này liên quan đến quan niệm về lời hứa của người Việt trong giao tiếp: đã hứa thì phải có<br /> chủ trương thực hiện lời hứa.<br /> 3.2. Hứa – theo góc nhìn của văn hóa giao tiếp<br /> Mỗi cộng đồng dân tộc có một bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán riêng gắn với<br /> cách tư duy trong ứng xử của các cá nhân trong cộng đồng dân tộc đó. Bởi vậy, chúng ta<br /> không thể cho rằng văn hóa của dân tộc này văn minh hơn dân tộc kia, cũng không thể khẳng<br /> định dân tộc này lịch sự hay kém lịch sự hơn dân tộc khác mà cần phải thấy rằng văn hóa của<br /> các dân tộc là bình đẳng và nó tạo nên bản sắc riêng của từng cộng đồng dân tộc. Xuất phát từ<br /> cái phông văn hóa đó mà mỗi cộng đồng dân tộc có những cách thức sử dụng ngôn ngữ khác<br /> nhau để biểu đạt nội dung phát ngôn trong hoạt động giao tiếp.<br /> 4<br /> <br /> Trường Đại học Tây Bắc<br /> <br /> Bản tin Thông tin KH&CN số 1- 6.2013<br /> <br /> Hành động hứa cũng chịu ảnh hưởng, tác động và bị chi phối bởi văn hóa giao tiếp của<br /> mỗi cộng đồng dân tộc. Có thể dễ nhận thấy rằng với bất kì cộng đồng dân tộc nào, hành động<br /> hứa cũng hướng tới đích đầu tiên là tạo đựng niềm tin ở đối tác, xây dựng hình ảnh về cá nhân<br /> người thực hiện lời hứa gắn với những điều kiện và khả năng nhất định của họ. Hay nói cụ thể<br /> hơn, hành động hứa trong văn hóa giao tiếp thông thường có chức năng bày tỏ sự cam kết, tạo<br /> dựng niềm tin ở phía người nghe, còn trong văn hóa giao tiếp mang tính xã giao, hứa nhằm<br /> hướng tới việc xây dựng mối quan hệ xã hội giữa những người tham gia đối thoại, tạo lập<br /> hình ảnh cá nhân và đôi khi đảm bảo cho mối quan hệ liên nhân bền vững hơn. Trong văn hóa<br /> giao tiếp mang tính chất thân cận, hành động hứa có tác dụng duy trì tình bằng hữu, sự thân<br /> cận giữa những người tham gia giao tiếp.<br /> Ví dụ, có một cuộc nói chuyện thân mật giữa người mẹ với con gái và trước đòi hỏi<br /> của con gái, người mẹ nói với con gái yêu: Mẹ hứa, ngày mai mẹ con mình cùng đi mua quần<br /> áo mới con gái yêu nhé. Như vậy, hành động hứa ở đây là sự cam kết của người nói với người<br /> nghe (giữa mẹ và con gái) và nó có tác dụng làm tăng cường thêm sự thân mật, gần gũi trong<br /> quan hệ giữa mẹ và con. Nhưng trong một cuộc giao tiếp xã giao thì có thể thấy hành động<br /> hứa lại được nhìn nhận khác. Chẳng hạn, như trong cuộc giao tiếp để kí hợp đồng giữa giám<br /> đốc của công ty A và giám đốc của công ty B, kết thúc buổi làm việc sau khi đã kí xong hợp<br /> đồng, giám đốc công ty A bày tỏ mong muốn sự hợp tác giữa hai bên sẽ tốt đẹp, giám đốc<br /> công ty B phát biểu ý kiến: Tôi hứa sẽ cố gắng hết sức. Đây là phát ngôn chứa đựng trong đó<br /> tính chất cam kết nhưng thực chất lại nghiêng về thực hiện chức năng quảng giao, xây dựng<br /> hình ảnh cá nhân của giám đốc công ty B nhiều hơn là chức năng cam kết.<br /> Trong hoạt động giao tiếp, cách thức biểu đạt lời hứa không hoàn toàn giống nhau<br /> trong từng ngữ huống giao tiếp. Lời hứa được diễn đạt như thế nào trong từng ngữ cảnh được<br /> đánh giá là thích hợp còn tùy thuộc vào nhận thức của mỗi cá nhân và quan niệm của cộng<br /> đồng dân tộc đó. Trong văn hóa giao tiếp người Việt, tùy vào mối quan hệ thân sơ giữa những<br /> người tham gia giao tiếp và thoại trường mà người hứa lựa chọn hình thức ngôn từ diễn đạt<br /> sao cho phù hợp với quan hệ liên nhân, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể để đạt được<br /> mục đích trong mỗi cuộc tương tác.<br /> 3.3. Hứa – xét theo góc độ của lịch sự<br /> Lịch sự là một trong những phương tiện hữu hiệu để đạt được hiệu quả trong giao tiếp<br /> xã hội. Hiểu và dùng ngôn ngữ một cách lịch sự sẽ giúp con người thành công trong giao tiếp,<br /> đạt được hiệu quả giao tiếp mong muốn. Ngược lại, không ý thức rõ ràng về lịch sự và sử<br /> dụng ngôn ngữ không tính đến yếu tố lịch sự sẽ có thể đưa đến những thất bại trong giao tiếp<br /> hoặc có thể không thành công trong việc thiết lập các mối quan hệ xã hội. Lịch sự vừa có tính<br /> phổ quát, lại vừa có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, nó được quy định bởi văn hóa riêng của<br /> từng cộng đồng.<br /> Mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng đều có phông văn hóa riêng của mình. Chính phông văn<br /> hóa riêng biệt đó giải thích tại sao cách nói trung hòa về tính lịch sự ở dân tộc này lại có vẻ<br /> như thô thiển đối với dân tộc khác; hay cách nói đầy tính trang nhã, lịch sự của cộng đồng này<br /> 5<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2