intTypePromotion=1
ADSENSE

Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản: Số 3/2019

Chia sẻ: Kethamoi5 Kethamoi5 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:192

37
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản: Số 3/2019 với các bài viết ảnh hưởng của hCG và LHRH-A lên thành phần sinh hóa của tinh sào cá dìa (Siganus guttatus); ảnh hưởng của mật độ, khẩu phần ăn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá nhụ - Eleutheronema rhadinum nuôi thuần dưỡng; sử dụng chủng Bacillus amyloliquefaciensAGWT 13-031 ở quy mô sản xuất cá tra giống...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản: Số 3/2019

  1. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 MUÏC LUÏC THÔNG BÁO KHOA HỌC Ảnh hưởng của hCG và LHRH-A lên thành phần sinh hóa của tinh sào cá dìa (Siganus guttatus) Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Minh, Phạm Quốc Hùng 3 Ảnh hưởng của mật độ, khẩu phần ăn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá nhụ - Eleutheronema rhadinum nuôi thuần dưỡng Tạ Thị Bình, Nguyễn Đình Vinh, Trần Thị Kim Ngân 9 Thành phần loài cá tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm 2018 Nguyễn Thị Hạnh Dung, Nguyễn Công Tráng 15 Đánh giá hiệu quả kháng khuẩn của bacteriocin đối với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh gan, thận mủ trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) Nguyễn Thị Thúy Hằng 25 Mối tương quan giữa một số yếu tố môi trường nuôi đến tu hài (Lutraria philippinarum Reeve, 1854) bị bệnh sưng vòi Trương Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Hạnh, Phạm Thị Yến, Chu Chí Thiết, Phan Thị Vân và Đặng Thị Lụa 32 Sử dụng chủng Bacillus amyloliquefaciensAGWT 13-031 ở quy mô sản xuất cá tra giống Lê Lưu Phương Hạnh, Lê Văn Hậu, Ngô Huỳnh Phương Thảo, Bùi Nguyễn Chí Hiếu, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Quốc Bình 39 Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn tới khả năng sản xuất kén và các yếu tố bảo quản tới tỷ lệ nở của trứng nghỉ Moina micrura Kurz, 1874 Lê Văn Hậu, Nguyễn Thành An, Lê Lưu Phương Hạnh, Ngô Huỳnh Phương Thảo 47 Một số đặc điểm sinh học sinh sản cá úc chấm Arius maculatus (Thunberg, 1792) vùng cửa sông Trần Đề, Sóc Trăng Tô Thị Mỹ Hoàng, Trần Đắc Định 55 Sinh thái phân bố của moina (Moina macrocopa Straus, 1820) trong ao nuôi thủy sản nước ngọt Trương Thị Bích Hồng, Bùi Văn Cảnh 62 Sử dụng bột dế, bột ấu trùng ruồi đen thay thế một phần bột cá trong thức ăn viên của cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) Huỳnh Thị Diễm Khanh, Trịnh Thị Lan 69 Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục cá trèn bầu (Ompok bimaculatus Bloch, 1797) bằng các loại thức ăn khác nhau trong điều kiện nuôi nhốt Lê Văn Lễnh, Đặng Thế Lực, Lê Anh Tuấn 75 Nghiên cứu đặc điểm phát triển mô học của tuyến sinh dục đực tôm rảo (Metapenaeus ensis de Haan, 1850) ở đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế Lê Thế Lương, Lê Thế Thắng 83
  2. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự phát triển và sinh sản của loài Copepoda Pseudodiaptomus annandalei Đoàn Xuân Nam , Bùi Văn Cảnh, Phạm Quốc Hùng, Đinh Văn Khương 91 Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá bớp (Rachycentron canadum) Đinh Thế Nhân, Lê Thế Lương 99 Khảo sát một số thảo dược kháng Vibrio parahaemolyticus PVPA 3-1 gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm nuôi Nguyễn Thị Diễm Phương, Trần Phạm Vũ Linh, Bùi Thị Thanh Tịnh, Bùi Thị Mỹ Hạnh, Trần Thị Yến Nhi, Ngô Huỳnh Phương Thảo 107 Đánh giá hiệu quả nuôi hàu (Crassostrea spp) bằng giá thể vỏ xe và tấm xi măng tại Cần Giờ, Tp. HCM Nguyễn Ngọc Quang, Vũ Cẩm Lương 115 Khả năng đối kháng vi khuẩn Streptococcus agalactiae phân lập trên cá rô phi (Oreochromis spp) bởi một số cao chiết thảo dược Nguyễn Thị Trúc Quyên, Lê Linh Chi, Đoàn Văn Cường, Nguyễn Diễm Thư, Mã Tú Lan, Trần Hoàng Bích Ngọc, Nguyễn Thành Nhân, Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh 124 Đánh giá khả năng thay thế bột cá bằng bột dế trong khẩu phần ăn của cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis) Phạm Minh Thông, Trịnh Thị Lan 133 Khảo sát hormone β-ecdysone trong plasma của cua lột (Scylla paramamosain) Trần Thị Lệ Trinh, Trần Văn Khanh, Lê Hoàng, Nguyễn Thành Trung, Võ Thị Thùy Vy, Nguyễn Thị Kim Ngân, Lý Hữu Toàn, Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, Nguyễn Văn Nguyện 140 Nghiên cứu sản xuất chitosan khối lượng phân tử thấp từ xác tôm mịn trong quá trình sản xuất dịch đạm thủy phân Trang Sĩ Trung, Phan Thanh Lộc, Nguyễn Công Minh, Phạm Thị Đan Phượng, Nguyễn Văn Hòa 146 Ảnh hưởng kết hợp của nhiệt độ và đồng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, bắt mồi và hô hấp của ấu trùng cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis) Võ Thị Xuân, Lê Minh Hoàng, Đinh Văn Khương 154 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản của sò huyết Anadara granosa ở vùng cửa sông Ròon, tỉnh Quảng Bình Trần Thị Yên, Nguyễn Văn Công 165 Nghiên cứu bảo quản hỗn hợp caroten-protein bằng chitosan phân tử lượng thấp và chitosan chloride Nguyễn Công Minh, Cao Thị Huyền Trang, Phạm Thị Đan Phượng, Phạm Thị Mai, Nguyễn Văn Hòa, Trang Sĩ Trung 172 Đánh giá khả năng gây bệnh của Vibrio sp. phân lập từ tôm thẻ bị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính tại Ninh Thuận Dư Ngọc Tuân, Trần Kiến Đức, Nguyễn Văn Có, Nguyễn Văn Minh 181 2 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
  3. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC ẢNH HƯỞNG CỦA hCG VÀ LHRH-A LÊN THÀNH PHẦN SINH HÓA CỦA TINH SÀO CÁ DÌA (Siganus guttatus) EFFECTS OF hCG AND LHRH-A ON THE TESTICULAR BIOCHEMICAL COMPOSITIONS OF GOLDEN RABBITFISH (Siganus guttatus) Nguyễn Văn An¹, Nguyễn Văn Minh², Phạm Quốc Hùng² Ngày nhận bài: 10/8/2019; Ngày phản biện thông qua: 25/9/2019; Ngày duyệt đăng: 28/9/2019 TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của hormone ngoại sinh hCG (human Chorionic Gonadotropin), LHRH-A (Luteinizing Hormone-releasing hormone analog) kết hợp chất kháng dompamine (Domperidon-DOM) đến thành phần sinh hóa tinh sào cá dìa (Siganus guttatus) 1+ tuổi nuôi trong ao đất tại Khánh Hòa. Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức, trong đó mỗi nghiệm thức gồm 20 cá thể cá được tiêm (i) 1500 IU hCG/kg; (ii) 50 µg LHRH-A + 5 mg DOM/kg và (iii) 1 ml nước muối sinh lý/kg ở nhóm cá đối chứng. Sau khi tiêm hormone 12 giờ và 24 giờ, cá được giải phẫu để thu tinh sào, đánh giá mức độ thành thục và phân tích thành phần sinh hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nghiệm thức tiêm hCG, hàm lượng protein, lipid và độ ẩm trước khi tiêm lần lượt là 14,80 ± 0,05 (%), 11,91 ± 0,10 (%) và 79,23 ± 0,10 (%), sau khi tiêm 24 giờ, hàm lượng protein tăng lên 16,25 ± 0,05 (%). Ngược lại, hàm lượng lipid và độ ẩm giảm tương ứng xuống còn 8,27 ± 0,10 (%) và 59,56 ± 0,10 (%). Đối với nghiệm thức tiêm LHRH-A + DOM, sau khi tiêm 24 giờ hàm lượng protein và độ ẩm giảm xuống còn 12,44 ± 0,05 (%) và 72,32 ± 0,01 (%); hàm lượng tro và lipid thay đổi không đáng kể. Từ khóa: Cá dìa, Siganus guttatus, hCG, LHRH-A ABSTRACT This study aimed to determine the effects of exogenous hormones (hCG and LHRH-A+DOM) on testicular biochemical compositions of the 1+ year old rabbitfish reared in earthen ponds in Khanh Hoa province. The experiment was conducted with 3 treatments; each treatment had 20 fish injected with (i) 1500 IU hCG/kg of body weight (BW); (ii) binary of 50 μg LHRH-A and 5 mg DOM/kg of BW; (iii) 1 ml saline water/kg of BW as the control fish. After 12-h and 24-h of injection, the fish were euthanized for collecting testes to assess the maturation and analyze biochemical composition. The results showed that in the hCG treatment, the content of protein, lipid and moisture pre-injection were 14.80±0.05 (%), 11.91±0.10 (%) and 79.23±0.10 (%) respectively. After 24-h of injection, the protein content increased to 16.25 ± 0.05 (%); contrarily, lipid content and moisture decreased by 8.27±0.10 (%) and 59.56±0.10 (%) respectively. Meanwhile, at 24-h post injection, the binary LHRH-A and DOM treatment reduced the testicle protein content and moiture to 12.44±0.05 (%) and 72.32±0.01 (%), respectively.The contents of ash and lipid in the fish injected with the binary LHRH-A and DOM did not change significantly. Keywords: Golden rabbit fish, Siganus guttatus, hCG, LHRH-A I. ĐẶT VẤN ĐỀ Bộ, trong ao đất hoặc nuôi lồng bè kết hợp với Cá dìa (S. guttatus) là loài cá biển có giá tôm hùm hoặc một số loài cá biển khác [1; 6]. trị kinh tế. Hiện nay cá dìa được nuôi khá phổ Ở nước ta, tiềm năng phát triển nuôi cá dìa là biến ở các vùng đầm phá các tỉnh Nam Trung rất lớn [1]. Thức ăn chủ yếu của cá dìa là rong biển, nhưng trong điều kiện nuôi nhốt cá vẫn ¹ Trường Đại học Kiên Giang; NCS Trường Đại học Nha Trang ² Viện Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang sinh trưởng tốt khi cho ăn thức ăn nhân tạo. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 3
  4. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 Cá dìa có thể chịu đựng được sự thay đổi độ hoạt, không dị tật, dị hình và không có biểu mặn và nhiệt độ khá rộng [6] nên có thể nuôi hiện bệnh; được nuôi trong ao đất tại tỉnh ở nước lợ, ao hoặc lồng ở biển và nuôi quanh Khánh Hòa (12º52’15’’N, 108º 40’ 33’’E), năm [6; 8]. Hiện nay giống cá dìa vẫn còn phụ sau đó được thuần dưỡng 10 ngày trong bể xi thuộc nhiều vào tự nhiên, chưa chủ động được măng 4m³ với mật độ 6 con/m³ (3kg/m³) trước nguồn giống nhân tạo ở quy mô thương mại [1; khi được đưa vào tiêm hormone. Cá được cho 16]. Mặc dù ở Việt Nam đã có một số nghiên ăn hàng ngày bằng thức ăn công nghiệp dùng cứu liên quan đến cá dìa như sinh học sinh cho cá biển với thành phần protein (42%), lipid sản [2; 3; 10; 11], thử nghiệm sản xuất giống (6%), tro (16%), chất xơ (3%) và độ ẩm (11%) [5; 14; 15], nhưng kết quả còn hạn chế. Một với tỷ lệ 2-3 % khối lượng thân. Nhiệt độ nước, trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ lệ độ mặn, pH và oxy hòa tan trong bể nuôi lần thụ tinh và chất lượng con giống là chất lượng lượt là 28-32ºC, 29-34 ‰, 7,8-8,6 và 3,5-4,6 trứng và tinh trùng [4; 7; 9]. mg/l. Thành phần sinh hóa của tinh sào như hàm 2. Bố trí thí nghiệm lượng protein, lipid, độ ẩm và tro có liên quan Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức, đến giai đoạn phát triển của tinh sào [13]. Các mỗi nghiệm thức gồm 20 cá thể: nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng protein đóng Nghiệm thức 1: cá được tiêm 1500 IU hCG/ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tinh trùng, kg cá tronng đó có chứa một số enzyme quan trọng Nghiệm thức 2: cá được tiêm 50 µg LHRH- cho quá trình trao đổi chất [19; 20]. Hiểu biết A + 5 mg DOM/kg cá về sự thay đổi thành phần sinh hóa của tinh sào Nghiệm thức 3 (đối chứng): cá được tiêm 1 có ý nhĩa quan trọng trong việc dự báo trạng ml nước muối sinh lý/kg cá thái thành thục sinh dục cũng như phục vụ cho Sau khi tiêm, cá được đưa vào bể và duy trì việc quản lý đàn cá bố mẹ. Những can thiệp các yếu tố môi trường giống như trước khi tiêm của hormone ngoại sinh thông qua thức ăn hormone. Cá thí nghiệm ngừng cho ăn sau khi hoặc liệu pháp tiêm giúp thúc đẩy nhanh quá tiêm hormone. trình thành thục của cá [17]. hCG và LHRH-A 3. Thu và phân tích mẫu là những hormone nhân tạo được sử dụng khá Trước khi tiêm hormone, tiến hành chọn phổ biến trong sinh sản nhân tạo cá xương. ngẫu nhiên 10 cá thể để đánh giá mức độ thành Những hormone này kích thích sự tiết steroid thục và phân tích thành sinh hóa của tinh sào. của tuyến sinh dục, giúp thúc đẩy sự chín và Sau khi tiêm hormone 12 giờ và 24 giờ, cá thành thục tinh trùng [23]. Xuất phát từ thực được giải phẫu để thu tinh sào nhằm đánh giá tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu mức độ thành thục và phân tích thành phần sự thay đổi về thành phần sinh hóa trong tinh sinh hóa. Mức độ thành thục của tinh sào được sào của cá dìa, dưới ảnh hưởng của hormone, đánh giá theo bậc thang của Nikolskii (1963) nhằm tìm ra loại hormone thích hợp và điều [12] và Sakun (1954) [21]. Trong nghiên cứu chỉnh chế độ dinh dưỡng trong quá trình nuôi này, cá đực được xem là thành thục khi có một vỗ, từ đó góp phần nâng cao chất lượng sản số dấu hiệu như: bụng to tròn, mềm đều và lỗ phẩm sinh dục, cải thiện kết quả sinh sản nhân sinh dục nở rộng, kết hợp với quan sát tinh sào tạo ở đối tượng này.. khi mổ ra. Trong một vài trường hợp, khi vuốt II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP nhẹ ở bụng, tinh dịch màu trắng sữa chảy ra ngoài qua lỗ sinh dục. NGHIÊN CỨU 4. Phân tích thống kê 1. Đàn cá nghiên cứu Ảnh hưởng của hCG và LHRH-A đến thành Đàn cá dìa đực 1+ tuổi có chiều dài và khối phần sinh hóa của tinh sào được phân tích theo lượng toàn thân trung bình lần lượt là 30,64 ± phương pháp phương sai một yếu tố (one-way 1,03 cm và 524,55 ± 84,54 g. Cá thí nghiệm ANOVA) và kiểm định Ducan với mức ý nghĩa có màu sắc tự nhiên, bơi lội bình thường, linh 4 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
  5. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 P
  6. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 So với các loài động vật có xương sống Đàn cá đực trước khi tiêm được giải phẫu khác, hàm lượng protein trong tinh sào cá là ngẫu nhiên 10 cá để đánh giá mức độ thành khá thấp [22]. Trong nghiên cứu này, hàm thục của tinh sào. Kết quả cho thấy tinh sào lượng protein trong tinh sào cá dìa thành thục cá đực được xác định ở các giai đoạn III, IV là 14,8%, tỷ lệ này cao hơn nhiều so với một số và V. Sau khi tiêm 12 giờ và 24 giờ, tất cả loài cá xương khác [22], và chỉ thấp hơn cá hồi tinh sào cá đưc đều chuyển sang giai đoạn V. Đại Tây Dương (Salmo salar) 30% [4]. Nhiều Điều này cho thấy hCG và LHRH-A + DOM tác giả cho rằng thành phần protein này có thể có ảnh hưởng đến sự thành thục hoàn toàn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tinh của tinh sào sau 12 giờ. Điều đáng lưu ý là ở trùng và nó có chứa một số enzyme quan trọng nghiệm thức đối chứng, việc tiêm nước muối của quá trình trao đổi chất [4; 19; 20]. sinh lý cũng làm cho cá đực thành thục hoàn 2. Ảnh hưởng của hormone lên thành phần toàn. Kết quả thí nghiệm được trình bày ở sinh hóa của tinh sào cá dìa Bảng 2. Bảng 2. Mức độ thành thục của cá dìa đực sau khi tiêm hormone Nghiệm thức Thời điểm Đối chứng hCG LHRH-A + DOM Trước khi tiêm Giai đoạn III, IV và V 12 giờ sau khi tiêm Giai đoạn V Giai đoạn V Giai đoạn V 24 giờ sau khi tiêm Giai đoạn V Giai đoạn V Giai đoạn V Việc xác định thành phần sinh hóa của tinh khẩu phần ăn hằng ngày trong quá trình nuôi sào cá dìa dưới ảnh hưởng của các hormone vỗ cá bố mẹ, giúp thúc đẩy nhanh quá trình ngoại sinh là cơ sở khoa học để lựa chọn loại thành thục và nâng cao chất lượng sản phẩm và liều lượng hormone phù hợp trong sinh sản sinh dục [2; 7; 15]. Kết quả nghiên cứu ảnh nhân tạo. Ngoài ra, thông tin về thành phần hưởng của hCG và LHRH-A lên thành phần sinh hóa của tinh sào giúp người nuôi lựa sinh hóa của tinh sào cá dìa được trình bày ở chọn và bổ sung thành phần dinh dưỡng vào Bảng 3 và 4. Bảng 3. Ảnh hưởng của hCG lên thành phần sinh hóa tinh sào (Giai đoạn IV-V) Thành phần sinh hóa Thời điểm Độ ẩm (%) Tro (%) Protein (%) Lipid (%) Trước khi tiêm 79,23 ± 0,10a 1,69 ± 0,10a 14,80 ± 0,05a 11,91 ± 0,10b 12 giờ sau khi tiêm 67,25 ± 0,10b 1,49 ± 0,10a 18,66 ± 0,05b 6,96 ± 0,10a 24 giờ sau khi tiêm 59,56 ± 0,1b 1,55 ± 0,10a 16,25 ± 0,05b 8,27 ± 0,1a Trong cùng một cột, giá trị có chỉ số trên khác nhau chỉ sự sai khác có ý nghĩa thông kê (P0,05) trước và sau khi tiêm hCG. tiêm hormone, ngược lại hàm lượng lipid và Tuy nhiên, hàm lượng protein, lipid và độ ẩm tro không có sự sai khác có ý ngĩa thống kê đã có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P
  7. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 Bảng 4. Ảnh hưởng của LHRH-A + DOM lên thành phần sinh hóa tinh sào (Giai đoạn IV-V) Thành phần sinh hóa Thời điểm Độ ẩm (%) Tro (%) Protein (%) Lipid (%) Trước khi tiêm 79,23 ± 0,10 a 1,69 ± 0,10 a 14,80 ± 0,05 a 11,91 ± 0,10a 12 giờ sau khi tiêm 77,65 ± 0,10a 1,57 ± 0,10a 14,61 ± 0,05a 9,22 ± 0,10a 24 giờ sau khi tiêm 72,32 ± 0,10b 1,62 ± 0,10a 12,44 ± 0,05b 10,26 ± 0,10a LHRH-A là một GnRH (hormone giải Do vậy việc tiêm hCG và LHRH-A + DOM đã phóng gonadotropin/Gonadotropin-releasing kích thích tuyến sinh dục tiết steroid kích thích hormone) tổng hợp. Đây là hormone gây sự thành thục sinh dục, cụ thể ở đây là tinh sào phóng thích kích dục tố, tác động lên và thúc đẩy quá trình sinh tinh. tuyến yên tiết ra FSH (Follicle-stimulating IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ hormone) và LH (Luteinizing hormone), Hai loại hormone hCG và LHRH-A, với hai hormone này ảnh hưởng lên tuyến sinh liều lượng 1500 IU hCG/kg và 50 µg LHRH-A dục, kích thích tuyến sinh dục tiết hormone (kết hợp với 5 mg DOM/kg), khi tiêm vào cá steroid [23]. FSH tham gia nhiều chức năng dìa đực đã thúc đẩy quá trình thành thục sinh khác nhau trong tinh sào, kích thích tổng dục hoàn toàn của tinh sào. Ngoài ra, hCG và hợp androgen trong tế bào Leydig và điều LHRH-A còn có tác dụng thay đổi thành phần khiển hoạt động của tế bào Sertoli trong quá sinh hóa, đặc biệt là hàm lượng protein, của trình tạo tinh [17; 23]. Hàm lượng FSH trong tinh sào sau khi tiêm vào cá 12 và 24 giờ ở huyết tương cao ở giai đoạn đầu quá trình tạo nhiệt độ 28-30ºC. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của tinh và đạt cực đại trong suốt thời kỳ phát hai loại hormone này là chưa thật sự rõ ràng ở triển của tinh sào, sau đó giảm xuống sau khi các nghiệm thức, cũng như tại thời điểm trước sinh sản. Hàm lượng LH trong huyết tương và sau khi tiêm hormone. Do vậy, để hiểu rõ thấp trong thời kỳ đầu quá trình tạo tinh, bắt hơn ảnh hưởng và cơ chế của hai loại hormone đầu tăng lên trong thời kỳ phát triển và đạt này, cần có các nghiên cứu tiếp theo về cơ chế cực đại trong lúc sinh sản [17; 23]. ảnh hưởng, hàm lượng steroid hormone trong Trong điều kiện nuôi nhốt, biến động của huyết tương cá dìa. các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, quang kỳ,… thường gây bất lợi, gây stress cho LỜI CẢM ƠN cá và ức chế sự tiết hormone sinh dục và sinh Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ sản, từ đó các quá trình trao đổi chất, chuyển Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia hóa năng lượng và tích lũy noãn hoàng đều (NAFOSTED) trong đề tài mã số 106.05- chậm do thiếu hormone kích thích [16; 17]. 2017.40. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Lê Văn Dân, Lê Đức Ngoan (2006). Nghiên cứu sự phát triển tuyến sinh dục cá dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787) ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Số 2/2016, 61-64. 2. Phạm Quốc Hùng, Phan Văn Út, Lê Minh Hoàng, Nguyễn Văn Minh, Phạm Phương Linh (2017). Chu kỳ phát triển buồng trứng và ảnh hưởng của Vitamin C lên một số đặc điểm sinh học sinh sản cá dìa (Siganus guttatus). Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Số 3+4/2017, 190-195. 3. Phạm Quốc Hùng, Phạm Huy Trường, Nguyễn Văn An (2018). Ảnh hưởng của hCG, LHRH-A lên đặc điểm sinh lý sinh sản cá dìa (Siganus guttatus). Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Số 3/2018, 38-43. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 7
  8. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 Tiếng Anh 4. Aas, G. H., Terje, R., Bjarne, G. (1991). Evaluation of milt quality of Atlantic salmon. Aquaculture, 95: 125-132. 5. Ayson, F. G. (1991). Induced spawning of rabbitfish, Siganus guttatus (Bloch) using human chorionic gonadotropin (hCG). Aquaculture 95, 133-137. https://doi.org/10.1016/0044-8486(91)90080-Q 6. Ayson, F. G., Reyes O. S. & Jesus-Ayson, E. G. T. (2014). Seed production of rabbitfish Siganus guttatus. Techni- cal report, Southeast Asian Fisheries Development Center (SEAFDEC). 7. Bozkurt, Y., Gretmen, F., Kokcu, O., Erçin, U. (2011). Relationships between seminal plasma composition and sperm quality parameters of the Salmo trutta macrostigma (Dumeril, 1858) semen: with emphasis on sperm motility, Czech Journal of Animal Science, 56(8): 355–364. 8. Hara, S., Duray, M. N., Parazo, M., Taki, Y. (1986). Year-round spawning and seed production of the rabbitfish, Siganus guttatus. Aquaculture, 59: 259-272. https://doi.org/10.1016/0044-8486(86)90008-6. 9. Hatef, A.H.N., Amiri, B.M., Alavi, S.M.H., Karami, M. (2007). Sperm density, seminal plasma composition and their physiological relationship in the endangered Caspian brown trout (Salmo trutta caspius), Aquaculture Research, 38: 1175 – 1181. 10. Juario, J. V., Duray, M. N., Duray, V. M., Nacario, J. F., Almendras, J. M. E. (1985). Breeding and larval rearing of the rabbitfish, Siganus guttatus (Bloch). Aquaculture, 44: 91-101. https://doi.org/10.1016/0044-8486(85)90012-2 11. Lam, T. J. (1974). Siganids: Their biology and mariculture potential. Aquaculture, 3: 325-354. https://doi. org/10.1016/0044-8486(74)90001-5 12. Nikolskii, G. V. (1963). The ecology of fishes: G. V. Nikolsky / translated from the Russian by L. Birkett Academic Press London, 353. 13. Peiris, T. S. S., Grero, J. (1973). Chemical analyses of some Ceylon fishes - 3. Bulletin of the Fisheries Research Station, Sri Lanka (Ceylon), 24(1-2): 1-12. 14. Pham, H. Q., Phan, U. V. (2016). Embryonic and larval development and effects of salinity levels on egg and ovary performances in rabbitfish (Siganus guttatus). The Israeli Journal of Aquaculture-Bamidgeh, 68: 1-7. http:// hdl.handle.net/10524/54961 15. Pham, H. Q. and Le, H. M. (2016). Effects of thyroxin and domperidone on oocyte maturation and spawning performances in the rabbit fish, Siganus guttatus. Journal of the World Aquaculture Society, 47 (5): 691-700. https:// doi.org/10.1111/jwas.12312 16. Pham, H. Q., Nguyen, A. V., (2019). Seasonal changes in hepatosomatic index, gonadosomatic index and plasma estradiol-17β level in captively reared female rabbitfish (Siganus guttatus). Aquaculture Research, 50 (8): 2191- 2199. https://doi.org/10.1111/are.14100 17. Rahman, S., Takemura, A., Takano, K. (2000). Annual changes in testicular activity and plasma steroid hormones in the golden rabbitfish Siganus guttatus (Bloch). Fisheries Science, 66: 894-900. https://doi.org/10.1046/j.1444- 2906.2000.00144.x 18. Rahman, S., Takemura, A., Park, J., Takano, K. (2003). Lunar cycle in the reproductive activity in the forktail rabbitfish. Fish Physiology and Biochemistry, 28: 443-444. 19. Rainis, S., Gasco, L., Ballestrazzi, R. (2005). Comparative study on milt quality features of different finfish species. Italian Journal of Animal Science, 4(4): 355-363. 20. Rakitin, A., Ferguson, M.M., Trippel, E.A. (1999). Spermatocrit and spermatozoa density in Atlantic cod (Gadus morhua): Correlation and variation during the spawning season. Aquaculture, 170: 349–358. 21. Sakun, O. F., (1954). Analysis of gonadal function in male and female Vimba vimba with special reference to the nature of spawning. Dokl Akad Nauk SSSR, 98, 505-507 22. Suquet, M., Cosson, J., Germaine, D., Chauvaud, C.M., Laurent, C.F. (1994). Sperm features in turbot (Scophthalmus maximus): a comparison with other freshwater and marine fish species. Aquatic Living Resources: 283-294. 23. Yaron, Z., Levavi-Sivan, B. (2011). Endocrine regulation of fish reproduction. In: Farrell A.P., (ed.), Encyclopedia of Fish Physiology: From Genome to Environment, 2: 1500–1508. San Diego: Academic Press. http://doi.org/10.1016/ B978-0-1237-4553-8.00058-7 8 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
  9. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ NHỤ - Eleutheronema rhadinum NUÔI THUẦN DƯỠNG EFFECT OF DENSITY AND RATIONS ON SURVIVAL RATE AND GROWTH PERFORMANCE OF Eleutheronema rhadinum CAPTIVE BREEDING Tạ Thị Bình¹, Nguyễn Đình Vinh¹, Trần Thị Kim Ngân² Ngày nhận bài: 3/12/2018; Ngày phản biện thông qua: 21/8/2019; Ngày duyệt đăng: 25/9/2019 TÓM TẮT Cá nhụ - Eleutheronema rhadinum khối lượng trung bình 214,84±0,05 g, có nguồn gốc đánh bắt ngoài tự nhiên, được tiến hành các thí nghiệm nhằm xác định mật độ nuôi và khẩu phần ăn phù hợp cho cá nhụ trong điều kiện nuôi nhốt. Các thí nghiệm được tiến hành tại khu Nuôi trồng thủy sản của Hợp tác xã Hải Minh - Hà Tĩnh. Kết quả thí nghiệm cho thấy, nuôi cá ở mật độ từ 1-1,5con/m² có tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt từ 4,61- 4,75 g/ngày; và tỷ lệ sống cao, đạt từ 83,00 -84,67%, và sai khác có ý nghĩa so với cá nuôi ở mật độ 2 con/m² (P
  10. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 Cá nhụ là một trong những loại hải sản có 40% pr. Thời gian thí nghiệm 5 tháng. giá trị và được nhiều thị trường ưa chuộng. Ở Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức, mỗi Việt Nam, cá nhụ là một trong 4 loài cá quý và là nghiệm thức lặp lại 2 lần một trong những đối tượng mới được lựa chọn + Nghiệm thức 1: mật độ 1 con/m² cho mục tiêu đa dạng hóa các đối tượng nuôi + Nghiệm thức 2: mật độ 1,5 con/m² biển. Nghiên cứu về cá nhụ loài Eleutheronema + Nghiệm thức 3: mật độ 2 con/m² tetradactylum, được thực hiện từ 2009 tại Viện Chăm sóc quản lý Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I. Đến nay, - Thức ăn sử dụng: Thức ăn công nghiệp nghiên cứu đã đạt thành công trong sản xuất - Khẩu phần ăn: 5% khối lượng thân/ngày giống và đã tạo ra sản lượng giống cá nhụ nhân Cách cho ăn: Rải thức ăn lên sàn để cá tạo, nhưng loài Eleutheronema rhadinum chưa sử dụng dần, tần suất cho ăn: 2 lần/ ngày vào được nghiên cứu. Nhằm cung cấp cơ sở khoa khoảng 8 giờ và 16 giờ. học cho việc sử dụng đối tượng cá nhụ trong Thường xuyên lặn theo dõi lồng nuôi, đáy cơ cấu đối tượng nuôi hải sản, nghiên cứu nuôi lồng đề phòng lồng bị hư hỏng. Định kỳ phân thương phẩm cá nhụ đã được thực hiện trong cỡ cá nuôi và điều chỉnh mật độ nuôi thích hợp, vài năm trở lại đây. Các kết quả nghiên cứu theo dõi phát hiện bệnh kịp thời để xử lý có bước đầu thu được cho thấy cá nhụ có khả hiệu quả. năng thích nghi trong điều kiện nuôi thương Định kỳ 10 ngày sử dụng vitamin C và phẩm. Để bổ sung thêm các dẫn liệu cho nuôi khoáng trộn vào thức ăn cho ăn liên tục từ 5 thương phẩm cá nhụ chúng tôi thực hiện đề tài: – 7 ngày, để tăng khả năng bắt mồi và sức đề “Ảnh hưởng của mật độ nuôi, khẩu phần ăn kháng cho cá nuôi. Định kỳ đo các chỉ tiêu môi đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cá trường nước (oxy, pH, nhiệt độ, độ mặn) để có Nhụ (Eleutheronema rhadinum) nuôi thuần biện pháp xử lý kịp thời. dưỡng”. Kết quả của đề tài hy vọng sẽ đóng Theo dõi tốc độ sinh trưởng (chiều dài toàn góp cho việc lưu giữ loài cá này trong điều kiện thân-cm, khối lượng-g) kết hợp với kiểm tra tỷ nuôi nhốt, làm cơ sở cho nuôi thương phẩm đối lệ sống của cá định kỳ 1 tháng/lần. tượng có giá trị kinh tế này. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của khẩu phần II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá Nhụ nuôi thuần dưỡng NGHIÊN CỨU Cá Nhụ có khối lượng trung bình 198,15 g 1. Đối tượng nghiên cứu được bố trí nuôi trong 6 lồng có kích thước 6 Cá nhụ - Eleutheronema rhadinum khối x 5 x 2 m, với mật độ thả là 45 con/lồng (tương lượng trung bình 214,84±0,05 g có nguồn gốc đương 1,5 con/m²). Thức ăn sử dụng là thức ăn đánh bắt ngoài tự nhiên, đảm bảo cá vẫn khỏe công nghiệp có hàm lượng 40% pr. Thời gian mạnh để nuôi thuần dưỡng. thí nghiệm 5 tháng. 2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức, mỗi - Thời gian nghiên cứu: Từ 02/2018 đến nghiệm thức lặp lại 2 lần 6/2018. + Nghiệm thức 1: sử dụng khẩu phần ăn - Địa điểm nghiên cứu: Khu NTTS Hợp tác 3% khối lượng thân/ngày (3% BW/ngày) xã Hải Minh - Hà Tĩnh. + Nghiệm thức 2: sử dụng khẩu phần ăn 3. Phương pháp nghiên cứu 5% khối lượng thân/ngày (5% BW/ngày) Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của mật độ đến + Nghiệm thức 3: sử dụng khẩu phần ăn tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá Nhụ 7% khối lượng thân/ngày (7% BW/ngày) nuôi thuần dưỡng. Chăm sóc quản lý Cá Nhụ có khối lượng trung bình - Cách cho ăn: Rải thức ăn lên sàn để cá 214,84±0,05g được bố trí nuôi trong 6 trong sử dụng dần, tần suất cho ăn: 2 lần/ngày vào lồng có kích thước 6 x 5 x 2 m. Thức ăn sử khoảng 8 giờ và 16 giờ. dụng là thức ăn công nghiệp có hàm lượng 10 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
  11. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 - Theo dõi tốc độ sinh trưởng (chiều dài Ln(L1)]/∆t. Trong đó: W1 là khối lượng cá tại toàn thân-cm, khối lượng-g) kết hợp với kiểm thời điểm bắt đầu thí nghiệm; W2 là khối lượng tra tỷ lệ sống của cá định kỳ 1 tháng/lần. cá tại thời điểm kết thúc thí nghiệm; ∆t là số Thí nghiệm được tiến hành trong 150 ngày. ngày thí nghiệm. * Chăm sóc quản lý : Tiến hành giống thí - Mức độ phân đàn của cá được xác định nghiệm 1 theo công thức: CV (%) = (SD)/χ) x 100. Trong 4. Phương pháp thu thập số liệu đó: SD là độ lệch chuẩn mẫu, χ là kích cỡ cá - Phương pháp đánh giá tốc độ tăng trưởng trung bình. của cá: được xác định định kỳ 30 ngày/lần, mỗi *) Đánh giá tỷ lệ sống của cá thí nghiệm lần 30 cá thể được thu ngẫu nhiên, dựa theo được xác định theo công thức: SR (%) = 100 chiều dài tiêu chuẩn (SL) bằng thước kẹp chia x (số cá thu hoạch + số cá chết do thu mẫu)/số vạch có độ chính xác đến 0,1 mm và khối lượng cá thả ban đầu. (W) toàn thân cá bằng cân điện tử TANITA có 5. Phương pháp xử lý số liệu độ chính xác đến 0,01 g. Số liệu thí nghiệm được xử lý, phân tích - Sinh trưởng theo khối lượng và chiều dài theo phương pháp phương sai một yếu tố (One bình quân theo ngày của cá thí nghiệm, xác way ANOVA) và kiểm định để so sánh giá trị định bởi công thức: ADG (g/ngày hoặc cm/ trung bình giữa các nghiệm thức với độ tin cậy ngày) = (Wt-Wo)/∆t hoặc = (Lt-Lo)/∆t. Trong 95% (P
  12. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 ở mật độ 1,5 con/m² là 4,61±0,037g/ngày và SGR về khối lượng đạt 0,654 và AGR về khối 0,96±0,006% ngày. Thấp nhất là tốc độ tăng lượng đạt 1,85 g/ngày. Abu Hena và cs.(2011) trưởng của cá nhụ khi nuôi thuần dưỡng ở khi nuôi cá nhụ 4 râu trong 45 ngày AGR đạt mật độ 2 con/m² là 3,60±0,063 g/ngày và 1,3 - 1,6 g. Như vậy, kết quả nghiên cứu của 0,84±0,09% ngày. chúng tôi thấp hơn kết quả nghiên cứu của các Nghiên cứu của Đỗ Xuân Hải (2016) khi tác giả Đỗ Xuân Hải (2016) và Abu Hena và nuôi cá Nhụ 4 râu trong ao với mật độ 1 con/ cs.(2011). m², với cỡ cá 30,1 g sau 18 tháng nuôi trong 1.2. Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến hệ số điều kiện khí hậu miền Bắc cá đạt 1,027 g; phân đàn Hình 1. Hệ số phân đàn của cá khi nuôi thuần dưỡng ở các mật độ nuôi khác nhau. Ghi chú: CV (150, %) là hệ số phân đàn của cá sau 150 ngày thí nghiệm. Xét về mức độ phân đàn của cá sau 150 và không có sai khác có ý nghĩa (P>0,05) ngày nuôi cho thấy, cá nuôi thuần dưỡng ở mật với cá nuôi thuần dưỡng ở mật độ 1,5 con/ độ 2 con/m² có mức phân đàn cao hơn so với m² (4,07±0,18%) nhưng sai khác có ý nghĩa nuôi thuần dưỡng ở mật độ 1 con/m² và 1,5 (P
  13. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 Kết quả Hình 2 cho thấy, tỷ lệ sống có sự ngày với mật độ 0,5con/m² đạt tỷ lệ sống 70 khác nhau khi nuôi ở các mật độ khác nhau. Tỷ - 80%. Như vậy, kết quả thí nghiệm cho thấy, lệ sống của cá khi nuôi với mật độ từ 1-1,5 con/ nuôi thuần dưỡng cá nhụ với mật độ từ 1 - 1,5 m² đạt từ 83,00 - 84,67% và sai khác không có ý con/m² là phù hợp, có thể được lựa chọn để bổ nghĩa (P>0,05). Tỷ lệ sống thấp nhất khi nuôi ở sung vào quy trình nuôi cá thương phẩm. mật độ 2 con/m² đạt 67,00% và sai khác so với 2. Ảnh hưởng của khẩu phần ăn đến sinh mật độ nuôi 1 con/m² và 1,5 con/m² (P
  14. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 Hình 3. Hệ số phân đàn của cá Nhụ theo khẩu phần ăn thí nghiệm. Ghi chú: CV (150, %) là hệ số phân đàn của cá sau 150 ngày thí nghiệm. Hình 4. Tỷ lệ sống của cá Nhụ theo khẩu phần ăn thí nghiệm. so với cá nhụ thuần dưỡng ở mật độ 2 con/m². nhụ cho ăn với khẩu phần 3% BW/ngày. Tỷ lệ Vì vậy, có thể ứng dụng nuôi cá nhụ ở các mật sống của các nghiệm thức đều trên 80%. Vì vậy, độ 1-1,5 con/m² để nuôi thương phẩm cá nhụ. có thể ứng dụng cho cá nhụ ăn với khẩu phần từ 2. Cho cá nhụ ăn với khẩu phần từ 5-7% BW/ 5-7% W/ngày để nuôi thương phẩm cá nhụ. ngày cho tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cá TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Đỗ Xuân Hải, 2016. Thử nghiệm nuôi thương phẩm cá nhụ bốn râu (Eleutheronema tetradactylum) trong ao nước biển, Báo cáo Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1. Tiếng Anh 2. Abu Hena M.K, Idris M.H, Wong S.K, Kibria M.M, 2011. Growth and survival of Indian Salmon (Eleutheronema tetradaclum .Shaw, 1804) in brackish water pond. J Fish Aquat Sci. Page 479 - 484 3. Matthew.B.P, 2006. Characteristics of fish communities in coastal water of north - western Australia, including the biology of the threadfin Eleutheronema tetradactylum and Polydactylus macrochir. Murdoch University, Western Australia. 286PP 4. Threadfins of the world, FAO species catalogue for fishery purpose No 3, 2004. Page 16 - 18. 14 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
  15. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG NĂM 2018 STATUS OF FISH SPECIES COMPOSITION IN MY THO CITY TIEN GIANG PROVINCE IN 2018 Nguyễn Thị Hạnh Dung², Nguyễn Công Tráng¹* Ngày nhận bài: 30/6/2019; Ngày phản biện thông qua: 20/9/2019; Ngày duyệt đăng: 28/9/2019 TÓM TẮT Nghiên cứu nhằm xác định thành phần cá hiện diện tại các thủy vực ở Mỹ Tho, đặc biệt là trước tình trạng xâm nhập mặn tiến sâu vào nội đô những năm gần đây. Dữ liệu nghiên cứu sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho công tác khai thác, nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi cá của địa phương. Mẫu cá được thu định kỳ 2 lần/tháng bằng các loại ngư cụ và mua của các ngư dân tại 4 địa điểm khai thác cá ở Mỹ Tho. Phân loại cá dựa theo phương pháp hình thái, căn cứ theo các tài liệu phân loại được công bố. Kết quả cho thấy, có 56 loài cá (thuộc 29 họ của 11 bộ) hiện diện trong năm 2018 tại các thủy vực thuộc Mỹ Tho. Trong đó, bộ cá vược (Perciformes) có số lượng lớn nhất với 15 loài (chiếm 26,79%) thuộc 10 họ (chiếm 34,48%). Bộ cá nheo (Siluriformes) có 8 loài (chiếm 14,29%) thuộc 6 họ (chiếm 20,69%). Bộ cá bống (Gobiiformes) có 8 loài (chiếm 14,29%) thuộc 3 họ (chiếm 10,34%). Bộ cá chép (Cypriniformes) có duy nhất 1 họ nhưng rất đa dạng về thành phần loài (14 loài, chiếm 25%). Các bộ còn lại có từ 1-3 loài (chiếm 1,79-5,36%) thuộc 1-3 họ (chiếm 3,45-10,34%). Ngoài ra, có một số loài cá nước lợ mặn xuất hiện tại các dòng sông ở Mỹ Tho vào mùa khô khi có sự xâm nhập mặn. Từ khóa: Cá nước ngọt, Mỹ Tho, phân loại cá, thành phần loài cá. ABSTRACT This study aimed to identify current fish composition in water bodies in My Tho, in the context that saline intrusion has advanced into the inner city in recent years. Research data would provide the necessary information for the exploitation, fish farming and protection of fish resource in local area. Fish samples were collected periodically twice each month by fishing gears and buying from fishermen at 4 capture locations in My Tho. Taxonomy of fishes was mainly based on morphological methods following published fish taxonomy documents. The results showed that there were 56 species of fish (belonging to 29 families of 11 orders) to appear in 2018 in My Tho. The Perciformes order had the largest number with 15 species (26.79%) of 10 families (34.48%). Siluriformes order had 8 species (14.29%) of 6 families (20.69%). Gobiiformes order had 8 species (14.29%) of 3 families (10.34%). Especially, Cypriniformes order only had one family but it's species composition was very diverse with 14 species (25%). Besides, the result showed that other orders of fish had from 1 to 3 species (1.79-5.36%) and ranged from 1 to 3 families (3.45-10.34%). Moreover, there were some species of brackish water fish to appear in water bodies in My Tho at the period of salinisation. Keywords: Freshwater fish, fish taxonomy, My Tho, species composition. I. ĐẶT VẤN ĐỀ sông ngòi, kênh, rạch chằng chịt với nguồn lợi Tiền Giang là cửa ngõ của vùng kinh tế trọng thủy sản đa dạng bao gồm cả nước mặn, nước điểm phía Nam ở vùng đồng bằng Sông Cửu lợ và nước ngọt. Điều này, tạo điều kiện thuận Long (ÐBSCL). Với vị trí ở cuối nguồn của lợi cho nghề khai thác thủy sản (KTTS) và sông Cửu Long, tỉnh Tiền Giang có hệ thống nuôi trồng thủy sản (NTTS) phát triển. Trong các năm qua, ngành thủy sản ở Tiền Giang đã ¹ Khoa Nông nghiệp và CNTP, Trường Đại học Tiền Giang phát triển mạnh, tổng sản lượng thủy sản tăng ² Sinh viên Trường Đại học Tiền Giang hàng năm từ 4-7%, giá trị sản lượng thủy sản TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 15
  16. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 tăng từ 8-17%/năm (tiengiang.gov.vn). Kim sống và nơi sinh sản của các loài thuỷ sản. Do ngạch xuất khẩu thủy sản trên 410 triệu USD đó, việc khảo sát về thành phần các loài cá tại vào cuối năm 2017 (tiengiang.gov.vn). Thành thành phố Mỹ Tho trở nên cần thiết, nhất là phố Mỹ Tho là vùng trung tâm của Tiền Giang, trong tình trạng lạm thác, ô nhiễm môi trường nơi có các sông lớn chảy qua như sông Tiền, và xâm nhập mặn như hiện nay. Kết quả nghiên sông Bảo Định. Các sông này có thành phần cứu sẽ cung cấp các dữ liệu quan trọng, hỗ trợ loài cá rất đa dạng, phong phú. Đây là nguồn nhà chức trách tại địa phương có các giải pháp lợi thủy sản quan trọng để phục vụ cho nghề để bảo tồn nguồn lợi thủy sản giúp cho nghề KTTS tại địa phương phát triển trong những khai thác và nuôi trồng thủy sản tại Mỹ Tho năm qua. Nghề đánh bắt cá đã góp phần giải phát triển bền vững. quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện sinh kế II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU cho người dân trong khu vực (tiengiang.gov. 1. Thời gian và địa điểm vn). Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, nguồn Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ lợi thủy sản ngoài tự nhiên tại các thủy vực của tháng 01-12/2018. Mỹ Tho có biểu hiện giảm sút đáng kể, số loài Địa điểm thu mẫu: Mẫu cá được thu tại các có giá trị kinh tế dần cạn kiệt, thậm chí có một xã, phường thuộc thành phố Mỹ Tho; gồm 4 số loài có nguy cơ tuyệt chủng. Nguyên nhân khu vực là dọc cù lao Thới Sơn (1), dọc cù lao gây suy giảm nguồn lợi có thể là do việc khai Tân Long (2), dọc bờ kè Mỹ Tho (3) và dọc thác không hợp lý, chẳng hạn như tình trạng sử sông Bảo Định (4). dụng xung điện, dùng lưới có kích thước mắt Địa điểm phân tích mẫu: Phòng thí nghiệm lưới nhỏ để khai thác. Sự lạm thác, ô nhiễm Đa năng của Khoa Nông nghiệp và Công nghệ môi trường cũng dẫn đến phá huỷ nơi sinh thực phẩm, Trường Đại học Tiền Giang. Hình 1. Bản đồ các khu vực thu mẫu cá trong nghiên cứu. (Ghi chú: khu vực thu mẫu được ghi chú bằng đường đứt quãng màu đỏ) 16 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
  17. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 2. Phương pháp thu mẫu formol 10% để bảo quản mẫu cá sau khi thu và Trang thiết bị, dụng cụ và hóa chất phục vụ sau khi phân tích. nghiên cứu bao gồm hủ nhựa, thùng xốp chứa Thu mẫu cá trên sông, kênh, rạch: Mẫu mẫu cá; thước kẹp, thước dây, máy ảnh dùng cá được thu định kỳ 2 đợt/tháng (mỗi đợt 2-3 để đo các chỉ tiêu hình thái và chụp hình mẫu ngày) vào các ngày triều cường và triều cạn cá; các loại ngư cụ, phương tiện khai thác cá của tháng. Vùng thu mẫu xung quanh bán kính của ngư dân trong vùng như ghe cào, dớn, xiệp, 5 km của tọa độ thu mẫu (Bảng 1). Ngoài ra, chài, lưới, v.v dùng để đánh bắt các loại cá; mẫu cá còn được thu bằng cách tiếp cận, thu khúc xạ kế để đo độ mặn tại nơi thu mẫu, máy mua từ những ngư dân khai thác tại các địa GPS cầm tay để xác định tọa độ nơi thu mẫu; điểm thu mẫu. Bảng 1. Những địa điểm thu mẫu cá trên sông, kênh và rạch. Tọa độ trung tâm vùng thu mẫu Ngư cụ và phương tiện Khu vực thu mẫu (Vĩ độ bắc – Kinh độ đông) khai thác Dọc cù lao Tân Long 10o35’B - 106o38’Đ Dớn, ghe cào Dọc bờ kè Mỹ Tho 10 35’B - 106 35’Đ o o Ghe cào Dọc sông Bảo Định 10 36’B - 106 36’Đ o o Ghe cào, xiệp, dớn Dọc cù lao Thới Sơn 10 32’B - 106 31’Đ o o Ghe cào, dớn Thu mẫu cá nội đồng: Sử dụng chài có 2 điểm mút, không đo theo đường cong. Mỗi đường kính 2,2 m chài 100 chài/xã để thu các hình ảnh cá được đặt tên và mã hóa để lưu trữ. mẫu cá hiếm gặp trong thủy vực nội đồng. Chài Các chỉ số chiều dài sử dụng trong nghiên trong bán kính 2 km tính từ Ủy Ban Nhân Dân cứu và được mô tả theo quy ước sau: các xã, phường trong khu vực thu mẫu. Các xã, L0: Chiều dài chuẩn (mm) L1: Chiều dài phường được chọn để chài thu mẫu cá gồm: đầu (mm) Đạo Thạnh, Thới Sơn và Phước Thạnh. H: Chiều cao thân (mm) O: Đường kính 3. Phương pháp phân tích mẫu mắt (mm) 3.1. Đo các chỉ tiêu hình thái Và lập các tỷ lệ đại diện đặc trưng cho các Các chỉ số hình thái được đo bằng thước họ cá: kẹp (độ chính xác 1 mm), đối với các loài cá Tỷ lệ chiều cao (mm)/chiều dài chuẩn (mm) có kích thước lớn hơn 30 cm thì sử dụng thước Tỷ lệ chiều dài đầu (mm)/chiều dài chuẩn (mm) dây. Các số đo được đo theo khoảng cách của Tỷ lệ đường kính mắt (mm)/chiều dài đầu (mm) Hình 2. Sơ đồ chỉ dẫn các số đo của cá được sử dụng trong nghiên cứu. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 17
  18. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 3.2. Đếm các chỉ tiêu hình thái gai cứng, số Ả Rập biểu thị số lượng tia vây Các ký hiệu sử dụng trong nghiên cứu và mềm. Giữa gai cứng và tia vây mềm cách nhau được mô tả theo quy ước: bằng dấu gạch chéo (/). Những loài có 2 vây D: Vây lưng A: Vây hậu môn P: Vây lưng thì giữa 2 vây lưng có dấu chấm phẩy (;). ngực V: Vây bụng C: Vây đuôi Công thức vẩy: CTV = SVĐB-SHVTĐB/ CTV: Công thức vẩy SVĐB: Số lượng SHVDĐB. vẩy đường bên SHVTĐB: Số hàng vẩy trên 3.3. Định danh mẫu cá đường bên SVHDĐB: Số hàng vẩy dưới Nghiên cứu phân loại thành phần loài chủ đường bên yếu dựa theo phương pháp hình thái học dựa Công thức vây: Số La Mã biểu thị số lượng theo một số tài liệu ở Bảng 2. Bảng 2. Các tài liệu dùng để phân loại cá trong nghiên cứu. Nhà sản xuất/ Năm Tên tài liệu Tác giả nơi phát hành phát hành Định loại cá nước ngọt vùng Trương Thủ Khoa và Trường Đại học Cần Thơ 1993 đồng bằng sông Cửu Long Trần Thị Thu Hương Fishes of the Cambodian University of Rainboth. W.J. 1996 Mekong Wisconsin Oshkosh Trần Trọng Chơn và Trường Đại học Nông Lâm Giáo trình ngư loại học 2005 Lê Hoàng Yến TP Hồ Chí Minh Vũ Trung Tạng và Giáo trình ngư loại học NXB Nông Nghiệp 2005 Nguyễn Đình Mão Mô tả định loại cá đồng bằng Trần Đắc Định và ctv. NXB Đại học Cần Thơ 2013 sông Cửu Long Việt Nam Thêm vào đó, một số loài cá có hình thái 4. Xử lí số liệu bên ngoài rất giống nhau như các loài cá Số liệu sau khi thu thập sẽ được tính toán, bống trân, cá chạch bông thì nghiên cứu xử lý bằng phần mềm M.S. Excel 2010. đã tiến hành tham khảo ý kiến của các nhà III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO khoa học chuyên môn về ngư loại ở Trường LUẬN Đại học Cần Thơ. Đối với mẫu cá xác sọc 1. Độ mặn ở các vùng thu mẫu (Pangasius macronema) việc định danh Tại Mỹ Tho, những năm gần đây đã xảy ra được thực hiện bằng phương pháp ứng tình trạng xâm nhập mặn, do đó nghiên cứu dụng sinh học phân tử theo phân tích DNA cũng ghi nhận độ mặn tại các khu vực thu mẫu. mã vạch. Độ mặn tại các vùng thu mẫu năm 2018 được thể hiện qua Bảng 3. Bảng 3. Độ mặn các địa điểm thu mẫu. Độ mặn (‰)/ Địa điểm vùng Tháng thu mẫu (T) thu mẫu T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12 Độ mặn ở Cù lao Thới Sơn 3 2 2 0 0 0 0 0 0 0 0 1 Độ mặn ở Cù lao Tân Long 3 2 2 0 0 0 0 0 0 0 1 1 Độ mặn ở bờ kè Mỹ Tho 3 1 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Độ mặn ở dọc sông Bảo Định 2 2 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0 18 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
  19. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 Kết quả ở Bảng 3 cho thấy, trong 3 tháng Long do vào đầu mùa khô và mưa đã kết thúc, đầu tiên của năm (từ tháng 1 đến tháng 3), tại tuy nhiên độ mặn ghi nhận được chỉ khoảng 4 địa điểm thu mẫu ở thành phố Mỹ Tho có 1‰. Việc xâm nhập mặn sâu vào thành phố Mỹ xảy ra hiện tượng xâm nhập mặn, độ mặn cao Tho ở các tháng T1-T3, có thể đã giúp cho một nhất là 3‰ và thấp nhất là 1‰. Nguyên nhân số loài cá nước lợ vùng cửa sông ven biển như là do chịu sự ảnh hưởng của nguồn nước mặn cá đục bạc, cá nâu, cá đối, v.v di chuyển sâu trực tiếp từ cửa biển trên sông Tiền chảy vào. vào các kênh, rạch của Mỹ Tho. Vì vậy, nghiên Từ tháng thu mẫu T4 trở đi (T4 đến T10) do cứu đã thu được mẫu của những loài cá này. ảnh hưởng của mùa mưa và lượng nước ngọt từ 2. Cấu trúc thành phần loài cá ở thành phố vùng thượng nguồn chảy về nên độ mặn ở các Mỹ Tho địa điểm thu mẫu đồng loạt giảm còn 0‰. Đến Kết quả cấu trúc thành phần loài cá thu lần thu mẫu T11-T12, hiện tượng xâm nhập được tại thành phố Mỹ Tho được thể hiện qua mặn đã trở lại ở cù lao Thới Sơn và cù lao Tân Bảng 4. Bảng 4. Cấu trúc thành phần loài cá thu được tại thành phố Mỹ Tho năm 2018. STT Bộ Số họ Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%) 1 Batrachoidiformes 1 3,45 1 1,79 2 Beloniformes 1 3,45 1 1,79 3 Characiformes 1 3,45 1 1,79 4 Cypriniformes 1 3,45 14 25 5 Cyprinodontiformes 1 3,45 1 1,79 6 Gobiiformes 3 10,34 8 14,29 7 Mugiliformes 1 3,45 2 3,57 8 Perciformes 10 34,48 15 26,79 9 Pleuronectiformes 2 6,9 3 5,36 10 Siluriformes 6 20,69 8 14,29 11 Synbranchiformes 2 6,9 2 3,57 Tổng 29 100 56 100 Bảng 4 cho thấy đã ghi nhận được 11 bộ, Xét ở cấp độ loài, sự đa dạng về thành 29 họ với 56 loài cá xuất hiện ở Mỹ Tho trong phần loài khác nhau giữa các bộ. Bộ cá vược năm 2018. Trong đó, bộ cá vược (Perciformes) (Perciformes) có số lượng thành phần loài và bộ cá nheo (Siluriformes) là hai bộ chiếm ưu lớn nhất là 15 loài, chiếm tỷ lệ 26,79%. Các thế về cả số lượng loài lẫn số họ cá lần lượt là đại diện điển hình cho bộ này gồm: cá hường 15 loài thuộc 10 họ và 8 loài thuộc 6 họ. Bộ cá vện (Datnioides quadrifasciatus), cá sặc chép mặc dù chỉ có 1 họ nhưng số lượng loài điệp (Trichogaster microlepsis). Bộ cá chép rất phong phú (15 loài). (Cypriniformes) có 14 loài, chiếm 25%; một Xét về bậc họ, bộ cá vược (Perciformes) số loài thuộc bộ cá chép (Cypriniformes) như là đa dạng nhất (10 họ, chiếm 34,48%). Xếp cá ét mọi (Morulius chrysophekadion), cá thứ 2 là bộ cá nheo (Siluriformes) 6 họ, chiếm dảnh (Puntioplites proctozystron). Bộ cá nheo 20,69%. Xếp thứ 3 bộ cá bống (Gobiiformes) (Siluriformes) và bộ cá bống (Gobiiformes) có 3 họ, chiếm 10,34%. Các bộ còn lại chỉ có từ 1 8 loài, chiếm 14,29%. Các bộ còn lại có từ 1 đến 2 họ chiếm tỷ lệ 3,45-6,9% trong tổng số đến 3 loài chiếm tỷ lệ 1,79-5,36% trong tổng họ phân tích được. số loài đã được định danh. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 19
  20. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2019 Kết quả cho thấy thành phần loài cá ở 10 họ, tiếp đến là bộ cá nheo (Siluriformes) với thành phố Mỹ Tho tương đối phong phú và 8 họ. Đặc điểm này cho thấy, có sự tương đồng đa dạng, mặc dù mẫu cá chỉ được chỉ thu ở về sự xuất hiện của bộ cá vược và bộ cá da trơn một đơn vị hành chính của tỉnh. Kết quả cho trên sông Hậu năm 2013 và tại các thủy vực của thấy vẫn còn một số loài cá có giá trị kinh tế Mỹ Tho năm 2018. cao như: cá thiểu mẫu (Paralaubuca typus), Tại Tiền Giang, Nguyễn Thị Phương Dung cá chạch xiêm (Macrognathus siamensis), (2000), đã thực hiện nghiên cứu về thành phần cá trèn bầu (Ompok bimaculatus), cá bống loài cá trên sông Tiền. Kết quả nghiên cứu đã trứng (Eleotris melanosoma), cá bống xác định trên sông Tiền đoạn chảy qua địa phận sao (Boleophthalmus boddarti), cá ét mọi tỉnh Tiền Giang gồm 136 loài cá nằm trong 63 (Morulius chrysophekadion), v.v. Ngoài ra, họ thuộc 18 bộ. Thành phần loài phong phú do quá trình xâm nhập mặn diễn ra tại địa bàn nhất tập trung ở bộ cá vược (Perciformes) với nên có sự hiện diện của một số loài cá nước lợ 33,8%, bộ cá bống (Gobiiformes) với 12,5% vùng cửa sông ven biển như cá úc chấm (Arius và bộ cá chép (Cypriniformes) với 12,5%. Kết caelatus), cá đục bạc (Sillago sihama), cá nâu quả này tương đồng với cấu trúc thành phần (Scatophagus argus), v.v. loài của bộ cá vược, bộ cá bống và bộ cá chép Thành phần loài cá tại Mỹ Tho trong kết quả trong nghiên cứu tại Mỹ Tho năm 2018 (bộ cá nghiên cứu này cũng nằm trong thành phần các vược chiếm 26,79% số loài, bộ cá bống chiếm loài cá (thuộc bộ, họ cá) chung của khu vực đồng 14,29% số loài và bộ cá chép có 25% số loài). bằng sông Cửu Long. Các loài cá ghi nhận được Số lượng họ cá và loài cá ghi nhận được tại tại Mỹ Tho cũng tương đồng so với các nghiên Mỹ Tho (2018) trong nghiên cứu này ít hơn cứu về thành phần loài cá của Thái Ngọc Trí và so với số lượng họ cá và loài cá trong nghiên Hoàng Đức Đạt (2012) về thành phần loài cá ở cứu của Phan Hữu Hội (2012) về khảo sát về sông Hàm Luông tỉnh Bến Tre từ 2008-2012 và thành phần loài cá tỉnh Tiền Giang. Điều này nghiên cứu của Thái Ngọc Trí (2015) về đa dạng đúng với thực tế, vì thành phần cá toàn tỉnh của khu hệ cá ở đồng bằng sông Cửu Long. Ng- Tiền Giang bao gồm cả thành phần cá nước lợ hiên cứu của Nguyễn Xuân Huấn và ctv. (2017) mặn, còn thành phần cá tại Mỹ Tho chủ yếu là điều tra tổng thể cá ở sông Cổ Chiên tỉnh Bến cá nước ngọt. Tre cũng cho kết quả tương tự như nghiên cứu 3. Danh sách các loài cá thu được tại Mỹ Tho này về cấu trúc thành phần loài. Trần Đắc Định Danh mục các loài cá và các chỉ số hình thái và ctv.(2013), đã công bố nghiên cứu về thành học cơ bản của chúng qua các đợt thu mẫu từ phần loài cá trên lưu vực sông Hậu, trong đó bộ T1-T12 năm 2018 ở Mỹ Tho được thể hiện chi cá vược (Perciformes) là bộ có nhiều họ nhất với tiết qua Bảng 5. Bảng 5. Danh mục thành phần loài cá tại thành phố Mỹ Tho năm 2018. Tên các loài cá Các chỉ tiêu hình thái cơ bản TT Tiếng Họ Bộ L1/Lo H/Lo O/L1 Công Tên khoa học Việt (%) (%) (%) thức vẩy Ambassis 1 sơn giải Ambassidae Perciformes 26 34 30,8 26-4/4 gymnocephalus Parapocryptes bống 2 Apocrypteidae Gobiiformes 17,16 13,43 10,87 74-8/8 serperaster kèo Datnioides hường 3 Lobotidae Perciformes 37,6 38,5 15,9 64-10/18 quadrifasciatus vện Batrachomoeus mang 4 Batrachoididae Batrachoidiformes 33,3 16,2 17,1 * trispinosus ếch 20 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2