intTypePromotion=1

Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ - Quân sự (Số 10 – 11/2017)

Chia sẻ: Kethamoi Kethamoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:100

0
14
lượt xem
1
download

Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ - Quân sự (Số 10 – 11/2017)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của tạp chí trình bày vai trò của ngôn ngữ học đối chiếu trong giảng dạy ngoại ngữ và một số dạng bài tập khắc phục chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ; hình thức học hợp tác và một số lưu ý khi áp dụng hình thức này trong giảng dạy tiếng Anh tại Học viện Khoa học Quân sự; một vài đề xuất về phương pháp rèn luyện kỹ năng Viết trong việc dạy và học môn tiếng Pháp cho học viên, sinh viên học ngoại ngữ 2 tại Học viện Khoa học Quân sự...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ - Quân sự (Số 10 – 11/2017)

  1. HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO Chủ tịch Thiếu tướng, GS.TS. ĐẶNG TRÍ DŨNG Phó chủ tịch Đại tá, PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG HẢI Ủy viên Thiếu tướng, PGS.TS. QUẢN VĂN TRUNG Đại tá, TS. TRẦN NGỌC TRUNG Số 10 - 11/2017 ISSN 2525 - 2232 Đại tá, ThS. PHẠM QUANG HẢI Đại tá, PGS.TS. MA ĐỨC KHẢI Đại tá, TS. TRỊNH THỊ THÚY LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH ĐOÀN THỤC ANH, MAI THỊ VÂN ANH - Những nét đặc trưng cơ bản của văn 3 phong báo chí tiếng Nga TỔNG BIÊN TẬP Đại tá, PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG HẢI TRẦN THỊ HÀ - Những con đường hình thành và một số vấn đề cần lưu ý khi 11 dạy thuật ngữ quân sự tiếng Việt cho học viên quân sự nước ngoài PHÓ TỔNG BIÊN TẬP PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Trung tá, TS. NGUYỄN THU HẠNH DƯƠNG TRẦN HƯƠNG THẢO - Vai trò của ngôn ngữ học đối chiếu trong 19 giảng dạy ngoại ngữ và một số dạng bài tập khắc phục chuyển di tiêu cực từ BAN BIÊN TẬP tiếng mẹ đẻ Đại tá, TS. ĐINH QUANG TRUNG HUỲNH THỊ VŨ HẠNH, VŨ TIẾN TÙNG - Hình thức học hợp tác và một số lưu 28 Đại tá, ThS. DƯƠNG VĂN TUYỂN ý khi áp dụng hình thức này trong giảng dạy tiếng Anh tại Học viện Khoa học Đại tá, TS. BÙI THỊ THANH LƯƠNG Quân sự Thượng tá, ThS. LÊ CÔNG PHÁT NGUYỄN KHÁNH HIỆP - Một vài đề xuất về phương pháp rèn luyện kỹ năng 35 Trung tá, TS. TRẦN THỊ MINH THỤC Viết trong việc dạy và học môn tiếng Pháp cho học viên, sinh viên học ngoại Trung tá, TS. NGUYỄN THU HẠNH ngữ 2 tại Học viện Khoa học Quân sự Thiếu tá, TS. ĐOÀN THỤC ANH DỊCH THUẬT THƯ KÝ - TRỊ SỰ ĐINH XUÂN HINH - Đặc trưng kết cấu ngôn ngữ của thuật ngữ quân sự trong 41 Trưởng ban tiếng Việt và một số lưu ý trong quá trình dịch Thiếu tá, ThS. NGUYỄN TUẤN ANH TRẦN VĂN BÌNH - Liên từ kết hợp “a” trong tiếng Nga và các cách truyền đạt 46 sang tiếng Việt Ủy viên Thiếu tá CN, ThS. HOÀNG THỊ BẮC TRẦN LÊ DUYẾN, HOÀNG ANH NGUYỆN - Một số biện pháp nâng cao chất 54 lượng dịch Anh-Việt và Việt-Anh tại Học viện Khoa học Quân sự Thiếu tá, ThS. NGÔ NGỌC HẢI Thượng úy, ThS. NGUYỄN THỊ THU NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI TRỤ SỞ DƯƠNG XUÂN QUANG - Từ các biến thể phiên – chuyển tên riêng nước 63 ngoài tới một giải pháp thống nhất trong tiếng Việt 322E Lê Trọng Tấn, Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội LÝ NGỌC TOÀN, NGUYỄN THỊ VÂN ANH - Nghiên cứu ý niệm sự tình chuyển 71 Điện thoại: 0246.328.2232 động trong tiếng Việt Email: tapchikhnnqs@ gmail.com PHẠM THỊ TỐ LOAN - Xu hướng dạy tiếng Anh đáp ứng nhu cầu giao tiếp nơi 79 Website: hvkhqs.edu.vn công sở trên thế giới: Một số khuyến nghị cho Việt Nam ĐỖ TIẾN QUÂN - Bàn về dạy từ vựng tiếng Hán thông qua phương pháp 85 GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ IN giảng dạy ngữ tố Số 200/GP-BTTTT ngày 19/4/2016 HOÀNG THANH HƯƠNG - Thái độ học tập của sinh viên tiếng Trung thương 93 của Bộ Thông tin và Truyền thông mại và vấn đề chất lượng giảng dạy
  2. CONTENTS 1. Basic characteristics of Russian journalistic style; 2. Formation of Vietnamese military terms and some concerns when teaching Vietnamese military terms to foreign military students; 3. The role of contrastive analysis in foreign language teaching and some common exercises to deal with mistakes made by foreign language learners due to the negative influence of their mother tongue; 4. Cooperative learning and some notes when applying it to English teaching at MSA; 5. Some sugestions for methods to practise writing skills in teaching and learning french for learners of French as a second foreign language at Military Science Academy; 6. Linguistic characteristics of Vietnamese military terminology and some concerns in translation; 7. Coordinating conjunction “a” in Russian and how to translate it into Vietnamese; 8. Some major ways to improve the quality of English-Vietnamese and Vietnamese-English translation at MSA; 9. Variants of transcription - transliteration of foreign proper names: a unified solution of translation in Vietnamese; 10. A study of intercultural communication on motion events in Vietnamese; 11. Global trends in teaching English to meet the needs of workplace communication: recommendations for Vietnamese context; 12. Discussing on teaching Chinese vocabulary with the methods of teaching morphemes; 13. Learning attitudes of the students of business Chinese and their evaluation of teaching quality. 目录 1. 俄语报刊语言的基本特征; 2. 越南语中军语术语的形成方式及其在对外国军事学员教学中应注意的几个问题; 3. 对比语言学在外语教学中的地位与克服母语负迁移的若干练习; 4. 合作教学法及其在英语教学中应注意的几 个问题; 5. 军事科学学院外国语言专业学生二外法语教学中关于写作技能培养的若干建议; 6. 越南语中军语术语 的结构特点及其翻译过程中应注意的几个问题; 7. 俄语中联合连词“a”与越译; 8. 提高英越互译质量的若干办 法; 9. 从外文人名越译后的变体到越南语中同一的翻译办法; 10. 越南语中表示事物趋向意念研究; 11. 国外基 于办公交际目的英语教学法及对越南的启示; 12. 论运用语素教学法进行汉语词汇教学; 13. 经贸方向的汉语言 专业学生的学习态度与教学质量问题. СОДЕРЖАНИЕ 1. Основные особенности газетно-публицистического стиля русского языка; 2. Пути формирования военных терминов во вьетнамском языке и некоторые вопросы, которые следует учитывать при обучении иностранным военным курсантам; 3. Роль контрастивной лингвистики в преподавании иностранных языков и некоторые виды упражнений для преодоления негативных переносов с родного языка; 4. Форма совместной учёбы и некоторые примечания в её реализации при обучении английскому языку; 5. Метод тренировки навыка письменной речи французского языка для курсантов и студентов, изучающих французский язык как иностранный в Академии Военных Наук: 6. Особенности языковой структуры военных терминов во вьетнамском языке и некоторые примечания в переводческой работе; 7. Сочинительный союз «а» в русском языке и способы перевода на вьетнамский язык; 8. Некоторые меры повышения качества англо-вьетнамского и вьетнамско-английского переводов; 9. Из разновидностей транскрипции иностранных личных имён до единого решения во вьетнамском языке; 10. Концептуальное изучение обстоятельств движения во вьетнамском языке; 11. Мировая тенденция преподавания английского языка для офисного общения: некоторые рекомендации Вьетнаму; 12. Об обучении китайской лексике с помощью интерпретации морфемного состава; 13. Отношение к учёбе студентов, изучающих китайский язык в области торговли и вопрос о качестве преподавания. SOMMAIRE 1. Les caractéristiques de base du style de journal en russe; 2. L’histoire de formation des terminologies militaires vietnamiennes et quelques refléxions de l’enseignement aux étudiants militaires étrangers; 3. Les rôles de la linguistique contrastive dans l’enseignement de langues étrangères et propostions des exercices limitant les interférences négatives de la langue maternelle; 4. L’apprentissage en collaboration et quelques attentions en enseignant l’anglais; 5. Quelques propositions d’entraînement de la production dans l’enseignement/ apprentissage du français langue étrangère aux étudiants militaires et civils de l’Académie des sciences militaires; 6. Les caractéristiques linguistiques des terminologies en vietnamien et quelques attentions en traduction; 7. Le mot de liaison “a” en ruse et ses expressions en vietnamien; 8. Quelques mesures visant à l’amélioration de la traduction Anglais- Vietnamien et Vietnamien- Anglais; 9. Des variants de traduction- tranfert du nom propre des étrangers à la solution commune dans le vietnamien; 10. L’étude sur la notion du procès de mouvement en vietnamien; 11. Tendance de l’enseignement d’anglais répondant au besoin de communication à l’office public dans le monde: Quelques conseils au Vietnam; 12. Les discussions sur l’enseignement de la lexicologie de Han via la méthode d’enseignement des morphèmes; 13. Les attitudes d’apprentissage chez les étudiants de chinois commercial et la qualité d’enseignement.
  3. LÝ LUẬN NGÔN NGỮ v NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN PHONG BÁO CHÍ TIẾNG NGA ĐOÀN THỤC ANH*; MAI THỊ VÂN ANH** Học viện Khoa học Quân sự, ✉ doanthucanhk12@gmail.com * Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội, ✉ maivananhnd@yahoo.com ** Ngày nhận bài: 17/6/2017; ngày hoàn thiện: 18/10/2017; ngày duyệt đăng: 15/11/2017 TÓM TẮT Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông đại chúng như tin tức, phóng sự, bình luận, tiểu phẩm, diễn đàn, thông tin quảng cáo trên báo in, đài phát thanh, đài truyền hình, internet…. Chức năng quan trọng của ngôn ngữ báo chí là cập nhật tin tức mang tính thời sự, phản ánh dư luận và ý kiến của quần chúng, đồng thời nêu lên quan điểm, chính kiến của tờ báo, định hướng dư luận, truyền thông mọi mặt về chính trị, văn hóa, xã hội. Văn bản báo chí đảm bảo tính thông tin sự kiện, tính ngắn gọn, tính logic, có giá trị biểu cảm, có chức năng đánh giá, kêu gọi nhờ các phương tiện ngôn ngữ tương ứng có trong văn bản. Từ khóa: báo chí, ngôn ngữ báo chí, văn phong báo chí 1. ĐẶT VẤN ĐỀ và báo điện tử đang phát triển mạnh đáp ứng nhu cầu của đông đảo độc giả. Ngôn ngữ báo chí cần Truyền thông đóng một vai trò quan trọng tuân thủ một số tiêu chí như tính ngắn gọn, logic, trong xã hội. Với nghệ thuật sử dụng ngôn từ các súc tích, giàu hình ảnh, có giá trị biểu cảm, có chức nhà báo đã đem đến cho độc giả món ăn tinh thần năng định hướng dư luận xã hội nhờ sử dụng các không thể thiếu được mỗi ngày. Ngôn ngữ báo chí phương tiện ngôn ngữ. được sử dụng trong các văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông đại chúng như tin tức, phóng sự, bình 2. NỘI DUNG luận, tiểu phẩm, diễn đàn, thông tin quảng cáo trên 2.1. Những nét đặc trưng cơ bản của văn báo in, báo nói, báo hình, internet…. Chức năng phong báo chí của báo chí là truyền thông tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo 2.1.1. Các thể loại văn phong báo chí và dư luận quần chúng, định hướng dư luận nhằm thúc đẩy sự tiến bộ chung của xã hội. Văn bản báo Khi bàn về các thể loại báo chí, phần lớn các chí tồn tại dưới hai dạng chính: nói (thuyết minh, nhà nghiên cứu Nga cho rằng, báo chí gồm các thể phỏng vấn trực tiếp trong các buổi phát thanh/ loại: tin ngắn, báo cáo, phỏng vấn và phóng sự. truyền hình) và viết (báo viết). Ngày nay, báo hình Còn trong công trình nghiên cứu về ngôn ngữ xã KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 10 - 11/2017 3
  4. v LÝ LUẬN NGÔN NGỮ hội, tác giả I.P. Lưxakovaia đã nhận định: “Hiện chứng kiến những gì nhà báo nói tới trong tác chưa có sự thống nhất về thể loại văn phong như phẩm của mình. một bộ phận cấu thành của lý luận chung về thể loại báo chí”. (Лысакова И.П., 1989, tr.5). Nhà Bên cạnh đó, tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí nghiên cứu I.R.Galperin cho rằng, khái niệm báo còn thể hiện ở chỗ tạo ra định danh cho đối tượng chí bao gồm các tin vắn, quảng cáo, thông báo, được phản ánh. Thực tế cho thấy, mỗi sự kiện được tiêu đề và bài báo (Гальперин И.Р.,1958, tr.85). đề cập trong tác phẩm báo chí đều phải gắn liền với một khoảng không gian, thời gian xác định; Mặc dù không có sự đồng nhất về cách phân với những con người cụ thể (có tên tuổi, nghề loại văn bản báo chí, tuy nhiên các thể loại báo chí nghiệp, chức vụ, giới tính...). Đây là ngọn nguồn vẫn có một điểm chung khiến báo chí trở thành của sự thuyết phục, vì nhờ những yếu tố đó người một thể loại văn phong độc lập. Mỗi biến thể của đọc có thể kiểm chứng thông tin một cách dễ dàng. văn phong báo chí có những nét đặc trưng riêng Do đó, trong ngôn ngữ báo chí nên hạn chế tối đa mà ở đó vừa thể hiện được quy luật chung của việc dùng các từ ngữ, cấu trúc không xác định hay phong cách báo chí vừa thể hiện được những đặc có ý nghĩa mơ hồ kiểu như “một người nào đó”, điểm riêng biệt. “ở một nơi nào đó”, “vào khoảng”, “hình như”....  2.1.2. Đặc điểm của ngôn ngữ báo chí Tính đại chúng của ngôn ngữ báo chí Như chúng ta đã biết, chức năng cơ bản có vai Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng. Tất trò quan trọng hàng đầu của báo chí là thông tin. cả mọi người trong xã hội, không phụ thuộc vào Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cập nghề nghiệp, trình độ nhận thức, địa vị xã hội, lứa tới các sự kiện. Không có sự kiện thì không thể tuổi, giới tính... đều là đối tượng phục vụ của báo có tin tức báo chí. Do vậy, đặc trưng bao trùm của chí: đây vừa là nơi họ tiếp nhận thông tin, vừa là ngôn ngữ báo chí là có tính sự kiện. Chính tính sự nơi họ có thể bày tỏ chính kiến của mình. Chính vì kiện đã tạo cho ngôn ngữ báo chí một loạt các đặc thế, ngôn ngữ báo chí phải là ngôn ngữ có tính phổ điểm nổi bật sau: cập rộng rãi. Tuy nhiên, phổ cập rộng rãi không có nghĩa là dễ dãi, thấp kém. Nói như nhà nghiên cứu Tính chính xác của ngôn ngữ báo chí ngôn ngữ báo chí Nga nổi tiếng V. G. Kostomarov: “Ngôn ngữ báo chí phải thích ứng với mọi tầng lớp Ngôn ngữ của bất kỳ ấn phẩm nào cũng phải công chúng sao cho một nhà bác học với kiến thức bảo đảm tính chính xác. Nhưng với ngôn ngữ báo uyên thâm nhất cũng không cảm thấy chán và một chí, tính chất này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng em bé có trình độ còn non nớt cũng không thấy bởi báo chí có chức năng định hướng dư luận xã khó hiểu”. (Алексеева М.И. и др., 2011, tr.3). hội. Chỉ cần một sơ suất dù nhỏ nhất về ngôn từ cũng có thể làm cho độc giả hiểu không đúng hoặc Với ngôn ngữ không có tính đại chúng, tức là hiểu sai thông tin, nghĩa là có thể gây ra những hậu chỉ dành cho một đối tượng hạn hẹp nào đó, báo quả về mặt đánh giá xã hội nghiêm trọng không chí khó có thể thực hiện được chức năng tác động lường trước được. vào mọi tầng lớp quần chúng và định hướng dư luận xã hội. Đây chính là lý do khiến cho trong Tính cụ thể của ngôn ngữ  báo chí tác phẩm báo chí ít sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành hẹp, các từ ngữ địa phương, tiếng lóng cũng Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí trước hết như các từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài. thể hiện ở chỗ các mảng hiện thực được nhà báo miêu tả, tường thuật phải cụ thể, phải cặn kẽ tới Tính ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí từng chi tiết nhỏ. Có như vậy, độc giả mới có cảm giác mình là người trong cuộc, đang trực tiếp được Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn, súc tích. Câu KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 4 Số 10 - 11/2017
  5. LÝ LUẬN NGÔN NGỮ v nói nổi tiếng của đại văn hào Nga A. P. Trekhov Khuôn mẫu báo chí không cứng nhắc, bất di bất có lẽ chính xác hơn cả với phong cách ngôn ngữ dịch mà rất linh hoạt, uyển chuyển. Bên cạnh đó, báo chí: “Ngắn gọn là chị của thành công”. Các các thành tố khuôn mẫu trong ngôn ngữ báo chí tác phẩm báo chí có tính định lượng về ngôn từ vì luôn kết hợp hài hoà với các thành tố biểu cảm làm chúng thường bị giới hạn trong một khoảng thời ngôn ngữ báo chí thường rất mềm mại, hấp dẫn gian hay một không gian nhất định. Vì thế, việc chứ không khô cứng như ngôn ngữ trong văn bản lựa chọn và sắp xếp các thành tố ngôn ngữ cần kỹ khoa học và văn bản hành chính vì trong đó người lưỡng, hợp lý để phản ánh được đầy đủ lượng sự ta chỉ sử dụng thuần nhất các thành tố khuôn mẫu kiện mà không vượt quá khung cho phép về không mà thôi. gian và thời gian. Tóm lại, ngoài tính thông tin sự kiện là đặc Tính biểu cảm của ngôn ngữ báo chí trưng cơ bản của văn bản báo chí thì văn bản báo chí còn có những đặc trưng khác như: tính ngắn Tính biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí gắn gọn, cô đọng, tính sinh động, hấp dẫn. Những liền với việc sử dụng các từ ngữ, lối nói mới lạ, đặc trưng đó được thể hiện ở những phương tiện giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân, và do đó diễn đạt đảm bảo chức năng thông tin của báo sinh động, hấp dẫn hay ít nhất cũng gây được ấn chí và tạo nên phong cách ngôn ngữ báo chí. Báo tượng đối với độc giả. Nguồn gốc của sự biểu cảm chí luôn cung cấp thông tin mới nhất, nóng nhất, trong ngôn ngữ báo chí là vô cùng phong phú và cập nhật trên mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội. đa dạng. Đó có thể là việc dùng các thành ngữ, Những thông tin này phải đảm bảo tính chính xác tục ngữ, ca dao..., là sự vay mượn các hình ảnh, từ và độ tin cậy về không gian, thời gian, nhân vật, ngữ, cách diễn đạt từ các tác phẩm văn học nghệ sự kiện…. Lời văn ngắn gọn nhưng phải đảm bảo thuật, là lối chơi chữ, nói lái, dùng biện pháp ẩn lượng thông tin cao và có tính hàm súc. Tính sinh dụ, hoán dụ... hay chỉ đơn giản là việc thể hiện sự động, hấp dẫn của báo chí thể hiện ở nội dung bình giá có tính chất cá nhân. Nếu ngôn ngữ báo thông tin mới, cập nhật, cách diễn đạt cô đọng, chí thiếu tính biểu cảm, những thông tin khô cứng dễ hiểu và khả năng kích thích sự suy tưởng, mà nó chuyển tải khó có thể được công chúng tiếp tìm tòi của người đọc. Cách dùng từ, đặt câu, nhận như mong muốn, vì chúng mới chỉ tác động đặt tiêu đề phải kích thích sự tò mò của độc giả. vào lý trí của họ. Chính tính biểu cảm vốn là hiện thân của cái hay, cái hấp dẫn mới là nhân tố tác Chức năng của báo chí là bình giá các sự động mạnh mẽ tới tâm hồn của độc giả, khán thính kiện, định hướng xã hội nên văn bản báo chí giả, làm cho họ đạt tới một trạng thái tâm lý cảm phải đảm bảo tính cấp thiết và tính chính luận. xúc nhất định, để rồi từ đó thực hiện những hành Những nét đặc trưng của văn phong chính động mà người viết vẫn mong đợi. luận luôn được thể hiện trong các thể loại báo Tính khuôn mẫu của ngôn ngữ báo chí chí (Цай  Е.Н.,  Тайжанова  А.М., 2008, tr.1). Ngôn ngữ báo chí mang những đặc điểm của “Khuôn mẫu” - đó là những công thức ngôn văn phong khoa học và văn phong nghệ thuật từ có sẵn, được sử dụng lặp đi lặp lại nhằm tự (Бердичевский А.Л., Соловьёва Н.Н., 2002, động hoá quy trình thông tin, khiến việc sử dụng tr.86). Văn bản báo chí được coi như biến thể của nó trở nên nhanh chóng, thuận tiện hơn. Khuôn văn chính luận, được xem như một lập luận khoa mẫu bao giờ cũng đơn nghĩa và mang sắc thái biểu học: các nhà báo phản ánh những hiện tượng, sự cảm trung tính. Chúng gồm nhiều loại và có mặt kiện; sử dụng thuật ngữ khoa học một cách mềm trong nhiều phong cách chức năng của ngôn ngữ. dẻo để phân tích và đưa ra các hướng giải quyết, Giao tiếp báo chí không thể thiếu khuôn mẫu vì nó tổng kết, đánh giá những vấn đề đó một cách xác tiết kiệm thời gian và công sức cho chủ thể sáng thực. Tính xác thực của các sự kiện, tính cụ thể tạo, thích ứng với việc đưa tin cập nhật, tức thời. cũng như luận cứ chân thực được sử dụng làm KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 10 - 11/2017 5
  6. v LÝ LUẬN NGÔN NGỮ cho ngôn ngữ báo chí mang đặc trưng của văn 2.2. Đặc trưng ngôn ngữ của văn phong báo phong khoa học. Tuy nhiên, để tác động một cách chí tiếng Nga hiệu quả tới việc lĩnh hội thông tin, tới cảm xúc của độc giả hoặc thính giả, thì người nói và người 2.2.1. Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí viết sử dụng các thủ pháp biểu cảm của ngôn Báo chí tiếng Nga với chức năng phản ánh mọi ngữ như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh… - những thủ mặt của đời sống, văn hóa, xã hội, quân sự... mang pháp đặc trưng cho văn phong nghệ thuật. Bên những nét đặc trưng riêng về văn phong được thể cạnh đó, có một đặc điểm của các văn bản báo hiện qua các đặc điểm về mặt ngữ âm, từ vựng, cấu chí hiện nay là phong cách hóa. Các tác phẩm tạo từ, hình thái và cú pháp. báo chí, đặc biệt là các văn bản chính luận, thể hiện rõ nét cá tính của tác giả, phản ánh mối quan Đặc điểm ngữ âm - chữ viết  hệ mang đầy giá trị biểu cảm của người viết đối với các sự kiện được đề cập tới. Có thể viện dẫn Người nói phát âm chuẩn, rõ ràng, khúc chiết, ra đây các ví dụ về tính biểu cảm của các tiêu đề tôn trọng người nghe. Tùy từng tình huống phát bài báo: “Старый вагон на новый лад. Москва ngôn mà giọng nói của diễn giả có thể mang các не прощается с чешскими трамваями”; sắc thái khác nhau: hoặc mang tính chất tuyên “Тайная перепись. Мосгоркомстат обещает truyền, cổ động, hoặc nài nỉ, thuyết phục, hoặc не делиться информацией”; “Грибник kích động, kích thích, hào hứng hoặc thờ ơ hay ошибается 1 раз”; “Верной дорогой везете không biểu lộ cảm xúc…. Người viết tuân thủ các товарища! Три часа социализма на Трёх quy chuẩn về chính tả, đảm bảo văn phong báo chí. вокзалах”. Những tiêu đề trên không chỉ đơn thuần biểu thị chủ đề thông báo, mà còn khắc họa Đặc điểm từ vựng đầy cảm xúc tình huống diễn ra sự kiện. Khuynh Văn bản báo chí sử dụng các lớp từ rất phong hướng “khẩu ngữ hóa” trên các báo ngày càng trở phú và đa dạng. Mỗi thể loại báo chí có một lớp từ nên rõ nét (Цай  Е.Н.,  Тайжанова  А.М., 2008, vựng chuyên dùng, đặc trưng. Văn phong báo chí tr.1). Văn phong nói hiện diện nhiều trong các nói chung là văn phong toàn dân, đa phong cách, tiêu đề và nội dung bài báo. Khi kêu gọi, vận tuy nhiên tuỳ thuộc nội dung bài viết có thể dùng động hay thu hút sự chú ý của công luận, nhà các từ chuyên môn của các ngành. Vốn từ được báo dùng các hô ngữ, từ đệm, câu hỏi tu từ...: sử dụng rộng rãi hơn cả là các thuật ngữ chính trị- “Да, итоговое решение не всегда будет всем xã hội. Trong các bài báo xuất hiện với tần suất сильно нравиться. Но все должны понимать, cao là số lượng lớn các tên riêng: tên địa danh, что необходимо принимать аргументы, идти tên người, tên cơ quan và các tổ chức xã hội; sử на компромиссы и согласовывать общие и dụng nhiều số từ và ngày tháng để chỉ thời gian общественные интересы. Даже если для và sự kiện; dùng nhiều các từ quốc tế và chúng этого придётся поступиться некоторыми nhanh chóng trở thành các từ dập khuôn, sáo ngữ. интересами частными” (Báo “Российская Ngoài ra, nhà báo thường dùng các động từ, tính газета”, 06-9-2010); “Разве не ясно и теперь, từ miêu tả hoạt động, trạng thái, tính chất của sự что нет и не может быть одного пути к vật, sự việc. Trên các báo xuất hiện nhiều chữ viết свободе для всех народов и на все времена? Что tắt, thành ngữ chính trị-xã hội, từ trừu tượng: ВУЗ, слепое заимствование чужого пути к свободе ГУМ, ЦК, величайшее событие, пустить в ход, так же отвратительно, как и отказ от ельцинизм…. Trong các tạp chí quân sự sử dụng свободы, осуществляемый во имя превратно với tần suất cao các từ viết tắt sau: НАТО, БЛА, понимаемой самобытности? Нашему ВМС, система ПРО США, ЕвроПРО (система обществу нужен свой путь к свободе”. (Báo европейской противоракетной обороны), “Российская газета”, 16-9-2010).  ЗРК (зенитные ракетные комплексы), ОЭС KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 6 Số 10 - 11/2017
  7. LÝ LUẬN NGÔN NGỮ v (оптико-электронное слежение), ССН (силы микроэлектромеханические системы, специального назначения).... Có thể bắt gặp объединяющие в себе.... thường xuyên các danh từ trừu tượng, các tính từ chỉ hoạt động chiến đấu, chỉ phương tiện tác Đặc điểm cú pháp chiến như: боеспособность, минирование, Câu văn đa dạng nhưng thường ngắn gọn, разминирование, терроризм, вооружённая sáng sủa, mạch lạc, súc tích, chặt chẽ, đảm bảo борьба, роботизированный, беспилотный, tính chính xác của thông tin. Một số khuôn mẫu инновационный, робототехнический, .... cú pháp được sử dụng như sự xuất hiện của mô Đặc điểm cấu tạo từ hình cấu trúc: “где, когда, какое событие произошло, происходит, будет происходить” Sử dụng các danh từ với hậu tố: -oсть, (trong bản tin thời sự) và sự góp mặt của các -ств(о), -ени(е), -и(я), -ци(я), -изаци(я), -ист, yếu tố thời gian được thể hiện bởi các trạng từ -изм, -иат; các danh từ với tiếp đầu tố: анти-, “сегодня”, “вчера”, “завтра” (yếu tố biểu thị контр-, про-, меж-, сверх-, все-, обще- mối tương quan của sự kiện với thời gian diễn ra ир-…: рассудительность, достоинства, thông báo); sử dụng động từ chỉ sự tồn tại ở các благородство, волнение, партократия, dạng thức khác nhau: “состоялось, состоится, коллективизация, систематизация, моралист, открыт, запланировано, происходит, идеализм, секретариат, пролетариат, собирается, соберется, работает”. Trong các антиобщественный, контркультура, проаме- bút ký, tin ngắn phóng viên viết nội dung bài báo риканский, сверхдержава, всевластие, dựa trên sơ đồ các câu hỏi: “Что произошло? общегосударственный, всесторонний, экстре- Где произошло? Когда произошло? Кто мизм,вышеперечисленный, международный…. участвовал в событии?”. Công thức điển hình Có thể dễ dàng bắt gặp các danh từ và tính từ miêu để mở đầu bản tin thời sự thường như sau: “Вчера tả hoạt động quân sự và đặc tính của các thiết в Москве открылась выставка”, “Сегодня в bị quân sự sau: иррегулярный, cверхпрочный, Екатеринбурге проходит собрание”, “Завтра бесперебойный, малозаметность, без- в Перми состоится открытие”.... Ngoài ra, опасность, антитеррористический, trong văn bản báo chí thường sử dụng các tập противоборствующий, непредвиденные hợp từ chỉ số lượng, cụm từ cố định, tập hợp danh обстоятельства, нанесение ему решающего từ ở cách 2; sử dụng câu với đoạn tính động từ военного поражения. và trạng động từ; lời nói trực tiếp, lời nói gián tiếp; các câu hỏi tu từ, hô ngữ, các từ và cấu trúc Đặc điểm hình thái học đệm: симфония красок, вера в содружество; колонна с двумя сотнями знамён; торжество, Sử dụng dạng số nhiều của danh từ mang ý nghĩa захватывающее дух; обсуждая предстоящий tập hợp, tính từ phức hợp, dạng tính động từ bị động, экзамен; мы с вами сейчас…., используя весь dạng mệnh lệnh thức của động từ thể hiện lời kêu свой военный потенциал.... gọi đối với các hành động mang tính chất phối hợp: народы, древние стены Кремля, взволнованный, 2.2.2. Biện pháp tu từ trong các văn bản báo chí общенациональный, мероприятия, направлен- ные на совершенствование вооружённых Để đảm bảo giá trị phản biện xã hội của ngôn сил…. Khi mô tả các trang thiết bị quân sự, ngữ báo chí, mà cụ thể là tuyên truyền, cổ động người viết dùng các cụm tính động từ như: tư tưởng, luận điểm về chính trị, kinh tế thì các трансгенные биополимеров, применяемых phương tiện thông tin đại chúng huy động mọi khả при разработке...; углеродные нанотрубки, năng, mọi nguồn sức mạnh của ngôn ngữ để tác используемые в электронных системах...; động tới trí tuệ và tình cảm của con người. Báo chí KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 10 - 11/2017 7
  8. v LÝ LUẬN NGÔN NGỮ sử dụng nhiều thủ pháp tu từ linh hoạt nhằm tăng Ngoài ra, uyển ngữ cũng là thủ pháp tu từ hiệu quả cường hiệu quả diễn đạt. đối với các cây bút viết bài. Nếu như sử dụng biện pháp tu từ giúp người nói xây dựng tính hình ảnh Trong tác phẩm báo chí, người viết sử dụng thủ của tác phẩm thì uyển ngữ có chức năng tác động pháp ẩn dụ để tạo nên hiệu quả bình giá (tích cực tới nhận thức của người đọc hoặc người nghe nhằm hoặc tiêu cực) với các sắc thái hứng khởi, trang thay đổi quan điểm, phương châm đã định hình từ trọng, phấn chấn, củng cố, châm biếm cay độc trước của họ. Hiệu quả của dùng uyển ngữ trong hoặc mỉa mai: космический успех, дирижёры ngôn ngữ nhằm tạo lập và củng cố những quan движения (о постовых), конструкторы điểm, cách nhìn nhận mới trong nhận thức xã hội. запахов (о парфюмерах), композиторы моды, Một số uyển ngữ dưới đây có tác động đến độc giả: ледовая симфония (о балете на льду)…. Các “Крем  помогает  исправить  косметические  khái niệm quan trọng liên quan tới tư tưởng, kinh tế недостатки…”  =  изъяны  внешности,  thường được ẩn dụ hóa: хлеб промышленности, морщины (vẻ bề ngoài nhàu nhĩ, nếp nhăn)  стальные артерии, нефтяная целина, (Báo “VIP  Shopping»,  № 4. 2011),  “Цены  на  электрические реки, рисовая житница…. Các автомобили  в  последнее  время   несколько  từ được dùng dưới dạng ẩn dụ truyền tư tưởng bắt кусаются”  =  очень  высокие  цены  (giá rất cao) đầu hoặc kết thúc: старт, финиш, увертюра, (Báo “Автомобили”,  №  6.  2011),   “Магазину  прелюдия, финал…. Để biểu thị mức độ cao “Пятёрочка”  требуется   эколог  của dấu hiệu, thuộc tính, tính chất, người viết sử торгового  зала” =   продавец  (người bán dụng biện pháp ẩn dụ: «С раннего утра первого hàng) (Báo “Нижегородский  рабочий”,  сентября в день пятилетия начала Бесланской №  9.  2010),   “Нецелевое  использование  трагедии к зданию бывшей первой школы с средств”  =  кража  средств  государства  (ăn утра вновь потянулась людская река» (Báo «Российская газета», 02-9-2010). Các cụm từ và cắp tiền nhà nước) (Báo “Земля  нижегородская”  câu như: рукав реки, море цветов, гора подарков, №  2. 2010). Uyển ngữ “Регулирование цен” куча претензий, кипела жизнь xuất hiện với tần (điều chỉnh giá) thay thế cho “sự nâng giá”: suất cao trên mặt báo…. Bên cạnh việc sử dụng lối “Теперь, имея на руках документальное nói ẩn dụ, người viết còn sử dụng rộng rãi thủ pháp подтверждение, министр проведет встречи hoán dụ: Весь корабль пел в это праздничное с руководителями молочных заводов, чтобы утро; Университет идёт в головной колонне; согласовать дальнейшие действия по Институт послал приветствие съезду; бронза регулированию цен на рынке молока”. (Báo XV века…. Hiện tượng cải dung cũng được sử “Южноуральская панорама”, 01-9-2010). Ngoài dụng rộng rãi trong các bài báo: прибавился các thủ pháp tu từ nêu trên, trong các văn bản báo рот, рука в министерстве, важное лицо в chí còn sử dụng hiện tượng đồng âm khác nghĩa минобороны… (cùng một từ nhưng được sử dụng để tạo cho tiêu đề bài báo có sức hút mạnh mẽ để biểu thị chỉnh thể, cũng như bộ phận của cả tới độc giả. Người viết sử dụng từ đồng âm khác chỉnh thể đó: các từ рука, рот, голова, лицо ở nghĩa tạo lối chơi chữ thành công cho các tên gọi nghĩa đen dùng làm tên gọi các bộ phận của cơ bài báo: “Мы стояли на крыльце Горсовета thể, nhưng trong ngôn ngữ báo chí chúng lại có с Калашниковым” (Báo “Столица С”, 10-6- thể mang nghĩa chỉ con người). Ngoài các hiện 2014). Đây là bài báo liên quan tới một quan chức tượng chuyển nghĩa trên, nhà báo còn dùng lối so của những năm 1990 mang họ Калашников. Vì sánh: “Сообщения о погибших и пострадавших cùng họ với người sáng chế ra khẩu súng tiểu liên во время дорожно-транспортных nổi tiếng nhất trên thế giới nên tiêu đề bài báo khá происшествий поступают одно за другим, gây ấn tượng. Tương tự như vậy còn một tên họ как сводки с фронтов боевых действий”. nữa cũng được sử dụng khi đề cập tới công tố viên (Báo “Южноуральская панорама”, 01-9-2010).  Глинский: “Кто бежит за Глинским?” (Báo KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 8 Số 10 - 11/2017
  9. LÝ LUẬN NGÔN NGỮ v “Столица С, 10-6-2014). Thành công của lối chơi пособие по стилистике для студентов- chữ được đảm bảo nhờ âm điệu vang lên giống với иностранцев, - М.: Русский язык. Курсы. khẩu hiệu quảng cáo nổi tiếng trước đây: “Кто бежит за Клинским?” 4. Гальперин И.Р. (1958), Очерки по стилистике английского языка, М., 3. KẾT LUẬN Изд.  Литература на иностранных языков. - 450с. Báo chí nói chung và báo chí Nga nói riêng là phương tiện thông tin đại chúng có tác động nhanh 5. Ковшова  М.Л. (2007),  Семантика  nhất, hiệu quả nhất tới độc giả của mọi tầng lớp xã и  прагматика  эвфемизмов:  Краткий  hội. Báo chí trở thành một trong những động lực тематический  словарь  современных  русских  quan trọng cho sự phát triển của xã hội. Thông tin эвфемизмов:  моногр. // Мария  Львовна  báo chí đề cập đến mọi mặt của đời sống một cách Ковшова.  М.:  Гнозис. - 320 с. xác thực, cụ thể, tỉ mỉ. Chức năng của báo chí là: thông tin, tuyên truyền, giáo dục, dự báo, giải trí, 6. Крысин  Л.П.  Эвфемизмы  в  современной  giao tiếp.... Trong đó, thông tin là chức năng cơ русской  речи  //  Русский  филологический  bản có tầm quan trọng hàng đầu. Văn phong báo chí có những đặc điểm riêng, là một dạng đặc biệt Интернет-портал  «Philology.ru».  của ngôn ngữ văn học, có nguồn biểu cảm phong [Электронный  ресурс]  -  Режим  доступа,  phú, có hiệu lực, cảm xúc và giá trị thẩm mĩ cao. truy cập ngày 27/8/2017 -  URL:  . lượng lao động, hành động vì lợi ích của nhân dân, phục vụ nhu cầu kinh tế, chính trị, văn hóa, 7. Лысакова И.П. (1989), Тип газеты и стиль xã hội của nhân dân. Với những trọng trách đó báo публикации. Опыт  социолингвистического chí Nga ngày nay ngoài nhiệm vụ thông tin kịp thời tới độc giả trong và ngoài nước những sự kiện исследования.- Л.: ЛГУ. -184с. mới nhất về mọi mặt của đời sống chính trị-xã hội, 8. Словарь  издательских  и  рекламных  quân sự Nga, còn khơi gợi lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, lòng tự tôn dân tộc, chủ nghĩa anh hùng терминов  //  [Электронный  ресурс] - Режим  cách mạng và trách nhiệm của mỗi công dân Nga, доступа. truy cập ngày 27/8/2017 - URL:  . thử thách, vững tin vào tương lai và giành thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./. 9. Тихонов  А.Н.  (2002), Морфемно- орфографический  словарь  //  А.Н.  Тихонов.  Tài liệu tham khảo: М.:  АСТ:  Астрель. - 704  с. 1. Алексеева М.И. и др. (2011), Средства массовой информации России, Аспект Пресс 10. Цай  Е.Н.,  Тайжанова  А.М, Проблемы Москва, ISBN 978-5-7567-0594-2. жанров газетного стиля, truy cập ngày 2. Баскова  Ю.С.  (2006),  Эвфемизмы  как  27/8/2017, . Юлия  Сергеевна  Баскова;  Кубан.  гос.  ун-т.  Краснодар.-23c. 11. “Зарубежное военное обозрение 2011”, 3. Бердичевский А.Л., Соловьёва Н.Н. “Москва” ОАО, Издательский дом “Красная (2002), Русский язык: сферы общения. Учебное звезда” KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 10 - 11/2017 9
  10. v LÝ LUẬN NGÔN NGỮ BASIC CHARACTERISTICS OF RUSSIAN JOURNALISTIC STYLE DOAN THUC ANH, MAI THI VAN ANH Abstract: Journalistic language is the language used in the field of mass media’s texts such as news, report, editorial, skit, forum, advertisement on printed newspaper, radio, television, the internet, etc. The most important function of journalistic language is to update current affairs, reflect public opinions and at the same time to raise the viewpoint and political view of the newspaper, orient the public opinion, the media in every aspect including politics, culture and society. Journalistic texts have to ensure the informative, concise, logical characteristics by using corresponding language devices in the text. Keywords: press, journalistic language, journalistic style Received: 17/6/2017; Revised: 18/10/2017; Accepted for publication: 15/11/2017 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 10 Số 10 - 11/2017
  11. LÝ LUẬN NGÔN NGỮ v NHỮNG CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI DẠY THUẬT NGỮ QUÂN SỰ TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI TRẦN THỊ HÀ* Học viện Khoa học Quân sự, ✉ tranhahvkhqs@gmail.com * Ngày nhận bài: 30/9/2017; ngày hoàn thiện: 18/10/2017; ngày duyệt đăng: 15/11/2017 TÓM TẮT Thuật ngữ quân sự tiếng Việt là lớp từ vựng chuyên biệt nằm trong hệ thống ngôn ngữ toàn dân. Thuật ngữ quân sự được hình thành trên cơ sở từ vựng từ nhiều nguồn khác nhau. Xuất phát từ nguồn gốc của các yếu tố tham gia cấu tạo thuật ngữ, bài viết mong muốn khái quát những con đường hình thành nên các đơn vị của hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt từ từ ngữ thông thường tiếng Việt, từ ngữ của các ngành khoa học khác và từ sự vay mượn tiếng nước ngoài. Qua đó, đặt ra các vấn đề cần lưu ý khi dạy thuật ngữ quân sự tiếng Việt cho học viên quân sự nước ngoài. Từ khóa: con đường hình thành, học viên quân sự nước ngoài, thuật ngữ quân sự, tiếng Việt 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Nghiên cứu thuật ngữ được đặt ra ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX với sự mở đầu của tác giả Hoàng Nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới được gắn Xuân Hãn trong cuốn “Danh từ khoa học”. Cuốn liền với tên tuổi của các nhà nghiên cứu như sách là bảng tổng kết cách thức xây dựng thuật CarlvonLinne (1736), Beckmann (1780), A.L. ngữ dựa vào từ thông thường, mượn từ tiếng Hán Lavoisier, G.de Morveau, M. Berthellot, A.F.de và phiên âm từ ngôn ngữ Ấn-Âu. Tiếp theo, “Vào Fourcoy (1789). Tuy vậy, phải đến đầu thế kỉ XX, cuối thập kỉ 60, đầu thập kỉ 70, tổ thuật ngữ thuộc việc nghiên cứu thuật ngữ mới có tính chuyên sâu Uỷ ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước … đã tổ chức và có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của ngôn biên soạn một loạt các từ điển đối dịch thuật ngữ ngữ nói riêng và các mặt xã hội nói chung. Đầu cho hầu hết các ngành khoa học tự nhiên, khoa thế kỉ XX, đi đầu trong lĩnh vực thuật ngữ là các học kĩ thuật và khoa học xã hội” (Chu Thị Bích nhà khoa học Liên Xô cũ với những công trình của Thu, 2001, tr.20). Đây là công sức của rất nhiều A.A. Rêfformatxkiy, N.P. Cudơkin, G.O. Vinôcua, nhà khoa học ở miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ. V.V. Vinôgrađôp…. Các tác giả này thường tập “Những cuốn từ điển này có vai trò lịch sử rất quan trung chú ý chủ yếu vào chức năng của thuật ngữ, trọng… đánh dấu một giai đoạn, một quá trình phát quan hệ giữa thuật ngữ với khái niệm để tìm bản triển và bước đầu hoà nhập của khoa học Việt Nam chất của thuật ngữ…. với khoa học quốc tế, đồng thời góp phần chuẩn KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 10 - 11/2017 11
  12. v LÝ LUẬN NGÔN NGỮ hoá thuật ngữ … phản ánh không khí sôi nổi của Đào Thị Luyến xây dựng một số cuốn giáo trình công việc chuẩn hoá thuật ngữ, chuẩn hoá tiếng về thuật ngữ quân sự tiếng Việt, song chỉ dùng lưu Việt cuối thập kỉ 60, đầu thập kỉ 70” (Chu Thị Bích hành trong nội bộ Học viện Khoa học Quân sự. Thu, 2001, tr.21). Theo Hà Quang Năng “Trải qua hơn nửa thế kỉ, thuật ngữ tiếng Việt đã có những Nhìn tổng quan quá trình nghiên cứu về thuật bước phát triển nhanh chóng về số lượng. Đáng ngữ ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy những công chú ý hơn, bên cạnh mặt số lượng, thuật ngữ tiếng trình kể trên hoặc mới chỉ dừng lại ở mảng lí luận Việt đã thay đổi cả về chất” (Hà Quang Năng, chung hoặc xem xét thuật ngữ khoa học kĩ thuật 2010, tr.2). Tiếp theo, hầu hết các nhà nghiên trên những ngữ liệu cụ thể nhưng vẫn mới chỉ cứu ở Việt Nam đều mặc nhiên thừa nhận, thuật dừng lại ở sự phát triển và đặc điểm của thuật ngữ ngữ nói chung và thuật ngữ quân sự nói riêng là như một bộ phận của ngôn ngữ toàn dân. Như vậy, một bộ phận hữu cơ của ngôn ngữ văn hóa toàn diện mạo hệ thống từ vựng này vẫn còn nhiều khía dân. Các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, cạnh cụ thể cần bàn luận. Nói cách khác nếu xem Mai Ngọc Chừ, Bùi Minh Toán, Đỗ Việt Hùng, thuật ngữ quân sự là một bộ phận của ngôn ngữ Nguyễn Thị Ngân Hoa… đều xem thuật ngữ là hệ toàn dân thì những đặc điểm về các bình diện kết thống từ ngữ đơn phong cách. Sự phát triển của học, nghĩa học của nó vẫn còn là mảnh đất chưa thuật ngữ gắn liền với sự phát triển kinh tế, chính được khai phá kỹ lưỡng. Chúng tôi nhận thức trị, xã hội của Việt Nam. Đó là hệ thống từ ngữ rằng, những công trình nghiên cứu vừa kể trên sẽ “bảo thủ” về nghĩa, mỗi từ là một “cái nhãn” dán là những tiền đề lí luận bổ ích cho quá trình nghiên lên sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan cứu của mình về thuật ngữ quân sự tiếng Việt. (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr.222). Các từ này xét về Trong bài viết này, trên cơ sở kế thừa thành mặt cấu tạo, ngữ nghĩa và nguồn gốc, ngoài những quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, đặc điểm loại biệt ra đều không nằm ngoài qui ứng dụng vào nghiên cứu một lớp thuật ngữ mang luật vận động phát triển của ngôn ngữ toàn dân, tính đặc thù, chúng tôi phân tích, lý giải và trình nhưng xét ở phạm vi sử dụng thì chúng là những bày những con đường hình thành nên thuật ngữ từ có ngoại diên hẹp và nội hàm khá trừu tượng. quân sự tiếng Việt. Hy vọng những kiến giải trong Trong những thập niên gần đây, một số nhà bài báo sẽ góp phần làm phong phú hệ thống lý Việt ngữ học đã nghiên cứu về thuật ngữ như: Đỗ luận về thuật ngữ quân sự, cũng như cung cấp Hữu Châu, Nguyễn Đức Tồn, Hoàng Văn Hành…, thêm những nguồn tư liệu, những đặc trưng ngữ từ đó đã mở đường cho nhiều luận án tiến sĩ, luận nghĩa của lớp từ vốn được xem là khoa học, trừu văn thạc sĩ nghiên cứu về thuật ngữ của nhiều tượng, khô khan, cứng nhắc – hệ thuật ngữ quân sự ngành khoa học. Về thuật ngữ quân sự, từ trước tiếng Việt trong việc dạy thuật ngữ quân sự tiếng đến nay mới chỉ có tác giả Vũ Quang Hào là người Việt cho học viên quân sự nước ngoài tại Học viện đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ cấu Khoa học Quân sự. tạo. Ông đã chỉ ra rằng “Ở đây chúng tôi qui mẫu 2. NỘI DUNG cấu tạo thuật ngữ quân sự căn cứ vào chính bản chất cấu thành. Làm như thế phần nào vừa mô tả 2.1. Các con đường hình thành thuật ngữ đúng bản chất của thuật ngữ, vừa chỉ ra được cái quân sự tiếng Việt mà công việc chỉnh lý thuật ngữ và cấu tạo thuật mới cần hướng vào” (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr.90). 2.1.1. Thuật ngữ quân sự được hình thành từ Những đóng góp của ông trong đề tài là bước khởi các từ ngữ tiếng Việt thông thường đầu quan trọng cho việc nghiên cứu ứng dụng hệ thống lý luận ngôn ngữ vào xem xét một lĩnh vực Thuật ngữ quân sự và từ ngữ thông thường có từ vựng chuyên biệt. Tiếp sau đó, các tác giả Phạm rất nhiều điểm khác nhau về nội dung biểu niệm Ngọc Lại, Nguyễn Trọng Khánh, Nguyễn Thị Yến, và biểu vật. Từ ngữ thông thường được dùng rộng KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 12 Số 10 - 11/2017
  13. LÝ LUẬN NGÔN NGỮ v rãi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, phản ánh phẳng, thường ở lưu vực những con sông lớn. Khi những khái niệm khác nhau, có khả năng sản sinh làm thuật ngữ quân sự, nó biểu thị khái niệm: địa từ ngữ phong phú do mang nhiều sắc thái ý nghĩa. hình trống trải, mang những thuộc tính chiến thuật Còn thuật ngữ quân sự chỉ biểu thị khái niệm và như việc ngụy trang, triển khai đội hình, sử dụng gọi tên sự vật trong khoa học quân sự. Tuy vậy, lực lượng phương tiện, kèm theo đó là các hình để làm phong phú thêm số lượng từ ngữ của mình thức thủ đoạn tác chiến cho phù hợp với đặc điểm trong lĩnh vực quân sự, ngôn ngữ đã tạo ra một qui địa hình (Cục khoa học Quân sự – Bộ Tổng tham luật hết sức năng động là sử dụng những từ ngữ mưu, 1985). tiếng Việt sẵn có trong vốn từ toàn dân để tạo thành thuật ngữ chuyên môn quân sự. Qua khảo sát 1700 Từ thành phố khi được sử dụng làm thuật ngữ thuật ngữ (Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự quân sự thì các nghĩa khái niệm thông thường như – Bộ Quốc phòng, 2004), chúng tôi thấy các thuật đơn vị hành chính, khu vực tập trung đông dân ngữ kiểu này hình thành từ hai con đường. cư, có sự phát triển cao về công nghiệp, thương mại, dịch vụ…, và phát triển mạnh hơn các vùng Một là, sử dụng y nguyên hình thức ngôn ngữ khác sẽ bị loại bỏ, thay vào đó là nghĩa khái niệm có sẵn trong ngôn ngữ thông thường nhưng thay hoàn toàn mới được nhìn từ góc độ quân sự: khu đổi nội dung biểu đạt của chúng. Cụ thể là giữ lại vực tác chiến có những thuộc tính nhất định về những nét nghĩa cần thiết phục vụ cho khái niệm địa bàn, sử dụng lực lượng phương tiện, triển khai quân sự hoặc chỉ giữ lại những khái niệm nào được đội hình, cách đánh (Cục khoa học Quân sự – Bộ nhận thức từ góc độ quân sự. Ví dụ: Các từ đồng Tổng tham mưu, 1985). bằng, miền núi, thành phố, bến phà, bắn… khi là từ ngữ thông thường phản ánh những sự vật, khái Hai là, kết hợp các đơn vị có sẵn trong vốn niệm không giống khi làm thuật ngữ quân sự. Bắn, từ toàn dân với nhau hoặc kết hợp với một yếu tố khi là từ ngữ thông thường, có các nghĩa biểu niệm, thuật ngữ để tạo thành thuật ngữ quân sự. Những biểu vật sau: 1. Phóng mũi tên hoặc viên đá, đất, đơn vị kiểu này bao giờ cũng là các từ ghép. Ví vật gây nổ, vật gây cháy… ra khỏi dụng cụ như ná, dụ: bãi, cụm, điểm, đoạn, nhóm… là các đơn vị có cung nỏ, giàn phóng… bằng lực đẩy. Bắn tên. Bắn sẵn trong ngôn ngữ, chúng chưa phải là thuật ngữ ná thun. Bắn đá vào cổng thành. 2. Phát hỏa từ các mà chỉ là yếu tố đi kèm với mìn, pháo binh, tựa, loại hỏa khí. Bắn súng ngắn. Bắn cối 82. Bắn tỉa. đột kích, chiến thuật… để tạo nên các thuật ngữ: 3. Văng hoặc bật ra. Nước bắn ra tung tóe. 4. Làm bãi mìn, cụm pháo binh, điểm tựa, đoạn đột kích, chuyển dời vật nặng bằng cách bẩy lên. Bắn bể nhóm chiến thuật (Trung tâm từ điển bách khoa nước ra góc sân. 5. Chuyển tiền, chuyển nợ sang Quân sự – Bộ Quốc phòng, 2004). tài khoản hoặc phần cho người khác. Bắn nợ sang bên A. 6. Kín đáo đưa tin cho đối tượng biết. Bắn 2.1.2. Thuật ngữ quân sự vay mượn từ các tin cho nhà gái biết. 7. Dùng tiền bạc để lo lót, hối ngành khoa học khác lộ. Cứ bắn mạnh vào thì mới được việc (Hoàng Phê, chủ biên, 1988). Khi chuyển thành thuật ngữ Khoa học quân sự là khoa học mang tính tổng quân sự, “bắn” chỉ còn lại duy nhất một nghĩa là: hợp cao vì nó nghiên cứu, phân tích một hiện phát hỏa từ các loại hỏa khí, do đó, những kết hợp tượng cực kỳ phức tạp mà biểu hiện đặc trưng nhất kiểu như từ thông thường ở các ví dụ thuộc nghĩa là đấu tranh vũ trang. Khi nghiên cứu hiện tượng 1, 3, 4, 5, 6, 7 dẫn trên đây không thể tồn tại được. này, khoa học quân sự phải vận dụng nhiều tri thức và phương pháp của các ngành khoa học khác như Đồng bằng, khi là từ ngữ thông thường, biểu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thị những đặc trưng chung nhất, trực quan nhất đối thuật…. Vì vậy để tích hợp từ ngữ cho mình, khoa với mọi người trong xã hội: là nơi đất thấp, bằng học quân sự ngoài việc tiếp thu những thành tựu KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 10 - 11/2017 13
  14. v LÝ LUẬN NGÔN NGỮ của các khoa học liên ngành còn dùng luôn các chống lại nhau…. Vay mượn do nhu cầu phải đặt thuật ngữ của các ngành khác làm thuật ngữ của tên sự vật hiện tượng mới mà tiếng Việt chưa có mình. Ví dụ: hóa học, hợp chất, phốt pho, chất tên, chẳng hạn như độc lập, tự do, thủ phạm, hình cháy, chất lỏng, phương tiện vận tải, công trình, sự, cộng sản, cường độ, anh hùng…. Vay mượn hạn ngạch, cấu kiện, độ bền, nhân cách, tình cảm… để thay thế, đảm bảo sự gọn gàng cho thuật ngữ. Dùng phi tài sản thay cho không có tính chất tài Ngày nay, cùng với những tiến bộ của khoa sản, phi quân sự thay cho không có tính chất quân học kỹ thuật, việc ứng dụng những thành tựu sự, phi pháp thay cho trái pháp luật, phi lộ thay khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực quân sự ngày càng cho lời trình bày mở đầu (dọn đường). nhiều. Bởi vậy ngày càng có nhiều thuật ngữ của các ngành chuyên môn khoa học khác được tiếp Yếu tố Hán-Việt chiếm số lượng lớn nhất nhận vào hệ thuật ngữ quân sự. Chính vì vậy mà (1845) chiếm 99, 8 % trong cấu tạo 1700 thuật thuật ngữ quân sự luôn mang tính tổng hợp cao. ngữ quân sự tiếng Việt (Trung tâm từ điển bách Nhưng cũng phải khẳng định rằng, khoa học quân khoa Quân sự – Bộ Quốc phòng, 2004). Chúng sự là khoa học xã hội nên số lượng thuật ngữ thuộc làm nên bộ mặt cơ bản của hệ thuật ngữ quân sự các ngành khoa học xã hội vẫn chiếm tỉ lệ cao. tiếng Việt. Thuật ngữ do các yếu tố này tạo thành mang những đặc điểm lý tưởng, có nhiều ưu điểm 2.1.3. Thuật ngữ quân sự được hình thành từ nhất, đáp ứng tiêu chuẩn của thuật ngữ. Các yếu tố sự vay mượn tiếng nước ngoài Hán-Việt được chia thành 2 loại lớn, loại có khả năng kết hợp trực tiếp với nhau để tạo ra thuật ngữ Vay mượn yếu tố Hán-Việt và loại chỉ là thành tố của từ ghép hoặc cụm từ thuật ngữ. Từ gốc Hán là những từ vốn của tiếng Hán nhưng được người Việt mượn để dùng như tiếng Vay mượn yếu tố Hán làm phong phú thêm Việt. Khi vào tiếng Việt những từ này được đọc thuật ngữ diễn ra bằng nhiều con đường, nhiều theo âm của tiếng Việt và được hiểu theo cách của nguyên nhân. Cách vay mượn cũng diễn ra theo người Việt nên gọi là từ Hán-Việt. Lúc đầu từ gốc những phương thức khác nhau. Mượn y nguyên Hán vào Việt Nam bằng con đường khẩu ngữ, đến thuật ngữ Hán nhưng đọc theo âm Hán-Việt: trực đời Đường thì bằng cả khẩu ngữ lẫn sách vở. Yếu thăng, phi cơ, không phận, hải phận…. Mượn ý rồi tố Hán-Việt là những từ tố trong từ vựng của tiếng chuyển dịch sang tiếng Việt. Những từ vay mượn Hán được người Việt mượn để cấu tạo nên những bằng phương thức này thường là những từ có từ từ mới như: thể công, thúc bách, sản xuất, pháo hai âm tiết trở lên: trực thăng = lên thẳng; hỏa xa tép, hình mẫu, vô ích, vô bổ…. = xe lửa; phi cơ = máy bay; phi trường = sân bay; hồng thập tự = chữ thập đỏ; không phận = vùng Vay mượn là hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trời; tu chính chủ nghĩa = chủ nghĩa xét lại; hỏa đối với những dân tộc, có những mối quan hệ nhất đầu quân = chiến sĩ nuôi quân…. Mượn từ tố Hán- định với nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã Việt để cấu tạo từ. Đây là phương thức rất phổ biến, hội... Sự vay mượn diễn ra theo những qui tắc, thường diễn ra trong cấu tạo thuật ngữ khoa học. những nguyên nhân bên ngoài và bên trong. Ở đây Trong khi cấu tạo thuật ngữ quân sự tiếng Việt, yếu chúng tôi chỉ đề cập đến những nguyên nhân bên tố Hán-Việt vẫn mang sắc thái ý nghĩa của nó. Vị trong bản thân ngôn ngữ của lĩnh vực quân sự. Vay trí của nó ở trong cấu tạo từ có thể đứng trước hoặc mượn do nhu cầu muốn chính xác hóa nội dung đứng sau yếu tố thuần Việt. Khi tách ra khỏi từ, khái niệm. Chẳng hạn, dùng đánh tao ngộ thì chính chúng ít có khả năng đứng độc lập, nhưng khi kết xác hơn đánh gặp gỡ, dùng tiền bối thì chính xác hợp với các từ tố khác để tạo thành từ, chúng lại hơn người trước, dùng mâu thuẫn chính xác hơn dễ trở thành hệ thống. Chẳng hạn, hóa trong quân KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 14 Số 10 - 11/2017
  15. LÝ LUẬN NGÔN NGỮ v sự hóa, chiến tranh hóa, kế hoạch hóa, qui hoạch thể phân biệt nó với các thuật ngữ thuần Việt. Ví hóa; vô trong vô thừa nhận, vô trách nhiệm, vô dụ: bom, mìn, tăng, bi đông, boong ke, phốt pho…. tổ chức…; phi trong phi quân sự, phi chính phủ, Các thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Đức lại được phi giới tuyến, phi chính trị…. Mượn từ tiếng Hán vay mượn chủ yếu từ lĩnh vực kỹ thuật quân sự. kết hợp với từ tiếng Việt để tạo ra từ mới có nghĩa Chẳng hạn, những thuật ngữ tercom, toornađô, la khái quát. Ví dụ: binh lính, giống nòi, lính chiến, de, được mượn từ tiếng Anh, các thuật ngữ lô cốt, súng trường, tàu hỏa, kịp thời…. Mượn ý và nghĩa gextapô mượn từ tiếng Đức…. Các thuật ngữ được của từ nhưng đọc theo âm Việt. Đây là những từ vay mượn từ tiếng Nga phần lớn được dịch nghĩa thường được gọi là từ Hán-Việt. Những từ này sang tiếng Việt, ví dụ: ổ đề kháng, phòng ngự gấp, khó có thể thay thế bằng từ thuần Việt vì nếu thay sóng xung động…. Khi mượn thuật ngữ gốc Ấn- thường phải giải thích dài dòng. Mặt khác chúng Âu, thuật ngữ quân sự, sử dụng nhiều phương thức cũng được dùng quen, và tồn tại trong tiếng Việt cấu tạo từ để các thuật ngữ phù hợp với qui luật một cách khá vững chắc. Chẳng hạn: tái sản xuất, ngữ âm ngữ nghĩa tiếng Việt. Đó có thể là phương độc lập, tích cực, tiêu cực, hệ quả, kết cấu, xung thức phiên âm các thuật ngữ có sẵn trong ngôn ngữ kích, chiến sĩ, cách mạng… Mượn từ Hán-Việt rồi Ấn-Âu như: na- pan, kê-pi, mooc-chi-ê, cac-bin, đổi trật tự theo ngữ pháp tiếng Việt. Ví dụ: chỉ huy sờ cút, đó cũng có thể là phương thức ghép một sở -> sở chỉ huy; cao điểm -> điểm cao; dân số -> yếu tố Ấn-Âu với từ ngữ có sẵn trong tiếng Việt: số dân; ảnh ảo -> ảo ảnh… bốt gác, bom ba càng, mìn chống tăng…. Việc sử dụng yếu tố Hán-Việt để cấu tạo thuật Thuật ngữ quân sự được hình thành từ các yếu ngữ quân sự rõ ràng là điều cần thiết để đảm bảo tố có nguồn gốc hỗn hợp tính hệ thống, ngắn gọn, chính xác và tạo ra khả năng sản sinh của thuật ngữ. Đó là một qui luật tất Những thuật ngữ kiểu này có lẽ chiếm số yếu khách quan, là một hiện tượng xã hội phù hợp lượng nhiều nhất trong thuật ngữ quân sự, bởi qui với sự vận hành của ngôn ngữ. luật của nó tuân theo phương thức cấu tạo từ chủ yếu trong tiếng Việt là phương thức ghép. Ghép là Vay mượn yếu tố có nguồn gốc Ấn-Âu phương thức cấu tạo từ căn cứ vào số lượng hình vị cấu tạo nên từ. Đó là cách thức ngôn ngữ tác Dân tộc Việt Nam có một lịch sử đặc biệt, trải động vào hai hay nhiều hình vị, kết hợp chúng lại qua mấy nghìn năm đấu tranh chống giặc ngoại với nhau để cho ta các từ mới. Tiếng Việt có hai xâm, nhất là những cuộc kháng chiến chống Pháp loại từ ghép là ghép đẳng lập và ghép chính phụ. và chống Mỹ. Vì vậy, sự vay mượn hay tự giác Thuật ngữ quân sự cũng sử dụng hai phương thức tích hợp một cách tự nhiên những thuật ngữ Ấn- này. Về ngữ nghĩa, phương thức ghép đẳng lập tạo Âu vào thành phần của mình là điều hiển nhiên. ra những từ có nghĩa khái quát như co cụm, vây Trong quá trình đó, thuật ngữ quân sự đã nảy sinh giáp, chiến tuyến, phòng thủ, bao vây, chia cắt, nhiều nét sáng tạo độc đáo cả về số lượng lẫn cấp bậc, binh lính, đột phá…. Theo thống kê của chất lượng. Số lượng tăng nhanh một cách đáng chúng tôi, số lượng ghép đẳng lập trong thuật ngữ kể, còn chất lượng đã được Việt hóa cao độ cả về chiếm số lượng không nhiều (7 thuật ngữ, tương ngữ âm và chữ viết. Trong 1700 thuật ngữ quân đương 0,4%). Tuy vậy, số lượng từ ghép chính sự, có 8 yếu tố tham gia cấu tạo thuật ngữ, chiếm phụ bao giờ cũng nhiều hơn, phổ biến hơn, bởi đặc 0,05% (Trung tâm từ điển bách khoa Quân sự – trưng ngữ nghĩa của các thành tố tham gia cấu tạo Bộ Quốc phòng, 2004). Các nguồn vay mượn chủ có khả năng sản sinh ngữ nghĩa và ngữ pháp lớn yếu là từ tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng hơn. Đây là loại thuật ngữ chiếm số lượng nhiều Đức…. Những thuật ngữ gốc Pháp được Việt hóa nhất 1550 /1700 thuật ngữ, tương đương 92,2%. cao đến mức, ngày nay nhiều người Việt khó có (Nguồn: Trung tâm từ điển bách khoa quân sự – KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 10 - 11/2017 15
  16. v LÝ LUẬN NGÔN NGỮ Bộ Quốc phòng, 2004). Khi sử dụng phương thức thức lý luận ngôn ngữ học và cung cấp vốn từ về ghép để sản sinh từ ngữ, thuật ngữ quân sự thường thuật ngữ quân sự – một lớp từ vựng chuyên biệt kết hợp những yếu tố có sẵn kết hợp với yếu tố trong hệ thống từ vựng của tiếng Việt. Đây là một Hán- Việt: bao vây, co cụm, canh gác, binh lính… môn học khó đòi hỏi cả người dạy và người học hoặc yếu tố gốc Hán-Việt kết hợp với yếu tố Ấn- phải có kiến thức về khoa học quân sự. Âu như bãi mìn định hướng, ra-đa cảnh giới, trực thăng tìm diệt…. Thực tế, việc dạy và học thuật ngữ quân sự tiếng Việt đang gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt Điều đáng lưu ý trong phương thức ghép của việc dạy thuật ngữ quân sự đối với học viên quân thuật ngữ quân sự là ngoài cách ghép thông thường, sự nước ngoài. hệ thuật ngữ còn tồn tại phương thức ghép bậc hai. Ghép bậc hai là hai từ ghép đứng kề cận trên trục Thứ nhất, đội ngũ cán bộ giáo viên của khoa tuyến tính có thể tiếp tục liên kết lại với nhau để Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam tại Học viện tạo ra một đơn vị từ mới (Bùi Thị Thanh Lương, Khoa học Quân sự phần lớn được đào tạo từ các 2006, tr.80). Ví dụ: thủy quân lục chiến, dẫn chứng trường đại học bên ngoài quân đội với các chuyên chiến đấu, chiến tranh nhân dân, chiến tranh hạt ngành ngôn ngữ, văn hóa, phương pháp giảng dạy nhân, trực ban chiến đấu, sĩ quan chỉ huy….Trong tiếng Việt. Mặc dù họ đã được trang bị kiến thức khi ghép các yếu tố ngôn ngữ với nhau, cấu trúc quân sự qua các lớp đào tạo ngắn hạn, song có nội tại của thuật ngữ ngoài các thực từ còn thêm thể thấy kiến thức về lý luận quân sự và kiến thức các hư từ: yểm hộ bằng đường không, trang bị đúc kết từ các hoạt động thực tiễn quân sự còn theo biên chế, khả năng bảo vệ của xe tăng, sơ đồ hạn chế. Mặt khác, do đặc thù riêng, các chuyên báo cáo về địch, tính tích cực của phòng ngự, tính ngành quân sự đòi hỏi tính bảo mật cao, vì vậy, có chất ngụy trang của địa hình…. Do có những đặc rất nhiều thuật ngữ chỉ được sử dụng và diễn đạt ý điểm trên nên cấu tạo của thuật ngữ có xu hướng nghĩa trong nội bộ, không được phổ biến, sử dụng nghiêng về các cụm từ tự do, quan hệ giữa các rộng rãi. thành tố trong thuật ngữ lỏng lẻo hơn quan hệ giữa Thứ hai, về hệ thống giáo trình, tài liệu. Từ các thành tố trong từ ghép thông thường. Nhưng năm 2002, Học viện đã biên soạn và đưa vào sử chính đặc điểm này cũng tạo cho thuật ngữ một dụng cuốn giáo trình Thuật ngữ quân sự và chỉ ưu thế lớn là có khả năng sản sinh từ ngữ cao để dành riêng giảng dạy cho đối tượng học viên quân tạo ra những nhóm thuật ngữ có tính hệ thống. Ví sự Việt Nam. Tuy nhiên, do sự phát triển của đối dụ: chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân, tượng đào tạo và qua hơn 10 năm sử dụng, giáo chiến tranh hạt nhân, chiến tranh vùng Vịnh…. trình bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, cần thiết phải 2.2. Một số vấn đề cần lưu ý khi dạy thuật bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện cho phù hợp với ngữ quân sự cho học viên quân sự nước ngoài sự vận động, phát triển của thực tế ngôn ngữ và tại Học viện Khoa học Quân sự đáp ứng nhu cầu của đối tượng đào tạo. Năm 2014, hai cuốn giáo trình Thuật ngữ quân sự tiếng Việt 2.2.1. Thực trạng việc dạy thuật ngữ quân sự và Tiếng Việt quân sự được biên soạn dành riêng cho học viên quân sự nước ngoài tại Học viện cho đối tượng học viên quân sự nước ngoài. Có Khoa học Quân sự thể nói, hai cuốn giáo trình trên bước đầu đã khắc phục được tình trạng chỉ trang bị hệ thống lý luận Hiện nay, thuật ngữ quân sự là môn học cơ sở mà chưa đề cập, cung cấp và sử dụng các thuật ngữ ngành đối với nhóm ngành đào tạo ngoại ngữ quân quân sự theo hướng thực hành. Tuy nhiên, trong xu sự, nhóm thực hành tiếng và Việt Nam học (Học thế phát triển như vũ bão của quân sự trên thế giới viên quân sự nước ngoài) tại Học viện Khoa học như hiện nay, nhu cầu tìm hiểu về quân sự của đối Quân sự với mục đích nhằm cung cấp những kiến tượng học viên này càng ngày càng lớn. Số lượng KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 16 Số 10 - 11/2017
  17. LÝ LUẬN NGÔN NGỮ v giáo trình tiếng Việt quân sự như vậy là chưa đủ, + Có khả năng ứng xử phù hợp với những vấn phải nhanh chóng cập nhật thêm hệ thống tài liệu đề nhạy cảm trong hoạt động quân sự bổ trợ về thuật ngữ quân sự là vô cùng cần thiết. + Không ngừng học tập nâng cao kiến thức về Thứ ba, về học viên. Có rất nhiều vấn đề được quân sự đặt ra từ phía học viên: - Yêu cầu với người học: - Họ đến từ quân đội nhiều nước trên thế giới với rất nhiều các loại trình độ về tiếng Việt. Có + Có trình độ tiếng Việt C trở lên nhóm đối tượng chưa từng được tiếp xúc với tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, có nhóm đã được đào + Có khả năng thông hiểu khái niệm quân sự tạo tại bản địa khoảng từ 3-6 tháng, có nhóm đã + Có khả năng tri nhận về sự vật hiện tượng được đào tạo cử nhân, thậm chí cả tiến sĩ ngôn trong lĩnh vực quân sự trên cơ sở văn hóa Việt Nam ngữ, song nhìn chung, kiến thức về tiếng Việt của họ chưa đáp ứng yêu cầu về nhiều mặt. - Nguyên tắc dạy và học: - Hệ thống cấu âm của mỗi học viên ở các đất + Đảm bảo tính hệ thống: Giáo trình cần được nước, các khu vực rất khác nhau, có ngôn ngữ xây dựng theo hệ thống kiến thức từ dễ đến khó, từ có thanh điệu, có ngôn ngữ không có thanh điệu đơn giản đến phức tạp. giống tiếng Việt. Do đó, việc phát âm của họ gặp rất nhiều khó khăn. + Đảm bảo tính cơ bản, chuyên sâu. Mỗi bài sẽ bắt đầu từ mục từ mới, cung cấp từ khó để học viên - Mục đích học tiếng Việt của mỗi học viên là ghi nhớ và thực hành, tiếp theo là các bài nghe, khác nhau. Việc học thuật ngữ quân sự tiếng Việt nói, đọc, viết. Đó là các dạng: dựa vào bài đọc để cũng do đó mà tùy thuộc vào nhu cầu và sự hứng trả lời câu hỏi, tìm nghĩa cho đoạn văn trong bài, thú của học viên. điền từ vào chỗ trống, tìm câu trả lời đúng, tìm nghĩa của từ cho trước, tóm tắt đoạn văn, viết đoạn 2.2.2. Một số vấn đề cần lưu ý khi dạy thuật văn…. Trên cơ sở đó trang bị các kiến thức về lý ngữ quân sự cho học viên quân sự nước ngoài luận về thuật ngữ quân sự tiếng Việt. tại Học viện Khoa học Quân sự + Đảm bảo tính phù hợp: Nội dung cần đề cập Trước thực trạng vừa nêu ở trên, việc dạy thuật đến các lĩnh vực quân sự và các hoạt động quân ngữ quân sự tiếng Việt cho học viên quân sự nước sự thời hiện đại như các phương tiện, vũ khí trang ngoài cần lưu ý một số vấn đề sau: bị của các quân binh chủng, công tác tổ chức tác - Yêu cầu với người dạy: chiến, những chiến dịch lịch sử trong chiến tranh thời hiện đại, các quan điểm và xu thế quân sự + Nắm vững đối tượng, xây dựng kế hoạch rõ quốc phòng của thế giới hiện nay. ràng, yêu cầu mức độ kiến thức đối với từng loại đối tượng 3. KẾT LUẬN + Có khả năng thông hiểu và diễn đạt rõ ràng Tích hợp các con đường để làm giàu hệ thống các khái niệm quân sự là con đường có tính qui luật của ngôn ngữ nói chung và thuật ngữ quân sự nói riêng. Từ khi được + Nắm được những đặc trưng cơ bản của khái hình thành đến nay, thuật ngữ quân sự luôn luôn niệm quân sự tìm nhiều con đường mới để bổ sung vốn từ của mình. Mặt khác, tích hợp thuật ngữ cũng góp phần + Gắn thuật ngữ quân sự với hoàn cảnh quân sự không nhỏ vào việc chuẩn hóa thuật ngữ theo KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 10 - 11/2017 17
  18. v LÝ LUẬN NGÔN NGỮ hướng hiện đại, dân tộc, khoa học, chính xác và Quân đội nhân dân, Hà Nội. tiện dùng. Khoa học quân sự đang ngày càng hiện đại hóa để đáp ứng công cuộc xây dựng và bảo vệ 4. Vũ Quang Hào (1991), Hệ thống thuật ngữ tổ quốc. Muốn đổi mới quân đội về mọi mặt thì quân sự tiếng Việt, đặc đặc điểm và cấu tạo thuật thuật ngữ phải đi trước một bước, phải hạn chế bớt ngữ, Luận án Phó tiến sĩ, Trường Đại học Tổng những yếu tố không chính xác, những yếu tố dài dòng, những yếu tố không đồng nhất trong cách sử hợp, Hà Nội. dụng…. Con đường tích hợp thuật ngữ như vậy sẽ giúp cho nó gần gũi, gắn bó hơn với toàn dân. Mặt 5. Hoàng Văn Hành (1993), “Về sự hình thành khác, con đường tích hợp thuật ngữ quân sự như và phát triển của thuật ngữ tiếng Việt”, Tạp chí vậy sẽ giúp quá trình giảng dạy tiếng Việt quân Ngôn ngữ, số 4, tr.2-9. sự cho học viên quân sự nước ngoài tại Học viện Khoa học Quân sự ngày càng hiệu quả hơn./. 6. Hà Quang Năng (2010), “Đặc điểm của Tài liệu tham khảo: thuật ngữ tiếng Việt”, Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 3, tr.12-23. 1. Đỗ Hữu Châu ( 2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội 7. Nguyễn Đức Tồn (chủ biên, 2016), Thuật 2. Bùi Thị Thanh Lương (2006), Từ ngữ mới ngữ học tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học xã hội, tiếng Việt, Luận án tiến sĩ ngôn ngữ, Viện Ngôn Hà Nội. ngữ, Hà Nội. 8. Trung tâm từ điển bách khoa quân sự – Bộ 2. Chu Bích Thu (2001), “Giới thiệu sơ lược Quốc phòng (2004), Từ điển bách khoa quân sự về từ điển và từ điển học Việt Nam”, Tạp chí Ngôn Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. ngữ, số 14, tr.12-26. 3. Cục khoa học quân sự – Bộ Tổng tham mưu  9. Hoàng Phê (chủ biên, 1988), Từ điển tiếng (1985), Từ điển giải thích thuật ngữ quân sự, NXB Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. FORMATION OF VIETNAMESE MILITARY TERMS AND SOME CONCERNS WHEN TEACHING VIETNAMESE MILITARY TERMS TO FOREIGN MILITARY STUDENTS TRAN THI HA Abstract: The Vietnamese military term is terminology special class subordinating to the population lexical system. The Vietnamese military terms are based on different lexical resrources. With the regard to the forming elements of these above terms, the atircle aims to sumarize the ways of forming Vietnamese military terms, namely from the general Vietnamese vocabulary, from different scientific disciplines and borrowing from foreign words. Keywords: formation, military practitioners, military term, Vietnamese Received: 30/9/2017; Revised: 18/10/2017; Accepted for publication: 15/11/2017 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 18 Số 10 - 11/2017
  19. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU TRONG GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ VÀ MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP KHẮC PHỤC CHUYỂN DI TIÊU CỰC TỪ TIẾNG MẸ ĐẺ DƯƠNG TRẦN HƯƠNG THẢO* Học viện Khoa học Quân sự, ✉ thaoanhnguyen256@gmail.com * Ngày nhận bài: 19/9/2017; ngày hoàn thiện: 17/10/2017; ngày duyệt đăng: 15/11/2017 TÓM TẮT Dạy – học ngoại ngữ là một trong những yếu tố cơ bản thúc đẩy sự ra đời của ngôn ngữ học đối chiếu. Việc nghiên cứu, phân tích đối chiếu giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ đóng vai trò quyết định trong việc dạy và học ngoại ngữ. Tiến hành phân tích đối chiếu tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ giúp tìm ra phương pháp giảng dạy hiệu quả, có khả năng dự báo, khắc phục những lỗi mà người học có thể mắc phải do chuyển di của tiếng mẹ đẻ, phục vụ cho việc biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy, học tập, biên soạn từ điển song ngữ dùng trong quá trình học tập ngoại ngữ và trong dịch thuật. Bài viết đề xuất một số dạng bài tập khắc phục các lỗi thường gặp của người học trên ba bình diện được coi là dễ mắc lỗi nhất trong quá trình dạy – học ngoại ngữ: ngữ âm, ngữ pháp và phong cách. Từ khóa: ngôn ngữ học đối chiếu, nghiên cứu đối chiếu, sự giống nhau, sự khác biệt, bình diện ngữ âm, ngữ pháp, phong cách 1. ВВЕДЕНИЕ Связывает ли контрастивная лингвистика с задачами преподавания иностранных языков? Контрастивные исследования различных В этой статье мы постaраемся дать ответы на языков привлекают к себе все больше вниманий поставленные вопросы. в мировой лингвистике. За последние годы появилось много разнообразных исследований 2. СОДЕРЖАНИЕ по проблемам контрастивной лингвистики. Преподавателей сильно волнуют вопросы: какое Д. Болинджер в предисловии к книге место занимает контрастивная лингвистика Ди Пьетро “Языковые структуры в их среди других разделов науки о языке? Какую контрастивности” писал: “Контрастивная роль играет она в обучении иностранным лингвистика родилась из опыта преподавания. языкам, вообще и русскому языку, в часности? Каждый преподаватель иностранного языка KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 10 - 11/2017 19
  20. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY знает и каждый изучающий иностранный в диахронном плане; типологическая язык скоро обнаруживает, что родной язык лингвистика – изучая особенности в структуре мешает в определенных и предсказуемых языков, установить их типы флективный или случаях усвоению второго языка. Запас изолирующий, а контрастивная лингвистика преподавательских ухищений сводится как вариант сравнительно-исторической главным образом к преодолению таких помех” лингвистики, имеет общие с ней принципы (Болинджер – см. Di Pietro, 1971, VII, по описания, но у них есть и различия, которые сведению В.И. Ярцевой, 12). Вместе с тем, по определяются их целью и задачами, две его мнению контрастивные исследования чаще последние проводятся в синхронном плане. всего связывают с задачами преподавания иностранных языков. Контрастивные Контрастивная лингвистика появилась исследования помогают проникнуть в суть позже, чем сравнительно-историческая языковых процессов и глубже понять законы, и типологическая. Хотя в 50е – 60е годы управляющие этими процессами. Поэтому прошлого века уже возникали зародыши контрастивная лингвистика является той зоной, нового направления изучения языков, однако, где пересекаются пути теории и практики. она определилась как лингвистическая дисциплина лишь в конце 20 в начале 21 Академик Л.В. Щерба придавал большое веков. Это объясняется тенденцией глобальной значение сопоставительному изучению языков интеграции в современную эпоху, когда не только для усвоения иностранного языка, необходимы общения разных народов во но и для улучшего понимания особенностей многих областях жизни: политической, родного языка и проникновения в суть его экономической, культурной и др. Для структур (Л.В. Щерба, 1947, стр.22, по этого изучение иностранных языков стало сведению В.И. Ярцевой, 12). необходимостью для каждого народа. Одним словом, предпосылкой для методики С 70х годов XX века до настоящего времени преподавания иностранных языков является во вьетнамской русистике насчитывается свыше контрастивная лингвистика. Она выявляет сотни работ – магистерских, кандидатских и существенные сходства и различия между докторских диссертаций по сопоставительному тем языком, который преподается, и родным изучению русского и вьетнамского языком учащегося. языков на разных уровнях: фонетическом, грамматическом, стилистическом и др. 2.1. Общие сведения о состоянии сопоставительного изучения русского Многолетнее обучение русскому языку и вьетнамского языков до настоящего вьетнамцев показывает, что для достижения времении хороших результатов в преподавании должен быть применен принцип учета Контрастивная лингвистика как одна из трех родного языка, базирующийся на результате составляющих дисциплин компаративистики – сопоставления изучаемого и родного языков. сравнительно-историческая и типологическая, Это положение служит основой предлагаемых каждая из которых имеет свои цели и нами методических рекомендаций типовых выходы в функционирование: сравнительно- упражнений по некоторым проблемам для историческая имеет целью установить избавления ошибок в речи вьетнамских взаимосвязи на разных этапах развития учащихся в разных аспектах. Этому и родственных языков, рассматриваемых посвящается наша статья. KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 20 Số 10 - 11/2017

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản