intTypePromotion=1

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 6A năm 2019

Chia sẻ: Thien Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

0
3
lượt xem
0
download

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 6A năm 2019

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một số bài viết đăng trên tạp chí bao gồm: Nâng cao hiệu quả các công trình đập dâng vùng Tây Bắc bằng các giải pháp KH&CN phù hợp; ứng dụng thành công tiến bộ KH&CN vào phát triển chăn nuôi gia cầm theo chuỗi giá trị bền vững; Giải pháp thúc đẩy ngành cơ khí chế tạo Việt Nam; Phát triển đại học đẳng cấp quốc tế: Kinh nghiệm của Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 6A năm 2019

  1. CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2016-2025: Định hướng đề xuất, xây dựng dự án Chương trình “Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 13/10/2015 (Chương trình NTMN) với quan điểm tập trung ưu tiên cho hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ tại các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; các dự án có sự tham gia của các doanh nghiệp với vai trò là hạt nhân trong chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa, tạo sinh kế cho người dân vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Việc đề xuất, xây dựng mô hình dự án tập trung vào các nội dung sau: 1. Xây dựng mô hình ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế, trình độ phát triển của từng vùng miền, địa phương: - Tiến bộ khoa học và công nghệ về giống mới và công nghệ nhân giống cây trồng, giống vật nuôi, giống thủy sản, giống nấm; - Quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, tăng hiệu quả kinh tế, an toàn với môi trường, công nghệ sản xuất theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng tiên tiến; - Công nghệ tiên tiến và thiết bị đồng bộ trong thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản, thực phẩm nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị sản phẩm. Chú trọng công nghệ, thiết bị chế biến sâu, công nghệ tạo giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp; công nghệ sơ chế nông - lâm - thủy sản, dược liệu cho vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; - Công nghệ sinh học trong sản xuất các chế phẩm sinh học dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi, thủy sản; phân vi sinh; xử lý môi trường; phòng trừ dịch bệnh; - Công nghệ tưới, tiêu cho các loại cây trồng, các giải pháp kỹ thuật cung cấp nước ngọt, nước sạch cho các vùng khan hiếm nước; - Quy trình, thiết bị máy móc trong sản xuất nông nghiệp; công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn; - Tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất nguyên liệu, vật liệu dùng trong công nghiệp chế biến, xây dựng, dược phẩm; - Công nghệ, thiết bị xử lý nước thải, rác thải sinh hoạt; công nghệ, thiết bị đồng bộ sử dụng năng lượng tái tạo; - Công nghệ thông tin, truyền thông để phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, thông tin thị trường cho nông dân; - Kết hợp khoa học và công nghệ tiên tiến với tri thức truyền thống trong khai thác, phát triển nâng cao hiệu quả kinh tế của các cây trồng, vật nuôi đặc sản của địa phương; - Công nghệ, thiết bị phục vụ phát triển sản xuất gắn với du lịch sinh thái. 2. Xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, liên kết giữa người dân và doanh nghiệp trong việc ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ: Xây dựng mô hình ứng dụng, chuyển giao đồng bộ các tiến bộ khoa học và công nghệ, tổ chức quản lý, phát triển thị trường theo chuỗi giá trị hàng hóa có sự tham gia, liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân, trong đó doanh nghiệp là nòng cốt. VĂN PHÒNG CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MIỀN NÚI Số 113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội; Tel: 024.35560602; Fax: 024.35560603
  2. Hoäi ñoàng bieân taäp Toång bieân taäp Toøa soaïn GS.TSKH.VS Nguyeãn Vaên Hieäu Ñaëng Ngoïc Baûo 113 Traàn Duy Höng - phöôøng Trung Hoøa - quaän Caàu Giaáy - Haø Noäi GS.TS Buøi Chí Böûu Phoù Toång bieân taäp Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 GS.TSKH Nguyeãn Ñình Ñöùc Nguyeãn Thò Haûi Haèng Email: khcnvn@most.gov.vn Nguyeãn Thò Höông Giang Website: khoahocvacongnghevietnam.com.vn GS.TSKH Vuõ Minh Giang PGS.TS Trieäu Vaên Huøng tröôûng ban Bieân taäp giaáy pheùp xuaát baûn Phaïm Thò Minh Nguyeät GS.TS Phaïm Gia Khaùnh Soá 1153/GP-BTTTT ngaøy 26/7/2011 GS.TS Leâ Höõu Nghóa tröôûng ban trò söï Soá 2528/GP-BTTTT ngaøy 26/12/2012 Löông Ngoïc Quang Höng Soá 592/GP-BTTTT ngaøy 28/12/2016 GS.TS Leâ Quan Nghieâm GS.TS Mai Troïng Nhuaän trình baøy Giaù: 18.000ñ GS.TS Hoà Só Thoaûng Ñinh Thò Luaän In taïi Coâng ty TNHH in vaø DVTM Phuù Thònh Muïc luïc DIỄN ĐÀN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ 4 Phan Xuân Dũng: Giải pháp thúc đẩy ngành cơ khí chế tạo Việt Nam. 7 Lê Hải An: Những điểm mới của Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018. 9 Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Cẩm Nhung: Trước ngưỡng cửa nền kinh tế số. 13 Khổng Văn Minh: Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Cơ hội, thách thức và một số kiến nghị. 17 Vũ Xuân Thủy: Công nhận - Thành tố quan trọng của cơ sở hạ tầng chất lượng quốc gia. 19 Đinh Văn Nguyên, Nguyễn Xuân Hòa…: Cơ hội và thách thức trong phát triển điện gió ở Việt Nam. 23 Mai Ngọc Anh, Đỗ Thị Hải Hà…: Phát triển đại học đẳng cấp quốc tế: Kinh nghiệm của Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam. 27 Vũ Kim Dũng, Nguyễn Hoàng Oanh: Giảng dạy kinh tế học - Kinh nghiệm từ một trường đại học ở Áo. KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 30 l Startup Việt vô địch đấu trường quốc tế. 32 Trần Ngọc Hưng, Trần Anh Quân…: Ứng dụng công nghệ sấy hồng ngoại để sản xuất trà táo mèo và bột dinh dưỡng chùm ngây phục vụ xuất khẩu. 34 Nguyễn Chí Thanh: Nâng cao hiệu quả các công trình đập dâng vùng Tây Bắc bằng các giải pháp KH&CN phù hợp. 37 Vũ Văn Phán, Nguyễn Văn Quyết…: Mô hình liên thông, chia sẻ CSDL dùng chung tại Bộ KH&CN. 40 Trần Hoàng Anh: Đọc hiểu bản vẽ kỹ thuật nhờ sự trợ giúp của máy tính. 44 Nguyễn Hồng Vĩ: Hòa Bình: ứng dụng thành công tiến bộ KH&CN vào phát triển chăn nuôi gia cầm theo chuỗi giá trị bền vững. 47 Võ Thị Hảo: Phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Lâm Đồng. KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG 51 Nguyễn Trung Thắng, Hoàng Hồng Hạnh…: Chất thải rắn: Vấn đề nổi cộm của môi trường Việt Nam. 54 Nguyễn Xuân Chánh: Nhiên liệu nhiệt mặt trời - Công nghệ thu năng lượng mặt trời kiểu mới. 56 l Phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm bằng laser qua da. KH&CN NƯỚC NGOÀI 58 Nguyễn Ngọc Kim Vy: Nuôi cấy cơ quan thu nhỏ trong không gian 3 chiều: Xu hướng mới trong nghiên cứu y sinh. 61 l Giải pháp mới cho bài toán thu hồi phospho và tổng hợp phân bón tiết chậm.
  3. Vietnam Journal of Science, Technology and Engineering EDITORial council EDITOR - in - chief office Prof.Dr.Sc. Academician Nguyen Van Hieu Dang Ngoc Bao 113 Tran Duy Hung - Trung Hoa ward - Cau Giay dist - Ha Noi Prof. Dr Bui Chi Buu DEPUTY EDITOR Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 Nguyen Thi Hai Hang Email: khcnvn@most.gov.vn Prof. Dr.Sc Nguyen Dinh Duc Nguyen Thi Huong Giang Website: khoahocvacongnghevietnam.com.vn Prof. Dr.Sc Vu Minh Giang Assoc.Prof. Dr Trieu Van Hung head of editorial board publication licence Pham Thi Minh Nguyet No. 1153/GP-BTTTT 26th July 2011 Prof. Dr Pham Gia Khanh head of administration No. 2528/GP-BTTTT 26th December 2012 Prof. Dr Le Huu Nghia Luong Ngoc Quang Hung No. 592/GP-BTTTT 28th December 2016 Prof. Dr Le Quan Nghiem Prof. Dr Mai Trong Nhuan Art director Dinh Thi Luan Prof. Dr Ho Si Thoang Contents SCIENCE AND TECHNOLOGY FORUM 4 Xuan Dung Phan: Solutions to promoting Vietnam’s machinery engineering industry. 7 Hai An Le: New points of the revised Law on Higher Education 2018. 9 Duc Thanh Nguyen, Cam Nhung Nguyen: At the threshold of the digital economy. 13 Van Minh Khong: Vietnam’s intellectual properties in the context of international integration: opportunities, challenges and some recommendations. 17 Xuan Thuy Vu: Accreditation - A key factor of the national quality infrastructure. 19 Van Nguyen Dinh, Xuan Hoa Nguyen…: Opportunities and challenges in wind power development in Vietnam. 23 Ngoc Anh Mai, Thi Hai Ha Do…: Development of world-class universities: experiences from China and recommendations for Vietnam. 27 Kim Dung Vu, Hoang Oanh Nguyen: Teaching economics - experiences from a university in Austria. SCIENCE - TECHNOLOGY AND INNOVATION 30 l Vietnamese startup won the championship in an international arena. 32 Ngoc Hung Tran, Anh Quan Tran…: Applying infrared drying technology to produce Docynia indica tea and Moringa oleifera nutritious powder for export. 34 Chi Thanh Nguyen: Improving the efficiency of dams in the Northwest Vietnam using appropriate scientific and technological solutions. 37 Van Phan Vu, Van Quyet Nguyen…: The model of connecting and sharing databases at the Ministry of Science and Technology. 40 Hoang Anh Tran: Reading technical drawings through computer assistances. 44 Hong Vi Nguyen: Hoa Binh: Successfully applied scientific and technological progresses for the development of livestock farming in accordance with sustainable value chains. 47 Thi Hao Vo: Development of the high-tech agriculture in Lam Dong. SCIENCE AND LIFE 51 Trung Thang Nguyen, Hong Hanh Hoang…: Solid waste: A major problem of the Vietnamese environment. 54 Xuan Chanh Nguyen: Solar thermal fuel - A new solar collecting technology. 56 l Laser treatments on herniated discs via skin. THE WORLD SCIENCE AND TECHNOLOGY 58 Ngoc Kim Vy Nguyen: Cultivating miniature organs in 3D space: A new trend in biomedical researches. 61 l A new solution for the problem of recovering phosphorus and synthesizing slow release fertilizers.
  4. diễn đàn khoa học - công nghệ Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Giải pháp thúc đẩy ngành cơ khí chế tạo Việt Nam TSKH Phan Xuân Dũng Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Cơ khí chế tạo là ngành kinh tế - kỹ thuật có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, vừa là nền tảng, vừa là động lực cho sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau, bởi đây là ngành công nghiệp sản xuất ra máy móc, thiết bị cung cấp công cụ cho các ngành kinh tế khác. Theo tác giả, để đẩy mạnh phát triển ngành cơ khí chế tạo nước ta trong thời gian tới cần phải có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Mũi nhọn nhưng chưa mạnh hóa đất nước, công nghiệp cơ Nghiên cứu khoa học cơ khí chế khí được coi là khâu then chốt tạo (KC.05/06-10), Nghiên cứu Thực tế cho thấy, trên thế giới để phát triển nhanh và bền vững ứng dụng và phát triển công nghệ không có bất kỳ quốc gia nào thực các ngành công nghiệp chủ lực cơ khí, tự động hóa (KC.03/11- hiện thành công sự nghiệp công của Việt Nam. Trong những năm 15), Nghiên cứu ứng dụng và nghiệp hóa, hiện đại hóa mà lại không có ngành công nghiệp cơ vừa qua, Chính phủ đã có nhiều phát triển công nghệ vật liệu mới khí mạnh. Ở Việt Nam, cơ khí chế chính sách khuyến khích đầu tư, (KC.02/11-15), Chương trình phát tạo là một trong những ngành phát triển ngành công nghiệp hỗ triển sản phẩm quốc gia… Ngành được Đảng và Nhà nước ta luôn trợ, từng bước nội địa hoá linh cơ khí đã đầu tư, nâng cấp, mở đặt ở vị trí quan trọng, đã có nhiều kiện, phụ kiện để sản xuất sản rộng nhiều trung tâm nghiên cứu định hướng quan trọng và chiến phẩm hoàn chỉnh cho các doanh - triển khai, nhiều tổ chức khoa lược được ban hành, ưu tiên phát nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp học và công nghệ. Từ những tổ triển và kết quả là đã đạt được nước ngoài (FDI). Đây đang được chức này, nhiều công trình đã nhiều tiến bộ đáng ghi nhận. Thời coi là hướng đi tất yếu của các được ứng dụng, nhiều sản phẩm gian gần đây tỷ trọng giá trị sản doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt có trình độ cơ khí cao trước đây xuất công nghiệp cơ khí so với Nam trong quá trình hội nhập. phải nhập khẩu, thì đến nay đã tổng giá trị sản xuất toàn ngành Xét cả về trung hạn và dài hạn, được sản xuất trong nước hoặc tỷ công nghiệp tăng theo từng năm, không thể phủ nhận tầm quan lệ nội địa hóa đạt mức cao... một số phân ngành đã có sự trọng của ngành công nghiệp cơ Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến đáng kể, nhiều thiết khí, bởi công nghiệp cơ khí liên kết quả đã đạt được, ngành cơ bị đã được sản xuất trong nước1. quan tới hầu hết các ngành công khí chế tạo Việt Nam vẫn còn Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã nghiệp chế tạo quan trọng như nhiều hạn chế và tồn tại. Cơ làm chủ được một số công nghệ ôtô, xe máy, hóa dầu, điện, điện khí chế tạo chưa đóng vai trò là hiện đại, tiên tiến, góp phần nâng tử, chế tạo máy… Theo đó, ngành ngành công nghiệp nền tảng; cao năng lực nội sinh của ngành cơ khí chế tạo đã tạo ra nhiều sản chưa có khả năng cạnh tranh để cơ khí chế tạo. phẩm, công nghệ mới, hình thành phát triển trong hội nhập; chưa Trong tiến trình công nghiệp các doanh nghiệp mới với sức có nhiều công nghệ hiện đại để cạnh tranh được nâng cao trong tham gia chuỗi giá trị toàn cầu điều kiện kinh tế thị trường. 1 Thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà máy ở một số phân ngành; chưa có thủy điện, dây chuyền thiết bị cán thép xây Những kết quả của ngành cơ chiến lược đối với sự phát triển dựng công suất 30.000 tấn/năm, đã sản khí chế tạo thời gian qua không nhanh, bền vững để đáp ứng các xuất được máy biến áp đến 500 kVA và thể tách rời với các kết quả nghiên yêu cầu công nghiệp hóa của đất các thiết bị trạm biến áp đến 220 kV, các cứu khoa học và triển khai công nước; chưa tương xứng với tiềm cần cẩu siêu trường, siêu trọng, giàn khoan tự nâng 90 m nước, động cơ Vikino, máy nghệ của ngành. Đã có nhiều năng, trí tuệ Việt Nam trong lĩnh nông nghiệp xuất khẩu đi nhiều nước trên chương trình nghiên cứu khoa vực cơ khí chế tạo. Các đơn vị tư thế giới... học trọng điểm cấp nhà nước như vấn chưa làm chủ được thiết kế; 4 Soá 6 naêm 2019
  5. Diễn đàn khoa học - công nghệ các sản phẩm chuyên ngành, các linh, phụ kiện đòi hỏi độ chính xác cao chưa làm được. Tỷ lệ nội địa hóa ở các doanh nghiệp FDI là hàng nhập ngoại, kể cả đối với mới, thiếu chủ động chuyển đổi chưa cao2, khả năng đáp ứng của những sản phẩm chúng ta không cơ chế quản lý đồng bộ, còn nặng các doanh nghiệp cơ khí, chế tạo những làm được mà còn làm tốt tư tưởng quản lý bao cấp, chưa Việt Nam còn rất hạn chế. Tuy có hơn nhiều sản phẩm nhập khẩu. thực sự quan tâm đến việc đổi doanh nghiệp FDI mong muốn mới cơ chế quản lý theo hướng thị phối hợp với các nhà cung cấp Ba là, sự chỉ đạo của Nhà nước trường để đầu tư sản xuất, nghiên trong nước để giảm chi phí sản chưa quyết liệt, chưa chặt chẽ, sự cứu KH&CN, chuyển giao công xuất, nâng cao sức cạnh tranh phối hợp giữa các cơ quan, bộ, nghệ, tìm kiếm sản phẩm mới của sản phẩm, nhưng rất khó có ngành chưa đồng bộ, hiệu quả, đáp ứng thị trường trong nước và thể tìm được các nhà cung cấp chưa tạo động lực đủ mạnh để xuất khẩu3. thích hợp. Nhiều chính sách cho doanh nghiệp quan tâm đầu tư cho đổi mới và phát triển công Bảy là, các doanh nghiệp tư ngành cơ khí chế tạo và công nghệ. Vai trò quản lý, kiểm tra, nhân, hầu hết quy mô nhỏ bé, nghiệp hỗ trợ gặp khó khăn trong đề xuất và triển khai thực hiện cơ không đủ vốn để đầu tư vào lĩnh quá trình triển khai… chế chính sách phát triển ngành vực cơ khí chế tạo; năng lực về Nguyên nhân cơ khí chế tạo của các cơ quan quản lý, công nghệ… còn hạn chế quản lý nhà nước còn hạn chế, để thực hiện các dự án lớn, trong Một là, hệ thống pháp luật thiếu sự nhất quán, đặc biệt là về khi đó các doanh nghiệp còn hoạt về cơ khí chế tạo chưa thực sự cơ chế tài chính. động phân tán, khép kín trong nội hoàn thiện, phù hợp, có một số bộ, thiếu sự phối kết hợp giữa các nội dung chưa tạo sự bình đẳng Bốn là, quản lý nhà nước về doanh nghiệp, dẫn đến sản xuất giữa doanh nghiệp trong nước với lĩnh vực cơ khí chế tạo chưa được gặp khó khăn, chi phí sản xuất các doanh nghiệp FDI (như quy tập trung, quan tâm đúng mức. Từ cao, khả năng cạnh tranh thấp, định của Luật Đấu thầu, Luật Đầu chỗ có Bộ quản lý về cơ khí là Bộ chất lượng sản phẩm hạn chế. tư công…) làm cho doanh nghiệp Cơ khí và Luyện kim, hiện nay chỉ trong nước khó cạnh tranh được còn 2 - 3 nhân viên theo dõi tại Bộ Tám là, các doanh nghiệp với doanh nghiệp nước ngoài Công thương. chưa chủ động tham gia hội nhập trong đấu thầu các dự án. Nhà kinh tế quốc tế. Năng lực nghiên Năm là, các chủ đầu tư các dự cứu phát triển hạn chế, vì vậy, nước chưa có cơ chế, chính sách án sử dụng vốn trong nước chưa đủ mạnh để khuyến khích các mặc dù năng lực chế tạo có thể tạo điều kiện cho các nhà thầu đảm nhận được tỷ lệ nội địa hóa doanh nghiệp trong nước đầu tư, trong nước tham gia các gói thầu. nghiên cứu, đổi mới công nghệ lớn, nhưng vẫn phải làm gia công Có nhiều dự án chúng ta hoàn cho nước ngoài. Sự phối hợp giữa trong thiết kế, sản xuất, gia công toàn làm chủ về công nghệ để các sản phẩm cơ khí. các doanh nghiệp trong nước, triển khai thì doanh nghiệp nước đặc biệt là giữa tổ chức tư vấn Hai là, Việt Nam là thị trường cơ ngoài với các lý do khác nhau vẫn thiết kế và nhà chế tạo, giữa các khí rất lớn, khoảng 40 tỷ USD/năm trúng thầu, thậm chí công nghệ doanh nghiệp chế tạo với nhau nhưng thị phần của doanh nghiệp của họ còn lạc hậu hơn. Phần lớn nhằm khai thác hết tiềm năng, Việt Nam được tham gia còn rất gói thầu cung cấp thiết bị cơ khí thế mạnh từng doanh nghiệp còn thấp. Chi tiêu công là ưu thế để cơ cần lượng vốn lớn, nên chủ đầu rất hạn chế, dẫn đến đầu tư trùng khí phát triển nhưng vẫn chủ yếu tư thường áp dụng hình thức thu lắp, giảm hiệu quả. xếp vốn từ chính nhà thầu cung cấp thiết bị nước ngoài, dẫn đến Chín là, doanh nghiệp thiếu 2 Theo thông tin được ông Atsusuke Kawada vốn để đầu tư có chiều sâu, đổi khả năng để các doanh nghiệp - Trưởng đại diện Văn phòng Tổ chức xúc cơ khí trong nước được thực hiện mới công nghệ hoặc để đầu tư tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội đưa ra trong “Diễn đàn phát triển các các gói thầu là rất khó. nhằm tạo ra sản phẩm mới có ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế Sáu là, trong bối cảnh quy mô 3 Yêu cầu thị trường về cơ khí chế tạo của hệ mới”: tỷ lệ nội địa hóa của các doanh và trình độ phát triển nền kinh Việt Nam mỗi năm khoảng 40 tỷ USD nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam năm 2015 là tế của Việt Nam còn thấp, các nhưng sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng 32,1%, trong khi tại Trung Quốc là 64,7%. doanh nghiệp nhà nước chậm đổi khoảng 30-40%. 5 Soá 6 naêm 2019
  6. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngành, lĩnh vực như: sản xuất máy mạnh về cơ khí chế tạo để nâng ngày càng cao của thị trường công cụ phục vụ phát triển nông cao năng lực quản lý và chỉ đạo trong và ngoài nước. Thiếu các nghiệp; đẩy mạnh hoạt động thiết của Nhà nước trong lĩnh vực này. tổng công trình sư hoặc kỹ sư kế, chế tạo máy cái để hạn chế Nhiều chuyên gia cho rằng, ít nhất trưởng cho các dự án thiết bị toàn nhận gia công cho doanh nghiệp phải có một ban về cơ khí chế tạo bộ; thiếu lực lượng nghiên cứu phát nước ngoài; chế tạo, sản xuất hoặc một cục quản lý nhà nước về triển, trước hết là lực lượng thiết kế, trang thiết bị phục vụ phát triển vấn đề này. chế tạo. kinh tế biển, công nghiệp đường (7) Có chiến lược đào tạo, phát sắt, sân bay, bến cảng; củng cố, Giải pháp phát triển triển nguồn nhân lực chất lượng phát triển ngành công nghiệp vật cao nhằm thay thế đội ngũ cán bộ Hiện nay, KH&CN đang phát liệu, các nhà máy luyện kim phục kỹ thuật được đào tạo bài bản ở triển với một tốc độ nhanh chưa vụ cho sản xuất cơ khí, chế tạo. nước ngoài trước đây, nay đã đến từng có, đạt đến một trình độ mà (3) Phải coi chi tiêu công là hộ tuổi nghỉ hưu. Đào tạo đội ngũ kỹ chỉ một thời gian ngắn trước đó tiêu thị lớn của ngành cơ khí Việt sư, công nhân có tay nghề, có cũng không thể tưởng tượng nổi Nam. Chi tiêu công của Việt Nam kỹ thuật cao; sử dụng, cập nhật - KH&CN của cuộc cách mạng là thị trường lớn, đầy tiềm năng. phần mềm, công nghệ, máy móc công nghiệp lần thứ 4, nhưng Có thị trường này, cơ khí Việt Nam hiện đại để thiết kế, chế tạo và trình độ KH&CN của nước ta hiện sẽ phát triển. Muốn vậy phải ưu sản xuất, kinh doanh. nay còn thấp so với nhiều nước tiên sử dụng sản phẩm được tạo trên thế giới và một số nước trong ra trong nước trong mua sắm, (8) Cần tạo điều kiện cho doanh khu vực; năng lực sáng tạo công đầu tư công liên quan đến lĩnh nghiệp cơ khí chế tạo trong nước nghệ mới còn hạn chế…, ngành vực công nghiệp hỗ trợ và cơ khí tham gia thực hiện các dự án đầu cơ khí chế tạo chưa đáp ứng yêu chế tạo. tư lớn của Nhà nước (như sân bay cầu của sự nghiệp công nghiệp Long Thành, đường sắt cao tốc…); hóa, hiện đại hóa đất nước và (4) Xây dựng cơ chế, chính sách tiếp cận, học hỏi, chuyển giao mong mỏi, nguyện vọng của đặc thù cho hoạt động nghiên cứu công nghệ từ các doanh nghiệp người dân. Để thúc đẩy phát triển trong lĩnh vực công nghệ, sản phẩm nước ngoài để nâng cao trình độ cơ khí chế tạo, một số giải pháp mũi nhọn; lựa chọn ngành và lĩnh phát triển của cơ khí chế tạo Việt lớn cần được quan tâm cụ thể là: vực sản phẩm để phát triển theo lộ Nam. trình. Xây dựng cơ chế phối hợp tốt (1) Cần có quan điểm rõ ràng giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà (9) Các doanh nghiệp cơ khí cần về vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng đổi mới tư duy, xây dựng chiến lược, khoa học và nhà tiêu dùng, trong của cơ khí chế tạo trong chiến lược giải pháp phát triển phù hợp, từng đó lấy nhà tiêu dùng, thị trường làm phát triển kinh tế - xã hội của đất bước làm chủ KH&CN, chủ động về trung tâm. nước, đưa nước ta trở thành nước nguồn vốn đầu tư để có được sản công nghiệp hiện đại. Theo đó, (5) Nâng cao vai trò của Nhà phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường trong chủ trương, đường lối, văn nước trong việc định hướng, tạo trong nước, tiếp cận tiêu chuẩn của kiện của Đại hội Đảng toàn quốc điều kiện cho phát triển cơ khí chế thị trường khu vực và quốc tế. Đẩy lần thứ XIII; Chiến lược phát triển tạo thông qua các chính sách về mạnh liên doanh, liên kết giữa các kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030; thuế, đất đai, tín dụng, đào tạo doanh nghiệp cơ khí chế tạo trong Kế hoạch 5 năm 2021-2025 phải cán bộ; xây dựng các hàng rào kỹ nước; phát huy vai trò dẫn dắt, liên nêu được các giải pháp, lộ trình thuật để bảo hộ “mềm” cho các kết của các doanh nghiệp lớn trong và bước đi phù hợp để dần khôi doanh nghiệp cơ khí chế tạo trong lĩnh vực cơ khí chế tạo; tăng cường phục lại và nâng nhanh vị thế của nước phát triển, ngăn chặn đưa hợp tác với doanh nghiệp nước ngành cơ khí chế tạo Việt Nam, công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm ngoài để nâng cao năng lực điều một ngành đã từng đứng đầu khu môi trường vào Việt Nam; tạo môi hành, quản lý, tiếp nhận công nghệ vực Đông Nam Á. trường cạnh tranh bình đẳng giữa cao, công nghệ mới, công nghệ tiên các doanh nghiệp trong nước và (2) Xây dựng chiến lược về phát tiến để áp dụng vào sản xuất, kinh các doanh nghiệp đầu tư nước triển cơ khí chế tạo trên cơ sở khai doanh ? ngoài. thác thế mạnh của Việt Nam về nguồn nhân lực, về thị trường rất (6) Tái thành lập ít nhất là một tiềm năng… gắn với phát triển của cơ quan quản lý nhà nước đủ 6 Soá 6 naêm 2019
  7. Diễn đàn khoa học - công nghệ Những điểm mới của Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 Lê Hải An Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, Luật Giáo dục đại học (GDĐH) sửa đổi 2018 (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi) đã được thông qua và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019. Luật sửa đổi được kỳ vọng sẽ góp phần đưa GDĐH nước ta lên một vị thế xứng tầm, cũng như đáp ứng kịp sự phát triển của kinh tế - xã hội trong giai đoạn phát triển mới. Sau đây là một số điểm mới căn bản của Luật sửa đổi. Hệ thống khái niệm mới và các quy định giáo dục nghề nghiệp), Luật sửa đổi miễn là đáp ứng đầy đủ các quy đột phá còn định nghĩa lại khái niệm “cơ sở định của Chính phủ hoặc trên cơ sở GDĐH công lập” theo xu hướng tự tự nguyện hay được Nhà nước quy Luật sửa đổi đã đưa vào hệ thống chủ tài chính, theo đó được “Nhà định sáp nhập thành các đại học. khái niệm cập nhật, phù hợp với xu nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt Nếu xét theo loại hình sở hữu gồm thế phát triển của GDĐH trong giai động và đại diện chủ sở hữu; quy công lập và tư thục và xét theo mục đoạn phát triển mới. Trước hết, Luật định và phân biệt “cơ sở GDĐH tư tiêu phát triển, định hướng hoạt động thống nhất chung các tổ chức thực thục” với “cơ sở GDĐH tư thục hoạt phân thành đại học theo định hướng hiện chức năng đào tạo trình độ động không vì lợi nhuận” theo xu nghiên cứu và định hướng ứng dụng. của GDĐH là “cơ sở GDĐH”; phân hướng mở cửa cho nhà đầu tư nước biệt “trường đại học” và “đại học”. Hai là, tạo ra sự bình đẳng giữa ngoài trong lĩnh vực GDĐH. Mặt Luật sửa đổi còn định nghĩa phân cơ sở GDĐH công lập và tư thục, khác, Luật sửa đổi còn quy định sửa biệt “đơn vị trực thuộc” và “đơn vị thúc đẩy sự phát triển của GDĐH tư đổi, bổ sung ngắn gọn, cụ thể các thuộc” trong cơ cấu tổ chức của thục. Cụ thể, sự bình đẳng thể hiện nguyên tắc quy hoạch mạng lưới cơ cơ sở GDĐH. Khái niệm “quyền trong các khía cạnh như: tiếp cận sở GDĐH đáp ứng các điều kiện: 1) tự chủ” đi đôi với “trách nhiệm giải ngân sách (Điều 12, Điều 65); chính Sử dụng hiệu quả nguồn lực; 2) Xây trình” của cơ sở GDĐH; hay cụm từ sách cho giảng viên (Điều 12, Điều dựng hài hòa hệ thống GDĐH công “quyền chủ động” đổi thành “quyền 54, Điều 55); không phân biệt về cơ lập và tư thục; 3) Phát triển cơ sở tự chủ” trong Luật sửa đổi đã làm rõ hội phát triển, địa vị pháp lý, nhiệm GDĐH tư thục hoạt động không vì hướng tự chủ trong hoạt động của cơ vụ, quyền hạn, tên gọi… lợi nhuận; 4) Tạo cơ chế hình thành sở GDĐH. Cùng với đó, Luật đã có Ba là, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng đại học, các trung tâm đại học lớn cụm từ “trách nhiệm giải trình” thay về quyền tự chủ và trách nhiệm giải của đất nước, đáp ứng nhu cầu học cho cụm từ “tự chịu trách nhiệm” trình của cơ sở GDĐH. Cụ thể, các tập của nhân dân, thực hiện mục hay “trách nhiệm xã hội” chưa rõ nội tiêu phát triển bền vững, phục vụ sự điều kiện để một cơ sở GDĐH được hàm trước đó. Yếu tố doanh nghiệp nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại thực hiện quyền tự chủ gồm: i) Đã ở Luật sửa đổi xuất hiện trong cơ hóa và hội nhập quốc tế. thành lập hội đồng trường/hội đồng cấu, tổ chức của cơ sở GDĐH làm đại học; đã được công nhận đạt cho các cơ sở GDĐH có xu hướng Về tổng thể, Luật sửa đổi có 8 chuẩn chất lượng cơ sở GDĐH bởi tổ chuyển đổi từ chỗ đang hoạt động điểm mới cơ bản: chức kiểm định chất lượng giáo dục gần như một đơn vị hành chính sang Một là, xác định rõ hệ thống cơ hợp pháp; ii) Đã ban hành và tổ chức mô hình dịch vụ, chú trọng chuyển sở GDĐH tiệm cận với xu hướng thực hiện quy chế, quy định; quy chế giao công nghệ, đảm bảo phù hợp quốc tế, phù hợp với thực tiễn ở Việt tài chính; quy chế, quy trình, quy với các luật khác như Luật KH&CN Nam. Trong đó, xét theo hệ thống định quản lý nội bộ khác và có chính 2013... gồm: trường đại học (học viện), đại sách bảo đảm chất lượng đáp ứng Bên cạnh việc quy định thống học (Điều 4, Điều 7, Điều 14, Điều tiêu chuẩn do Nhà nước quy định; nhất GDĐH gồm các trình độ: đại 15, Điều 37). Luật cũng quy định iii) Thực hiện phân quyền tự chủ và học, thạc sĩ, tiến sĩ (trình độ cao các trường đại học có thể tự phát trách nhiệm giải trình đến từng đơn đẳng được phân loại trong nhóm triển, thành lập các trường/đại học vị/cá nhân trong cơ sở GDĐH; iv) 7 Soá 6 naêm 2019
  8. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Công khai điều kiện bảo đảm chất chuẩn GDĐH như chuẩn chương hợp cho việc áp dụng Luật sửa đổi, lượng, kết quả kiểm định, tỷ lệ sinh trình, chuẩn giảng viên, chuẩn kiểm từ đó tạo ra vận hội mới cho các cơ viên tốt nghiệp có việc làm và thông định chất lượng, chuẩn đầu ra theo sở GDĐH ở nước ta thực hiện vai tin khác theo quy định của pháp luật. trình độ quốc gia… nhằm tạo không trò tích cực của mình, đóng góp cho gian thống nhất trong toàn hệ thống kinh tế - xã hội, khoa học và công Bốn là, mở rộng phạm vi, nâng GDĐH trong nước, tiệm cận chuẩn nghệ đất nước cũng như thúc đẩy cao hiệu quả tự chủ đại học, gắn với quốc tế. cả hệ thống GDĐH phát triển ngày trách nhiệm giải trình. Trong đó 3 nội dung “tự chủ” của cơ sở GDĐH Tám là, đổi mới quản lý nhà nước càng mạnh mẽ. Về phía địa phương gồm: hoạt động chuyên môn và học trong điều kiện tự chủ đại học. Luật và doanh nghiệp, cần tạo điều kiện thuật (mở ngành, tuyển sinh, đào sửa đổi đã quy định để thực hiện tự cho các trường đại học trong triển tạo, khoa học và công nghệ, hợp chủ đại học, Nhà nước quản lý theo khai Luật, đặc biệt là phần tài sản tác quốc tế); tổ chức, nhân sự (cơ pháp luật với hệ thống tiêu chuẩn và các hỗ trợ có liên quan. Về phía cấu tổ chức, cơ cấu lao động; danh chất lượng, hướng dẫn thực hiện và các cơ sở GDĐH, cần nghiên cứu kỹ mục, tiêu chuẩn, chế độ của từng thực hiện giám sát, thanh tra, kiểm các nội dung, tinh thần tự chủ của vị trí việc làm, quyết định nhân sự tra và xử lý vi phạm; về phía cơ sở Luật sửa đổi, tuyên truyền, tập huấn quản trị quản lý trong nhà trường…); GDĐH thực hiện tự chủ theo chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng được quy định cho cán bộ, giảng viên nắm bắt đầy tài chính và tài sản (mức thu học đủ và kịp thời nội dung của Luật sửa phí và dịch vụ, quản lý và sử dụng và đã cam kết, đồng thời có trách nhiệm công khai, minh bạch thông đổi; xây dựng, ban hành chiến lược, các nguồn tài chính, tài sản; thu hút tin và thực hiện trách nhiệm giải quy chế tổ chức và hoạt động, quy nguồn vốn đầu tư phát triển…). trình theo quy định. chế tài chính; đồng thời rà soát bổ Năm là, đổi mới quản trị đại học, sung hệ thống văn bản, quy định đảm bảo thực quyền của hội đồng Triển khai áp dụng Luật của cơ sở cho phù hợp với các quy trường với vai trò là cơ quan quản Luật sửa đổi đã nhận được sự định mới; phát triển hệ thống bảo trị hiệu quả phù hợp với thông lệ quan tâm và đánh giá cao của các đảm chất lượng bên trong, đăng ký quốc tế. Cụ thể là, hiệu trưởng cơ nhà quản lý và toàn xã hội. Tuy kiểm định và triển khai các giải pháp sở GDĐH công lập do hội đồng nhiên, trong thời gian tới, để có nâng cao chất lượng. Mặt khác, các trường, hội đồng đại học quyết định thể áp dụng thành công trong thực cơ sở GDĐH cần sớm kiện toàn bộ và được cơ quan quản lý có thẩm tiễn, còn nhiều công việc cần tiếp máy quản trị, quản lý, đặc biệt là quyền công nhận. Hội đồng trường tục được triển khai. Đối với Chính phát huy vai trò của hội đồng trường, có thẩm quyền quy định chiến lược, phủ, trong thời gian tới sẽ sớm triển quy chế tổ chức hoạt động, quy chế hiệu trưởng trong các mặt hoạt động khai ban hành các Nghị định có liên của nhà trường, tổ chức thực hiện tài chính… quan để tạo ra sự đồng bộ của Luật các hoạt động theo thẩm quyền tự Sáu là, đổi mới cơ chế quản lý tài sửa đổi với văn bản hướng dẫn thi chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình chính, tài sản. Các cơ sở GDĐH tự hành, như: Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số đã được đề cập trong Luật sửa đổi. chủ xây dựng và quyết định mức học phí đảm bảo tương xứng với chất điều của Luật sửa đổi; Nghị định Với sự nỗ lực, ủng hộ của các cơ lượng đào tạo và công bố công khai; tự chủ đối với các trường công lập; quan quản lý nhà nước đồng bộ từ được sử dụng tài sản công vào kinh đồng thời tiến hành triển khai việc trung ương tới địa phương, sự tích doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết xây dựng, thực hiện các chính sách cực chủ động từ phía các trường theo quy định của pháp luật nhằm cho phát triển hệ thống GDĐH theo đại học cùng sự đóng góp của cộng mục đích phát triển GDĐH. Nhà xu hướng quốc tế và thúc đẩy các đồng xã hội, các doanh nghiệp, tin nước có nhiệm vụ phân bổ ngân cơ sở GDĐH tự chủ. Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo, sớm rà soát tưởng rằng, trong giai đoạn tới, nền sách và nguồn lực theo nguyên tắc GDĐH Việt Nam sẽ bước vào một cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả và lại hệ thống văn bản có liên quan, các quy chế về tuyển sinh và đào giai đoạn hội nhập mạnh mẽ và ưu tiên đầu tư phát triển một số cơ vững chắc, góp phần đưa kinh tế - tạo cho phù hợp với Luật. Bên cạnh sở GDĐH, ngành đào tạo mang tầm xã hội đất nước phát triển ổn định và đó, chuẩn bị quy hoạch mạng lưới khu vực, quốc tế và cơ sở đào tạo các cơ sở GDĐH và sư phạm; xây ngày càng phồn vinh ? giáo viên chất lượng cao. dựng các đề án sáp nhập, giải thể, Bảy là, đổi mới quản lý đào tạo. sắp xếp lại các cơ sở này nhằm tạo Luật sửa đổi quy định xây dựng các điều kiện đầy đủ, thuận lợi và phù 8 Soá 6 naêm 2019
  9. Diễn đàn khoa học - công nghệ Trước ngưỡng cửa nền kinh tế số PGS.TS Nguyễn Đức Thành, TS Nguyễn Cẩm Nhung Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội “Trước ngưỡng cửa nền kinh tế số” là chủ đề của Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam năm 2019 đã được Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố vào tháng 5/2019. Báo cáo năm 2019 tập trung đánh giá tổng thể khả năng chuyển đổi nền kinh tế số của Việt Nam với quan điểm cho rằng cần phải định vị được Việt Nam đang ở đâu trên lộ trình hướng tới tương lai nền kinh tế số để có những giải pháp và chiến lược tổng thể. Một năm với kết quả ấn tượng của Lạm phát trong năm 2018 tiếp trị khu vực và toàn cầu. Chính kinh tế vĩ mô tục xu hướng thấp của những sách mở cửa thương mại và đầu năm trước. Tuy nhiên, tình hình tư đã giúp Việt Nam kết nối nhanh Tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đảo chiều khi sức ép lạm phát vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam trong năm 2018 của Việt Nam đạt bắt đầu gia tăng mạnh kể từ đầu trở thành công xưởng của châu 7,08%, mức cao nhất trong 10 quý II/2019 sau những điều chỉnh năm trở lại đây. Trong đó, khu vực Á thông qua chuyên môn hoá giá năng lượng của Chính phủ từ chức năng lắp ráp cho các công công nghiệp và xây dựng có mức đầu năm. Theo đà tăng của lạm tăng trưởng cao nhất, với động lực ty nước ngoài. Cơ cấu xuất khẩu phát kỳ vọng, lãi suất tại các ngân của Việt Nam cho thấy các ngành chính là ngành công nghiệp chế hàng thương mại đã bắt đầu tăng biến chế tạo. lắp ráp và chế biến thống trị tổng sau khi có sự ổn định trong cả giá trị xuất khẩu với 42% và 40% Tính đến hết năm 2018, chỉ số năm 2018. Ngân hàng thương mại năm 2015; trong khi tỷ trọng này nhà quản trị mua hàng (PMI) có hiện chưa có sự thay đổi nào đối lần lượt chỉ là 11% và 41% năm tháng thứ 37 ở mức trên 50 điểm. với các công cụ chính sách nhưng 2006. Các nhà sản xuất hàng Xu hướng này còn tiếp tục trong điều này có thể thay đổi nếu lạm đầu như Samsung Electronics, những tháng đầu năm 2019, đánh phát tiếp tục gia tăng. Tăng trưởng LG Electronics, IBM, Nokia và dấu sự mở rộng liên tiếp của khu tín dụng có xu hướng chậm lại một phần là nhờ sự phát triển của thị Intel đã đến đầu tư ở Việt Nam. vực sản xuất. Doanh số bán lẻ, trường trái phiếu doanh nghiệp. Tuy nhiên, các công ty ở Việt Nam đầu tư toàn xã hội hay thương mại Công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn chủ yếu nhập khẩu các sản quốc tế đều có sự tăng trưởng khá và nông nghiệp là những lĩnh vực phẩm trung gian từ các chi nhánh ấn tượng trong năm. Trong đó, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng của công ty đó ở nước ngoài, tạo khu vực FDI thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu vốn tín dụng của năm. ra hiện tượng tham gia mạnh các đầu tư toàn xã hội và thương mại liên kết ở phía sau, hay còn gọi là Với những rủi ro và thuận lợi liên kết ngược của Việt Nam trong quốc tế. Thặng dư thương mại đan xen trên thị trường quốc tế năm 2018 cao gấp gần 3 lần so chuỗi giá trị toàn cầu. Ngoài sản cũng như trong nước, dự báo trong phẩm điện tử,Việt Nam cũng tham với năm 2017 với các mặt hàng năm 2019, kinh tế Việt Nam có xuất khẩu chủ lực bao gồm điện gia tích cực vào chuỗi giá trị toàn thể đạt được tốc độ tăng trưởng ở thoại và linh kiện, dệt may... Mỹ cầu ở những ngành thâm dụng lao mức 6,7-6,8%, trong khi lạm phát là thị trường xuất khẩu lớn nhất, động như thực phẩm, đồ uống, dệt có thể lên tới 4-5%. trong khi Trung Quốc dẫn đầu thị may và giày dép. trường nhập khẩu. Chuỗi giá trị toàn cầu và cuộc cách Trong chuỗi giá trị toàn cầu, mạng công nghiệp 4.0 giá trị được tạo nên qua sự kết hợp Giải ngân FDI trong năm đạt mức cao kỷ lục, tuy nhiên vốn giải Kết nối là yếu tố quan trọng của các yếu tố đầu vào, bao gồm ngân lại có dấu hiệu tăng chậm nhằm gia tăng sự tham gia của yếu tố có nguồn gốc địa phương hơn những năm trước một cách một quốc gia vào thị trường toàn và yếu tố được nhập khẩu. Do đáng kể. cầu, đặc biệt thông qua chuỗi giá đó, việc tính toán “giá trị gia tăng 9 Soá 6 naêm 2019
  10. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ phải được tháo gỡ của Việt Nam nếu muốn duy trì tăng trưởng bền vững dựa vào xuất khẩu. Cách thức Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu: chúng ta chủ yếu tham gia các liên kết sau ở các ngành máy tính và đồ điện tử, dệt may, giày dép, thực phẩm và đồ uống, máy móc điện. Các ngành công nghiệp này nằm ở các khâu trung nguồn của chuỗi giá trị, có nghĩa là chúng đóng góp phần lớn vào tổng giá trị xuất khẩu, nhưng lại tạo ra giá trị gia tăng rất nhỏ cho nội địa. Kịch bản tốt cho Việt Nam là phát triển chiến lược lắp ráp gắn với chiến lược phát triển năng lực công nghiệp nội địa và nền tảng công nghệ quốc gia; trong thương mại” của một sản thập kỷ và gặt hái được những lợi nâng cấp sự tham gia của Việt phẩm xuất khẩu đồng nghĩa với ích về việc làm, dự trữ ngoại hối Nam vào chuỗi giá trị (nâng cấp sự phân chia giá trị gia tăng thành và cải thiện mức sống. Tuy nhiên, sản phẩm, quy trình, chức năng, “giá trị trong nước” và “giá trị nước câu hỏi được đặt ra là Việt Nam toàn ngành…) để chuyển vai trò ngoài”. Cách phân chia này giúp có thể duy trì mô hình tăng trưởng từ “trung gian lắp ráp” thành “nhà chúng ta xác định vị trí của một này trong bao lâu? Để trả lời câu sản xuất”. quốc gia trong chuỗi giá trị toàn hỏi đó, chúng ta cần phân tích hai cầu, cho biết quốc gia đó tham khía cạnh đe dọa nghiêm trọng Tương lai xa hơn, trong nỗ lực gia chuỗi giá trị toàn cầu ở liên tới sự tăng trưởng kinh tế bền thực hiện chiến lược “Công nghiệp kết phía sau với tư cách quốc gia vững dựa vào xuất khẩu của nền 4.0 tại Việt Nam”, Chính phủ kỳ nhập khẩu sản phẩm trung gian, kinh tế Việt Nam: thứ nhất, nút vọng công nghiệp 4.0 được áp hay ở liên kết phía trước với tư thắt nội sinh trong mô hình tăng dụng để nâng cấp “vị trí sản xuất” cách quốc gia cung cấp sản phẩm trưởng dựa vào xuất khẩu; và thứ của quốc gia lên một tầm cao trung gian cho các quốc gia khác hai, cách thức Việt Nam tham gia mới. Theo nhận định của Viện sản xuất hàng xuất khẩu. chuỗi giá trị toàn cầu. Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, việc định hướng sang công Về cơ cấu thương mại theo Nút thắt nội sinh của mô hình nghiệp 4.0 có thể giúp GDP Việt chủng loại cho thấy, tỷ lệ sản phẩm tăng trưởng dựa vào xuất khẩu: Nam tăng thêm từ 28,5 tỷ USD trung gian trong cơ cấu nhập khẩu mô hình tăng trưởng dựa vào xuất lên 62,1 tỷ USD vào năm 2030, của Việt Nam khá lớn (47,9%) so khẩu của Việt Nam có những tương đương với tăng từ 7% GDP với tỷ lệ tương tự trong cơ cấu xuất điểm trùng với mô hình tăng hiện tại lên đến 16% trong tương khẩu. Điều đó có nghĩa là Việt trưởng dựa vào xuất khẩu của lai. Ngoài ra, thu nhập bình quân Nam đã tham gia mạnh ở liên kết Mexico, trở thành trung tâm sản đầu người của Việt Nam cũng phía sau hơn là phía trước trong xuất hàng xuất khẩu cho các công sẽ tăng thêm 315 đến 640 USD. chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tế cho ty đa quốc gia để chủ yếu nhận về Trong công nghiệp 4.0, máy móc thấy, Việt Nam đang trở thành lương nhân công thay vì phát triển sẽ tự giao tiếp theo thời gian thực, trung tâm lắp ráp cho các mặt năng lực cho công nghiệp trong sản phẩm và hoạt động hậu cần hàng thiết bị điện tử, máy tính, linh nước. Mô hình chiến lược tăng tự tương tác sẽ giúp tăng năng kiện điện tử, dệt may và giày dép. trưởng do xuất khẩu mà Mexico suất và hiệu quả tổng thể, từ đó Nhờ vào mô hình tăng trưởng I2E thực hiện khác với mô hình được giúp tăng khả năng cạnh tranh về (nhập khẩu cho xuất khẩu), Việt áp dụng bởi Đức, Nhật Bản hay mặt chi phí. Tuy nhiên, đồng nghĩa Nam đã liên tục đạt được tăng “Bốn con hổ châu Á” hoặc Trung với cơ hội này cũng sẽ là những trưởng kinh tế cao xuyên suốt một Quốc đã triển khai. Đây là nút thắt thách thức. Ví dụ, việc sử dụng 10 Soá 6 naêm 2019
  11. Diễn đàn khoa học - công nghệ hệ thống robot sẽ làm giảm lợi thế chi phí của các nước chuyên môn hoá ở khâu sản xuất với chi phí lao động thấp, ảnh hưởng đến cơ hội việc làm có lương lao động thấp ở các nước này. Không chỉ có vậy, việc tăng cường áp dụng công nghệ sản xuất mới (ví dụ như in 3D) sẽ làm dịch chuyển các nhà máy sản xuất gần hơn với các khách hàng cuối cùng. Sự lan rộng của công nghiệp phụ trợ sẽ làm giảm thương mại hàng hóa và sự sẵn có nguyên liệu thô của địa phương cũng sẽ làm giảm thương mại hàng hóa trung gian. Do đó, việc áp dụng công nghiệp 4.0 có tranh cao về chi phí lao động. Với nghề thấp, chủ yếu sản xuất các khả năng xác định lại vai trò của những lý do tích cực này, rủi ro chỉ mạch tích hợp, thiết bị bán dẫn và các quốc gia tham gia chuỗi giá xảy ra khi quy trình sản xuất được bảng mạch in. Do tính chất lặp đi trị toàn cầu. Nhìn lại hai nội dung tự động hóa trong các ngành sản lặp lại của công việc lắp ráp, trong quan trọng trong mô hình tăng xuất vốn quan trọng với Việt Nam tương lai, phần lớn công nhân trưởng của Việt Nam (mô hình như dệt may, giày dép và điện tử. đang hưởng lương sẽ bị rủi ro thất tăng trưởng dựa vào xuất khẩu; sự Nếu trường hợp đó xảy ra, Việt nghiệp bởi sự gia tăng tự động tham gia của Việt Nam vào chuỗi Nam phải nhanh chóng trở thành hóa trong những thập kỷ tới. giá trị toàn cầu được dẫn dắt chủ nơi quản trị toàn bộ chuỗi giá trị Ngược lại, kịch bản tương lai yếu bởi các công ty đa quốc gia) thì lợi ích cuộc cách mạng công toàn cầu chứ không đơn thuần chỉ của lĩnh vực nông nghiệp lại lạc nghiệp 4.0 dường như không mấy tham gia một vài khâu được điều quan nhờ việc áp dụng cơ giới lạc quan. khiển bởi các công ty đa quốc gia hóa, tự động hóa, giúp chúng ta như hiện tại. Mô hình như Hàn tăng năng suất và đa dạng hóa Tự động hóa nhiều hơn trong Quốc và Đài Loan đã chứng minh quy trình sản xuất sẽ làm dịch kinh tế nông thôn. Các ngành sự thành công này. công nghiệp ô tô, thực phẩm và chuyển công việc từ thị trường lao động tay nghề thấp sang thị Báo cáo quốc gia của Tổ chức đồ uống có mức độ biến thể sản trường lao động có tay nghề cao, lao động thế giới (ILO) năm 2016 phẩm cao cũng sẽ được hưởng lợi và mô hình tích hợp quy trình sản cho thấy, khoảng 17% trong tổng từ mức độ linh hoạt cao hơn. Các xuất cuối cùng sẽ đưa các nhà số lực lượng 54 triệu lao động tham ngành công nghiệp như chất bán máy sản xuất đến gần với khách gia vào lĩnh vực sản xuất chế biến dẫn, dược phẩm, thực phẩm và hàng hơn. Việt Nam sẽ gặp rủi ro tại Việt Nam, trong đó dệt may, đồ uống đòi hỏi chất lượng cao sẽ nếu các công ty đa quốc gia đang giày dép đóng góp 36% và ngành được hưởng lợi từ hệ thống phân hoạt động tại Việt Nam rời đi vì điện, điện tử chiếm gần 5%. Mặc tích dữ liệu của công nghiệp 4.0. một hoặc cả hai mục đích đó. Tuy dù triển vọng hiện tại của hai lĩnh vực này rất tốt, nhưng trong trung Không thực hiện chuyển đổi số: rủi ro nhiên, có nhiều lý do để tin rằng, lớn trong bối cảnh cách mạng công các công ty đa quốc gia không và dài hạn, những tiến bộ trong nghiệp 4.0 muốn chuyển sản xuất ra khỏi công nghệ mới và tự động hóa có Việt Nam, bởi vị trí chiến lược của thể mang lại những thay đổi đáng Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam tại Đông Á, bởi lợi ích kể. ILO ước tính, 86% công nhân với đặc trưng trọng yếu nhất là kỹ và sự tham gia của Việt Nam vào làm việc trong ngành dệt may sẽ thuật số đang diễn ra mạnh mẽ, một số Hiệp định thương mại ưu phải đối mặt với rủi ro vì tự động làm thay đổi một cách sâu rộng đãi (PTA) nếu được phê chuẩn sẽ hóa. Tương tự, hầu hết các nhà nền kinh tế thế giới trên mọi khía cho phép Việt Nam miễn thuế khi máy sản xuất đồ điện tử tại Việt cạnh của đời sống kinh tế - xã thâm nhập vào các thị trường quan Nam đều nhằm mục tiêu sản xuất hội. Cuộc cách mạng này đang trọng như Mỹ và EU - nơi cạnh chi phí thấp với nhân công tay tạo ra những thay đổi căn bản về 11 Soá 6 naêm 2019
  12. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ nguồn lực cho phát triển kinh tế, là vấn đề vô cùng quan trọng kiện cũng như nắm bắt được khả năng phá vỡ cấu trúc ngành để xây dựng niềm tin trên mạng những lợi ích từ nền kinh tế số. và thị trường, cùng sự chuyển đổi lưới trong bối cảnh mức độ tổn Đây là điều cần thiết để tránh của toàn bộ hệ thống sản xuất, thất ngày càng cao do các cuộc tình trạng nhiều công ty đa quốc quản lý và quản trị trên khắp tấn công mạng. Việt Nam có thể gia (MNCs) đang hoạt động tại toàn cầu. OECD (2018) dự báo chủ động hợp tác với các tổ chức Việt Nam và MNCs không có rằng, với mô hình tăng trưởng quốc tế về an ninh mạng và quản hiện diện tại Việt Nam cung cấp hiện tại, Việt Nam sẽ không thể trị dữ liệu, như tham gia vào xây dịch vụ xuyên biên giới có hành đạt được vị thế quốc gia có mức dựng thỏa thuận khung về chia sẻ vi tránh thuế với nhiều hình thức thu nhập cao trước năm 2058, vì dữ liệu cho khu vực ASEAN hoặc tinh vi, gây mất nguồn thu ngân vậy cần chuyển đổi nhanh chóng làm việc với các tổ chức quốc tế sách nhà nước trong nhiều năm mô hình tăng trưởng để Việt Nam để giám sát các tội phạm mạng qua. Ngoài ra, cần thiết có tầm có thể vươn lên vị thế quốc gia xuyên quốc gia. nhìn dài hạn về khung pháp lý và có mức thu nhập cao vào năm Thứ ba, cần nâng cao năng hệ thống thuế đối với các công 2045. Để đạt được mục tiêu này, lực số và kỹ năng số cho lực nghệ số mới bởi các công nghệ Việt Nam cần thoát khỏi việc lượng lao động để có thể thực blockchain, công nghệ tự động phát triển kinh tế dựa vào thâm hiện thành công các kế hoạch và trí tuệ nhân tạo sẽ nhanh dụng lao động giá rẻ và thâm chuyển đổi số đầy tham vọng chóng có tác động đến doanh thu dụng tài nguyên thiên nhiên mà trên toàn bộ nền kinh tế và các thuế trong 25 năm tới. Cần giám phải nhanh chóng chuyển hướng ngành công nghiệp ở Việt Nam sát chặt chẽ những tác động này chiến lược sang tăng cường năng trong thời gian tới. Cần ưu tiên và xây dựng các phương án dự suất yếu tố tổng hợp ở tất cả các tập trung vào các kỹ năng như phòng xử lý những thay đổi lớn ngành thông qua ứng dụng các lập trình, STEM và máy tính hơn về thuế khi các công nghệ số sản phẩm khoa học, công nghệ là đào tạo nghề. mới này được sử dụng rộng rãi. và đổi mới sáng tạo, từ đó tạo Thứ tư, cần đẩy mạnh triển Tóm lại, cho đến nay, Chính nền tảng chuyển đổi sang nền khai chính phủ số và dữ liệu mở phủ Việt Nam đã ban hành nhiều kinh tế số trong tương lai. Vì vậy, thông qua các ứng dụng nền chính sách nhằm cải thiện môi Chính phủ cần tập trung ưu tiên tảng, phân tích dữ liệu lớn, và trường kinh doanh và hỗ trợ đầu tư vào các lĩnh vực sau: hệ thống trí tuệ nhân tạo. Dữ doanh nghiệp trước thách thức Thứ nhất, cần nâng cấp và liệu mở sẽ tăng cường tính minh thay đổi toàn cầu. Trong thời phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới bạch và niềm tin vào Chính phủ, gian tới, để hướng tới nền kinh tế công nghệ thông tin và truyền cũng như thúc đẩy đổi mới sáng số tại Việt Nam, Chính phủ cần thông và năng lượng, đẩy mạnh tạo và cắt giảm chi phí cung cấp tập trung cải thiện hệ thống giáo đầu tư hạ tầng Internet vạn vật, dịch vụ của khu vực công. Ứng dục, đầu tư cơ sở hạ tầng, đảm thí điểm các hệ thống thành phố dụng công nghệ số mới nổi có bảo an ninh của các mạng lưới, thông minh và xây dựng “phòng thể giúp Chính phủ trong việc đẩy mạnh hiện đại hóa Chính thí nghiệm cuộc sống thành thị” phân tích đa tiêu chí, đổi mới phủ, phát triển hệ sinh thái đổi ở khu vực thành thị. Dữ liệu được cơ chế mua sắm đấu thầu của mới sáng tạo và cải cách thuế, kết nối và nguồn cung cấp năng Chính phủ và giúp xác định được pháp lý. Trong công cuộc chuyển lượng ổn định sẽ là yếu tố quyết các khu vực công hiệu quả nhất. đổi số sẽ không tránh khỏi nhiều định phương thức, lĩnh vực và Tuy nhiên, để có thể ứng biến rủi ro, nhưng rủi ro lớn nhất trong mức độ phát triển của nền kinh được với chuyển đổi này, Chính bối cảnh cuộc cách mạng công tế số Việt Nam trong thời gian phủ cần có cơ chế thu hút nhân nghiệp 4.0 đó chính là không tới. tài tốt nhất và tăng cường đào thực hiện chuyển đổi số ? Thứ hai, cần thiết lập và phát tạo trong toàn bộ hệ thống công triển năng lực an ninh mạng và vụ. quản trị dữ liệu vững mạnh, đặc Cuối cùng, cần đẩy mạnh cải biệt ở những hệ thống trọng yếu cách thuế và cải thiện khung như tài chính, năng lượng, y tế và pháp lý hiện hành ở Việt Nam giao thông thông qua việc ứng để xóa bỏ các ràng buộc phát dụng các công nghệ mới. Đây triển nền kinh tế số và tạo điều 12 Soá 6 naêm 2019
  13. Diễn đàn khoa học - công nghệ Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế: cơ hội, thách thức và một số kiến nghị TS Khổng Văn Minh Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới tạo cơ hội thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ, giúp doanh nghiệp tiếp cận được công nghệ tiên tiến; sử dụng sở hữu trí tuệ (SHTT) như là công cụ để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, khuyến khích hoạt động đổi mới sáng tạo (ĐMST)... Tuy nhiên, tiêu chuẩn bảo hộ cao trong các FTA thế hệ mới là xu hướng tất yếu đã đặt ra thách thức cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Việt Nam. Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức về SHTT mà các FTA tác động đến nước ta, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động ĐMST, khai thác tài sản trí tuệ (TSTT), đổi mới công nghệ... Cơ hội và thách thức tác giả và quyền liên quan... Việt nghệ, kiểu dáng sản phẩm, bao Nam vẫn đang trong quá trình hội bì, nhãn sản phẩm. Việc minh CPTPP (tiền thân là Hiệp định nhập quốc tế, trong tương lai, dù bạch hóa trên internet các quy TPP) chính thức được ký kết Hoa Kỳ có tham gia CPTPP hay định pháp luật, các thủ tục và vào ngày 9/3/2018 tại Chile mà không thì các chuẩn mực quốc quyết định hành chính có hiệu lực không có sự tham gia của Hoa tế về SHTT nêu trong TPP vẫn áp dụng chung liên quan đến bảo Kỳ. Chuẩn mực quốc tế về SHTT là các chuẩn mực mà các FTA trong CPTPP cao hơn các FTA hộ và thực thi quyền SHTT; thông trong tương lai hướng tới. Vì vậy, tin đã công bố về đơn đăng ký và trước đây nhưng thấp hơn TPP nhằm xây dựng hệ thống SHTT vì một số điều khoản về SHTT văn bằng bảo hộ đối với quyền của Việt Nam theo hướng từ “phù sở hữu công nghiệp (SHCN) và trong TPP đã tạm đình chỉ hoặc hợp”, “đầy đủ” sang “hiệu quả”, thay đổi, nhất là các điều khoản quyền đối với giống cây trồng trong bài viết này, chúng tôi phân sẽ giúp cá nhân, doanh nghiệp: về SHTT ban đầu được đưa vào tích cơ hội và thách thức của các theo yêu cầu của Hoa Kỳ, như i) Dễ dàng xác lập quyền SHTT chuẩn mực SHTT dựa trên nền cách thức/phương pháp/quy trình và tiếp cận thông tin SHTT, khai tảng Hiệp định CPTPP và TPP sử dụng mới của một sản phẩm thác thông tin SHTT và ii) Bảo (sau đây gọi là CPTPP/TPP). đã được biết; điều chỉnh thời hạn vệ quyền SHTT, chống xâm bằng sáng chế do sự chậm trễ của Cơ hội phạm quyền SHTT được thực cơ quan cấp bằng sáng chế, điều Thứ nhất, CPTPP/TPP tạo hiện minh bạch và nghiêm minh chỉnh thời hạn bằng sáng chế cho ra cơ hội lớn cho các cá nhân, tại Việt Nam cũng như tại các sự cắt giảm không hợp lý; bảo hộ doanh nghiệp Việt Nam được nước thành viên CPTPP. Chủ thể dữ liệu thử nghiệm hoặc dữ liệu bí hưởng thành quả đầu tư cao cho quyền được tiếp cận thông tin khi mật khác; thời hạn bảo hộ quyền hoạt động sáng tạo, đổi mới công quyền SHTT của họ bị xâm phạm 13 Soá 6 naêm 2019
  14. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ và được cơ quan có thẩm quyền xác lập. Cá nhân, doanh nghiệp hợp chỉ thay đổi nhỏ hoặc thay chủ động thực thi, khi đó chủ thể phải đầu tư nhiều hơn vào hoạt đổi không lớn các thành phần quyền có thể thực hiện thủ tục tố động ĐMST, đổi mới công nghệ, trong dược phẩm đã có, không tụng dân sự đối với hành vi xâm kiểu dáng sản phẩm, bao bì, nhãn quan trọng là cách thức sử dụng phạm để đòi bồi thường thiệt hại. sản phẩm hoặc phải mua quyền mới đó có ảnh hưởng đến hiệu SHTT với giá cao. Điều này làm quả điều trị lâm sàng, đã làm cho Thứ hai, tiêu chuẩn bảo hộ tăng chi phí sản xuất, giá thành sáng chế mới được bảo hộ dễ quyền SHTT cao trong CPTPP/ sản phẩm, ảnh hưởng đến năng dàng hơn và việc bảo hộ này như TPP cũng tạo môi trường thu hút lực cạnh tranh của sản phẩm một cách mà chủ sáng chế cũ đã đầu tư và chuyển giao công nghệ, ngay trên thị trường Việt Nam và hết thời hạn tự ân hạn cho mình. giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp khó có thể xuất khẩu. Ngoài ra, Việc bảo hộ độc quyền cách thức cận được công nghệ tiên tiến. việc tiếp cận và khai thác thông sử dụng mới của một dược phẩm Thứ ba, các chuẩn mực SHTT tin SHTT của cá nhân, doanh cũ làm giảm cạnh tranh trong mới trong CPTPP/TPP tạo cơ hội nghiệp còn nhiều hạn chế, các việc sử dụng thuốc generic, gây cho Nhà nước sử dụng SHTT như dịch vụ hỗ trợ khai thác quyền, khó khăn cho khả năng tiếp cận là công cụ để thúc đẩy thương mại khai thác và đánh giá thông thuốc giá rẻ của người dân và thời hóa kết quả nghiên cứu khoa học tin SHTT chưa được đầy đủ và hạn để sáng chế đó trở thành tài và phát triển công nghệ, khuyến chuyên nghiệp cũng là rào cản sản SHTT công cộng bị lùi xa. khích hoạt động ĐMST. để cá nhân, doanh nghiệp Việt Bảo hộ dữ liệu thử nghiệm bí mật Thứ tư, Việt Nam có cơ hội tiếp Nam đổi mới và sáng tạo ra công hoặc dữ liệu bí mật khác về sản cận và hoàn thiện hệ thống pháp nghệ mới hoặc ứng dụng công phẩm dược cũng làm trì hoãn luật về SHTT, hoàn thiện các cơ nghệ, sáng chế đã hết hạn. việc tiếp cận thị trường của các quan xác lập quyền, cơ quan thực Hai là, việc chống các hành vi loại thuốc generic làm giá thuốc thi quyền SHTT, đặc biệt là các vô hiệu hóa các biện pháp công tăng cao. Đây cũng là thách thức biện pháp cần thiết để bảo vệ sức nghệ hữu hiệu mà các tác giả, đối với các nhà soạn thảo và ban khỏe và dinh dưỡng cộng đồng, người biểu diễn, nhà sản xuất bản hành pháp luật nhằm thực hiện tiếp cận thuốc và thúc đẩy tiếp ghi âm sử dụng trong việc thực các biện pháp cần thiết để bảo cận thuốc của người dân, thúc hiện các quyền của mình và hạn vệ sức khỏe và dinh dưỡng công đẩy các lợi ích công cộng trong chế các hành vi không được cho cộng; các nhà quản lý và hoạch các lĩnh vực có vai trò tối quan phép đối với tác phẩm, cuộc biểu định chính sách trong việc tạo diễn, bản ghi âm đó và cấm sao phúc lợi kinh tế - xã hội, và tạo trọng đối với phát triển công nghệ chép trong bất kỳ cách thức hoặc ra cân bằng giữa quyền, nghĩa vụ và phát triển kinh tế - xã hội. hình thức nào (kể cả dưới dạng của chủ thể quyền SHTT. Thách thức điện tử) đã tạo độc quyền lớn Bốn là, việc bảo hộ nhãn hiệu Bên cạnh những thuận lợi nêu nhất dành cho các tác giả, người âm thanh (nhãn hiệu phi truyền trên, CPTPP/TPP cũng tạo ra biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi thống - không nhìn thấy được) những thách thức không nhỏ. âm. Điều này gây khó khăn trong cũng là một rào cản đối với cơ Một là, tiêu chuẩn bảo hộ việc tạo cân bằng thích hợp giữa quan xác lập quyền vì đây là đối cao về SHTT trong CPTPP/TPP hệ thống quyền tác giả và quyền tượng yêu cầu bảo hộ mới, cơ sở tạo ra thách thức lớn cho các cá liên quan, giữa người nắm quyền dữ liệu về nhãn hiệu âm thanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam và người sử dụng (xã hội). chưa được xây dựng, chưa có trong việc tiếp cận các sản phẩm Ba là, cách thức/phương pháp/ thẩm định viên được đào tạo để SHTT. Thời gian bảo hộ càng dài quy trình sử dụng mới của một thẩm định đối tượng này, chưa có thì thời điểm sản phẩm SHTT đó sản phẩm đã được biết là đối bộ tiêu chí xác định các dấu hiệu trở thành tài sản SHTT công cộng tượng có thể cấp bằng độc quyền có thể được xem xét bảo hộ dưới càng xa, tiêu chuẩn bảo hộ càng sáng chế. Trong trường hợp dược dạng âm thanh. cao thì phạm vi bảo hộ càng rộng phẩm, cách thức sử dụng mới Năm là, thực thi quyền SHTT và khả năng bảo hộ quyền SHTT của một dược phẩm cũ được bảo bằng thủ tục và hình phạt hình cho chủ thể khác càng khó được hộ độc quyền mới trong trường sự, các hình phạt được áp dụng 14 Soá 6 naêm 2019
  15. Diễn đàn khoa học - công nghệ bao gồm cả phạt tù cũng như đẩy và thu hút chuyển giao công đổi mới công nghệ, nhất là công phạt tiền phải tương ứng với mức nghệ tiên tiến của nước ngoài nghệ nội sinh. Do đó, ngoài việc hình phạt áp dụng cho các tội vào Việt Nam, các sản phẩm tuân thủ các thỏa thuận đã cam phạm có mức độ nghiêm trọng mang quyền SHTT sẽ có chất kết thì việc tiếp cận quan điểm tương tự đã có nhiều hành vi xâm lượng tốt hơn và được bán với giá nhằm xây dựng hệ thống bảo hộ phạm quyền (chưa đến mức gây cạnh tranh hơn hoặc thậm chí giá SHTT phù hợp cũng là một thách nguy hại lớn đối với xã hội) được cao hơn. Trong lĩnh vực SHCN, thức lớn. quy định trước đây có thể xử phạt nhất là sáng chế, khi mà phần hành chính hoặc thực thi bằng lớn công nghệ mới, các sáng chế Một số kiến nghị thủ tục, chế tài dân sự nay sẽ là mới đến từ nước ngoài, theo đó Với nhận thức quyền SHTT là hành vi bị áp dụng thủ tục và hình hệ thống bảo hộ cao về SHTT công cụ để phát triển kinh tế - xã phạt hình sự. Việc sửa đổi Luật thường có lợi cho các cá nhân, hội, qua đánh giá các cơ hội và SHTT và các bộ luật, luật liên doanh nghiệp nước ngoài và bất thách thức về SHTT đối với Việt quan (Bộ luật Dân sự, Bộ luật lợi cho cá nhân, doanh nghiệp Nam trong quá trình tham gia các Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Việt Nam. Khả năng yêu cầu bảo FTA thế hệ mới, chúng tôi có một Luật Hải quan, Luật Dược, Luật hộ quyền SHTT mới sẽ khó hơn số kiến nghị sau: Công nghệ thông tin...) là một nên các doanh nghiệp, cá nhân thách thức không nhỏ đối với các Thứ nhất, cải cách hệ thống trong nước khó được bảo hộ sáng nhà soạn thảo ban hành pháp pháp luật về SHTT theo hướng chế, khó có khả năng độc quyền luật, nhất là các nghĩa vụ chưa có hiện đại, đồng bộ, tuân thủ chủ công nghệ mới, khó tiếp cận công hoặc chưa quy định trong pháp trương về cải cách thủ tục hành nghệ mới, hoặc phải nhập mua luật Việt Nam. chính, đáp ứng các chuẩn mực, công nghệ mới với chi phí cao, cam kết quốc tế trên cơ sở xây Sáu là, nâng cao năng lực cơ làm tăng chi phí sản xuất, giảm dựng hệ thống bảo hộ SHTT phù quan xác lập quyền, cơ quan thực sức cạnh tranh của sản phẩm. hợp, vừa sử dụng SHTT như là thi quyền SHTT, các tổ chức hỗ Ngược lại, nếu xây dựng hệ thống công cụ để thúc đẩy thương mại trợ liên quan đến SHTT cũng là bảo hộ thấp về SHTT thì số lượng hóa kết quả nghiên cứu khoa học một thách thức đối với các nhà đối tượng quyền SHTT có nguồn và phát triển công nghệ, khuyến quản lý và hoạch định chính gốc Việt Nam dễ dàng được xác khích hoạt động ĐMST, vừa hài sách. Việc minh bạch thông tin lập quyền hơn, các sản phẩm SHTT và hiện đại hóa quản trị hệ hòa cân bằng lợi ích giữa chủ thể mới chứa đối tượng SHTT được thống SHTT như: (i) Công khai quyền và lợi ích cộng đồng. Việc bảo hộ dễ dàng ra đời và được cho công chúng tiếp cận thông tiếp cận theo hệ thống bảo hộ bán với giá cạnh tranh hơn, người tin về đơn sáng chế đã công bố SHTT phù hợp cần xuyên suốt, tiêu dùng phải chi trả ít hơn cho và bằng độc quyền sáng chế, ít thống nhất từ việc ban hành các các sản phẩm công nghệ, tăng nhất là thông tin về kết quả tra văn bản quy phạm pháp luật liên khả năng tiếp cận nguồn thuốc cứu và thẩm định đơn; (ii) Xây quan tới SHTT đến việc thực hiện giá rẻ chất lượng của người dân. dựng hệ thống điện tử đối với đơn xác lập quyền, thực thi quyền Hệ thống bảo hộ thấp về SHTT đăng ký và duy trì nhãn hiệu, và SHTT của các cơ quan, tổ chức cũng sẽ làm độ tương đồng giữa hệ thống thông tin điện tử có thể liên quan. Đồng thời, xây dựng các sản phẩm SHTT tăng cao, truy cập (bao gồm cơ sở dữ liệu sự khác biệt về công nghệ, trình các phương án đàm phán, lập trực tuyến về đơn đăng ký nhãn độ sáng tạo của các đối tượng trường của Việt Nam liên quan hiệu và nhãn hiệu được bảo hộ) SHTT được bảo hộ của các chủ đến SHCN trong các FTA mà Việt cũng là một thách thức lớn đối với thể khác nhau không lớn. Điều Nam đang tiến hành, xây dựng lộ Việt Nam. này làm giảm lợi ích của chủ trình và thời hạn thực hiện cam thể quyền, giảm hoạt động đầu kết về SHTT sao cho phù hợp với Bảy là, nếu xây dựng hệ thống bảo hộ cao về SHTT sẽ làm tăng tư cho ĐMST, giảm hoạt động điều kiện hiện tại của Việt Nam. quyền và lợi ích của các chủ thể chuyển giao công nghệ từ nước Thứ hai, cần sớm phê duyệt quyền SHTT, thúc đẩy các hoạt ngoài vào Việt Nam, đặc biệt làm và triển khai thực hiện chiến động đầu tư cho ĐMST, thúc giảm tính đột phá trong cải tạo, lược quốc gia về SHTT. Chiến 15 Soá 6 naêm 2019
  16. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ lược này sẽ cho phép Việt Nam xử lý vi phạm bằng thủ tục và tăng cường vai trò của tòa án sử dụng các nguồn lực xã hội hình phạt hình sự phải tiến hành trong việc xử lý tranh chấp, xâm tối ưu và hiệu quả trong việc đồng bộ với các bộ luật, luật liên phạm quyền SHTT. thúc đẩy ĐMST, tăng và khai quan: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Thứ sáu, phát triển hệ thống thác TSTT, đồng thời đảm bảo Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, hỗ trợ các hoạt động SHTT, nâng hệ thống SHTT có vai trò quan Luật Hải quan, Luật Dược, Luật cao vai trò và năng lực của tổ trọng, không thể thiếu trong mô Công nghệ thông tin và các văn chức dịch vụ đại diện SHTT, tổ hình tăng trưởng mới, đóng góp bản dưới luật khác; phải đảm bảo chức giám định, đánh giá TSTT, vào các chiến lược, chính sách và tính thống nhất trong hệ thống dịch vụ định giá TSTT; nâng cao mục tiêu phát triển tổng thể của pháp luật, tính khả thi, tiết kiệm, vai trò của các hiệp hội; cung đất nước. Xây dựng chiến lược dễ tiếp cận, dễ thực hiện, đảm bảo sự công bằng, hài hòa lợi ích cấp dịch vụ thẩm định nhanh đơn quốc gia về SHTT cần quá trình cho các chủ thể quyền SHTT với SHCN theo nhu cầu của người chuẩn bị khoa học và thực tiễn, đòi hỏi nhiều chủ thể trong xã hội lợi ích cộng đồng, không làm cản nộp đơn, dịch vụ tra cứu SHCN tham gia, nhất là các chủ thể thụ trở việc thực hiện các cam kết phục vụ nghiên cứu, đào tạo và hưởng từ chiến lược, chính sách, quốc tế về SHTT mà Việt Nam triển khai; xây dựng, thành lập chương trình về SHTT và cần chú đã ký kết; đảm bảo công khai, các cơ sở nghiên cứu về SHCN, ý các nội dung sau: i) Xác định minh bạch khi sửa đổi, hủy bỏ, bổ các cơ sở đánh giá và khai thác rõ mục tiêu của chiến lược quốc sung, ban hành các văn bản quy thông tin sáng chế. gia về SHTT phải là hỗ trợ việc phạm pháp luật về SHTT. Thứ bảy, hoàn thiện thư viện hiện thực hóa tầm nhìn của Việt Thứ tư, thực hiện các chính số về SHTT, cập nhật kịp thời dữ Nam trong tương lai là phát triển sách kinh tế, xã hội chống tác liệu SHTT; thiết lập, duy trì, cập phát triển kinh tế - xã hội dựa vào động tiêu cực của chế độ bảo hộ nhật mạng thông tin quốc gia khoa học và công nghệ, nhất là SHCN mới như: chính sách y tế về SHTT, nhất là mạng thông ưu tiên phát triển công nghệ cao, phải bảo đảm khả năng tiếp cận tin quốc gia về SHCN; xây dựng trí tuệ nhân tạo; tạo môi trường thuốc với giá cả hợp lý cho toàn các công cụ tra cứu về SHCN; nhằm khuyến khích việc sử dụng dân; chính sách về nhập khẩu ứng dụng công nghệ thông tin và TSTT một cách có chiến lược song song, nhất là trong việc tiếp truyền thông vào hoạt động thu để phát triển kinh tế - xã hội; cận các nguồn thuốc giá rẻ, và thập, xử lý, tổng hợp, công bố ii) Phải gắn với các chính sách giảm sự độc quyền của các công thông tin, xây dựng ngân hàng dữ công khác; gắn với chiến lược ty nước ngoài sản xuất thuốc; liệu thống kê về SHTT. phát triển kinh tế quốc gia, nhất chính sách thúc đẩy, hỗ trợ việc là một số lĩnh vực kinh tế (nông Thứ tám, đẩy mạnh hợp tác xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa nghiệp, công nghệ thông tin và quốc tế trong lĩnh vực SHTT, lý trong nước, hỗ trợ việc đăng ký truyền thông, năng lượng...) và bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý nhất là với các nước có hệ thống xã hội (giáo dục, y tế, nhà ở, nước của Việt Nam ở nước ngoài... SHTT phát triển để tiếp cận và sạch và vệ sinh, môi trường); xây hoàn thiện hệ thống pháp luật Thứ năm, nâng cao năng lực về SHTT, hoàn thiện cơ quan dựng cơ chế phối hợp và tạo sự của bộ máy cơ quan quản lý nhà xác lập quyền SHTT, cơ quan kết nối với các chiến lược khác; nước về SHTT, xây dựng Cục đánh giá nhu cầu trong các lĩnh thực thi, đào tạo nhân lực chuyên SHTT trở thành một tổ chức đi vực ưu tiên; iii) Xây dựng chiến môn cao về SHTT, đồng thời hợp đầu trong hệ thống SHTT, hoạt lược quốc gia về SHTT gắn với tác xây dựng hạ tầng công nghệ động xác lập quyền SHCN phải kế hoạch hành động với các mục thông tin hiện đại, đáp ứng được có chất lượng và đúng thời hạn; tiêu cụ thể. yêu cầu mới ? nâng cao năng lực của các cơ Thứ ba, rà soát, sửa đổi Luật quan thực thi, xây dựng cơ chế SHTT và các văn bản dưới luật phối hợp giữa các cơ quan thực nhằm tạo sự thống nhất, phù hợp thi trong việc xử lý xâm phạm, với tiêu chuẩn mới về SHTT. Việc tranh chấp quyền SHTT; xây sửa đổi Luật SHTT, nhất là phần dựng tòa chuyên trách về SHTT, 16 Soá 6 naêm 2019
  17. Diễn đàn khoa học - công nghệ Công nhận - Thành tố quan trọng của cơ sở hạ tầng chất lượng quốc gia Vũ Xuân Thủy Văn phòng Công nhận Chất lượng Trong Thông điệp Ngày công nhận thế giới năm nay (9/6/2019), Chủ tịch IAF và ILAC đã nêu rõ “Công nhận cùng với các cơ sở hạ tầng chất lượng khác như tiêu chuẩn, đo lường và đánh giá sự phù hợp giúp cung cấp những cách thức được chấp nhận rộng rãi, giúp tạo thêm giá trị cho chuỗi cung ứng. Các cách thức đó đem lại sự tin cậy, đảm bảo cho sản phẩm và dịch vụ trên thị trường”. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến khía cạnh công nhận là một thành tố quan trọng của cơ sở hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI - National Quality Infrastructure). Từ đó đề xuất hướng phát triển hoạt động công nhận tại Việt Nam. Thành tố quan trọng của NQI NQI với sự tham gia của các bên gồm cơ quan quản lý, cơ quan tiêu chuẩn, viện đo lường, tổ chức công nhận. Một Hiện nay NQI được nhìn nhận là một trong những vấn số đề xuất đáng chú ý trong báo cáo này là việc cần thiết đề quan trọng của mỗi quốc gia. Ở cấp độ khu vực, các phải có Luật về NQI; phát triển chiến lược về NQI và kế nước ASEAN đã có nhiều cuộc thảo luận chia sẻ kinh hoạch phát triển về nhân sự phục vụ cho NQI. Mục tiêu nghiệm về vấn đề này. Gần đây nhất là vào tháng 3/2019, trong việc hoạch định NQI của Thái Lan là nhằm đạt được ASEAN đã tổ chức Hội thảo về NQI, trong đó đã chỉ rõ các mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn: Giai đoạn NQI bao gồm: công nhận, đo lường, tiêu chuẩn và đánh 1 nhằm giúp cho hệ thống NQI của Thái Lan mang tính giá sự phù hợp; NQI là cơ sở cho việc xác định và triển kết nối và có định hướng; Giai đoạn 2 nhằm hướng tới xây khai các quy định và yêu cầu kỹ thuật trong từng nước và trong ASEAN, đây là các cơ sở hạ tầng quan trọng để dựng NQI đủ mạnh để phục vụ cho nền công nghiệp hiện đảm bảo và chứng tỏ về chất lượng, là cơ sở cho việc thừa tại và tương lai của Thái Lan, phục vụ cho kế hoạch “Chế nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. tạo tại Thái Lan - Made in Thailan”; Giai đoạn 3 hướng tới nâng tầm NQI trong công nghiệp dịch vụ để đảm bảo NQI được thể hiện theo cấu trúc như sau: dịch vụ của Thái Lan có thể cung cấp cho khu vực, được quốc tế thừa nhận và phục vụ cho các sản phẩm cao cấp và sáng tạo. Kinh nghiệm được rút ra từ vấn đề này là việc tiếp cận tầm quốc gia trong việc xây dựng chính sách phát triển cơ sở hạ tầng chất lượng một cách đồng bộ, có chủ đích, được hoạch định và có cái nhìn tổng thể do mối liên hệ và tương tác lẫn nhau của các cấu thành trong NQI. Có như vậy từng quốc gia mới có được NQI đáp ứng yêu cầu của quản lý và phát triển quốc gia mình. Việc xây dựng riêng rẽ, không kết nối các cấu thành trong NQI sẽ làm cho hệ thống NQI thiếu kết nối, kém hiệu quả và không đạt được mục tiêu đã định trong dài hạn. NQI tại Việt Nam Hoạt động công nhận của Việt Nam hiện nay có một Nguồn: Ngân hàng thế giới. số vấn đề đáng lưu tâm và nếu không có cách tiếp cận, xử lý có thể sẽ có ảnh hưởng đến việc phát triển lâu dài, Ở cấp độ khu vực, nhiều nước ASEAN đã rất nghiêm không đáp ứng được việc hỗ trợ kịp thời cho doanh nghiệp túc trong việc tiếp cận và xây dựng NQI. Ví dụ Bộ Khoa và phát triển kinh tế. Hiện tại, chúng ta còn thiếu một kế học và Công nghệ Thái Lan đã soạn thảo Báo cáo về hoạch tổng thể kết nối các cấu thành trong NQI với các 17 Soá 6 naêm 2019
  18. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ mục tiêu chiến lược cụ thể cho từng đã xây dựng tổ chức công nhận quốc đây cũng là khoảng thời gian đủ dài giai đoạn, phục vụ cho các sản phẩm gia; 4 nước đang trong quá trình xây để chúng ta tích lũy trong thực tiễn trọng điểm như Thái Lan đã xây dựng dựng tổ chức công nhận là Brunei và các bài học rút ra để soát xét lại được. Các chương trình nâng cao Darussalam, Campuchia, Lào và luật này. Từ đó làm cơ sở để đưa ra năng lực của chúng ta thường phục Myanmar, nhưng các nước này sẽ những đề xuất thay đổi phù hợp với vụ cho các cấu thành riêng như tiêu theo định hướng xây dựng tổ chức thực tiễn. chuẩn, đo lường hoặc công nhận. công nhận quốc gia. Thứ ba, từ quan điểm cá nhân Ít có sự kết nối, tương tác giữa các Như vậy, có thể thấy các quốc gia chúng tôi cho rằng, để phục vụ quản cấu thành này và thiếu một chương láng giềng của Việt Nam hoặc là xây lý nhà nước và thuận lợi trong trao trình quốc gia thống nhất trong các dựng tổ chức công nhận quốc gia duy đổi thương mại cũng như theo kinh cấu thành được xây dựng liên kết với nhất (như trường hợp của Indonesia, nghiệm quốc tế, Việt Nam nên xây nhau vì một mục tiêu chiến lược cụ Malaysia, Philippine, Singapore) dựng tổ chức công nhận quốc gia. thể. hoặc xác lập liên kết các tổ chức Việc thừa nhận tổ chức công nhận Do vai trò của công nhận là ở công nhận đang tồn tại do lịch sử quốc gia sẽ giúp tập trung nguồn lực tầng trên cùng của hệ thống đánh để lại (Thái Lan gộp 5 tổ chức) để tốt hơn, tạo sự liên kết tốt hơn giữa giá sự phù hợp để kiểm tra, xác nhận hình thành hệ thống tổ chức công hoạt động công nhận và quản lý nhà năng lực của các tổ chức đánh giá nhận quốc gia thống nhất, kết nối và nước, tạo thuận lợi hơn trong hợp tác sự phù hợp, tức đảm bảo về mặt kỹ hợp tác trong một chính sách chung quốc tế về công nhận và có tiếng nói thuật cho cả hệ thống đánh giá sự không cạnh tranh lẫn nhau. Điểm lưu thống nhất ở quốc tế. phù hợp, nên công nhận cần được ý đối với các nước này là không có tổ coi là một dịch vụ đặc biệt nhằm tạo Bên cạnh đó, mô hình tổ chức chức công nhận nằm ngoài khu vực sự kiểm soát năng lực các tổ chức công nhận quốc gia là cách tiếp cận nhà nước. đánh giá sự phù hợp (thường bị thị mang tính phổ biến hiện nay trên thế trường chi phối). Công nhận phải là Vậy còn ở Việt Nam thì sao? Với giới. Hầu như tất cả các nước trên thế dịch vụ phục vụ đắc lực cho quản lý tư cách là một người đã làm việc lâu giới đều đang có tổ chức công nhận nhà nước và được Nhà nước quản lý năm trong lĩnh vực công nhận, tôi xin quốc gia hoặc đang tiếp cận, liên kết thống nhất, tập trung. nêu một số kiến nghị liên quan đến để xây dựng tổ chức công nhận quốc thiết kế tổ chức công nhận quốc gia gia. Do đó, với tình hình thực tiễn như Mặc dù hoạt động công nhận ở như sau: hiện nay, Việt Nam nên: i) Chỉ định tổ Việt Nam với lịch sử gần 30 năm (từ năm 1990) đã đạt được những thành - Thứ nhất, Việt Nam cần có chức công nhận quốc gia hoạt động tích nhất định, góp phần quan trọng những nghiên cứu, tranh luận thấu đa ngành, đa lĩnh vực là đại diện của nâng cao chất lượng hoạt động của đáo ở tầm quốc gia để xác định về Việt Nam tại các tổ chức quốc tế về các tổ chức đánh giá sự phù hợp tại quản lý và tổ chức của hoạt động công nhận; ii) Thiết kế lại cách tiếp nước ta và hỗ trợ tích cực cho quá công nhận dựa trên thực tiễn của Việt cận của các chương trình đánh giá trình hội nhập, nhưng để cho hoạt Nam và kinh nghiệm của thế giới. xác nhận năng lực trong lĩnh vực Bộ/ động công nhận có định hướng tốt Phải có những câu trả lời và lý giải ngành quản lý, không yêu cầu hoạt và phát triển bền vững theo xu hướng xác đáng cho các câu hỏi sau: động công nhận này theo chuẩn mực của thế giới, xứng đáng là 1 trong 3 quốc tế. Hoạt động đánh giá xác + Có xác định tổ chức công nhận trụ cột của NQI, những vấn đề tồn tại quốc gia hay không? nhận năng lực của Bộ/ngành nhằm trong hoạt động công nhận cần được giúp các Bộ/ngành chỉ định tổ chức + Hoạt động công nhận là dịch vụ đánh giá sự phù hợp khi cần thiết. nhận diện và giải quyết. đặc biệt hay dịch vụ kinh doanh? Hoạt động này cần phải có sự liên Vấn đề triết lý phát triển tổng thể + Sử dụng kết quả công nhận thông chấp nhận kết quả công nhận hệ thống công nhận cần phải được trong chỉ định phục vụ quản lý nhà với chương trình công nhận quốc gia xác định rõ. Trong các cấu thành của nước? đã được quốc tế thừa nhận. Điều đó NQI, tiêu chuẩn và đo lường đã được - Thứ hai, sau khi có các cơ sở sẽ đem lại tiết kiệm chi phí chung cho xác định là tổ chức quốc gia, nhưng khoa học xác đáng, cần tiến hành xã hội ? lại không xác định rõ có nên xây dựng hoặc xác lập tổ chức công nhận soát xét lại hệ thống văn bản pháp quốc gia hay không? Trong ASEAN, lý quy định về hoạt động công nhận. các nước: Indonesia, Malaysia, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ Philippines, Singapore và Thái Lan thuật đã ra đời được hơn 10 năm, 18 Soá 6 naêm 2019

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản