intTypePromotion=1

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 7A năm 2019

Chia sẻ: Thien Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

0
2
lượt xem
0
download

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 7A năm 2019

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tạp chí với một số bài viết: Triển vọng kinh tế Việt Nam 2019: Kịch bản và hàm ý chính sách; Quản lý tài nguyên nước bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long; Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; Một số bàn luận về đạo đức nghiên cứu trong điều tra khảo sát đối với khoa học xã hội; Hệ thống hỗ trợ công tác chỉ đạo vận hành các hồ chứa trong mùa lũ; Phát triển công nghệ sản xuất khuôn mẫu trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 7A năm 2019

  1. THÔNG BÁO TUYỂN CHỌN TỔ CHỨC, CÁ NHÂN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KH&CN CẤP QUỐC GIA TỪ NĂM 2019 (ĐỢT 4) THUỘC CHƯƠNG TRÌNH KH&CN PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 2016-2020 Thực hiện Quyết định số 2094/QĐ-BNN-VPĐP ngày 05/6/2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) về việc phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) thuộc Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới (NTM), giai đoạn 2016-2020 (Đợt 4) (Quyết định được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - mard.gov.vn, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM - nongthonmoi.gov.vn và trên các website: khcn.mard.gov.vn, khcnnongthonmoi.vn/ctntm), Văn phòng Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2018-2020 thông báo tuyển chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện các đề tài, dự án nêu tại Quyết định số 2094/QĐ-BNN-VPĐP, cụ thể: 1. Các tổ chức và cá nhân tham gia tuyển chọn cần chuẩn bị Hồ sơ theo các yêu cầu của Thông tư số 08/2017/TT-BKHCN ngày 26/6/2017 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước. 2. Hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán kinh phí đối với nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước được quy định tại Thông tư số 43/2017/TT-BTC ngày 20/2/2019 quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp của ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020; Thông tư số 08/2019/TT-BTC ngày 30/01/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 43/2017/TT-BTC; Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22/4/2015 của Bộ Tài chính và Bộ KH&CN hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước; Thông tư số 109/2016/TT-BTC ngày 30/6/2016 của Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện các cuộc điều tra thống kê, tổng điều tra thống kê quốc gia. 3. Hồ sơ nộp gồm 3 bộ (trong đó có 1 bộ gốc) và USB hoặc CD có các file dữ liệu hồ sơ. 4. Thời hạn nộp hồ sơ: Trước 17h00 ngày 05/8/2019. Ngày nhận Hồ sơ được tính theo dấu đến của Bưu điện Hà Nội (trường hợp Hồ sơ được gửi qua đường bưu điện) hoặc dấu đến Văn thư của Văn phòng Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng NTM (trường hợp nộp trực tiếp). 5. Nơi nhận hồ sơ: Văn phòng Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng NTM - Địa chỉ: P312 nhà A2, Số 1B, Bắc Sơn, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại liên hệ: 024.3564.3370 (đ/c Vũ Thị Kim Mão). 6. Quy trình tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 08/2017/TT-BKHCN ngày 26/6/2017 của Bộ KH&CN. Danh mục nhiệm vụ tại Phụ lục kèm theo (xin xem trang 58)
  2. Hoäi ñoàng bieân taäp Toång bieân taäp Toøa soaïn GS.TSKH.VS Nguyeãn Vaên Hieäu Ñaëng Ngoïc Baûo 113 Traàn Duy Höng - phöôøng Trung Hoøa - quaän Caàu Giaáy - Haø Noäi GS.TS Buøi Chí Böûu Phoù Toång bieân taäp Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 GS.TSKH Nguyeãn Ñình Ñöùc Nguyeãn Thò Haûi Haèng Email: khcnvn@most.gov.vn Nguyeãn Thò Höông Giang Website: khoahocvacongnghevietnam.com.vn GS.TSKH Vuõ Minh Giang PGS.TS Trieäu Vaên Huøng tröôûng ban Bieân taäp giaáy pheùp xuaát baûn Phaïm Thò Minh Nguyeät GS.TS Phaïm Gia Khaùnh Soá 1153/GP-BTTTT ngaøy 26/7/2011 GS.TS Leâ Höõu Nghóa tröôûng ban trò söï Soá 2528/GP-BTTTT ngaøy 26/12/2012 Löông Ngoïc Quang Höng Soá 592/GP-BTTTT ngaøy 28/12/2016 GS.TS Leâ Quan Nghieâm GS.TS Mai Troïng Nhuaän trình baøy Giaù: 18.000ñ GS.TS Hoà Só Thoaûng Ñinh Thò Luaän In taïi Coâng ty TNHH in vaø DVTM Phuù Thònh Muïc luïc DIỄN ĐÀN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ 4 Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Cẩm Nhung: Triển vọng kinh tế Việt Nam 2019: Kịch bản và hàm ý chính sách. 8 Phan Hoàng Lan, Vũ Hải Anh: Quỹ phi lợi nhuận: Nguồn vốn cho khởi nghiệp chưa được khai phá? 11 Trần Thị Tuấn Anh: InsurTech và xu hướng phát triển. 13 Lê Anh Tuấn: Quản lý tài nguyên nước bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long. 16 Nguyễn Văn Huy: Tăng cường liên kết vùng trong công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. 19 Phạm Hiệp, Vũ Minh Huyền: Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. 21 Phạm Văn Quyết: Một số bàn luận về đạo đức nghiên cứu trong điều tra khảo sát đối với khoa học xã hội. KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 24 Đỗ Tiến Dũng: Nafosted: Tiếp tục hướng đến chất lượng nghiên cứu và hiệu quả tài trợ, hỗ trợ. 27 Vũ Thị Xen: Mô hình “ươm tạo ảo” hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tại các làng nghề truyền thống. 29 Nguyễn Anh Tú, Hoàng Anh: Hệ thống hỗ trợ công tác chỉ đạo vận hành các hồ chứa trong mùa lũ. 33 Lê Quý Thủy: Nghiên cứu chế tạo thiết bị làm sạch và thu hồi bụi, hạt rời trên lớp móng đường phục vụ thi công công trình giao thông. 35 Đỗ Minh Tâm, Phạm Xuân Mai…: Phát triển công nghệ sản xuất khuôn mẫu trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. 38 l Thái Bình: Ứng dụng tiến bộ KH&CN phát triển đàn bò thịt. 40 Lê Quốc Dũng: Long An: Mô hình thí điểm huy động nguồn lực xã hội phát triển KH&CN. KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG 42 Đặng Hữu Anh: Nghiên cứu vắc xin phòng bệnh dịch tả lợn châu Phi. 44 Mai Văn Hưng: Giáo dục STEM: Để học sinh thích ứng với “môi trường lao động 4.0”. 46 Nguyễn Văn Tuấn: Tế bào gốc trị liệu: Triển vọng và rủi ro. KH&CN NƯỚC NGOÀI 49 Đức Minh: Công nghệ lượng tử: Công nghệ của tương lai. 52 l Nghịch lý di truyền được giải đáp bằng cơ chế “bù phiên mã gen”. 54 l Ứng dụng hệ xúc tác composite có từ tính trong phản ứng tổng hợp imine.
  3. Vietnam Journal of Science, Technology and Engineering EDITORial council EDITOR - in - chief office Prof.Dr.Sc. Academician Nguyen Van Hieu Dang Ngoc Bao 113 Tran Duy Hung - Trung Hoa ward - Cau Giay dist - Ha Noi Prof. Dr Bui Chi Buu DEPUTY EDITOR Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 Nguyen Thi Hai Hang Email: khcnvn@most.gov.vn Prof. Dr.Sc Nguyen Dinh Duc Nguyen Thi Huong Giang Website: khoahocvacongnghevietnam.com.vn Prof. Dr.Sc Vu Minh Giang Assoc.Prof. Dr Trieu Van Hung head of editorial board publication licence Pham Thi Minh Nguyet No. 1153/GP-BTTTT 26th July 2011 Prof. Dr Pham Gia Khanh head of administration No. 2528/GP-BTTTT 26th December 2012 Prof. Dr Le Huu Nghia Luong Ngoc Quang Hung No. 592/GP-BTTTT 28th December 2016 Prof. Dr Le Quan Nghiem Prof. Dr Mai Trong Nhuan Art director Dinh Thi Luan Prof. Dr Ho Si Thoang Contents SCIENCE AND TECHNOLOGY FORUM 4 Duc Thanh Nguyen, Cam Nhung Nguyen: Vietnam economic prospects in 2019: Scenarios and policy implications. 8 Hoang Lan Phan, Hai Anh Vu: Non-profit fund: The capital source for start-ups that has not been explored? 11 Thi Tuan Anh Tran: InsurTech and development trend. 13 Anh Tuan Le: Sustainable water resource management and climate change response in the Mekong River Delta. 16 Van Huy Nguyen: Strengthening regional links in environmental protection and climate change response. 19 Hiep Pham, Minh Huyen Vu: International integration in the field of social sciences and humanities. 21 Van Quyet Pham: Some discussions on the ethics for survey researc in social sciences. SCIENCE - TECHNOLOGY AND INNOVATION 24 Tien Dung Do: Nafosted: Maintaining the focus on research quality and funding effectiveness. 27 Thi Xen Vu: The “virtual incubation” model to support start-up businesses in traditional craft villages. 29 Anh Tu Nguyen, Anh Hoang: The system to support the operation management of reservoirs during the flood season. 33 Quy Thuy Le: Research and manufacture of the equipment to clean and recover dust and loose particles on road foundation for the construction of traffic works. 35 Minh Tam Do, Xuan Mai Pham…: Developing the mold-making technology in Vietnam automobile industry. 38 l Thai Binh: Application of scientific and technological advances to develop beef cattle. 40 Quoc Dung Le: Long An: The pilot model of mobilizing social resources for science and technology development. SCIENCE AND LIFE 42 Huu Anh Dang: Research into vaccines against African cholera. 44 Van Hung Mai: STEM Education: Helps students adapt to the “4.0 working environment”. 46 Van Tuan Nguyen: Stem cell therapy: Prospects and risks. THE WORLD SCIENCE AND TECHNOLOGY 49 Duc Minh: Quantum technology: The technology of future. 52 l Genetic paradox explained by “transcriptional gene compensation” mechanism. 54 l Application of magnetic composite catalytic system in imine synthesis.
  4. diễn đàn khoa học - công nghệ Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Triển vọng kinh tế Việt Nam 2019: Kịch bản và hàm ý chính sách PGS.TS Nguyễn Đức Thành, TS Nguyễn Cẩm Nhung Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Theo các tác giả, kinh tế Việt Nam năm 2019 có thể đạt được tốc độ tăng trưởng ở mức 6,5-6,9%. Tuy nhiên, để tiếp tục duy trì và nâng cao hơn nữa mức tăng trưởng, về ngắn hạn, chúng ta cần rà soát và lựa chọn sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế trước những thay đổi toàn cầu diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Về trung và dài hạn, cần đẩy mạnh cải cách môi trường luật pháp và hệ thống giáo dục, xác định được lộ trình của nền kinh tế số, nâng cao khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Hai kịch bản cho tăng trưởng sang Mỹ và Trung Quốc chưa đủ khó kiểm soát hơn và nhiều khả linh hoạt để tăng mạnh trong môi năng có thể lên tới 4-5%. Trong Trên cơ sở phân tích các xu trường chiến tranh thương mại. kịch bản đầu tiên, với hoạt động hướng diễn biến chính của kinh tế kinh tế chậm hơn dự kiến, lạm phát thế giới cùng những đánh giá rủi ro Kịch bản thứ hai khả thi hơn với sẽ ở khoảng 4,21%. Trong kịch bản và thuận lợi trên thị trường quốc tế mức 6,81% (đạt mục tiêu Quốc hội thứ hai, lạm phát cả năm ở mức cũng như trong nước, có thể nhận đề ra). Đây là kịch bản có nhiều 4,79% (cao hơn mục tiêu 4% do định phạm vi và mức độ của các khả năng xảy ra nhờ dư địa động Quốc hội đặt ra). Nguy cơ lạm phát rủi ro vĩ mô cho nền kinh tế Việt lực tăng trưởng của 2018, đi liền theo kịch bản thứ hai có thể xảy ra Nam trong năm 2019. Dự báo, năm với những nỗ lực cải thiện năng lực nếu có sự cộng hưởng từ cả sức ép 2019, kinh tế Việt Nam có thể đạt cạnh tranh và nâng cao năng suất lạm phát gia tăng đến từ bên trong được tốc độ tăng trưởng 6,5-6,9%. của Chính phủ, thể hiện với mức và bên ngoài. Trong nước, các đợt tăng trưởng tương đối cao của các Trong kịch bản thứ nhất, tăng điều chỉnh giá các dịch vụ công ngành chính gồm công nghiệp và trưởng của nền kinh tế dự báo đạt cũng như điều chỉnh tăng giá xăng dịch vụ. Bên cạnh đó, khối doanh mức thấp 6,56% (xấp xỉ mục tiêu dầu đã được thực hiện từ đầu năm nghiệp trong nước đang nỗ lực của Quốc hội đề ra). Kịch bản này 2019 sẽ gây áp lực lớn gia tăng lạm chuyển mình trên lĩnh vực thương có thể xảy ra khi các điều kiện kinh phát. Tính đến hết tháng 4/2019, mại quốc tế. Điều đó được thể hiện tế thế giới kém thuận lợi do tác động chỉ số giá tiêu dùng đã tăng khoảng trong quý I/2019 tốc độ tăng trưởng từ sự gia tăng căng thẳng chiến 2,93% và đang trong xu hướng đi xuất khẩu của khối doanh nghiệp tranh thương mại Mỹ - Trung đem lên. Trong khi đó, mức gia tăng này trong nước cao hơn của khối doanh đến những sức ép mới khiến Việt mới chỉ phản ánh một phần rất nhỏ nghiệp FDI. Đây là điều khác biệt Nam sẽ đứng trước nguy cơ nhập tác động từ những điều chỉnh giá so với xu thế nhiều năm trước, bởi siêu trầm trọng hơn từ thị trường của Chính phủ do có độ trễ của doanh nghiệp FDI luôn đạt tốc độ Trung Quốc, gia tăng cạnh tranh chúng. Bên ngoài, giá dầu thô thế tăng trưởng cao hơn doanh nghiệp trên thị trường nội địa khi cả Mỹ và giới có thể tiếp tục tăng do những trong nước. Trung Quốc có thể đẩy mạnh xuất căng thẳng ở Trung Đông leo thang khẩu sang Việt Nam. Trong khi đó, Về mức giá chung, lạm phát cả và nguồn cung thế giới được cắt giả định xuất khẩu của Việt Nam năm 2019 được dự báo sẽ trở nên giảm. Ngoài ra, khả năng đồng 4 Soá 7 naêm 2019
  5. Diễn đàn khoa học - công nghệ chúng tôi xin có một số khuyến nghị sau: Thứ nhất, thúc đẩy nâng cao năng suất lao động cũng như có phương án tổng thể dịch chuyển cơ cấu lao động giữa các ngành trong nền kinh tế. Các ngành sản xuất của Việt Nam chủ yếu dựa vào thâm dụng lao động và thâm dụng tài nguyên như: dệt may, dày da, gia công lắp ráp sẽ mất dần lợi thế trước làn sóng cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), 2/3 trong số 9,2 triệu lao động ngành dệt may và da giày tại Đông Nam Á đang bị đe dọa. Cụ thể, có 86% lao Các ngành sản xuất của Việt Nam chủ yếu dựa vào thâm dụng lao động và thâm động ngành dệt may của Việt Nam, dụng tài nguyên nên cần có phương án tổng thể dịch chuyển cơ cấu lao động giữa 88% lao động của Campuchia và các ngành trong nền kinh tế. 64% lao động Indonesia sẽ bị ảnh hưởng. Cùng với đó là hàng trăm nhân dân tệ bị giảm giá vào cuối tạo - một nguồn lực cho phép tạo ra nghìn người đang làm việc tại các năm 2019 dưới sức ép của chiến một không gian lớn cho phát triển. ngành viễn thông, ngân hàng, tranh thương mại có thể khiến VND Nếu không có những thay đổi căn bảo hiểm, chứng khoán cũng bị bị phá giá nhẹ cũng là một nhân tố bản, Việt Nam khó có thể duy trì đe dọa. Nếu không có những biện rủi ro tác động đến mức giá chung được tốc độ tăng trưởng kinh tế như pháp nâng cao năng suất lao động trong nước. hiện nay. Trong tương lai không xa, cũng như có phương án tổng thể thị trường lao động có thể phải đối dịch chuyển cơ cấu lao động giữa Để kiềm chế lạm phát, các cơ các ngành trong nền kinh tế, trong mặt với khó khăn do tự động hoá quan điều hành cần tiếp tục theo thời gian tới, Việt Nam sẽ khó có và chuyển đổi số. Nguy cơ mất sát diễn biến giá cả trong nửa sau thể duy trì được đà tăng trưởng như việc làm, gia tăng thất nghiệp sẽ của năm 2019. Ngân hàng Nhà hiện nay. là vấn đề đau đầu đối với Chính nước cần duy trì chính sách tiền tệ phủ và chính người lao động. Bên Thứ hai, Chính phủ cần tiếp thận trọng trong thời gian tới nhằm cạnh đó, khả năng tận dụng được tục thực hiện các biện pháp quyết duy trì mức lạm phát không vượt xa những thành quả của cách mạng liệt để thắt chặt chi thường xuyên, khỏi mục tiêu, duy trì ổn định vĩ mô. công nghiệp lần thứ 4 để thúc đẩy minh bạch và tránh lãng phí trong Hàm ý chính sách sự phát triển kinh tế nói chung và sử dụng vốn đầu tư công. Hiện nay, của từng ngành sản xuất, dịch vụ tốc độ tăng thu ngân sách đang Chính sách trong ngắn hạn nói riêng là nhiệm vụ khó có thể không theo kịp tốc độ tăng của nợ Về ngắn hạn, Việt Nam cần rà thực hiện trong bối cảnh năng suất công khiến gánh nặng nợ đang soát và lựa chọn sử dụng hiệu quả lao động, môi trường kinh doanh và tăng dần. Trong khi đó, thu ngân các nguồn lực cho tăng trưởng kinh năng lực cạnh tranh toàn cầu của sách chủ yếu dựa vào những nguồn tế trước những thay đổi toàn cầu Việt Nam còn nhiều hạn chế. Do thu ngắn hạn như bán tài sản, còn diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. vậy trước mắt, Chính phủ cần tiếp nguồn thu từ hoạt động thương Tư duy thúc đẩy tăng trưởng dựa tục cải thiện môi trường kinh doanh, mại quốc tế đang giảm nhanh do vào các nguồn lực truyền thống nâng cao năng suất lao động, tăng thực hiện các cam kết cắt giảm như tăng sản lượng khai thác tài cường năng lực nghiên cứu và phát thuế theo lộ trình hội nhập kinh tế nguyên thiên nhiên và tận dụng lao triển, ứng dụng KH&CN, tạo nền quốc tế. Điều này có nghĩa là Việt động giá rẻ không còn phù hợp mà tảng cho Việt Nam hướng tới Chính Nam đang thiếu “đệm tài khóa” để cần phải đẩy mạnh nguồn lực khoa phủ số và nền kinh tế số trong đối phó với các cú sốc bên ngoài học, công nghệ và đổi mới sáng tương lai. Về chính sách ngắn hạn, (nếu có) như nhiều quốc gia khác. 5 Soá 7 naêm 2019
  6. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Môi trường kinh doanh theo đó mới như việc tham gia các Hiệp cách mạng công nghiệp lần thứ 4, cũng khó cải thiện được khi doanh định thương mại tự do thế hệ mới vai trò của con người càng được nghiệp và người dân luôn phải đối (CPTPP, Hiệp định thương mại tự nâng cao và đặt vào trung tâm. Sự mặt với nỗi lo tăng thuế, phí để bù do Việt Nam - EU…) yêu cầu Việt phát triển của máy móc, tự động đắp cho thâm hụt ngân sách và chi Nam cần có những cải cách cao hóa, số hóa toàn bộ đời sống kinh trả nợ công của Chính phủ. Bên hơn để thực hiện đầy đủ các cam tế - xã hội sẽ đặt con người trước cạnh đó, đối với lĩnh vực phân bổ kết quốc tế cả về thuế quan, hàng hai lựa chọn: hoặc là bị nô lệ hóa ngân sách nhà nước, các văn bản rào phi thuế quan, sở hữu trí tuệ, trước máy móc, hoặc là làm chủ pháp luật cần được xây dựng theo mua sắm chính phủ và phát triển máy móc. Điều này phụ thuộc vào hướng đánh giá kết quả đầu ra và bền vững… Thêm vào đó, với hạn việc một xã hội tạo ra con người hiệu quả cuối cùng của chi tiêu chế về trình độ công nghệ sẽ đặt trong xã hội đó như thế nào. công, chứ không chỉ tập trung chủ Việt Nam trước nhiều thách thức Về mặt luật pháp, việc tạo dựng yếu vào việc kiểm soát đầu vào và trong việc phát triển các xu hướng kiểm soát quy trình, thủ tục. một nhà nước pháp quyền thực thụ thương mại mới một cách bền vững là giải pháp mang tính sống còn. Thứ ba, cần tiếp tục đẩy nhanh như thương mại số, thương mại Một nhà nước pháp quyền thực thụ cải cách để thật sự vận hành một điện tử qua biên giới… sẽ định hình mô hình nhà nước, nhà nước kiến tạo, phát triển. Khu - Không ngừng cải thiện môi cấu trúc xã hội và các hoạt động vực tư nhân ngày càng thể hiện vai trường đầu tư để tận dụng vị thế của sản xuất kinh doanh, tạo một môi trò quan trọng trong cơ cấu vốn Việt Nam trong thị trường ASEAN trường bình đẳng và công lý. Tuy đầu tư toàn xã hội. Cụ thể, trong và cơ hội do các hiệp định thương nhiên, trong hoàn cảnh phải đối năm 2018 khu vực tư nhân đã mại tự do tạo ra để thu hút vốn FDI, mặt với những thay đổi như vũ bão chiếm hơn 43% tổng vốn, cao hơn gồm cả doanh nghiệp Mỹ và doanh trên thế giới hiện nay, một giải pháp con số 40% của năm 2017. Tăng nghiệp nước khác đang đầu tư tại tình thế trong lĩnh vực luật pháp là trưởng vốn đầu tư ở khu vực này Trung Quốc, nếu như có sự chuyển xây dựng hệ thống luật pháp về cũng được duy trì ở mức 18,5%, dịch đầu tư ra khỏi Trung Quốc của sở hữu trí tuệ đầy đủ hơn và Nhà bỏ xa mức tăng trưởng của khu các doanh nghiệp này. nước tập trung vào việc bảo vệ và vực nhà nước (chỉ gần 4%). Điều thực thi luật này một cách nghiêm đó thể hiện sự phát triển mạnh và - Việc điều hành tỷ giá, sau hơn ngặt. Có thể chọn hướng đi này ổn định của hoạt động đầu tư tư 3 năm kể từ ngày Ngân hàng Nhà như một bước đột phá trong việc nhân, hứa hẹn sự lấn át khu vực nước công bố áp dụng tỷ giá trung cải cách luật pháp ở Việt Nam. Vì nhà nước về khối lượng đầu tư. Tuy tâm gắn theo 8 đồng tiền, thực tế nhờ có một hệ thống luật pháp về nhiên, có một vấn đề đáng quan diễn biến biến động của VND/USD sở hữu trí tuệ chặt chẽ, Việt Nam tâm là hiện nay khối doanh nghiệp trên thị trường ngoại hối cho thấy có thể hội nhập với thế giới thực tư nhân, ngoại trừ một số phát triển VND vẫn luôn được gắn theo đồng chất hơn. Đồng thời, điều quan dựa trên các quan hệ thân hữu, thì USD. Trong bối cảnh hội nhập trọng hơn, là sẽ dần hình thành một đa phần còn lại chưa thực sự lớn ngày càng sâu rộng, sự đa dạng tầng lớp sống bằng các sản phẩm mạnh và còn chịu nhiều rào cản từ hóa các đồng tiền trong thanh toán trí tuệ của mình. Đây là nền tảng môi trường thể chế và kinh doanh ngày càng gia tăng thì việc áp dụng cho mọi sáng tạo từ bên trong và trong nước. thực chất hơn nữa tỷ giá trung tâm tiếp nhận đổi mới từ bên ngoài. Nói là rất cần thiết. Ngoài ra, về phản ứng chính cách khác, việc hình thành một môi sách trong quá trình hội nhập, Việt Tầm nhìn chính sách trung và trường bảo đảm sở hữu trí tuệ đầy Nam cần chú ý một số điểm sau: dài hạn đủ sẽ tạo ra một đội ngũ tiên phong đưa Việt Nam hòa nhập với cuộc - Trong thời gian tới, thương mại Trong trung và dài hạn, để Việt cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Việt Nam sẽ không chỉ phải đối Nam bắt kịp với những khuynh và xa hơn nữa. mặt với nhiều khó khăn, thách thức hướng đang thay đổi hiện nay của từ bên ngoài như những diễn biến nhân loại, hai yếu tố cần thiết có lẽ Về mặt giáo dục, Việt Nam cần khó lường của chiến tranh thương là môi trường luật pháp và hệ thống cải cách triệt để hệ thống giáo dục mại Mỹ - Trung, gia tăng hàng rào giáo dục. Lý do là vì nguyên nhân từ bậc phổ thông cơ sở, đưa hệ thương mại, thay đổi chuỗi cung cuối cùng của mọi thành công trong thống giáo dục thoát ly khỏi mô hình ứng và dòng vốn đầu tư…, mà còn phát triển đều bắt đầu từ con người. của cuộc cách mạng công nghiệp phải đối mặt với những thách thức Đặc biệt, trong bối cảnh của cuộc lần thứ nhất và lần thứ hai. Việc giải 6 Soá 7 naêm 2019
  7. Diễn đàn khoa học - công nghệ phóng giáo dục có ý nghĩa tạo ra chuyển đổi nhanh chóng mô hình đạt được tăng trưởng xuất khẩu bền những con người sẵn sàng bước tăng trưởng để Việt Nam có thể vững. Các doanh nghiệp sản xuất vào giai đoạn tiếp nhận đổi mới và vươn lên vị thế quốc gia có mức thu trong nước cần phải nắm rõ các quy thực hành sáng tạo, là nguồn đầu nhập cao vào năm 2045. Để đạt định cũng như những đặc tính riêng vào cho tầng lớp sáng tạo và làm được mục tiêu này, Việt Nam cần về hàng hóa nhập khẩu tại các thị chủ máy móc trong bối cảnh cách phải thoát khỏi việc phát triển kinh trường mục tiêu nhằm nâng cao mạng công nghiệp lần thứ 4. Bản tế dựa vào thâm dụng lao động giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm. thân việc cải cách giáo dục cũng là rẻ và thâm dụng tài nguyên thiên Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng sản phẩm của việc bảo vệ thực thi nhiên, nhanh chóng chuyển hướng cần cập nhật các cơ hội, thách thức quyền sở hữu trí tuệ. Bởi vì một hệ chiến lược sang tăng cường năng từ các hiệp định thương mại tự do thống giáo dục mới sẽ phải thoát ly suất yếu tố tổng hợp ở tất cả các (FTA) mà Việt Nam đã ký kết và có khỏi sự độc quyền về chương trình, ngành thông qua ứng dụng khoa hiệu lực để mở rộng thị trường tiềm về sách giáo khoa. Việc xóa bỏ độc học, công nghệ và đổi mới sáng năng. quyền này là chìa khóa để nâng cao tạo, từ đó tạo nền tảng chuyển đổi chất lượng giáo dục ở Việt Nam. Và sang nền kinh tế số trong tương lai. - Cần nhanh chóng trở thành nơi điều này chỉ có thể thực hiện được quản trị toàn bộ chuỗi giá trị toàn Nâng cao khả năng tham gia cầu, chứ không đơn thuần chỉ tham một cách hữu hiệu nhờ thay đổi tư của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn gia một vài khâu được điều khiển duy và chủ trương chính sách, dưới cầu trong bối cảnh cuộc cách mạng bởi các công ty đa quốc gia như sự bảo hộ của luật pháp sở hữu trí công nghiệp lần thứ 4. Việt Nam hiện tại. Để đạt được điều này, cần tuệ nghiêm ngặt và công bằng. Có hiện nay đã tham gia nhiều hơn vào nâng cấp doanh nghiệp trong chuỗi như vậy, Việt Nam mới hình thành chuỗi giá trị toàn cầu nhưng chủ giá trị bằng cách hỗ trợ các doanh được hệ thống giáo trình, phương yếu tham gia các liên kết sau ở các nghiệp nội địa nâng cao kỹ năng, pháp giáo dục, cũng như đội ngũ ngành thiết bị điện tử, máy tính, linh năng lực đổi mới sáng tạo và thực nhà giáo, giảng viên thực sự có kiện điện tử, dệt may và giày dép. tiễn quản lý bên trong để có khả năng lực và sống được bằng nghề. Các ngành công nghiệp này nằm năng ứng dụng được các phương Qua đó, tạo dựng lại nền tảng cho ở các khâu trung nguồn (midle- thức sản xuất mới với năng suất nền giáo dục quốc gia. stream) của chuỗi giá trị, có nghĩa cao hơn. Ngoài tầm nhìn nêu trên, một là chúng đóng góp phần lớn vào số vấn đề cần lưu ý sau đây có ý tổng giá trị xuất khẩu, nhưng tạo ra - Gắn kết phát triển chiến lược nghĩa quan trọng trong quá trình giá trị gia tăng rất nhỏ cho nội địa. lắp ráp với chiến lược phát triển phát triển sắp tới. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình năng lực công nghiệp nội địa và trạng đó là vì Việt Nam đang tập nền tảng công nghệ quốc gia bằng Xác định được lộ trình của nền cách tăng cường liên kết trong nước trung vào chuyên môn hoá ở khâu kinh tế số Việt Nam. Cuộc cách với nước ngoài, giữa doanh nghiệp lắp ráp và các công ty có vốn đầu mạng công nghiệp lần thứ 4 với xuất khẩu với các doanh nghiệp tư nước ngoài đang thống trị ở các đặc trưng trọng yếu nhất là kỹ thuật khâu hạ nguồn và thượng nguồn. cung cấp đầu vào trong nước, bởi số đang diễn ra mạnh mẽ, làm thay Với những thành tựu của cuộc cách khả năng kết nối của quốc gia với đổi một cách sâu rộng nền kinh tế mạng công nghiệp lần thứ 4 mang thị trường toàn cầu về hàng hoá và thế giới trên mọi khía cạnh của đời lại, những lợi thế so sánh về lao dịch vụ là nhân tố quyết định khả sống kinh tế - xã hội. Cuộc cách động giá rẻ/năng suất thấp sẽ mờ năng tham gia chuỗi giá trị toàn mạng này đang tạo ra những thay nhạt dần trong tương lai, điều đó có cầu cho Việt Nam. Làm được như đổi căn bản về nguồn lực cho phát nghĩa là làn sóng công việc lắp ráp vậy sẽ giúp nâng cấp sự tham gia triển kinh tế, khả năng phá vỡ cấu thuần tuý sẽ chảy ra khỏi Việt Nam của Việt Nam vào chuỗi giá trị bao trúc ngành và thị trường, cùng sự để lại hậu quả hàng loạt công nhân gồm: nâng cấp sản phẩm, quy chuyển đổi của toàn bộ hệ thống mất việc làm (thất nghiệp cơ cấu) trình, chức năng, toàn ngành, để sản xuất, quản lý và quản trị trên và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sẽ chuyển vai trò từ “trung gian lắp khắp toàn cầu. Tổ chức Hợp tác và sụt giảm. Để tránh khỏi những rủi ráp” thành “nhà sản xuất” ? phát triển kinh tế (OECD) dự báo ro này, Việt Nam cần thực hiện một rằng, với mô hình tăng trưởng hiện số giải pháp sau: tại Việt Nam sẽ không thể đạt được vị thế quốc gia có mức thu nhập - Nâng cao chuỗi giá trị sản cao trước năm 2058, vì vậy cần phẩm xuất khẩu của Việt Nam để 7 Soá 7 naêm 2019
  8. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Quỹ phi lợi nhuận: Nguồn vốn cho khởi nghiệp chưa được khai phá? Phan Hoàng Lan, Vũ Hải Anh Bộ Khoa học và Công nghệ Nguồn vốn từ quỹ phi lợi nhuận đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực y, dược, nông nghiệp công nghệ cao, môi trường…, những lĩnh vực tốn nhiều tiền đầu tư nhưng cần thời gian dài chờ đợi kết quả, cũng như sự ảnh hưởng đến xã hội mà các nhà đầu tư vì lợi nhuận thông thường ít quan tâm đến. Tuy nhiên ở Việt Nam, nguồn vốn này hầu như chưa được “khai phá”. Bài viết giới thiệu về loại hình quỹ phi lợi nhuận và nêu những đề xuất cụ thể cho Việt Nam. Quỹ phi lợi nhuận là gì? một cá nhân, một gia đình, hay hội, không vì mục đích lợi nhuận; một doanh nghiệp; còn các quỹ từ quỹ xã hội được tổ chức, hoạt Trên thực tế, chưa có một định thiện thường bao gồm nhiều và đa động với mục đích chính nhằm hỗ nghĩa thống nhất về quỹ phi lợi dạng các tổ chức từ thiện, từ bệnh trợ và khuyến khích phát triển văn nhuận. Mỗi cơ quan, tổ chức hay viện, trường học, nhà thờ, cho hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể chính bản thân các đơn vị hoạt đến các nhà tài trợ cho tổ chức, thao, khoa học và các mục đích động dưới hình thức quỹ này lại cá nhân khác. phát triển cộng đồng, không vì có một định nghĩa riêng cho nó. Tại Hoa Kỳ, Hội đồng quỹ phi lợi Tại Việt Nam, Nghị định số mục đích lợi nhuận. nhuận (Council of Foundations 30/2012/NĐ-CP của Chính phủ Tựu chung lại, quỹ phi lợi - CoF) - một hiệp hội lãnh đạo về tổ chức, hoạt động của quỹ xã nhuận hay quỹ từ thiện, quỹ xã hội các quỹ tài trợ (grantmaking hội, quỹ từ thiện (Nghị định 30) (gọi chung là quỹ phi lợi nhuận) là foundations) được thành lập từ thừa nhận hai loại quỹ là quỹ từ một hình thức pháp nhân độc lập, năm 1941 - định nghĩa quỹ phi thiện và quỹ xã hội, và định nghĩa có con dấu, tài khoản riêng; cung lợi nhuận là một loại tổ chức hỗ các quỹ này là “tổ chức phi chính cấp khoản tiền tài trợ hoặc các hỗ trợ các hoạt động từ thiện bằng phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện trợ cho các tổ chức, cá nhân khác việc cung cấp các khoản tài trợ dành một khoản tài sản nhất định hoặc cung cấp kinh phí cho mục cho các tổ chức và thiết chế khác để thành lập hoặc thành lập thông đích từ thiện. nhau hoặc cho các cá nhân vì qua hợp đồng, hiến tặng, di chúc; mục đích khoa học, giáo dục, văn có mục đích tổ chức, hoạt động Quỹ phi lợi nhuận có thể được hóa, tôn giáo, và các mục tiêu từ theo quy định tại Điều 2 Nghị định điều hành bởi một tổ chức, cơ thiện khác1. CoF phân chia các này, được cơ quan nhà nước có quan, doanh nghiệp như một quỹ này thành hai loại là quỹ tư thẩm quyền cấp giấy phép thành dạng quỹ cộng đồng hoặc dưới nhân (private foundations) và quỹ lập, công nhận điều lệ”. Theo đó, hình thức quỹ cá nhân, thường từ thiện (public charity). Nguồn tài quỹ từ thiện hoạt động với mục được tài trợ bởi một cá nhân, hoặc chính của các quỹ tư nhân thường đích chính nhằm hỗ trợ khắc phục một gia đình. đến từ những nguồn nhỏ hoặc từ khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, Sử dụng quỹ phi lợi nhuận đầu tư cho một nguồn, như tiền tài trợ của sự cố nghiêm trọng, các bệnh khởi nghiệp sáng tạo nhân mắc bệnh hiểm nghèo và 1 https://www.cof.org/content/foundation- các đối tượng khác thuộc diện Không chỉ được sử dụng cho basics#what_is_a_foundation. khó khăn cần sự trợ giúp của xã các mục tiêu vì cộng đồng hay 8 Soá 7 naêm 2019
  9. Diễn đàn khoa học - công nghệ nhân đạo, các quỹ phi lợi nhuận mạo hiểm của mình để đẩy nhanh Kể từ năm 1969, Chính phủ cũng là một nguồn tài chính tiềm quá trình phát triển thuốc điều trị Mỹ đã có những ưu đãi thuế dành năng cho các doanh nghiệp khởi bệnh xơ nang4. Nhiều quỹ phi lợi cho các quỹ phi lợi nhuận để cho nghiệp sáng tạo. Việc sử dụng nhuận khác cũng làm như CFF: phép chúng sử dụng những ưu các quỹ phi lợi nhuận để đầu tư thay vì chỉ đầu tư theo các kênh thế về thuế của mình cho hoạt cho khởi nghiệp sáng tạo xuất truyền thống, thì nay, có thể đầu động đầu tư. Nhưng mãi đến năm phát từ tư duy và nhận thức rằng, tư cho các công ty khởi nghiệp. 2012, Bộ Ngân khố Mỹ mới hoàn nếu như tiền bạc được sử dụng thiện quy định về hoạt động đầu Bill & Melinda Gates Foundation đúng cách và bền vững thì không tư của các quỹ tư nhân. Theo đó, - quỹ từ thiện lớn nhất thế giới do những chúng có thể phát triển các các quỹ tư nhân được phép thực vợ chồng tỷ phú Bill Gates sáng doanh nghiệp, mà còn có thể giải hiện các khoản đầu tư liên quan lập - đã bắt đầu triển khai và phát quyết các vấn đề xã hội và vấn đề đến mục tiêu của chương trình triển các hoạt động đầu tư kể từ môi trường sinh thái2. Năm 2000, (Program-Related Investments - khi bắt đầu thành lập năm 2009. Quỹ Cystic Fibrosis Foundation PRIs) bao gồm: cho vay, bảo lãnh Theo đó, giá trị đầu tư này đã tăng - CFF (Mỹ) bắt đầu rót tiền vào vay, hoặc đầu tư chiếm cổ phần, từ 400 triệu USD lên 1,5 tỷ USD. một công ty công nghệ sinh học để thực hiện và thúc đẩy các Các hoạt động đầu tư của Quỹ nhỏ tên là Aurora Bioscatics (nay mục tiêu của quỹ mà không nhận tập trung vào các doanh nghiệp là Vertex Cosmetics) với mong lại lợi nhuận về mặt tài chính6. liên quan đến sinh học, y học, muốn công ty có thể tìm ra một loại Theo hướng dẫn năm 2012 của dược phẩm... Vào năm 2015, Quỹ thuốc có thể góp phần sửa chữa Bộ Ngân khố, thì các quỹ phi lợi này đã đầu tư 52 triệu USD vào các khuyết điểm di truyền cốt lõi ở nhuận bị cấm đầu tư mạo hiểm một công ty công nghệ sinh học người mắc bệnh xơ nang3. Số tiền (quy định tại Điều 4944(a) của Bộ của Đức tên là CureVac. Năm đầu tư của CFF lên tới 40 triệu luật Thuế vụ7). Tuy nhiên, trong 2014, Michael J. Fox Foundation USD và được coi là một “canh hướng dẫn sửa đổi năm 2016, Bộ (Quỹ do diễn viên Mỹ Michael J bạc” lớn không có gì đảm bảo. Ngân khố đã mở rộng định nghĩa Fox sáng lập nhằm chống lại căn Đầu năm 2012, Cơ quan Quản về các khoản đầu tư của quỹ. bệnh parkinson) đã rót 17 triệu lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ Theo đó, các quỹ có thể đầu tư USD vào một công ty dược đang (FDA) đã phê duyệt loại thuốc vào các lĩnh vực rộng hơn, trong nghiên cứu phương pháp chữa đầu tiên để giải quyết nguyên đó có cả đầu tư cho các doanh bệnh parkinson. Các quỹ này đều nhân cơ bản của bệnh xơ nang do nghiệp mới, khởi nghiệp. Quy thu lại hàng triệu USD với khoản Aurora Bioscatics sản xuất tên là định mới này khuyến khích các đầu tư của mình. Tuy nhiên, các Kalydeco. Khoản đầu tư của CFF quỹ đầu tư vào các hoạt động đổi quỹ đều cho rằng lợi nhuận họ vào Aurora Bioscatics đã được mới sáng tạo mà không cần lo nhận lại không nhiều, thậm chí là đền đáp. Năm 2014, Quỹ đã bán vi phạm quy định về đầu tư mạo không đáng kể, vì mục tiêu của bản quyền các phương pháp điều hiểm. họ là đẩy được các sản phẩm, trị xơ nang do Aurora Bioscatics dịch vụ sáng tạo có ý nghĩa xã hội Đối với Việt Nam, quỹ phi lợi phát triển với giá 3,3 tỷ USD. Hiện ra thị trường nhanh hơn. Đổi lại, nhuận đầu tiên đầu tư cho khởi nay CFF vẫn đang tài trợ cho các các quỹ nắm giữ cổ phần, quyền nghiệp sáng tạo là Quỹ khởi chương trình nghiên cứu của các phân chia doanh số trong tương nghiệp doanh nghiệp khoa học công ty dược phẩm sinh học hàng lai của các công ty dược mà họ và công nghệ Việt Nam (Startup đầu thế giới: Pfizer, Genzyme, đầu tư, hoặc yêu cầu được trả lợi Vietnam Foundation - SVF), đây Editas và Corbus. Tổng cộng, tức khi các sản phẩm sáng tạo, Quỹ đã đầu tư 425 triệu USD như công nghệ của doanh nghiệp khởi 6 Steps to Catalyze Private Foundation là một phần của mô hình từ thiện nghiệp đạt đến một mốc doanh Impact Investing, David Wilkinson, https://obamawhitehouse.archives.gov/ 2 https://www.scheuch-foundation.org/ thu nhất định5. blog/2016/04/21/steps-catalyze-private- en/why-we-believe-foundations-have- foundation-impact-investing. everything-to-invest-in-social-startups/. 4 http://fortune.com/2015/05/27/charities- 7 Examples of Program-Related 3 Một bệnh di truyền nguy hiểm, gây ra bởi acting-like-venture-capitalists/. Investments, https://www.federalregister. các bất thường của CFTR (protein điều hòa 5 http://fortune.com/2015/05/27/charities- gov/documents/2016/04/25/2016-09396/ dẫn truyền qua màng xơ nang). acting-like-venture-capitalists/. examples-of-program-related-investments. 9 Soá 7 naêm 2019
  10. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ là một quỹ xã hội hóa và phi lợi quỹ phi lợi nhuận dành cho khởi nghiệp sáng tạo - vẫn cần có nhuận, ra đời nhằm hỗ trợ các nghiệp, rõ ràng cần có cơ chế cụ những ưu đãi chính sách cụ thể, hoạt động phát triển khởi nghiệp. thể để khuyến khích hình thành đồng thời cần được ưu tiên trong Quỹ đặc biệt chú trọng đến lĩnh nhiều hơn các quỹ như vậy. các chính sách hỗ trợ của Nhà vực nông nghiệp công nghệ cao nước như các dự án, chương trình Trước hết, hình thức quỹ phi với mục tiêu nâng tầm giá trị công hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp lợi nhuận tài trợ, đầu tư cho khởi nghệ Việt Nam. SVF huy động vốn nghiệp cần được ghi nhận trong sáng tạo gắn với phát triển tiềm từ các thành viên góp vốn, các tổ các văn bản quy phạm pháp luật. lực địa phương, hay phát triển hệ chức, cá nhân trong xã hội…, đặc Hiện nay, chúng ta mới chỉ có sinh thái khởi nghiệp sáng tạo biệt là các tổ chức nước ngoài, Nghị định 30 quy định về việc sử gắn với tác động xã hội. tổ chức phi chính phủ. Ngoài ra, dụng quỹ phi lợi nhuận cho các Thứ ba, hiện tại đơn vị đóng SVF còn góp phần tích cực trong hoạt động xã hội, nhân đạo, mà góp chính cho Quỹ SVF - quỹ phi việc phát triển hệ sinh thái cho chưa có quy định nào khác nói về lợi nhuận dành cho khởi nghiệp cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam, việc sử dụng quỹ phi lợi nhuận để đầu tiên tại Việt Nam là Tập đoàn kết nối cộng đồng doanh nghiệp đầu tư cho khởi nghiệp, chưa có Sơn KOVA với người sáng lập là khởi nghiệp (Startups), Hệ thống một cơ chế hiệu quả để sử dụng PGS.TS Nguyễn Thị Hòe, doanh hỗ trợ doanh nghiệp (Business nguồn vốn từ các quỹ này nhằm nhân khởi nghiệp từ khoa học Acceelerator) và các Quỹ đầu tư hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Do mạo hiểm (Venture Capital)8. và công nghệ và có mong muốn đó, cần xây dựng được cơ chế rõ được hỗ trợ trở lại cho các thế hệ Một số đề xuất cho Việt Nam ràng và cụ thể về việc sử dụng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng nguồn vốn từ các quỹ phi lợi tạo, khởi nghiệp công nghệ tương Theo xu hướng trên thế giới, nhuận để đầu tư cho khởi nghiệp lai của Việt Nam. Trong khi đó, nguồn vốn từ các quỹ đầu tư mạo sáng tạo, các phương thức đầu rất nhiều tập đoàn, doanh nghiệp hiểm9 vẫn là nguồn vốn quan tư, rót vốn, các điều kiện để sử lớn có các nguồn tài chính phục trọng đối với startup. Tuy nhiên, dụng quỹ phi lợi nhuận hỗ trợ vụ trách nhiệm xã hội lại chưa nguồn vốn từ đầu tư mạo hiểm khởi nghiệp sáng tạo. Chúng tôi quan tâm đến vấn đề hỗ trợ khởi cũng ngày càng cạnh tranh hơn, đề xuất bổ sung các quy định về nghiệp. Rất cần các hoạt động khi số lượng các quỹ đầu tư mạo đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo truyền thông, truyền cảm hứng để hiểm có giới hạn mà nhu cầu về trong Nghị định 30, hoặc có một có thể thu hút các nhà hảo tâm, vốn của startup thì ngày càng văn bản khác quy định riêng về doanh nghiệp, tập đoàn tham gia tăng. Do đó, nguồn vốn từ quỹ phi việc sử dụng nguồn vốn từ quỹ lợi nhuận có khả năng đóng vai đóng góp, đầu tư vào các quỹ phi phi lợi nhuận cho khởi nghiệp. trò ngày càng quan trọng trong lợi nhuận đầu tư cho khởi nghiệp việc phát triển các doanh nghiệp Thứ hai, hiện nay đã có các sáng tạo. chính sách ưu đãi thuế dành cho khởi nghiệp sáng tạo, đặc biệt là Hy vọng rằng, các cơ chế, hoạt động của hai loại hình độc các doanh nghiệp trong lĩnh vực chính sách nêu trên, nếu được lập là quỹ phi lợi nhuận (Luật y, dược, nông nghiệp công nghệ triển khai, sẽ là động lực để phát Thuế thu nhập doanh nghiệp - ưu cao, môi trường… những lĩnh vực triển loại hình quỹ phi lợi nhuận đãi đối với các khoản tài trợ nhận cần nhiều tiền đầu tư nhưng cần hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo tại được để sử dụng cho hoạt động thời gian dài chờ đợi kết quả và Việt Nam, bổ sung thêm nguồn giáo dục, nghiên cứu khoa học, sự quan tâm đến ảnh hưởng xã vốn phát triển mà các nhà khởi văn hoá, nghệ thuật, từ thiện, hội mà nhà các nhà đầu tư vì nghiệp tiềm năng đang tìm kiếm, nhân đạo và hoạt động xã hội lợi nhuận thông thường không đồng thời thúc đẩy các hoạt động khác tại Việt Nam) và quỹ đầu tư có được. Với các thế mạnh của khởi nghiệp dựa trên tác động xã cho khởi nghiệp sáng tạo (Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hội ? 8 https://startup.gov.vn/noidung/csdl/Pages/ - ưu đãi đối với nhà đầu tư khởi QuyDauTu.aspx?ItemID=22. nghiệp sáng tạo). Tuy nhiên, loại 9 Nguồn vốn đầu tư vào những doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có rủi ro cao nhưng có hình gộp giữa hai hình thức này - khả năng mang lại lợi nhuận cao. quỹ phi lợi nhuận đầu tư cho khởi 10 Soá 7 naêm 2019
  11. Diễn đàn khoa học - công nghệ InsurTech và xu hướng phát triển TS Trần Thị Tuấn Anh Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Công nghệ bảo hiểm (InsurTech) là một lĩnh vực quan trọng nhất của công nghệ tài chính (FinTech), trong đó các thành tựu của khoa học và công nghệ (KH&CN) được ứng dụng đã giúp lĩnh vực này có sự phát triển vượt bậc. InsurTech được nhận định là xu thế phát triển tất yếu của thị trường bảo hiểm thế giới, và Việt Nam không là ngoại lệ. InsurTech và xu hướng phát triển sản phẩm, mua và gửi yêu cầu bồi vực này ngày càng nhiều. Công thường trên các nền tảng ứng dụng ty Metromile (Mỹ) cung ứng các InsurTech là thuật ngữ ghép đa chức năng. Thứ hai, công ty bảo sản phẩm bảo hiểm cá nhân hóa bởi Insurance (bảo hiểm) và hiểm có thể liên kết với các công ty (khách hàng trả phí bảo hiểm dựa Technology (công nghệ)*. Năm dịch vụ di động và ngân hàng điện trên quãng đường mà xe máy đã 2018 tổng phí bảo hiểm khai thác tử nên việc thu phí sẽ dễ dàng thực chạy). Công ty Insurtech Pixoneye qua Insurtech đạt khoảng 187 tỷ hiện qua các dịch vụ thu tiền trực (Mỹ) cung cấp công nghệ thị giác USD, tương đương 4% tổng phí tuyến, ví điện tử, ngân hàng trên máy tính, thực hiện phân tích thư toàn cầu. Dự báo đến năm 2023, di động... Cách thức thanh toán viện ảnh trực tuyến công khai của con số này sẽ vượt ngưỡng 400 tỷ tiện dụng này giúp xóa bỏ những người dùng để tính toán và lập hồ USD, chiếm khoảng 7% tổng phí khó khăn thường gặp phải trong xu sơ rủi ro cá nhân, từ đó đưa ra tư bảo hiểm toàn cầu.  hướng bán hàng truyền thống khi vấn rủi ro và định phí bảo hiểm cho Bằng việc ứng dụng dữ liệu lớn mà mọi việc đều thông qua đại lý từng khách hàng. Công ty Digital (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI), bảo hiểm hoặc các đại diện, đôi khi Fineprint (Anh) cung cấp dịch vụ internet vạn vật kết nối (IoT), các dẫn đến xung đột lợi ích. Thứ ba, khai thác dữ liệu thông qua các công ty hoạt động trong lĩnh vực cùng với sự phát triển của IoT, các trang mạng xã hội bằng cách phân Insurtech đang đạt được những trang mạng xã hội, các ứng dụng tích các “trạng thái” hoặc các bài bước tiến đáng kể: dịch vụ tốt thu thập thông tin nhanh và nhiều, viết mà khách hàng cập nhật trên hơn, đơn giản hơn và hiệu quả giúp các công ty bảo hiểm có được trang chủ của họ. Các thông tin này hơn; hành vi tiếp cận khách hàng, thông tin chi tiết của từng khách hàm chứa rất nhiều dữ liệu cá nhân chăm sóc khách hàng cũng có hàng, từ đó thiết kế các sản phẩm thực sự hữu ích với doanh nghiệp những bước thay đổi sâu sắc gần bảo hiểm cá nhân hóa, phù hợp với bảo hiểm. như toàn diện. Trong đó có thể kể từng khách hàng với mức phí linh Ở châu Á, làn sóng InsurTech đến những ưu điểm nổi bật sau: hoạt và hợp lý, thay cho các sản cũng đang nổi lên, ngay cả tại Thứ nhất, thông tin đến với người phẩm bảo hiểm truyền thông là gói những nước mà ngành bảo hiểm tiêu dùng nhanh chóng và đầy đủ thiết kế sẵn và tiếp thị đến số đông truyền thống vẫn chưa phát triển thông qua sự phổ biến và tiện ích khách hàng. mạnh như Indonesia, Philippines, của các ứng dụng trên thiết bị di Sự ra đời và phát triển của Việt Nam, Lào... Ở Malaysia, công động hoặc bằng các trang Web. Insurtech đã mở ra nhiều cơ hội ty InsurTech Jirnexu đang cung Người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp cấp bảo hiểm cho khách hàng (startup). Theo nghiên cứu của thương mại điện tử. Ở Thái Lan, * Từ ghép này ra đời sau thuật ngữ “Fintech”, Fintech Global, trong vòng 5 startup Claim Di nhắm đến giải lấy cảm hứng từ từ ghép “FinTech” và mới năm qua, tổng số tiền đầu tư vào pháp rút ngắn quy trình bảo hiểm chỉ xuất hiện vài năm gần đây. Không có tài Insurtech là khoảng 10 tỷ USD, cho ngành ô tô, Công ty AgentMate liệu nào ghi nhận từ “Insurtech” ra đời từ khi dự báo sẽ tăng nhanh trong thời cung cấp loại hình bảo hiểm di nào, nhưng một số chuyên gia cho rằng có thể xuất hiện khoảng đầu năm 2016 tại một gian tới. Ở châu Âu và Mỹ (nơi động. Singapore - trung tâm công số hội thảo về công nghệ bảo hiểm ở New bắt đầu của InsurTech), số lượng nghệ mới nổi ở Đông Nam Á đang York - trung tâm tài chính của thế giới. startup thành công trong lĩnh trở thành một cái nôi của InsurTech. 11 Soá 7 naêm 2019
  12. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS) chính sách thích hợp. tự như sàn giao dịch bất động sản, đã nhanh chóng công nhận công sàn giao dịch việc làm… để các Một là, Nhà nước cần hoàn nghệ mới này và hợp tác với Chính nhà cung ứng gặp gỡ các khách thiện khung pháp lý về công nghệ phủ Anh cùng đại diện nhiều hàng tiềm năng. Phía sau sàn giao tài chính nói chung và công nghệ nước để mở ra nền công nghiệp dịch thông minh này là một chuỗi bảo hiểm nói riêng để đảm bảo InsurTech. Đầu năm ngoái, Công giá trị bảo hiểm dựa trên nền tảng các hoạt động của InsurTech được ty công nghệ Firemark Labs đã ra InsurTech, sẽ được kích hoạt ngay đời nhằm hỗ trợ các startup. Trước diễn ra an toàn và thuận lợi. Sự an khi người tiêu dùng quyết định đó, InsurTech DirectAsia cũng đã toàn phải diễn ra toàn diện ở các tham gia một hợp đồng bảo hiểm ra đời tại đây, sau 4 năm hoạt động khía cạnh: khách hàng cảm thấy an trên sàn. Hoặc ngay cả những đã sáp nhập vào Tập đoàn bảo toàn với việc tham gia InsurTech, khách hàng không thực hiện giao hiểm Hiscox Insurance. GoBear doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch trên sàn, công nghệ InsurTech và Insurance Market - hai trang được an toàn với những quy định vẫn có thể lưu giữ các thông tin cần thông tin về InsurTech cũng đặt trụ pháp luật bảo vệ cho các hoạt động thiết để có những phản ứng thích sở tại Singapore, phục vụ cho cả hợp pháp, và chính phủ an toàn với hợp khi họ quay trở lại sàn giao Malaysia, Philippines, Thái Lan và khoản thuế thu được từ các doanh nghiệp InsurTech. dịch sau đó. Việt Nam... Nhiều chuyên gia nhận định, mặc dù Mỹ và châu Âu là nơi Hai là, chú trọng đẩy mạnh mối Thị trường bảo hiểm Việt Nam mở đầu cho làn sóng InsurTech liên kết hợp tác giữa các startup, rất tiềm năng và ngành công nghiệp nhưng châu Á mới là vùng đất tiềm đặc biệt là các startup về công InsurTech vẫn đang từng bước hình năng hấp dẫn nhiều nhà đầu tư nghệ với các doanh nghiệp bảo thành. Với lợi thế của một quốc gia nhất thế giới. hiểm truyền thống. Các doanh phát triển năng động, InsurTech nghiệp bảo hiểm truyền thống có Việt Nam hội tụ nhiều điều kiện Việt Nam cần làm gì? để bứt phá trong thời gian tới, góp nguồn vốn mạnh, sản phẩm phong Là một nền kinh tế mới nổi của phú nhưng ít nhanh nhạy với công phần xây dựng và phát triển bền khu vực Đông Nam Á, Việt Nam nghệ mới. Trong khi các startup vững đất nước ? cũng đã nhanh chóng gia nhập vào công nghệ rất nhanh nhạy với các TÀI LIỆU THAM KHẢO sân chơi năng động và đầy tính thành tựu mới của KH&CN. Bằng cạnh tranh của InsurTech. Mới đây cách kết hợp thế mạnh của mỗi 1. V. Gatteschi, F. Lamberti, C. Công ty cổ phần INSO Việt Nam Demartini, C. Pranteda, V. Santamaría bên, InsurTech sẽ được triển khai - một startup trong lĩnh vực công (2018), “Blockchain and Smart Contracts và phát triển bền vững. nghệ đã “bắt tay” với Tổng công ty for Insurance: Is the Technology Mature Bảo hiểm Bưu điện để ra mắt ứng Ba là, phát triển các trang Web Enough?”, Future Internet, 10(2), p.20. dụng InsurTech cho phép người so sánh giá. Việc này đã diễn ra rất 2.2JLT Re (2017), InsurTech: dùng có thể tự mua các gói bảo mạnh mẽ với các mặt hàng khác Rebooting (re)insurance, JLT Re hiểm và yêu cầu bồi thường mọi ở Việt Nam thông qua hoạt động VIEWPOINT. lúc, mọi nơi mà không cần các loại thương mại điện tử, nhưng gần như 3. Price water house Coopers (2016), giấy tờ, thủ tục. Bên cạnh đó, người chưa thực hiện với các sản phẩm “Opportunities await: How InsurTech is tiêu dùng đã bắt đầu biết đến nhiều bảo hiểm. Người tiêu dùng luôn có reshaping insurance”, Global FinTech hơn các ứng dụng Probot, Chatbot, nhu cầu được cung cấp thông tin Survey. Matchbook của Prudential hay đầy đủ, nhanh chóng, luôn muốn so sánh lựa chọn sản phẩm bảo 4.2https://tinnhanhchungkhoan.vn/ Timo của VPBank... bao-hiem/cuoc-cach-mang-moi-co-ten- hiểm phù hợp với bản thân trước Với quy mô dân số hơn 90 triệu khi đưa ra quyết định chính thức. insurtech-251903.html người, tầng lớp thu nhập khá giả Vì vậy, việc phát triển các cửa hàng 5.2http://iav.vn/vong-quanh-thi- cũng đang tăng lên nhanh chóng, “một chạm” dưới hình thức các truong/53313-con-bao-insurtech-va- kéo theo sự gia tăng đáng kể về nhu nhung-tac-dong-den-nganh-bao-hiem- trang web so sánh giá là cần thiết cầu bảo hiểm, dự báo InsurTech viet-nam và nên được chú trọng. sẽ thống lĩnh thị trường bảo hiểm 6.2https://vietnambiz.vn/buoc-dot- Việt Nam trong một tương lai không Bốn là, hình thành sàn giao dịch pha-cho-nganh-bao-hiem-tai-dong- xa. Để chủ động hội nhập và phát thông minh hoặc các ứng dụng nam-a-72496.html triển cùng làn sóng InsurTech, Việt thương mại điện tử chuyên giao Nam cần thiết phải chuẩn bị những dịch các sản phẩm bảo hiểm, tương 12 Soá 7 naêm 2019
  13. Diễn đàn khoa học - công nghệ Quản lý tài nguyên nước bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long PGS.TS Lê Anh Tuấn Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu Trường Đại học Cần Thơ Tháng 11/2017, khi ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), Chính phủ đã chỉ rõ, việc xây dựng một đồng bằng thích ứng với BĐKH, thịnh vượng và bền vững không phải là một lựa chọn, mà là điều bắt buộc. Hiện tại, ĐBSCL đang phải đối mặt với các vấn đề thay đổi đặc điểm lũ lụt vào mùa mưa, xâm nhập mặn vào mùa khô song song với tình trạng sụt lún và sạt lở ngày một gia tăng, đe dọa sự phát triển bền vững. Mới đây, ngày 18/6/2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì Hội nghị đánh giá kết quả hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ. Bài viết lược khảo các kết quả nghiên cứu của nhiều báo cáo kỹ thuật liên quan đến quản lý tài nguyên nước, ứng phó ĐBKH và những lưu ý khi áp dụng Nghị quyết vào thực tiễn. Những diễn biến bất thường ở ĐBSCL tai, thời tiết bất thường đã được ghi vùng ĐBSCL đều sẽ gia tăng, phổ nhận. Sự bất thường của thiên nhiên biến tăng khoảng 20C. Mô hình cũng Do đặc điểm nằm ở hạ lưu cuối đã gây nên những tổn thất về năng phỏng đoán trong khoảng 30 năm cùng của hệ thống sông Mekong, tới, tổng lượng mưa trung bình trong suất và sản lượng hoặc làm gia tăng vùng ĐBSCL có địa hình rất thấp và vùng ĐBSCL cũng sẽ sụt giảm, chi phí đầu tư cho sản xuất nông phẳng, cao độ trung bình phổ biến phổ biến từ 10 đến 20%, khiến việc nghiệp. Với mức độ gia tăng về tần ở mức 0,8-1,4 m so với mực nước cung cấp nước ngọt cho canh tác lúa suất và cường độ các hiện tượng thời biển. Vùng đồng bằng có một hệ thêm khó khăn. Điều đáng lưu ý là tiết cực đoan đến khu vực đã làm gia thống sông rạch chằng chịt liên kết sự phân bố mức giảm sút này thay tăng mối đe doạ an ninh lương thực nhau và cùng đổ ra biển Đông và đổi theo tháng trong mùa mưa. và tạo nên những biến động tiêu biển Tây. Với hai mặt giáp biển có cực lên khu vực nông thôn, như hiện Hiện tượng nóng lên toàn cầu tổng chiều dài vùng ven biển hơn tượng suy giảm nguồn tài nguyên vẫn tiếp diễn ngày càng nghiêm 700 km nên tác động cả tích cực lẫn thiên nhiên, thu hẹp diện tích canh trọng hơn và chưa có dấu hiệu giảm tiêu cực của các dao động biển lên tác và cư trú. Trong hiện tại và tương vùng đồng bằng là rất lớn. ĐBSCL bớt mặc dù đã có nhiều cảnh báo từ lai, các luồng di dân từ nông thôn các nhà khoa học và các tổ chức xã hiện đang chịu hai tác động dòng lên các vùng đô thị sẽ diễn ra nhanh chảy: dòng chảy của sông Mekong hội dân sự. Hệ quả của hiện tượng hơn và tạo ra những hệ lụy xấu về nóng lên toàn cầu là sự tan băng và từ thượng nguồn đổ về và dòng triều mặt xã hội cũng như môi trường. do tác động biển xâm nhập vào đất nước biển dâng, khiến nhiều vùng liền. Trong khoảng từ tháng 8 đến Theo kết quả phỏng đoán kịch đất thấp sẽ bị ngập chìm và xâm tháng 10 là thời gian bị ngập lũ, còn bản BĐKH ở ĐBSCL từ các mô hình nhập mặn. Ủy ban Liên chính phủ từ tháng 1 đến tháng 4 là thời gian bị toán* cho thấy, trong thập niên 2030- về BĐKH đã từng cảnh báo vùng 2040, nhiệt độ trung bình cũng như ĐBSCL là một trong ba vùng đồng tác động mạnh mẽ của hiện tượng nhiệt độ lớn nhất và nhỏ nhất trong bằng ven biển sẽ bị tác động nghiêm xâm nhập mặn và khô hạn. trọng nhất do BĐKH và nước biển Trong khoảng hai thập niên vừa dâng so với các nơi khác trên thế * Chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện qua, các dấu hiệu của BĐKH và giới. Theo phỏng đoán từ kịch bản Nghiên cứu BĐKH - Trường Đại học Cần nước biển dâng càng lúc càng thể Thơ và Trung tâm START vùng Đông Nam trung bình đến cao, từ nay đến cuối hiện rõ hơn, nhiều hiện tượng thiên Á của Đại học Chulalongkorn, Thái Lan. thế kỷ XXI, nếu không có những 13 Soá 7 naêm 2019
  14. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ chuyển biến tích cực kiểm soát khả nhà khoa học và quản lý lưu ý nhiều hoạch, thiết kế các dự án cần đầu năng nóng lên toàn cầu, có thể sẽ trong Nghị quyết 120 là tinh thần tư quy mô lớn ở giai đoạn tiếp theo có ít nhất 25% diện tích các vùng đất “thuận thiên”, nghĩa là phát triển trên nhằm triển khai mô hình kinh tế - xã thấp ven biển ĐBSCL có nguy cơ bị cơ sở tôn trọng quy luật tự nhiên. hội của vùng một cách bền vững và chìm ngập do nước biển dâng và lún chủ động thích ứng với BĐKH… Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính sụt đồng bằng, khoảng 50-75% diện phủ cũng đã phê duyệt nhiều đề án, Những trăn trở và đề xuất tích canh tác hiện nay sẽ bị nhiễm quy hoạch phục vụ phát triển bền mặn vào mùa khô và khoảng 30- Có thể khẳng định, Nghị quyết 40% diện tích nông nghiệp bị ảnh vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH, như phê duyệt điều chỉnh, bổ sung 120 là bước đột phá về đổi mới tư hưởng của nước mặn ngay cả trong duy tiếp cận, từ việc sử dụng tài mùa mưa, khó có thể trồng lúa và một số cơ chế, chính sách thuộc Chương trình xây dựng cụm, tuyến nguyên tôn trọng quy luật tự nhiên, một số canh tác khác như chăn nuôi từ sản xuất nông nghiệp đến làm được. dân cư và nhà ở vùng ngập lũ giai đoạn 2018-2020 để đầu tư xây dựng kinh tế nông nghiệp, từ quan tâm Do nhu cầu phát triển kinh tế bổ sung các cụm, tuyến dân cư, đắp thuần túy tới tăng trưởng kinh tế và năng lượng cũng như đối phó bờ bao khu dân cư có sẵn cho 8 tỉnh/ đến giải quyết hài hòa giữa tăng với vấn đề BĐKH, các nước thượng thành phố (Đồng Tháp, An Giang, trưởng kinh tế với phát triển bền nguồn sông Mekong đang ngày Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, vững... Tuy nhiên, sau gần 2 năm càng quyết liệt trong việc khai thác Vĩnh Long, Hậu Giang và thành phố Nghị quyết 120 được ban hành, nguồn tài nguyên nước. Điều này có Cần Thơ); Chương trình mục tiêu việc hiểu và triển khai Nghị quyết nghĩa là vùng đồng bằng sẽ bị ảnh quốc gia ứng phó với BĐKH đã hỗ vào thực tiễn vẫn còn lúng túng. hưởng kép, ngoài những tác động trợ vùng ĐBSCL 28 dự án (8 dự án Nhiều địa phương chưa thực sự đổi thay đổi tự nhiên mang tính toàn liên quan đến xây dựng đê biển, đê mới theo tinh thần Nghị quyết, còn cầu thì còn chịu tác động do những sông ở những khu vực xung yếu, 20 trông chờ vào hướng dẫn và nguồn hoạt động phát triển công nghiệp và dự án liên quan đến trồng, phục hồi lực hỗ trợ từ Trung ương. Cách tiếp nông nghiệp trong khu vực gây ra. rừng ngập mặn ven biển)… cận dựa vào nội lực chưa được đề BĐKH, nước biển dâng và những tác cao, chưa huy động được sự tham động do vấn đề nguồn nước xuyên Đặc biệt, ngày 13/4/2019, Thủ gia rộng rãi của các tổ chức, doanh biên giới đang và sẽ là những thách tướng Chính phủ đã ký Quyết định nghiệp, người dân… Bên cạnh đó, thách rất lớn uy hiếp sự phát triển số 417/QĐ-TTg về việc ban hành việc hoàn thiện thể chế, chính sách bền vững của nền nông nghiệp vùng Chương trình hành động tổng thể triển khai thực hiện các nhiệm vụ ĐBSCL. thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP theo Nghị quyết 120 vẫn còn chậm, về phát triển bền vững ĐBSCL thích nhất là các chính sách đẩy mạnh Quyết sách lớn về ứng phó với BĐKH ứng BĐKH. Chương trình hành động phát triển các ngành, lĩnh vực then Trước bối cảnh hội nhập kinh tế tổng thể đề ra 6 nhóm nhiệm vụ và chốt; một số chính sách đã được thế giới, ĐBSCL có nhiều cơ hội giải pháp cụ thể chính, bao gồm: (1) ban hành nhưng chưa đi vào cuộc phát triển nhưng cũng đang phải đối Rà soát, hoàn thiện và bổ sung hệ sống vì chưa đồng bộ với nguồn lực mặt với nhiều thách thức do đây là thống cơ chế, chính sách; (2) Cập thực hiện; còn thiếu quy định về cơ vùng đất chịu ảnh hưởng nhiều nhất nhật và hệ thống hóa số liệu, dữ liệu chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa bởi sự thay đổi bất thường của tự liên ngành, tăng cường điều tra cơ các cơ quan liên quan. Đặc biệt, tư nhiên. BĐKH, xâm nhập mặn, khô bản; (3) Xây dựng quy hoạch và tổ duy ưu tiên lựa chọn giải pháp công hạn, nước biển dâng diễn ra nhanh chức không gian lãnh thổ; (4) Xây trình ở các cấp/ngành vẫn nhiều hơn dự báo, gây ra nhiều hiện tượng dựng cơ cấu kinh tế hợp lý thích ứng hơn là các chọn lựa giải pháp phi thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến với BĐKH; (5) Đầu tư và phát triển công trình. Nghị quyết 120 xác định sinh kế và đời sống của người dân, hạ tầng; (6) Phát triển và huy động 3 trụ cột ưu tiên trong sản xuất nông đòi hỏi phải có những giải pháp toàn nguồn lực. Trọng tâm của giai đoạn nghiệp ở ĐBSCL là thủy sản - cây diện, lâu dài, cấp bách để phát triển từ nay đến năm 2020 là thực hiện ăn trái - lúa gạo nhưng nguồn lực tài bền vững ĐBSCL. Trước thực trạng những nhiệm vụ cấp bách đã nêu chính vẫn dành nhiều cho hệ thống đó, ngày 17/11/2017, Chính phủ đã trong Nghị quyết 120, trong đó, ưu các công trình thủy lợi nhằm mục ban hành Nghị quyết số 120/NQ- tiên giải quyết vấn đề sạt lở bờ biển, tiêu thoát lũ, ngăn mặn để duy trì CP về phát triển bền vững ĐBSCL bờ sông, rạch và sụt lún đất trong nghề trồng lúa truyền thống. Ngoài thích ứng với BĐKH (Nghị quyết vùng đang diễn ra rất nhanh và ra, Nghị quyết 120 chưa có văn bản 120). Điểm sáng cốt lõi được các ngày càng trầm trọng; triển khai quy hướng dẫn cụ thể nên vẫn còn có 14 Soá 7 naêm 2019
  15. Diễn đàn khoa học - công nghệ những cách hiểu chưa đúng với nhận thức của cộng đồng về BĐKH, trữ nước ngọt mùa mưa lũ cho vùng. khái niệm “chủ động thích ứng” với đồng thời tăng cường tập huấn lồng Hướng đến giảm dần diện tích canh BĐKH. Mặt khác, một số cán bộ địa ghép BĐKH với kế hoạch phát triển tác lúa, đặc biệt là canh tác lúa mùa phương cho rằng, Nghị quyết 120 là của địa phương. Tăng cường hợp lũ. Đối với các vùng đê bao, trước một định hướng phát triển chứ chưa tác khoa học với các tổ chức trong mắt cần tiếp tục duy trì để tránh phải là một quy định pháp lý ràng và ngoài nước để có những chia sẻ những cú sốc khi chuyển đổi đột buộc nên vẫn còn có những suy thông tin và kiến thức nhằm ứng ngột nhưng cũng cần có lộ trình nghĩ chủ quan, chậm đổi mới. phó hợp lý cho vấn đề BĐKH. thay đổi phù hợp. Hiện nay để ứng phó với BĐKH, “Công cuộc chống BĐKH và Thứ năm, giảm số nhà máy nhiệt rất cần có sự đầu tư hợp lý của Nhà thiên tai là một cuộc chiến trường điện than, khuyến khích và tạo điều nước cho cả biện pháp công trình kỳ, hết sức khó khăn và phức tạp. kiện đầu tư phát triển các nguồn và phi công trình. Các biện pháp phi Do đó, chúng ta phải biết huy động năng lượng tái tạo như điện mặt trời, công trình tổng quan cần được ưu nguồn lực tổng hợp của tất cả các gió, sinh khối, sóng biển, thủy triều… tiên chú trọng để tăng cường khả thành phần, từ Trung ương đến địa năng chống chịu và hồi phục trước phương, cả trong và ngoài nước, từ Thứ sáu, tăng cường hợp tác BĐKH cho vùng nông thôn và hệ sức mạnh của nhân dân, hệ thống quốc tế, đặc biệt là giữa Việt Nam thống sản xuất nông nghiệp. Cách chính trị thì mới có thể bền vững, với Hà Lan theo thỏa thuận đối tác tiếp cận để thích nghi với hiểm họa thành công”. Đó là ý kiến chỉ đạo chiến lược về thích ứng với BĐKH thiên nhiên của thế giới hiện nay của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và quản lý nước. Theo thỏa thuận là “thích nghi và chuyển đổi dần tại Hội nghị vừa qua nhằm phát này, Chính phủ Việt Nam đề nghị theo thời gian trong bối cảnh có triển bền vững ĐBSCL thích ứng với Chính phủ Hà Lan hỗ trợ quá trình nhiều yếu tố bất định”. Theo cách BĐKH. Để thực hiện ý kiến chỉ đạo xây dựng Kế hoạch châu thổ cho đó, trong sản xuất nông nghiệp và của Thủ tướng, tác giả bài viết cho ĐBSCL dựa trên những kinh nghiệm thủy sản, cần theo trình tự ưu tiên: rằng cần phải thực hiện đồng bộ của Hà Lan ? (1) Tìm các giải pháp khoa học - kỹ một số giải pháp cơ bản sau: TÀI LIỆU THAM KHẢO thuật sản xuất và hệ thống canh tác Thứ nhất, tăng cường nhận thức thích nghi; (2) Kết hợp giải pháp 1. Chính phủ (2017), Nghị quyết số và hiểu biết sâu rộng trong lãnh đạo, công trình nhỏ để đầu tư ít và quản 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển cán bộ và nhân dân về tầm quan lý linh hoạt; (3) Chuyển đổi mục đích bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH. trọng của Nghị quyết 120, Luật Quy sử dụng đất phù hợp; và (4) Đầu tư hoạch số 21/2017/QH14. 2. S.M. Howden, S. Crimp, R.N. Nelson công trình lớn để quản lý rủi ro. (2010), Australian agriculture in a climate Thứ hai, tiến hành rà soát những of change, CSIRO Publishing, Melbourne, Để ứng phó với diễn biến bất quy hoạch, kế hoạch cũ không còn pp.101-112. thường của BĐKH, cần sớm nhận phù hợp hoặc trái với tinh thần của thức được những thay đổi bất lợi, 3. S. Peng, J. Huang, E.S. John, C.L. Nghị quyết để dừng thực thi, đặc đặc biệt về nguồn nước ở ĐBSCL Rebecca, M.V. Romeo, X. Zhong, S.C. biệt cần xem xét kỹ đối với các công để có những đối sách hợp lý. Trong Grace, S.K. Gurdev, and G.C. Kenneth trình lớn, kinh phí cao, có ảnh hưởng (2004), “Rice yields decline with higher canh tác nông nghiệp, việc giảm lớn đến một phạm vi khu vực rộng night temperature from global warming”, diện tích lúa cần được xem xét; và tác động đến hệ sinh thái, tính đa Proceedings of the National Academy of trong canh tác hoa màu, biện pháp dạng sinh học và điều kiện tự nhiên Sciences, 101(27), pp.9971-9975. tưới tiết kiệm nước sẽ là một giải của ĐBSCL. pháp giúp nông dân giảm chi phí 4. Le Anh Tuan, Chu Thai Hoanh, sản xuất và phù hợp với tình trạng Thứ ba, cần có những đánh giá Fiona Miller, and Bach Tan Sinh (2008), suy kiệt nguồn nước. Bên cạnh đó, toàn diện về các mặt kinh tế - xã Floods and Salinity Management in the cần thường xuyên củng cố hệ thống hội, môi trường các dự án lớn đã Mekong Delta, Vietnam, The Sustainable kênh mương nhằm gia tăng hiệu được triển khai xây dựng trước đây Mekong Research Network (Sumernet)’s để rút ra bài học trước khi tiếp tục publication, Stockholm, Sweden. quả sử dụng nước, xây dựng và khai xem xét dự án lớn khác như cống thác các nguồn năng lượng tái tạo đập ngăn sông Cái Lớn - Cái Bé. (gió, mặt trời, sinh khối, dòng chảy) nhằm phục vụ sản xuất và sinh Thứ tư, cương quyết không cho hoạt. Ngoài ra cần đẩy mạnh công mở rộng các vùng đê bao triệt để, tác truyền thông nhằm nâng cao nhằm duy trì và khôi phục các vùng 15 Soá 7 naêm 2019
  16. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Tăng cường liên kết vùng trong công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu Nguyễn Văn Huy Ban Tổ chức Trung ương Tăng cường liên kết vùng trong công tác bảo vệ môi trường (BVMT) và ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những giải pháp đã được thực hiện từ nhiều năm qua nhằm phát huy thế mạnh của địa phương, khắc phục tình trạng sử dụng các nguồn lực một cách manh mún. Bên cạnh những kết quả tích cực, tác giả cũng nêu lên những tồn tại, hạn chế và khó khăn đặc thù, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy công tác này trong thời gian tới đạt kết quả tốt hơn. Mở đầu các địa phương, các vùng trên cả vực sông (Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng nước. Nai) đã được triển khai. Việc hình Vấn đề tăng cường liên kết giữa thành các tổ chức lưu vực sông này các địa phương, vùng để phát huy Chủ động liên kết, hợp tác trong những năm qua là giải pháp tối đa tiềm năng, thế mạnh của các quan trọng để thực hiện nguyên tắc Trong thời gian qua, liên kết địa phương, tăng cường BVMT và quản lý tổng hợp tài nguyên nước BVMT giữa các địa phương và nâng cao năng lực ứng phó BĐKH, theo lưu vực sông vừa kết hợp với vùng đã ngày càng được quan tâm, đồng thời khắc phục tình trạng quản lý theo đơn vị hành chính. chú trọng. Nhiều văn bản pháp phát triển manh mún, sử dụng các Các mô hình này đã góp phần quan luật chuyên ngành và liên ngành nguồn lực tự nhiên kém hiệu quả trọng tăng cường hiệu lực, hiệu quả ở các cấp đã được xây dựng, ban đã được Đảng và Nhà nước quan công tác quản lý, giám sát với mục hành nhằm phòng ngừa, giảm tâm, chỉ đạo thực hiện. Nhiều nghị thiểu, khắc phục sự cố môi trường. tiêu liên kết cả theo chiều dọc và quyết, chính sách, văn bản quy Các cơ chế, thể chế phối hợp liên ngang trong BVMT, khắc phục tính phạm pháp luật đã được ban hành. ngành tiếp tục được hoàn thiện. Mô chia cắt theo địa giới hành chính đối Các địa phương, vùng trên cả nước hình cơ quan BVMT cấp vùng, liên với công tác BVMT cấp vùng. đã tích cực triển khai thực hiện, tỉnh đã được triển khai, hoạt động Đến nay, nhiều địa phương bước đầu đạt những kết quả đáng ngày càng chuyên nghiệp, đi vào đã chủ động hợp tác với các địa ghi nhận. Trong bối cảnh các mối nề nếp. Cụ thể gần đây, các Cục phương lân cận trong công tác quan hệ, sự tác động qua lại giữa BVMT miền Bắc, Trung, Nam của BVMT, kiểm soát ô nhiễm lưu vực các địa phương, các vùng trong cả Bộ Tài nguyên và Môi trường được sông, khai thác sử dụng các nguồn nước ngày càng sâu sắc, sự phát xây dựng nhằm giải quyết các vấn nước liên tỉnh; tăng cường liên kết triển bền vững của một địa phương, đề quản lý nhà nước về môi trường bảo tồn, đặc biệt là các khu rừng vùng không thể đặt ra ngoài tổng cấp vùng, các vấn đề môi trường đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên; thể mối liên kết chặt chẽ với các địa trọng điểm địa phương trong vùng. đã hình thành nhiều mô hình liên kết phương, vùng khác. Do vậy, cách Nhiều mô hình liên kết quản lý lưu bảo vệ hành lang đa dạng sinh học tiếp cận tăng cường liên kết vùng vực sông, gồm Ban Quản lý quy và vùng đệm trong các khu bảo tồn trong công tác BVMT, ứng phó với hoạch lưu vực sông (Hồng - Thái thiên nhiên trên phạm vi cả nước BĐKH cũng cần được xem xét để Bình, Đồng Nai, Cửu Long...), Hội như: hành lang xanh giữa các khu đề ra những giải pháp phù hợp, tạo đồng Quản lý lưu vực sông (Srêpôk bảo tồn ở Thừa Thiên - Huế, Quảng đà phát triển nhanh, bền vững của và sông Cả) và Ủy ban BVMT lưu Nam, Gia Lai...; mô hình quản lý 16 Soá 7 naêm 2019
  17. Diễn đàn khoa học - công nghệ quốc gia về BĐKH, Tăng trưởng xanh đều nhấn mạnh yêu cầu về tăng cường quản lý nhà nước trong ứng phó với BĐKH, đặc biệt là xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng trong công tác ứng phó với BĐKH. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và địa phương đã chú trọng nội dung liên kết địa phương, vùng trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ứng phó với BĐKH. Đến nay, tất cả các tỉnh/thành phố trên cả nước đều đã xây dựng được kế hoạch ứng phó với thiên tai và BĐKH phù hợp với điều kiện tự nhiên, sinh thái và kinh tế - xã hội của từng tỉnh. Nhiều địa phương, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng sông UBND tỉnh Gia Lai đã chủ động phối hợp với các địa phương trong vùng kiểm soát Cửu Long đã xây dựng kế hoạch và ô nhiễm lưu vực sông Srêpôk. nội dung liên kết giữa một số tỉnh về ứng phó với BĐKH như chia sẻ thông tin; xây dựng hệ thống quan tổng hợp dải ven biển ở các tỉnh Chính phủ làm Chủ tịch với các trắc, cảnh báo sớm thiên tai và Nam Định, Thừa Thiên - Huế, Bà thành viên bao gồm đại diện lãnh BĐKH; xây dựng, củng cố hệ thống Rịa - Vũng Tàu; sáng kiến bảo tồn đạo các Bộ, ngành, địa phương, cơ đa dạng sinh học ở Trung Trường đê bao, hồ đập, các công trình ven quan nghiên cứu đầu não của quốc Sơn; mô hình quản lý lưu vực sông biển; bảo vệ hệ sinh thái. Thông gia; thực hiện nhiệm vụ là cơ quan theo cách tiếp cận sinh thái - cảnh qua các kênh hợp tác, đầu tư phát tham mưu, đề xuất Thủ tướng Chính quan sông Cả (Nghệ An), sông A triển, nhiều địa phương trên cả phủ các giải pháp quan trọng, liên Vương (Quảng Nam), sông Đồng nước đã thu hút được nhiều chương ngành về ứng phó với BĐKH. Ở địa Nai... Việc đẩy mạnh thực hiện các trình, dự án hợp tác song phương và phương, tư duy quản lý lãnh đạo quy định, công cụ, biện pháp, mô đa phương từ các cơ quan, tổ chức các cấp có nhiều chuyển biến tích hình liên kết, hợp tác trong BVMT trong nước và quốc tế, bước đầu hỗ cực trong quản lý các vấn đề liên như đánh giá môi trường chiến lược trợ hình thành được mạng lưới liên ngành; việc thành lập các cơ quan đối với quy hoạch tổng thể phát kết liên tỉnh để hỗ trợ hiệu quả và đầu mối, ban chỉ đạo tham mưu về triển kinh tế - xã hội của các tỉnh kịp thời hơn thông qua việc tiếp cận công tác ứng phó với BĐKH được và vùng đã nâng cao năng lực dự quy hoạch dựa vào hệ sinh thái, chú trọng, tích cực triển khai với sự báo, tăng cường khả năng phòng quy hoạch không gian vùng, lãnh tham gia của nhiều cơ quan, ban, ngừa, góp phần hạn chế ô nhiễm thổ theo hướng hiện đại, tiếp cận đa ngành, tổ chức ở địa phương. Qua môi trường, suy giảm đa dạng sinh ngành, liên vùng cùng với công cụ, đó, nâng cao hiệu quả công tác học trong vùng và trên phạm vi cả cơ chế ra quyết định ứng phó với phối hợp liên ngành ở các cấp, tăng nước. các sự cố linh hoạt, kịp thời... cường kết nối giữa các địa phương Trong công tác ứng phó với trong công tác ứng phó với BĐKH, Vẫn còn những bất cập, hạn chế BĐKH, phòng tránh thiên tai, phòng tránh thiên tai. Về mặt chính Mặc dù đạt được một số kết công tác liên kết địa phương, vùng sách, công tác xây dựng, ban hành quả tích cực, nhưng công tác liên cũng được triển khai mạnh mẽ và các văn bản quy phạm pháp luật kết vùng trong BVMT, ứng phó với thu được nhiều kết quả tích cực. về ứng phó với BĐKH tiếp tục được BĐKH vẫn còn bộc lộ một số bất Hệ thống thể chế về ứng phó với đẩy mạnh; nhiều văn bản chính cập, hạn chế như: BĐKH ngày càng được hoàn thiện. sách liên ngành quan trọng đã được Ở Trung ương, Ủy ban Quốc gia về ban hành thời gian qua như Nghị - Mặc dù liên kết BVMT, ứng phó BĐKH được thành lập do Thủ tướng quyết số 24-NQ/TW, Chiến lược với BĐKH nội vùng và liên vùng là 17 Soá 7 naêm 2019
  18. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ tất yếu của quá trình phát triển, là nhiều mục tiêu (theo mong muốn và địa phương. tiền đề cho nhu cầu mở rộng quy chủ quan) và các giải pháp, nhất Thứ hai, kiện toàn thể chế, cơ mô kinh tế cũng như tính lan tỏa là những giải pháp liên quan đến chế liên kết, phối hợp giữa các địa phát triển của các địa phương trong huy động nguồn lực (đất đai, tài phương, vùng trong BVMT, trong đó vùng và giữa các vùng với nhau, nguyên nước, rừng, đa dạng sinh tập trung vào: 1) Hoàn thiện chính nhưng trên thực tế nhiều địa phương học, khoáng sản…) thiếu cơ sở khoa sách, pháp luật quy định về liên kết, chưa chủ động phối hợp, liên kết với học, do vậy tính khả thi của quy phối hợp giữa các địa phương, vùng các địa phương khác trong BVMT, hoạch vùng, địa phương đều rất trong sử dụng tài nguyên, BVMT, ứng phó với BĐKH; việc xây dựng thấp. Nhiều địa phương chưa quan kế hoạch hành động hay đề xuất ứng phó với BĐKH; 2) Đánh giá tâm đến các vấn đề liên quan đến thực trạng hoạt động và đề xuất các đề tài/dự án đa phần chưa chú tài nguyên, môi trường và BĐKH trọng tới nội dung liên kết giữa các phương án kiện toàn mô hình tổ của vùng và địa phương lân cận; chức điều phối cấp vùng về quản lý địa phương, vùng, kể cả các dự án hầu hết các giải pháp đưa ra chỉ tập ưu tiên nằm trong Chương trình hỗ tài nguyên, BVMT, ứng phó BĐKH; trung vào đánh giá tác động, giải 3) Xây dựng chính sách, thể chế trợ ứng phó với BĐKH cũng chưa pháp trong địa giới hành chính của có dự án nào mang tính chất liên giải quyết xung đột môi trường; xây mình. dựng biện pháp thích ứng với BĐKH kết địa phương, vùng được thiết kế để thực hiện. Nhiều dự án vẫn tiến - Thời gian qua một số tỉnh đã dựa vào hệ sinh thái; lồng ghép nội hành cục bộ trong từng ngành, từng chủ động ký kết văn bản hợp tác, dung ứng phó với BĐKH vào trong lĩnh vực. Thậm chí, do thiếu tầm song các cam kết mới chỉ mang chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhìn tổng thể, có dự án thủy lợi được tính chất đồng thuận về nguyên vùng, địa phương, nhấn mạnh giải thực hiện ở địa phương này, lại làm tắc, còn việc triển khai cụ thể chưa pháp liên kết vùng trong việc chia giảm sự bồi lắng phù sa, gia tăng được quan tâm đúng mức. Số lượng sẻ thông tin, dữ liệu quản lý tài xâm nhập mặn cho địa phương bên các thỏa thuận liên kết nhìn chung nguyên, BVMT, ứng phó với BĐKH; cạnh... vẫn còn ít, nội dung, quy mô tương 4) Xác định rõ hơn cơ chế phân đối đơn điệu, vẫn chủ yếu thực hiện công nhiệm vụ của các địa phương - Các quy định về nội dung, trong tham gia liên kết BVMT trong ở phạm vi nhỏ lẻ, sự vụ. Các liên cách thức liên kết địa phương, vùng các mô hình liên kết đã có. kết mang tính lâu dài, chiến lược… về BVMT, ứng phó với BĐKH còn vẫn còn nhiều hạn chế do cách tiếp Thứ ba, cần tăng cường nguồn chung chung, khó triển khai, thiếu cận truyền thống mang nặng tư duy lực thực hiện liên kết địa phương, cơ chế đảm bảo áp dụng trong thực quản lý theo lãnh thổ, địa phương vùng trong BVMT, ứng phó với tiễn. Đến nay, chưa có văn bản quy và sự cát cứ theo ngành, lĩnh vực. BĐKH. Trong đó, cần chú trọng: cơ định cụ thể về hình thức và cơ chế, cũng như chưa xác định rõ việc Một số đề xuất, kiến nghị chế huy động nguồn lực từ công tác triển khai thực hiện các nội dung hợp tác quốc tế, huy động nguồn liên kết trong BVMT, ứng phó với Để tăng cường liên kết vùng lực xã hội hóa để đầu tư các dự án BĐKH giữa các địa phương, vùng trong công tác BVMT, ứng phó với có thể sinh lời, tạo nguồn lực tái đầu theo quy trình nào, cách thức thực BĐKH, một số giải pháp sau cần tư phát triển như xây dựng khu xử lý hiện ra sao. Cơ chế phân công được chú trọng triển khai, cụ thể là: chất thải vùng tập trung...; nghiên nhiệm vụ của các địa phương trong Thứ nhất, cần nâng cao nhận cứu hình thành cơ chế sử dụng quỹ tham gia liên kết BVMT chưa hiệu thức của cấp ủy, chính quyền các phát triển vùng cho công tác phòng quả, thiếu cơ chế đảm bảo thực thi cấp về vai trò, tầm quan trọng của ngừa, ứng phó sự cố môi trường và các quy định pháp lý liên quan đến việc tăng cường liên kết địa phương, BĐKH liên tỉnh, liên vùng; xây dựng hoạt động liên kết ở địa phương. vùng trong BVMT và ứng phó với và thử nghiệm cơ chế chia sẻ lợi ích BĐKH. Phổ biến các cơ chế, chính giữa các địa phương trong sử dụng - Các quy hoạch ngành, quy sách, kinh nghiệm thực tiễn trong tài nguyên dựa trên nguyên tắc hoạch phát triển địa phương, vùng nước và quốc tế về liên kết trong người hưởng lợi phải trả tiền thông chưa chú trọng nội dung phối hợp sử dụng tài nguyên, BVMT, ứng phó qua việc nộp thuế và phí ? sử dụng hiệu quả các nguồn lực tự nhiên, phối hợp giải quyết các vấn với BĐKH cho các cán bộ trực tiếp đề môi trường liên tỉnh, liên vùng. tham mưu xây dựng chính sách, Nội dung quy hoạch của cả cấp quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh vùng lẫn cấp tỉnh đều bao gồm quá tế - xã hội ở các cơ quan trung ương 18 Soá 7 naêm 2019

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản