intTypePromotion=1
ADSENSE

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Số 9A năm 2020

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

30
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Số 9A năm 2020" với các bài viết Xây dựng mô hình hoạt động của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia kinh nghiệm của một số nước; Quản trị ngân hàng thương mại trong kỷ nguyên số; Gắn kết chính sách trong ứng phó biến đổi khí hậu quan điểm quốc tế và thực tiễn ở Đồng bằng sông Cửu Long; Giải pháp thúc đẩy xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021-2025...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Số 9A năm 2020

  1. CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2016-2025: Định hướng đề xuất, xây dựng dự án Chương trình “Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2015 (Chương trình NTMN) với quan điểm tập trung ưu tiên cho hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ tại các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; các dự án có sự tham gia của các doanh nghiệp với vai trò là hạt nhân trong chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa, tạo sinh kế cho người dân vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Việc đề xuất, xây dựng mô hình dự án tập trung vào các nội dung sau: 1. Xây dựng mô hình ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế, trình độ phát triển của từng vùng miền, địa phương: - Tiến bộ khoa học và công nghệ về giống mới và công nghệ nhân gỉống cây trồng, giống vật nuôi, giống thủy sản, giống nấm; - Quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, tăng hiệu quả kinh tế, an toàn với môi trường; công nghệ sản xuất theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng tiên tiến; - Công nghệ tiên tiến và thiết bị đồng bộ trong thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản, thực phẩm nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị sản phẩm. Chú trọng công nghệ, thiết bị chế biến sâu, công nghệ tạo giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp; công nghệ sơ chế nông - lâm - thủy sản, dược liệu cho vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; - Công nghệ sinh học trong sản xuất các chế phẩm sinh học dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi, thủy sản; phân vi sinh; xử lý môi trường; phòng trừ dịch bệnh; - Công nghệ tưới, tiêu cho các loại cây trồng, các giải pháp kỹ thuật cung cấp nước ngọt, nước sạch cho các vùng khan hiếm nước; - Quy trình, thiết bị máy móc trong sản xuất nông nghiệp; công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn; - Tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất nguyên liệu, vật liệu dùng trong công nghiệp chế biến, xây dựng, dược phẩm; - Công nghệ, thiết bị xử lý nước thải, rác thải sinh hoạt; công nghệ, thiết bị đồng bộ sử dụng năng lượng tái tạo; - Công nghệ thông tin, truyền thông để phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, thông tin thị trường cho nông dân; - Kết hợp khoa học và công nghệ tiên tiến với tri thức truyền thống trong khai thác, phát triển nâng cao hiệu quả kinh tế của các cây trồng, vật nuôi đặc sản của địa phương; - Công nghệ, thiết bị phục vụ phát triển sản xuất gắn với du lịch sinh thái. 2. Xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, liên kết giữa người dân và doanh nghiệp trong việc ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ: Xây dựng mô hình ứng dụng, chuyển giao đồng bộ các tiến bộ khoa học và công nghệ, tổ chức quản lý, phát triển thị trường theo chuỗi giá trị hàng hóa có sự tham gia, liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân, trong đó doanh nghiệp là nòng cốt. VĂN PHÒNG CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MIỀN NÚI Số 113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội; Tel: 024.35560602; Fax: 024.35560603
  2. hội đồng biên tập Tổng biên tập tòa soạn GS.TSKH.VS Nguyeãn Vaên Hieäu Ñaëng Ngoïc Baûo 113 Traàn Duy Höng - phöôøng Trung Hoøa - quaän Caàu Giaáy - Haø Noäi GS.TS Buøi Chí Böûu phó tổng biên tập Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 GS.TSKH Nguyeãn Ñình Ñöùc Nguyeãn Thò Haûi Haèng Email: khcnvn@most.gov.vn Nguyeãn Thò Höông Giang Taïp chí ñieän töû: vjst.vn; vietnamscience.vjst.vn GS.TSKH Vuõ Minh Giang GS.TS Phaïm Gia Khaùnh trưởng ban biên tập giấy phép xuất bản GS.TS Leâ Höõu Nghóa Phaïm Thò Minh Nguyeät Soá 1153/GP-BTTTT ngaøy 26/7/2011 GS.TS Leâ Quan Nghieâm trưởng ban trị sự Soá 2528/GP-BTTTT ngaøy 26/12/2012 GS.TS Mai Troïng Nhuaän Löông Ngoïc Quang Höng Soá 592/GP-BTTTT ngaøy 28/12/2016 GS.TS Nguyeãn Thanh Phöông Trình bày Giaù: 18.000ñ GS.TS Nguyeãn Thanh Thuûy Ñinh Thò Luaän In taïi Coâng ty TNHH in vaø DVTM Phuù Thònh Muïc luïc DIỄN ĐÀN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 4 Lưu Đức Thanh: Xây dựng, quản lý và phát triển thương hiệu cộng đồng. 9 Nguyễn Quốc Đạt, Lê Quang Thái: Xây dựng mô hình hoạt động của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia: Kinh nghiệm của một số nước. 13 Nguyễn Tuấn Anh: Thúc đẩy chuyển đổi số tại Việt Nam. 16 • Con đường xây dựng các nền tảng số “made in Vietnam”. 19 Nguyễn Tuấn Anh, Đinh Thị Lan Hương: Quản trị ngân hàng thương mại trong kỷ nguyên số. 22 Trần Thị Diễm Sương, Nguyễn Minh Quang: Gắn kết chính sách trong ứng phó biến đổi khí hậu: Quan điểm quốc tế và thực tiễn ở Đồng bằng sông Cửu Long. 26 Phan Văn Hùng: Giải pháp thúc đẩy xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021-2025. 29 Đặng Thanh Lương: Quản lý chất thải phóng xạ có nguồn gốc tự nhiên: Thách thức đối với ngành công nghiệp khai thác và chế biến quặng, khoáng sản. KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 32 Bùi Thị An, Thái Hoàng…: Viện Kỹ thuật nhiệt đới: 40 năm - một chặng đường vẻ vang. 36 Nguyễn Thị Phương, Đặng Thị Minh Huệ: Tác động từ tài trợ của Nafosted đối với ngành Toán thông qua các công bố quốc tế. 39 Lê Thanh Hòa, Ngô Đình Bính…: Ứng dụng công nghệ vi sinh trong y tế và một số khuyến nghị. 42 Thạch Lê Anh: Mô hình tổ chức thúc đẩy kinh doanh dành cho doanh nghiệp phong cách sống. 45 Vương Hồng Nhật, Lại Vĩnh Cẩm…: Ứng dụng kỹ thuật Delphi xây dựng bộ chỉ số sử dụng bền vững tài nguyên tại khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia. 48 Nguyễn Hồng Vĩ: Ứng dụng tiến bộ KH&CN trong chăn nuôi bò thịt theo hướng hàng hóa tại một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc. 50 • Hiệu quả từ việc ứng dụng tiến bộ KH&CN trong xây dựng mô hình nhân giống, trồng và sơ chế một số cây dược liệu tại Vĩnh Phúc. KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG 54 • Bắc Cực đang “bốc cháy”: Báo động khủng hoảng khí hậu toàn cầu. 57 Trần Đình Bình, Trần Thanh Loan: Bệnh bạch hầu và một số vấn đề cần quan tâm. KH&CN NƯỚC NGOÀI 59 Phùng Minh Hải, Đỗ Phương Nhung: Medicine Patent Pool: Giải pháp cho bài toán về thuốc trước những đại dịch. 62 Nguyễn Tuấn Hưng, Vương Văn Thanh: Cơ bắp nhân tạo: Khi vật liệu vượt qua sự tiến hóa của tự nhiên.
  3. Vietnam Journal of Science, Technology and Engineering EDITORial council EDITOR - in - chief office Prof.Dr.Sc. Academician Nguyen Van Hieu Dang Ngoc Bao 113 Tran Duy Hung - Trung Hoa ward - Cau Giay dist - Ha Noi Prof. Dr Bui Chi Buu DEPUTY EDITOR Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 Nguyen Thi Hai Hang Email: khcnvn@most.gov.vn Prof. Dr.Sc Nguyen Dinh Duc Nguyen Thi Huong Giang E-journal: vjst.vn; vietnamscience.vjst.vn Prof. Dr.Sc Vu Minh Giang Prof. Dr Pham Gia Khanh head of editorial board publication licence Pham Thi Minh Nguyet No. 1153/GP-BTTTT 26th July 2011 Prof. Dr Le Huu Nghia head of administration No. 2528/GP-BTTTT 26th December 2012 Prof. Dr Le Quan Nghiem Luong Ngoc Quang Hung No. 592/GP-BTTTT 28th December 2016 Prof. Dr Mai Trong Nhuan Prof. Dr Nguyen Thanh Phuong Art director Dinh Thi Luan Prof. Dr Nguyen Thanh Thuy Contents SCIENCE AND TECHNOLOGY FORUM 4 Duc Thanh Luu: Building, managing, and developing a brand for rural products in Vietnam. 9 Quoc Dat Nguyen, Quang Thai Le: Establishing the operating model of the Vietnam National Innovation Center: The experiences of other countries. 13 Tuan Anh Nguyen: Promoting digital transformation in Vietnam. 16 • The road to build “made in Vietnam” digital platforms. 19 Tuan Anh Nguyen, Thi Lan Huong Dinh: Commercial bank management in the digital era. 22 Thi Diem Suong Tran, Minh Quang Nguyen: Policy coherence in climate change response: International perspectives and practice in the Mekong delta. 26 Van Hung Phan: Solutions to promote the building of new rural areas in ethnic minority and mountainous areas with special difficulties in the 2021-2025 period. 29 Thanh Luong Dang: Naturally sourced radioactive waste management: Challenges for the mining  and mineral/ ore processing industries. SCIENCE - TECHNOLOGY AND INNOVATION 32 Thi An Bui, Hoang Thai…: Institute for Tropical Technology: 40 years of a glorious journey. 36 Thi Phuong Nguyen, Thi Minh Hue Dang: The impact of Nafosted funding on the Math field through international publications. 39 Thanh Hoa Le, Dinh Binh Ngo…: Application of microbiological technology in medicine and some recommendations. 42 Le Anh Thach: Driving growth with business model for the lifestyle business. 45 Hong Nhat Vuong, Vinh Cam Lai…: Applying Delphi technique in building a set of indicators for sustainable use of natural resources in the Cambodia - Laos - Vietnam Development Triangle Area. 48 Hong Vi Nguyen: Application of S&T advances in commodity-oriented beef cattle breeding in some Northern midland and mountainous provinces. 50 • The effectiveness of applying S&T advances in building propagation models, planting, and preliminarily processing a number of medicinal plants in Vinh Phuc province. SCIENCE AND LIFE 54 • The Arctic is on fire: Alarming global climate crisis. 57 Dinh Binh Tran, Thanh Loan Tran: Diphtheria and issues of concern. THE WORLD SCIENCE AND TECHNOLOGY 59 Minh Hai Phung, Phuong Nhung Do: Medicine Patent Pool: Solutions to the problem of medicine before pandemics. 62 Tuan Hung Nguyen, Van Thanh Vuong: Artificial muscle: When materials overcome nature’s evolution.
  4. diễn đàn khoa học và công nghệ Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Xây dựng, quản lý và phát triển thương hiệu cộng đồng Lưu Đức Thanh Cục Sở hữu trí tuệ Trong thời gian qua, việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông thôn (nông sản, thực phẩm, tiểu thủ công nghiệp - gọi tắt là thương hiệu cộng đồng) gắn với chỉ dẫn nguồn gốc địa lý đã trở thành một định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy sức cạnh tranh, giá trị của các nông sản đặc sản..., góp phần tích cực trong xây dựng nông thôn mới cũng như thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) của Chính phủ. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả tích cực, việc xây dựng, quản lý và phát triển thương hiệu cộng đồng còn gặp không ít khó khăn, rất cần những giải pháp, chính sách cụ thể để thúc đẩy hoạt động này trong thời gian tới. Thực trạng xây dựng, quản lý thương Bảng 1. Số lượng CDĐL, NHTT, NHCN được cấp giấy chứng nhận đăng ký. hiệu cộng đồng của Việt Nam Số lượng Tính đến 31/10/2019, Cục Sở TT Hình thức bảo hộ Nông sản Khác Tổng cộng hữu trí tuệ (SHTT) đã cấp 1.311 Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn 1 CDĐL* 65 5 70 địa lý (CDĐL), nhãn hiệu chứng 2 NHCN 258 12 270 nhận (NHCN), nhãn hiệu tập thể 3 NHTT 773 198 971 (NHTT) cho các sản phẩm nông Tổng cộng 1.096 215 1.311 thôn gắn với dấu hiệu chỉ dẫn (Nguồn: Cục SHTT 2019; tính đến 31/10/2019 có 76 CDĐL được bảo hộ, trong đó có 70 CDĐL nguồn gốc địa lý, trong đó có 70 * của Việt Nam và 6 CDĐL của nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam). CDĐL (5,3%), 270 NHCN (20,6%) và 971 NHTT (74,1%). Đã có 1.096 du và miền núi phía Bắc với 259 và 2 CDĐL), Hà Nội bảo hộ 84 sản sản phẩm nông sản (chiếm 83,6%) sản phẩm (23,63%), Đồng bằng phẩm (64 NHTT, 20 NHCN), Tiền và 215 sản phẩm nông thôn khác sông Hồng 218 sản phẩm (19,9%), Giang với 45 sản phẩm (2 CDĐL, (chiếm 16,4%) được bảo hộ (bảng Duyên hải miền Trung 116 sản 39 NHTT và 4 NHCN)... Nhìn chung 1). Đặc điểm của các sản phẩm phẩm (10,58%), Bắc Trung Bộ hoạt động xây dựng thương hiệu được đăng ký bảo hộ là: các sản 100 sản phẩm (9,12%), Đông Nam cộng đồng ở các địa phương mang phẩm đặc sản, tiểu thủ công nghiệp Bộ 64 sản phẩm (5,84%) và Tây những đặc điểm sau: truyền thống của các địa phương, Nguyên là khu vực có số lượng sử dụng dấu hiệu chỉ dẫn nguồn Bảo hộ sản phẩm gắn với chỉ nông sản được bảo hộ thấp nhất với gốc địa lý, gắn với cộng đồng ở khu dẫn nguồn gốc địa lý: đa số các 55 sản phẩm (5,02%). vực nông thôn. sản phẩm nông thôn được bảo hộ Thực tế cho thấy, hoạt động CDĐL, NHCN và NHTT đều gắn với Thống kê trên phạm vi cả nước, đã có 41 tỉnh/thành phố có sản xây dựng thương hiệu cộng đồng chỉ dẫn nguồn gốc địa lý, bao gồm: phẩm được bảo hộ CDĐL, 61 tỉnh/ được các địa phương tập trung chỉ tên tỉnh, huyện, xã và địa danh thành phố có sản phẩm được bảo đạo và có nhiều chính sách hỗ trợ, khác, trong đó 0,30% sản phẩm hộ NHTT và 51 tỉnh/thành phố có đặc biệt là các sản phẩm đặc sản được bảo hộ sử dụng tên quốc gia, sản phẩm được bảo hộ NHCN. Đối gắn liền với lợi thế về điều kiện địa 10,22% sản phẩm được bảo hộ sử với nông sản, vùng có số lượng lý (tự nhiên, con người). Điển hình dụng tên tỉnh, 35,55% sử dụng tên nông sản được bảo hộ nhiều nhất như1: Hải Phòng đã bảo hộ được huyện và tương đương, 53,93% sử tính đến tháng 10/2019 là Đồng 60 sản phẩm (54 NHTT, 4 NHCN dụng tên xã và tương đương. Trên bằng sông Cửu Long với 284 sản thực tế, đối với CDĐL và NHCN có phẩm (25,91%), tiếp đến là Trung Số liệu tính đến tháng 10/2019. 1 sự tương đồng khi chủ yếu sử dụng 4 Số 9 năm 2020
  5. Diễn đàn khoa học và công nghệ tên tỉnh, thành phố, huyện để đăng môn của UBND đủ điều kiện đăng trong phát triển nông nghiệp, nông ký bảo hộ với tỷ lệ là hơn 76% và ký NHCN. Do đó, chủ sở hữu các thôn, góp phần bảo tồn giá trị văn xã là hơn 22%. Trong khi đó, đối với NHCN hiện nay chủ yếu là các hóa truyền thống, bảo tồn đa dạng NHTT thì đa số sử dụng tên xã để UBND các cấp hoặc phòng kinh tế sinh học, góp phần thúc đẩy sự phát đăng ký bảo hộ với hơn 65%, qua (hay phòng NN&PTNT) chiếm 71%, triển hoạt động sản xuất, thương đó cho thấy NHTT được sử dụng các sở chiếm 14%, còn lại là các mại và nâng cao giá trị gia tăng cho đăng ký bảo hộ chủ yếu cho các chi cục, trung tâm hoặc các chủ thể sản phẩm nông sản của Việt Nam. sản phẩm có quy mô cấp xã. khác. Những tác động tích cực của các Cơ cấu sản phẩm được bảo Đối với NHTT, quyền sở hữu, thương hiệu cộng đồng được thể hộ quyền SHTT: các địa phương quản lý và sử dụng thuộc về tổ chức hiện ở những khía cạnh sau: đăng ký bảo hộ thương hiệu cộng tập thể nộp đơn. Chính vì vậy, vai trò Thứ nhất, thương hiệu cộng đồng đồng chủ yếu là cho nông sản và của các tổ chức tập thể đóng vai trò đã tác động tích cực và rõ ràng đến sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, nền tảng, quyết định sự phát triển nhận thức, sự quan tâm, đầu tư về trong đó nông sản chiếm tỷ lệ chủ của các NHTT này. Tùy theo đặc nguồn lực của các địa phương, nhận yếu với 81,08% (1.063 sản phẩm), điểm của từng sản phẩm, quy mô, thức của doanh nghiệp, người dân còn lại 18,92% (248 sản phẩm) là phạm vi sản xuất mà các tổ chức trong việc bảo vệ danh tiếng, giá các sản phẩm khác. Trong cơ cấu được lựa chọn làm chủ sở hữu đăng trị của các sản phẩm được bảo hộ. nông sản được bảo hộ, đa phần là ký NHTT khác nhau. Trên phạm vi Nhiều địa phương đã triển khai các nông sản tươi sống, sản phẩm thô cả nước, tỷ lệ hợp tác xã (HTX) làm chính sách hỗ trợ như: Quảng Ninh, và nguyên liệu; sản phẩm chế biến chủ sở hữu NHTT chiếm 40%, 34% Hải Phòng, Hà Giang, Sơn La, Hà sâu còn hạn chế. Nhóm sản phẩm là các tổ chức chính trị - xã hội (hội Tĩnh, Tiền Giang, Bến Tre... trái cây và rau củ chiếm tỷ lệ lớn nông dân, hội phụ nữ), 16% là các nhất (35%), tiếp đến là nhóm thủy hội nghề nghiệp, còn lại là các đối Thứ hai, CDĐL, NHTT, NHCN sản và sản phẩm chế biến từ thủy tượng khác (tổ hợp tác, trạm khuyến được bảo hộ đã bước đầu tác động sản (15%). Nhóm các sản phẩm thịt nông). tích cực đến giá trị của sản phẩm và sản phẩm chăn nuôi chiếm tỷ lệ như nước mắm Phú Quốc, bưởi Tác động và những khó khăn, tồn tại Phúc Trạch, cam Cao Phong, cà thấp (khoảng 8%), nhóm sản phẩm trong xây dựng, quản lý và phát triển cây công nghiệp và lâm nghiệp phê Sơn La, hạt điều Bình Phước, thương hiệu cộng đồng rau an toàn Mộc Châu… Giá bán của cũng chỉ chiếm 10%, trong khi Việt Nam là một quốc gia có nhiều lợi Thương hiệu cộng đồng đang các sản phẩm sau khi được bảo hộ thế về phát triển các sản phẩm cây dần chứng minh vai trò quan trọng đều có xu hướng tăng, cụ thể như: công nghiệp và lâm nghiệp. Chủ sở hữu các thương hiệu cộng đồng: các hình thức bảo hộ thương hiệu cộng đồng được quy định khác nhau về chủ sở hữu, theo đó đối với CDĐL thì chủ sở hữu thuộc về Nhà nước. Nhà nước cho phép các tổ chức/cá nhân nộp đơn đăng ký bảo hộ CDĐL, do vậy các CDĐL thường sẽ do các cơ quan nhà nước nộp hồ sơ đăng ký [Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), UBND tỉnh, UBND huyện/thị xã…]. Đối với NHCN thì chủ sở hữu phải là tổ chức có chức năng, năng lực chứng nhận, tuy nhiên, trên thực tế ít có tổ chức nào đáp ứng được điều kiện này nên mặc nhiên coi UBND các cấp hoặc các cơ quan chuyên Bưởi Phúc Trạch có giá bán tăng 10-15% sau khi được bảo hộ CDĐL. 5 Số 9 năm 2020
  6. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ những tồn tại, khó khăn sau: gắn với dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý, một tài sản gắn với cộng Về chính sách đồng. Các quy định của pháp luật Về chính sách hỗ trợ của Nhà SHTT: các quy định pháp lý của nước, địa phương: bên cạnh các địa Việt Nam đối với CDĐL, NHTT và phương như Quảng Ninh, Sơn La, NHCN đã khá đầy đủ nhưng mới chỉ Bắc Ninh, Bến Tre… có chính sách dừng lại ở vấn đề đăng ký. Việc triển đầu tư nhằm phát triển thương hiệu khai các quy định này đang gặp cộng đồng thì các địa phương khác khó khăn, cụ thể: i) Về hoạt động còn tồn tại một số vấn đề: i) Tập trung xác lập quyền bảo hộ SHTT đối với chủ yếu vào nội dung xây dựng hồ CDĐL: Luật SHTT và các văn bản Vải thiều Lục Ngạn - sản phẩm đã được sơ đăng ký, hoạt động hỗ trợ quản dưới luật mới chỉ quy định về điều bảo hộ CDĐL. lý và phát triển còn nhiều hạn chế, kiện bảo hộ, chủ sở hữu, yêu cầu về dẫn đến các sản phẩm được bảo hộ cam Cao Phong giá bán tăng gần hồ sơ (đơn đăng ký), trình tự, thủ tục chưa thực sự phát huy được giá trị gấp đôi, chuối ngự Đại Hoàng tăng thẩm định hồ sơ nhưng chưa quy như mong đợi; ii) Có nhiều nguồn 100-130%, bưởi Phúc Trạch tăng định cụ thể nội dung và cách thức lực hỗ trợ ở các nội dung khác nhau, 10-15%, đặc biệt như bưởi Luận thẩm định hồ sơ. Do đó, hoạt động tập trung ở ba ngành là: KH&CN, Văn giá bán tăng 3,5 lần so với thẩm định nội dung hồ sơ đăng ký NN&PTNT, Công Thương nhưng trước khi được bảo hộ..., nhiều sản CDĐL đang gặp nhiều khó khăn, cụ sự phối hợp và tập trung nguồn lực phẩm có gắn CDĐL đã được xuất thể là thẩm định các nội dung: chất còn hạn chế, dẫn đến nguồn lực bị khẩu như nước mắm Phú Quốc, vải lượng đặc thù, khu vực địa lý, lịch phân tán, chưa phát huy được hết thiều Thanh Hà, xoài cát Hòa Lộc, sử - danh tiếng, quy trình kỹ thuật... hiệu quả. vải thiều Lục Ngạn… Đây là những lĩnh vực chuyên môn sâu, nằm ngoài khả năng chuyên Hạn chế trong xây dựng hồ sơ Thứ ba, thương hiệu cộng đồng môn của Cục SHTT. Do đó, yêu đăng ký thương hiệu cộng đồng cũng đã giúp các địa phương hình cầu đặt ra là cần có các quy định cụ thành được các tổ chức tập thể như Việc lựa chọn sản phẩm, hình thể để các ngành có chuyên môn hội/hiệp hội, thúc đẩy sự phát triển thức bảo hộ quyền SHTT hiện nay phù hợp tham gia hợp lý vào quá các HTX, kết nối vào các chương được các địa phương rất quan tâm, trình thẩm định CDĐL; ii) Về hoạt trình lớn của Nhà nước như Chương tuy nhiên trong quá trình triển khai động quản lý và phát triển CDĐL, trình mục tiêu quốc gia xây dựng còn những khó khăn, bất cập. NHTT và NHCN: đối với CDĐL, các nông thôn mới, OCOP, đồng thời quy định pháp lý chưa đề cập chi Một là, chưa có tiêu chí hoặc góp phần giúp các chủ thể như tiết, cụ thể là vấn đề quản lý CDĐL phương pháp rõ ràng trong việc HTX, doanh nghiệp, hộ gia đình tổ được quy định tại Điểm 4, Điều 121, lựa chọn hình thức bảo hộ: CDĐL, chức sản xuất, thương mại hóa sản Luật SHTT: Nhà nước là chủ sở hữu NHTT hay NHCN, đặc biệt là đối phẩm. Nhiều HTX đã phát triển hiệu CDĐL đó. Nhà nước có thể trực với các CDĐL. Cụ thể, đối với việc quả các thương hiệu được bảo hộ tiếp thực hiện quyền quản lý CDĐL đăng ký CDĐL cần dựa vào điều để tổ chức sản xuất, thương mại sản hoặc trao quyền quản lý CDĐL cho kiện của sản phẩm như: danh tiếng, phẩm ra thị trường, điển hình như tổ chức đại diện quyền lợi của tất chất lượng đặc thù của sản phẩm các HTX rau an toàn ở Mộc Châu, cả các tổ chức, cá nhân được trao do điều kiện địa lý quyết định. Tuy Sơn La (sử dụng NHCN rau an toàn quyền sử dụng CDĐL. Tuy nhiên, nhiên, nhiều sản phẩm lựa chọn Mộc Châu), HTX cây ăn quả ở Lục dấu hiệu đăng ký chưa được biết vấn đề trao quyền sử dụng như thế Ngạn, Bắc Giang (phát triển các đến rộng rãi, không phải là tên gọi nào, quản lý CDĐL ra sao thì các NHTT), HTX mật ong Mèo Vạc ở Hà truyền thống, đã được sử dụng trong văn bản pháp luật nêu trên chưa đề Giang (phát triển CDĐL), HTX gạo thương mại như: cừu Phan Rang cập đến. Đối với NHTT và NHCN, nếp cái hoa vàng Kinh Môn ở Hải quyền quản lý và phát triển thuộc hay cừu Ninh Thuận, gạo Séng cù Dương (phát triển NHTT)… về chủ thể đăng ký nhãn hiệu. Các Lào Cai hay gạo Séng cù Mường Ngoài những tác động tích cực, quy định của Luật SHTT và văn bản Khương, sầu riêng Cái Mơn hay sầu mang lại những hiệu quả nhất định, hướng dẫn chưa có những quy định riêng Bến Tre..., dẫn đến những khó việc xây dựng, quản lý và phát triển cụ thể ở khía cạnh quản lý, đặc biệt khăn trong công tác thẩm định hồ các thương hiệu cộng đồng còn gặp là việc quản lý các nhãn hiệu này sơ đăng ký cũng như việc sử dụng, 6 Số 9 năm 2020
  7. Diễn đàn khoa học và công nghệ phát triển thương hiệu đối với các tổ chí chất lượng không có tính khả hoặc mới chỉ triển khai được hoạt chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thi trong kiểm soát (tiêu chí về vi động trao quyền sử dụng. sản phẩm. lượng, tiêu chí không sử dụng được Đối với quản lý và phát triển các bằng phương pháp cảm quan, phải Hai là, về chủ thể đăng ký bảo NHTT: do đặc thù về điều kiện sản sử dụng phân tích bằng kỹ thuật hộ SHTT: đối với các NHTT, nhiều xuất phân tán, nhỏ lẻ, nên nhiều địa chuyên sâu - phòng thí nghiệm...); địa phương lựa chọn các tổ chức phương không xây dựng và thành sử dụng các tiêu chí tự nguyện như chính trị - xã hội (hội nông dân, hội lập được các HTX, hoặc các HTX TCVN, VietGAP... phụ nữ), hoặc các hội làm vườn... hoạt động chưa hiệu quả, do đó việc làm chủ sở hữu, gây khó khăn trong Năm là, quy trình kỹ thuật, phát triển thương hiệu cho nông sản công tác quản lý, phát triển bởi phương pháp sản xuất được lựa không lựa chọn được HTX mà phải NHTT không gắn với mục tiêu hoạt chọn mang tính phổ cập, chưa quan giao cho các hội nghề nghiệp hoặc động, chức năng, nhiệm vụ được tâm đến các yếu tố truyền thống, tổ chức chính trị - xã hội làm chủ sở giao của tổ chức. Đối với NHCN đặc trưng riêng đối với các sản hữu. Điều này dẫn đến những khó thì chủ yếu là các cơ quan quản lý phẩm. Do đó dẫn đến những khó khăn trong quản lý và phát triển nhà nước, đặc biệt là UBND huyện, khăn trong hoạt động kiểm soát, NHTT, đó là: i) Năng lực, vai trò tổ các phòng chuyên môn, thiếu chức đặc biệt là chưa đáp ứng các yêu chức, phát triển thương mại, tham năng và năng lực về chứng nhận cầu để bảo hộ ở nước ngoài như gia trực tiếp vào các kênh phân phối sản phẩm, chưa có sự tách biệt Nhật Bản, EU... còn hạn chế, thiếu sự liên kết trong giữa quản lý nhà nước và mối quan sản xuất, do đó ảnh hưởng đến hoạt Khó khăn trong hoạt động hệ dân sự theo quy định của Luật động sản xuất của cộng đồng; ii) quản lý, phát triển thương hiệu SHTT. Đối với các CDĐL, đây là Các tổ chức chính trị - xã hội nghề cộng đồng một đối tượng đặc biệt, yêu cầu cao nghiệp thực hiện chức năng kiêm về chuyên môn SHTT, do đó nhiều Đối với hoạt động quản lý CDĐL: nhiệm, thiếu nguồn lực để tổ chức, địa phương giao cho UBND huyện, sự thiếu vắng khung chính sách thúc đẩy các NHTT; iii) Nếu lựa Chi cục thuộc Sở NN&PTNT làm chung ở cấp độ quốc gia dẫn đến chọn HTX thì quy mô và khả năng chủ sở hữu, gây khó khăn cho các việc quản lý CDĐL được giao về mở rộng thành viên của các HTX là chủ thể trong hoạt động xây dựng các địa phương, từ đó dẫn đến sự yếu tố làm ảnh hưởng đến quyền lợi hồ sơ, quy định và tổ chức bộ máy không thống nhất trong việc ban của các cá nhân khác trong cộng quản lý các CDĐL. hành các văn bản quản lý giữa các đồng… Ngoài ra, việc giải thể, sắp địa phương. Mặc dù Nhà nước vẫn xếp lại tổ chức của địa phương dẫn Ba là, vấn đề lựa chọn sản phẩm đóng vai trò chủ thể, nhưng các mô đến vấn đề chuyển đổi chủ sở hữu để bảo hộ chưa gắn với thực tiễn và hình tổ chức quản lý rất đa dạng, NHTT cũng gây ra những khó khăn yêu cầu sản xuất, kinh doanh ở địa 65,7% số CDĐL được giao cho trong quản lý và phát triển bền vững phương cũng như nhu cầu của thị Sở KH&CN quản lý, còn lại là do các đặc sản địa phương dưới hình trường. Sản phẩm bảo hộ thường là các UBND huyện/thị xã/thành phố thức NHTT. nguyên liệu thô, rất ít sản phẩm chế hoặc hội quản lý. Quy định về hệ biến, hoặc những sản phẩm không Hoạt động quản lý các NHCN: thống kiểm soát chỉ thể hiện ở trên gắn với truyền thống (như tôm nuôi hiện nay được giao cho các cơ văn bản, chưa được áp dụng vào công nghiệp, thâm canh) hay sản quan quản lý nhà nước, đặc biệt là thực tiễn do chưa phù hợp với điều phẩm không gắn với giống truyền UBND cấp huyện, do đó, khó khăn kiện sản xuất của sản phẩm, thiếu thống (như dê nhập nội hay dê trong việc chuẩn hóa, đánh giá và nguồn lực (tài chính, con người) để lai...). Điều này hạn chế sự gia tăng thực thi các yêu cầu trong quản lý, tổ chức vận hành, thiếu sự tham gia giá trị sản phẩm tương xứng với tiềm kiểm soát các tiêu chí chứng nhận. của các ngành, đặc biệt là ngành năng và danh tiếng của các đặc sản Ngoài ra, hoạt động quản lý NHCN nông nghiệp vào hoạt động kiểm địa phương. thường được giao theo nhiệm vụ soát. Trong khi đó, vai trò và năng Bốn là, việc lựa chọn các tiêu chí lực của các tổ chức tập thể còn hạn kiêm nhiệm, không thuộc chức bảo hộ trong CDĐL, NHCN hay điều chế, chưa đủ để tham gia vào hoạt năng quản lý nhà nước, dẫn đến kiện bảo hộ NHTT còn bất cập, đặc động tổ chức, quản lý các CDĐL, phát sinh nhiều khó khăn như: các biệt là chưa gắn với: sử dụng các dẫn đến việc triển khai các mô hình văn bản quản lý được ban hành gặp tiêu chí phổ biến, không phải là các quản lý CDĐL ở địa phương còn nhiều trở ngại về mặt pháp lý (đặc tiêu chí mang đặc trưng, gắn liền với gặp nhiều khó khăn, nhiều mô hình biệt là các quy định về thủ tục hành điều kiện địa lý của sản phẩm; tiêu không thể vận hành trên thực tế, chính); nguồn lực để tổ chức đánh 7 Số 9 năm 2020
  8. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ giá, kiểm soát và thực hiện các hoạt phối hợp số 2222/QCPH-BKHCN- tổ chức đăng ký NHCN, NHTT cần động quảng bá, nâng cao danh BNNPTNT-BCT ngày 8/8/2018 về gắn với các điều kiện để ràng buộc tiếng, giá trị thương hiệu gắn với sản xây dựng và quản lý CDĐL giữa Bộ theo nguyên tắc: thu hồi quyền phẩm còn hạn chế. KH&CN, Bộ NN&PTNT, Bộ Công đăng ký nếu không sử dụng, phát Bên cạnh đó, sự đồng hành của Thương. Đặc biệt là cần có sự phối triển thương hiệu sản phẩm, có các doanh nghiệp thành viên trong kết hợp chặt chẽ trong việc phát hành vi làm ảnh hưởng đến uy tín, các hoạt động phát triển thương hiệu triển thương hiệu cộng đồng với danh tiếng của sản phẩm; tạo điều cộng đồng cùng với thương hiệu của OCOP theo Quyết định số 490/QĐ- kiện cho các tổ chức, cá nhân trong từng doanh nghiệp còn chưa cao, TTg của Thủ tướng Chính phủ. Sự cộng đồng được sử dụng, đồng thời trong khi để tiếp cận và phát triển phát triển các sản phẩm OCOP cần nghiêm cấm các hành vi nhằm hạn được thị trường thì các tổ chức tập dựa trên kết quả và có sự kế thừa, chế, ngăn chặn các tổ chức, cá thể cần sự hỗ trợ, đồng hành thường kết nối của các hoạt động phát triển nhân được sử dụng nếu các tổ chức, xuyên, liên tục, đặc biệt là các vấn thương hiệu cộng đồng, giải quyết cá nhân đó đủ điều kiện. đề về xây dựng sản phẩm, quảng hài hòa mối quan hệ này để đảm Hoạt động quản lý, phát triển bá và phát triển thị trường. bảo giá trị, lợi ích của cộng đồng các thương hiệu cộng đồng: xây đối với các thương hiệu được bảo hộ dựng mô hình tổ chức, hoạt động Một số kiến nghị, đề xuất về xây dựng, của các chủ thể thương mại trong quản lý thương hiệu cộng đồng hỗ trợ phải gắn với tăng cường năng cộng đồng. lực thương mại, đặc biệt là với các Sự phát triển của thị trường nông Tăng cường công tác đào tạo, NHTT, cần tập trung hỗ trợ về năng sản Việt Nam trong giai đoạn vừa nâng cao năng lực, trong đó cần xây lực tổ chức và phát triển thị trường qua đã cho thấy vị trí, vai trò và dựng và bổ sung các nội dung đào của các HTX. Ưu tiên hỗ trợ các tiềm năng rất lớn của các sản phẩm tạo, tập huấn về quản trị và phát doanh nghiệp, HTX trong các dự nông nghiệp với sự hỗ trợ của các triển thương hiệu trong các chương án, hoạt động hỗ trợ, làm nền tảng thương hiệu cộng đồng trong việc trình tập huấn, nâng cao năng lực thúc đẩy việc sử dụng thương hiệu đáp ứng các nhu cầu của người tiêu cho các HTX, cán bộ quản lý HTX, trên thị trường, tạo cơ sở, động lực dùng trong nước cũng như hội nhập làng nghề, đào tạo nghề nông thôn. để nâng cao giá trị sản phẩm. kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trước bối Xác định năng lực quản trị và phát cảnh sự phát triển của các thương Mô hình tổ chức quản lý CDĐL: triển thương hiệu nông sản là một hiệu cộng đồng còn gặp nhiều khó xây dựng các quy định quản lý phù nội dung chính trong chương trình khăn, theo chúng tôi cần phải thực hợp với điều kiện của từng sản đào tạo, nhằm thúc đẩy và nâng cao hiện đồng bộ những giải pháp ở cấp phẩm, hạn chế ban hành quá nhiều hiệu quả hoạt động của các HTX, trung ương và địa phương để thúc hội/hiệp hội, đặc biệt là năng lực văn bản quản lý, lồng ghép các nội đẩy hoạt động xây dựng và quản lý thương mại. dung vào quy chế quản lý, đặc biệt trong thời gian tới. là hoạt động trao quyền và các quy Đối với hoạt động xây dựng hồ sơ định kỹ thuật, kiểm soát. Nâng cao Ở cấp trung ương: Cục SHTT cần đăng ký bảo hộ: việc lựa chọn hình quyền hạn và trách nhiệm của các tham mưu, kiến nghị Bộ KH&CN, thức bảo hộ (CDĐL, NHTT, NHCN) tổ chức tập thể (hội, HTX) để xây Chính phủ và Quốc hội để chỉnh cần dựa trên điều kiện (quy mô, đặc dựng các quy định quản lý phù hợp sửa, bổ sung, hoàn thiện khung thù về sản phẩm, chất lượng...), (quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn sản chính sách liên quan đến sở hữu yêu cầu của từng hình thức bảo phẩm, hoạt động kiểm soát...). Các công nghiệp nói chung và các quy hộ để quyết định. Đặc biệt là đối cơ quan quản lý nhà nước chỉ nên định cụ thể về CDĐL, NHTT, NHCN với các CDĐL, sản phẩm được lựa thực hiện chức năng quản lý quyền nói riêng nhằm giúp các địa phương chọn cần có danh tiếng, chất lượng và kiểm tra, giám sát theo kế hoạch tổ chức hiệu quả các hoạt động xây đặc thù gắn với điều kiện của địa và khi cần thiết2 ? dựng và quản lý thương hiệu cộng phương, kỹ thuật truyền thống, dấu đồng. hiệu được lựa chọn để bảo hộ phải Đối với các địa phương: cần gắn với hoạt động sản xuất, thương 2 Tham khảo các giải pháp chi tiết tại “Tài thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ giữa mại. Ưu tiên lựa chọn các HTX làm liệu hướng dẫn về đổi mới tiếp cận trong xây ba ngành (KH&CN, NN&PTNT, chủ thể để đăng ký các NHTT. Hoạt dựng và quản lý CDĐL ở Việt Nam” của Dự Công Thương) trên cơ sở Quy chế động cho phép, ủy quyền cho các án “Hỗ trợ phát triển CDĐL ở Việt Nam”. 8 Số 9 năm 2020
  9. Diễn đàn khoa học và công nghệ Xây dựng mô hình hoạt động của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia: Kinh nghiệm của một số nước Nguyễn Quốc Đạt, Lê Quang Thái Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ Theo xu hướng chung của thế giới, trung tâm đổi mới sáng tạo (ĐMST) là để cho cộng đồng khởi nghiệp ĐMST phát triển, hoàn thiện các ý tưởng kinh doanh/công nghệ, kêu gọi đầu tư, qua đó hình thành hệ sinh khái khởi nghiệp ĐMST, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Thông qua phân tích các mô hình trung tâm ĐMST của một số nước (Hàn Quốc, Trung Quốc, Israel), bài báo rút ra một số vấn đề mang tính gợi mở cho Việt Nam trong việc xây dựng Trung tâm ĐMST Quốc gia. Kinh nghiệm phát triển trung tâm ĐMST của một số quốc gia trên thế giới Mạng lưới các trung tâm ĐMST và hệ sinh thái ĐMST ở mỗi quốc gia được hình thành và phát triển theo các định hướng và cách thức tổ chức khác nhau, nhưng tất cả đều hướng tới tập trung nguồn lực để phát triển các lĩnh vực theo kế hoạch được định trước nhằm tạo ra những kết quả mang tính đột phá, có tính ảnh hưởng sâu rộng tới một bộ phận hoặc toàn bộ nền kinh tế. Hàn Quốc Kể từ năm 2015, Chính phủ Hàn Quốc [1] đã thiết lập 17 Hình 1. Vai trò của CCEI tại Hàn Quốc (nguồn: [2, 3]). Trung tâm Kinh tế sáng tạo và đổi mới (Center for Creative Mô hình CCEI là tập trung hỗ các doanh nghiệp khởi nghiệp Economy and Innovation - CCEI) trợ phát triển một lĩnh vực cụ thể ĐMST và DNVVN cơ hội tiếp cận với nhiều văn phòng đại diện ở bằng cách kết nối chính quyền vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến, các địa phương, nhằm hỗ trợ cho địa phương với một doanh nghiệp hoạt động marketing, hoạt động các doanh nghiệp khởi nghiệp lớn đang có lợi thế là đơn vị dẫn mua - bán và sáp nhập trên cơ ĐMST và doanh nghiệp vừa và đầu về lĩnh vực đó ở địa phương. sở tận dụng các lợi thế của các nhỏ (DNVVN). Các trung tâm Mỗi tập đoàn lớn như (Lotte, LG, tập đoàn. Các doanh nghiệp này giúp các doanh nghiệp khởi Hyundai Motor, Samsung, SK…) khởi nghiệp ĐMST và DNVVN nghiệp ĐMST và DNVVN kết nối đều được đề nghị tham gia vào cũng được đội ngũ chuyên gia với các tập đoàn của Hàn Quốc 1 trong 17 trung tâm này và tập tài chính, pháp luật, sáng chế… cũng như các tập đoàn hoạt động trung vào lĩnh vực chuyên môn của CCEI cung cấp các dịch vụ trong khu vực (hình 1). của mình. Mô hình này trao cho tư vấn và đáp ứng các dịch vụ 9 Số 9 năm 2020
  10. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ toàn diện khác như cho thuê văn Có thể thấy, đối với Hàn Quốc, để thúc đẩy hoạt động ĐMST phòng, giới thiệu đầu tư và hỗ trợ các CCEI đóng vai trò trung gian khởi nghiệp kinh doanh rộng mở rộng hoạt động kinh doanh ra kết nối trong các hoạt động liên khắp. Theo đó, trong kế hoạch quốc tế. quan đến ĐMST. Các trung tâm “Made in China 2025” (hình 2) này hoạt động theo mô hình phi [4], Chính phủ dự kiến sẽ thiết lập Mỗi CCEI điều hành một hệ lợi nhuận dưới sự bảo trợ của 40 trung tâm vào năm 2025 dựa thống hỗ trợ trực tiếp cho từng chính phủ hoặc thông qua tài trên 10 lĩnh vực được xác định là đối tượng trên cơ sở hợp tác với trợ từ các tập đoàn tư nhân lớn. cốt lõi trong quá trình phát triển. chính quyền địa phương/trung Ngoài ra, các trung tâm này còn ương và các tập đoàn lớn. Mỗi có vai trò là nơi cung cấp, kết nối Mỗi trung tâm này sẽ tập trung trung tâm là một đơn vị hoạt động nguồn nhân lực cho các doanh vào một ngành hoặc một lĩnh phi lợi nhuận, được lựa chọn từ nghiệp, tổ chức các hội chợ việc vực, đóng vai trò là đầu mối hỗ các tổ chức trực thuộc hoặc hợp làm với các quy mô khác nhau, trợ hoạt động nghiên cứu và phát tác với các cơ quan nhà nước, đáp ứng cung cầu nhân lực. triển (R&D) đa ngành, đa lĩnh vực tổ chức kinh tế, trường đại học, giữa các công ty, đơn vị học thuật viện nghiên cứu… trên cơ sở tham Trung Quốc và chính quyền, ứng dụng các vấn với Bộ trưởng Bộ Khoa học, Trải qua hơn 40 năm đổi mới, công nghệ của cách mạng công Thông tin truyền thông và Kế Trung Quốc ngày nay được coi là nghiệp 4.0 - những công nghệ có hoạch tương lai của Hàn Quốc; công xưởng của thế giới, do vậy khả năng đảm bảo duy trì vị trí cán bộ lãnh đạo của doanh quốc gia này tập trung phát triển quốc gia sản xuất hàng đầu thế nghiệp lớn; thị trưởng thành phố mạng lưới các trung tâm ĐMST, giới của Trung Quốc. Mạng lưới hoặc thống đốc. gồm: Trung tâm ĐMST ngành này sẽ giúp cải thiện năng lực và Nhờ sự hỗ trợ của CCEI, các chế tạo cấp quốc gia, các trung hiệu quả ĐMST của các doanh doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST tâm ĐMST hoạt động sản xuất nghiệp sản xuất trong nước, tạo của Hàn Quốc không chỉ hoạt cấp tỉnh và mạng lưới các khu ra các bước đột phá nhảy vọt, động thành công trong nước mà trình diễn ý tưởng ĐMST. ươm mầm nhân tài lãnh đạo toàn còn mở rộng ra trên toàn thế giới. Đối với Trung tâm ĐMST cầu trong một số lĩnh vực công Gần đây, số lượng doanh nghiệp ngành chế tạo cấp quốc gia, nghệ, cũng như gia tăng số lượng khởi nghiệp ĐMST của Hàn Quốc Chính phủ Trung Quốc coi công nghiên cứu có khả năng được tham gia hợp tác với các tổ chức tác phát triển hoạt động ĐMST thương mại hoá thành công ở đầu tư mạo hiểm, vườn ươm khởi cấp quốc gia là cơ chế quan trọng Trung Quốc [5]. nghiệp và nhà đầu tư thông qua mạng lưới doanh nghiệp lớn toàn cầu - những đơn vị thành viên của CCEI tăng cao. Tính đến nay, Hàn Quốc có hơn 5.000 doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST và DNVVN tham gia vào mạng lưới doanh nghiệp lớn toàn cầu. Về tài chính, dưới sự hỗ trợ của nhà nước và tài trợ của khu vực tư nhân, các CCEI cũng có được một khoản kinh phí khoảng 1,8 tỷ USD mỗi năm để hoạt động dưới hình thức đầu tư, bảo lãnh và cho vay. Nhờ có khoản vốn mồi này mà mỗi năm đã thu hút hàng chục tỷ USD đầu tư vào hoạt động Hình 2. Các lĩnh vực được ưu tiên phát triển trong kế hoạch “Made in China ĐMST của các doanh nghiệp. 2025”. 10 Số 9 năm 2020
  11. Diễn đàn khoa học và công nghệ Ngoài các trung tâm ĐMST Israel chính về toàn bộ hoạt động ngành chế tạo cấp quốc gia, ĐMST quốc gia, mặc dù trong Chính phủ Israel đã bắt đầu có Trung Quốc cũng đang hỗ trợ mỗi bộ thuộc chính phủ đều có cơ chính sách hỗ trợ cho các doanh phát triển 48 trung tâm ĐMST quan chuyên trách về lĩnh vực đó. nghiệp để khởi nghiệp ĐMST hoạt động sản xuất cấp tỉnh. Các Cơ quan này là đơn vị đầu mối từ cách đây hơn 40 năm. Trong được chính phủ giao xây dựng, trung tâm cấp quốc gia và trung mỗi bộ của Chính phủ Israel đều vận hành, triển khai các chương tâm cấp tỉnh đã thiết lập nên hệ có một cơ quan chuyên về khởi trình dành riêng cho các công ty thống ĐMST xuyên suốt, trong nghiệp ĐMST và một chuyên gia tư nhân, không ngừng thúc đẩy đó các trung tâm cấp quốc gia trưởng được phân công chịu trách nhằm biến các sáng kiến độc đáo giữ vai trò chủ đạo với sự hỗ trợ nhiệm thúc đẩy lĩnh vực này. Có thành các công cụ thiết thực, có quan trọng từ các trung tâm cấp thể nói, Chính phủ Israel đã xây hiệu quả cao về kinh tế - xã hội. tỉnh. dựng cơ cấu tổ chức phục vụ cho hệ thống này một cách bài bản, Tóm lại, mỗi quốc gia đều có Chính phủ Trung Quốc cũng khoa học. chiến lược và cách thức riêng thành lập các khu trình diễn ý trong việc phát triển hệ thống Tuy nhiên, cơ quan chịu trách các trung tâm ĐMST của mình. tưởng ĐMST độc lập quốc gia nhiệm chính việc tư vấn cho các để thực  hiện các chương trình Tuy nhiên, tựu chung lại có 3 yếu bộ, ủy ban của chính phủ và quốc tố tác động mạnh nhất đó là: hệ thí điểm, thu thập kinh nghiệm hội về chính sách ĐMST trong thống chính trị, chiến lược phát và trình diễn hoạt động sáng tạo nước cũng như trên thế giới là “Cơ triển KH&CN của quốc gia, đặc độc lập, phát triển ngành công quan ĐMST Israel” trực thuộc Bộ thù về văn hóa - xã hội. Với mục nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Kinh tế và Công nghiệp  Israel tiêu hỗ trợ doanh nghiệp phát Qua đó, các khu trình diễn có thể [6]. Cơ quan này, với vai trò là triển theo hướng ĐMST, chính dẫn dắt đất nước trong các lĩnh đơn vị trung gian, đã thiết kế và phủ các nước thường đầu tư, hỗ vực liên quan đến chuyển giao vận hành một loạt các chương trợ doanh nghiệp thực hiện các công nghệ, tài trợ phát triển công trình dành riêng cho các công ty hoạt động R&D, nâng cao trình nghệ và chia sẻ giải pháp về cơ tư nhân, không ngừng thúc đẩy độ công nghệ và quản lý, vươn nhằm biến các sáng kiến độc đáo lên các nấc thang cao hơn trong chế khuyến khích. Các khu trình thành các công cụ thiết thực, có chuỗi giá trị và tạo ra các sản diễn này là nơi dẫn đầu cả nước hiệu quả cao về mặt kinh tế - xã phẩm, dịch vụ chưa từng có. trong việc thực hiện chính sách hội. Một trong những hình thức hỗ trợ công nghệ liên quan vốn phụ Cơ quan ĐMST Israel có 6 phổ biến là chính phủ thành lập thuộc vào khả năng thử nghiệm hoặc hỗ trợ doanh nghiệp thành của hệ thống và sáng kiến về đơn vị gồm: Phòng khởi nghiệp, Phòng tăng trưởng, Phòng sản lập các trung tâm ĐMST để tạo chính sách, được kỳ vọng sẽ đi không gian tập trung với sự tham xuất tiên tiến, Phòng hợp tác quốc đầu trong hoạt động phát triển gia của các thành phần cần thiết tế, Ban cơ sở hạ tầng công nghệ các lĩnh vực cần sáng tạo cũng của hệ sinh thái ĐMST nhằm và Ban giải quyết thách thức xã như cải cách hệ thống khoa học kết nối, tận dụng những ưu điểm hội. Israel có chính sách hỗ trợ và công nghệ (KH&CN). Điều của mỗi thực thể trong mạng lưới kinh phí để các doanh nghiệp khởi đáng nói là các khu trình diễn có để xây dựng một hệ thống bền nghiệp sáng tạo. Cơ quan ĐMST hướng phát triển khác nhau nhờ vững. Điểm chung của các trung Israel sẽ cung cấp tiền cho các tâm ĐMST này là đều có sự hậu cơ chế quản lý ĐMST phù hợp doanh nghiệp trong trường hợp thuẫn, hỗ trợ của chính phủ hoặc với điều kiện riêng của từng địa doanh nghiệp có ý tưởng rất hay các tập đoàn lớn trong một giai phương. Từ đó giúp tăng hiệu quả nhưng gặp khó khăn về tài chính. đoạn hoặc toàn bộ quá trình hoạt sử dụng nguồn lực, cải thiện hiệu Có thể thấy rằng, chính sách động, với đặc thù là đơn vị kết nối quả các chính sách và nâng cao ĐMST của Israel mang tính đồng trung gian không trực tiếp tham năng lực ĐMST trong nền kinh tế nhất rất cao, bởi quốc gia này có gia vào quá trình tạo ra của cải Trung Quốc. một cơ quan chịu trách nhiệm vật chất cho xã hội. 11 Số 9 năm 2020
  12. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Gợi mở cho Việt Nam đảm bảo quyền và nghĩa vụ của quan hệ hợp tác với khối tư nhân tất cả các bên liên quan, thúc đẩy và khối công lập. Thông qua kinh nghiệm của việc ứng dụng các công nghệ, kỹ một số quốc gia nêu trên, mô hình - Thực hiện các hoạt động tối thuật và các sáng chế ra thực tế. hoạt động của Trung tâm ĐMST ưu hóa và tùy biến các kết quả Quốc gia cần tiếp cận theo một - Hỗ trợ các tổ chức đầu tư, khoa học, các công nghệ đảm số hướng cụ thể sau: các đối tác hoạt động tài chính. bảo tính phù hợp với điều kiện thị Về vị trí và vai trò Mô hình hoạt động trường. Trung tâm ĐMST là mô hình Mỗi quốc gia đều có chiến - Thiết lập và phát triển các tổ chức sáng tạo đặc thù nhằm lược riêng trong quá trình hình dịch vụ nền cần thiết để hỗ trợ mục đích nghiên cứu, dẫn dắt, thành và phát triển hệ sinh thái các nhóm nghiên cứu gia nhập kết nối và cung cấp các dịch vụ ĐMST nói chung và mạng lưới vào thị trường thương mại. Các ĐMST hiệu quả và hỗ trợ R&D các trung tâm ĐMST nói riêng. nhà nghiên cứu/doanh nhân có phục vụ cho hệ sinh thái ĐMST. Với mục đích đặt doanh nghiệp thể phối hợp cùng nhau hình Các trung tâm này nên được đặt làm trọng tâm, Chính phủ nên thành các nhóm thương mại hóa tại các cơ quan cấp cao có chức đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp thực sản phẩm công nghệ, thành lập năng hoạch định về chiến lược, hiện các hoạt động R&D, nâng doanh nghiệp KH&CN mới hoặc chính sách KH&CN của quốc cao trình độ công nghệ và quản doanh nghiệp khởi nghiệp ? gia. Điều này giúp cho việc định lý, vươn lên các nấc thang cao TÀI LIỆU THAM KHẢO hướng chiến lược, nắm bắt được hơn trong chuỗi giá trị; việc đầu [1]vhttp://consosukien.vn/kinh- xu thế về KH&CN trên thế giới tư, hỗ trợ này nên được thông qua nghiem-mot-so-nuoc-ve-phat-trien-he- một cách chính xác và có định các chương trình/dự án được dẫn sinh-thai-doi-moi-sang-tao-quoc-gia. hướng rõ ràng trong mỗi giai đoạn dắt bởi trung tâm ĐMST. htm. phát triển với các mục tiêu chính: Cơ chế tài chính [2]vhttp://creativekorea.or.kr/eng/. - Đưa các công nghệ mới đến - Nguồn kinh phí hoạt động [3] Martin Hemmert (2007), “The gần hơn với doanh nghiệp và cho trung tâm ĐMST được hỗ trợ Korean Innovation System: From người dân, ươm tạo công nghệ, industrial catch-up to technological từ ngân sách nhà nước; đóng góp tối ưu hóa, trình diễn và chuyển leadership”, Innovation and technology tự nguyện/tài trợ của các tổ chức, in Korea: Challenges of a newly giao công nghệ, khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân trong và advanced economy, pp.11-32. tinh thần sáng tạo trong doanh ngoài nước phù hợp với quy định nghiệp và người dân. [4]vhttps://isdp.eu/content/ của pháp luật; khoản thu từ tiền uploads/2018/06/Made-in- China- - Hỗ trợ hình thành các giải lãi gửi ngân hàng và các khoản Backgrounder.pdf. pháp công nghệ tiên tiến, kích thu hợp pháp khác. [5] Jizhen Li, Quwen Deng, Olav thích các ý tưởng sáng tạo, khơi - Các khoản chi của trung tâm Jull Sorensen (2011), “Building gợi cảm hứng ĐMST. tập trung vào: tài trợ, hỗ trợ các national innovation platform in China: chương trình, đề án hoạt động theoretical exploration and empirical - Dẫn dắt hệ sinh thái ĐMST. study”, Journal of Science and Tập trung và tổ chức được các theo điều lệ của trung tâm ĐMST Technology Policy in China, 2(1), nguồn lực đầu vào cho ĐMST, và quy định của pháp luật; tài trợ pp.58-78. tối ưu, hoàn thiện các mô hình cho các tổ chức, cá nhân theo [6] https://innovationisrael.org.il/en/ giải pháp ĐMST, phát triển sản đúng đối tượng mà trung tâm reportchapter/innovation-authority. phẩm, giải pháp đầu ra hiệu quả, hướng tới. có khả năng ứng dụng cao. Các dịch vụ chính - Kết nối, thực hiện các dịch - Các dịch vụ liên quan đến vụ KH&CN, khai thác các nguồn tìm kiếm, sử dụng kết nối và tích lực KH&CN, cung cấp, hỗ trợ tư hợp các sáng chế, giải pháp hữu vấn, kết nối, tối ưu trong sử dụng, ích phục vụ khách hàng kết nối 12 Số 9 năm 2020
  13. Diễn đàn khoa học và công nghệ Thúc đẩy chuyển đổi số tại Việt Nam Nguyễn Tuấn Anh Bộ Thông tin và Truyền thông Cùng với cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0), “chuyển đổi số” (CĐS) đang là từ khóa được nhắc đến nhiều nhất trong giới hoạch định chính sách, cộng đồng các nhà khoa học và doanh nghiệp. Vậy CĐS là gì, tại sao cần phải tiến hành CĐS, thực trạng CĐS của Việt Nam ra sao, giải pháp nào thúc đẩy quá trình CĐS tại Việt Nam là những vấn đề mà bài báo muốn chia sẻ. CĐS và nội dung cơ bản của CĐS Hiện nay có nhiều định nghĩa về CĐS, như: là việc ứng dụng công nghệ để thay đổi mô hình kinh doanh, tạo ra thêm nhiều cơ hội và giá trị mới, giúp doanh nghiệp đạt doanh số tốt hơn và gia tăng tốc độ tăng trưởng [1]; hay theo Microsoft, CĐS là việc tái cấu trúc tư duy về việc phối hợp giữa dữ liệu, quy trình và con người để tạo ra nhiều giá trị mới… Mặc dù chưa chuẩn hóa, nhiều tổ chức, doanh nghiệp có các định nghĩa riêng của mình, nhưng trên góc độ tổng quát, có thể hiểu CĐS là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ nghiệp số, CĐS cho các doanh ngày càng xa đối với các quốc gia, số để thay đổi một cách tổng thể và nghiệp truyền thống, phát triển tài doanh nghiệp không quan tâm đến chính số, phát triển thương mại điện nó. CĐS không đơn giản là mức ứng toàn diện tất cả các khía cạnh của đời tử…); 2) CĐS xã hội/xã hội số (ứng dụng và phát triển cao hơn của công sống kinh tế - xã hội (KT-XH), tái định dụng công nghệ số để nâng cao chất nghệ thông tin và truyền thông (ICT), hình cách chúng ta sống, làm việc lượng dịch vụ, giảm khoảng cách xã mà nó phải được hiểu là nút đột phá và liên hệ với nhau. CĐS không có hội như giáo dục, y tế, văn hóa, an trong phát triển KT-XH. Khi đó, dữ nghĩa là số hóa. “Số hóa” là việc biến toàn an ninh xã hội…); 3) CĐS trong liệu và công nghệ số làm chuyển đổi, đổi các giá trị thực sang dạng số, còn một số ngành trọng điểm để phát cải biến toàn diện mô hình, quy trình, CĐS là khi có dữ liệu được số hoá rồi, triển KT-XH (như nông nghiệp, du sản phẩm/kết quả đầu ra của quá chúng ta sử dụng các công nghệ như lịch, điện lực, giao thông…); 4) CĐS trình sản xuất kinh doanh trong xã AI, Big Data... để phân tích dữ liệu, trong cơ quan chính phủ/chính phủ hội (CQNN cũng được coi là tổ chức biến đổi nó và tạo ra một giá trị khác. số (hướng tới cung cấp dịch vụ công cung cấp sản phẩm - dịch vụ công). Vì tầm quan trọng của CĐS, thuận tiện cho người dân, tăng cường nhiều nước đã xây dựng và triển khai sự tham gia người dân trong các hoạt Trên quy mô quốc gia, CĐS ảnh các chiến lược/chương trình quốc động của cơ quan nhà nước (CQNN), hưởng ngày càng lớn đến tăng trưởng gia về CĐS, điển hình như Anh, Úc, phát triển dữ liệu mở của CQNN để GDP, năng suất lao động và cơ cấu Đan Mạch, Estonia, Israel, Mexico, tạo điều kiện phát triển KT-XH... việc làm. Theo nghiên cứu của Singapore, Thái Lan, Uruguay… Tuy Microsoft và IDG tại khu vực châu nội dung CĐS của các nước có khác CĐS mang tính thời sự và cấp thiết Á - Thái Bình Dương, năm 2017, các nhau (vì nó phụ thuộc vào chiến lược CĐS là xu thế, là tất yếu trong sản phẩm và dịch vụ số đóng góp 6% phát triển KT-XH của mỗi nước), thời đại ngày nay, đó là cơ hội cho GDP, dự đoán tỷ lệ này sẽ tăng lên nhưng nhìn chung đều hướng tới các các nước, các doanh nghiệp vượt 60% vào năm 2021; CĐS làm tăng nội dung chính: 1) CĐS nền kinh lên trong cuộc CMCN 4.0, nhưng năng suất lao động 15% năm 2017, tế/kinh tế số (phát triển các doanh cũng là nguy cơ tụt hậu, bị bỏ lại dự kiến năm 2020 là 21%; 85% công 13 Số 9 năm 2020
  14. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ việc trong khu vực sẽ bị biến đổi từ nghệ đám mây (18%), an ninh mạng đạt 94 tỷ USD [5]. Trong 10 năm qua, năm 2021 trở đi [2]. (12,7%), nâng cấp phần mềm, phần quy mô ngành ICT đã tăng lên 16 cứng để CĐS (10,7%). lần, là một trong những ngành kinh tế Dưới góc độ doanh nghiệp, nếu tăng trưởng nhanh nhất của cả nước. không CĐS, doanh nghiệp sẽ bị thụt Đánh giá về thực trạng của CĐS Các doanh nghiệp lớn trong nước đã lùi so với các doanh nghiệp cùng không thể không nhắc đến quá trình và đang chuyển hướng sang tự chủ ngành, giảm sức cạnh tranh và không số hóa và ICT - là những nền tảng nghiên cứu, chế tạo và sản xuất. Đi thể đuổi kịp đối thủ. Doanh nghiệp dù quan trọng của CĐS. Theo báo cáo đầu là Tập đoàn Viettel, Tập đoàn lớn, dù nhỏ đều không thể nói “không” Thực trạng chuyển đổi kinh doanh số VNPT, FPT, CMC... Nhiều doanh với CĐS. Trong quá trình CĐS, dữ năm 2018 của Tập đoàn IDG (Mỹ), nghiệp khởi nghiệp là doanh nghiệp liệu sẽ trở thành tài sản lớn nhất của ở Việt Nam hiện có 55% số doanh số, trong đó có một số thành công. doanh nghiệp, vì dữ liệu là tiền đề của nghiệp khởi nghiệp đã sử dụng công Cụ thể như Topica Founder Institute quá trình phân tích số liệu. Để thực nghệ số để vận hành doanh nghiệp đã tạo ra hơn 60 công ty khởi nghiệp, hiện CĐS hiệu quả, doanh nghiệp hiệu quả, trong khi đó tỷ lệ này của huy động hơn 20 triệu USD từ các quỹ cần hiểu rõ về CĐS và đặt mục tiêu doanh nghiệp truyền thống là 38%. và có tổng định giá hơn 100 triệu USD chiến lược cụ thể, đầu tư đúng đắn Điều này giúp các doanh nghiệp tăng [6]; Startup gọi xe tải Logivan đã thành cho các bộ công cụ hỗ trợ CĐS hiệu doanh thu đến 34% [4]. Lợi ích nhìn công trong việc gọi thêm vốn đầu tư quả như AI, BI... thấy rõ của việc số hóa là: không cần 5,5 triệu USD trong năm 2019... Tuy phải dành ra một khoảng không để nhiên, trong cơ cấu doanh thu công Thực trạng CĐS tại Việt Nam lưu trữ hồ sơ, giấy tờ, tài liệu…, tiết nghiệp ICT hiện nay chủ yếu do các Tại Việt Nam, trong những năm kiệm chi phí thuê mặt bằng; tiết kiệm doanh nghiệp FDI (đóng góp tới 98% gần đây, quá trình CĐS đã bắt đầu thời gian in ấn và sắp xếp tài liệu, tìm tổng doanh thu xuất khẩu), trong khi diễn ra, nhất là trong những ngành kiếm cũng đơn giản hơn; việc số hoá tỷ lệ giá trị gia tăng đem lại không cao như tài chính, giao thông, du lịch... dữ liệu kết hợp với những công cụ [7]. Môi trường cho doanh nghiệp khởi Chính phủ và chính quyền các cấp bảo mật tốt có thể tăng cường sự an nghiệp số còn chưa hấp dẫn, hiện đang nỗ lực xây dựng Chính phủ điện toàn khi lưu trữ; dễ kiểm soát, lên kế nay xu hướng những người trẻ khởi tử hướng tới Chính phủ số. Nhiều hoạch… nghiệp sang các quốc gia khác như thành phố cũng đang có ý định xây Lợi ích của việc số hoá dữ liệu là Singapore để đăng ký thành lập công dựng thành phố thông minh với các không thể phủ nhận. Tuy nhiên, hiện ty đang ngày càng tăng [8]. nền tảng công nghệ mới... Tuy nhiên, nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều CQNN, ICT cũng đã được ứng dụng rộng các doanh nghiệp Việt Nam nói các tổ chức, doanh nghiệp chưa triển rãi trong các loại hình doanh nghiệp, chung, nhất là doanh nghiệp vừa và khai và hoàn thiện được hoạt động giúp tăng năng suất lao động, năng nhỏ vẫn chưa nhận thức đúng vai trò này. Nguyên nhân có thể đến từ chính lực cạnh tranh. Tuy nhiên, phần lớn CĐS trong cuộc CMCN 4.0. nội bộ của đơn vị: thứ nhất, việc số hoá các doanh nghiệp của Việt Nam, nhất Mới đây, Cisco (một công ty mạng có thể gây ra sự xáo đổi lớn về nhân là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa toàn cầu) đã công bố báo cáo "Chỉ sự trong đơn vị, đặc biệt là những vị nhận thức đúng vai trò CĐS trong số phát triển kỹ thuật số của doanh trí lâu năm hoặc chủ chốt; thứ hai, dù cuộc CMCN 4.0, chưa chủ động tiếp nghiệp vừa và nhỏ khu vực châu Á - khoản đầu tư số hoá dữ liệu nhiều hay cận công nghệ, hệ thống hạ tầng, Thái Bình Dương” [3], thực hiện trên ít phụ thuộc vào từng giai đoạn phát không xoay chuyển được mô hình tổ 1.340 doanh nghiệp tại khu vực nói triển, trình độ công nghệ sẵn có cũng chức kinh doanh đáp ứng với xu thế chung và 50 doanh nghiệp tại Việt như nhu cầu thực tế, nhưng nó vẫn là công nghệ [9]. Nam nói riêng. Tại Việt Nam, các một gánh nặng, đặc biệt nếu đầu tư ngay một hệ thống đầy đủ và hiện đại Trong phát triển xã hội, ICT đã doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đối được ứng dụng khá rộng rãi, góp mặt với những rào cản trong quá trình có thể khiến chi phí đội lên khá cao. phần nâng cao chất lượng cuộc sống CĐS như thiếu kỹ năng số và nhân Trong thời gian qua, các doanh người dân, giảm khoảng cách xã hội, lực (17%), thiếu nền tảng công nghệ nghiệp ICT phát triển mạnh mẽ. Công đặc biệt là trong các lĩnh vực giáo dục thông tin đủ mạnh để cho phép CĐS nghiệp ICT Việt Nam tiếp tục đạt và y tế. Tuy nhiên cũng tồn tại một (16,7%), thiếu tư duy kỹ thuật số hoặc được mức tăng trưởng với doanh thu số bất cập như: bất bình đẳng về cơ các thách thức về văn hóa, kỹ thuật cao, có giá trị xuất khẩu lớn, tốc độ hội giáo dục cũng như tiếp cận các số trong doanh nghiệp (15,7%) [3]... tăng trưởng trung bình hàng năm đạt dịch vụ sức khỏe vẫn có xu hướng gia Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra rằng, khoảng 20-30% [5]. Năm 2018, tổng tăng; chất lượng dịch vụ chưa đồng các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt doanh thu ngành công nghiệp ICT đều, đồng bộ; tiếp cận các dịch vụ tài Nam đang bước đầu đầu tư vào công ước đạt 98,9 tỷ USD, xuất khẩu ước chính của người dân còn khó khăn… 14 Số 9 năm 2020
  15. Diễn đàn khoa học và công nghệ Đối với hoạt động của CQNN, dữ liệu quốc gia chậm được triển khai; mạng, Luật An ninh mạng, các nghị ICT đã được ứng dụng trong CQNN việc kết nối, chia sẻ, mở các cơ sở dữ định… Tuy nhiên, việc xây dựng môi để phát triển chính phủ điện tử, góp liệu của cả khu vực công và tư rất hạn trường pháp lý hiện nay còn chậm, phần cải cách hành chính. Tuy nhiên, chế, chủ yếu là cát cứ thông tin. Điều chưa theo kịp nhu cầu xã hội phát số hồ sơ được xử lý trực tuyến (mức này làm lãng phí nguồn lực, cản trở sinh, đặc biệt trong các lĩnh vực mới 3, 4) còn thấp; việc xử lý điều hành triển khai ứng dụng và phát triển công khi thực hiện CĐS. Cụ thể như thiếu qua mạng còn hạn chế; các cơ sở dữ nghệ số. hành lang pháp lý cho phát triển kinh liệu quốc gia chậm được triển khai; tế chia sẻ; chia sẻ, mở dữ liệu của cơ Ba là, phát triển hạ tầng cung cấp việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các quan chính phủ và doanh nghiệp; bảo dịch vụ chứng thực chữ ký số tại Việt CQNN còn hạn chế; việc ứng dụng vệ dữ liệu cá nhân, thông tin riêng tư; Nam. Mặc dù đã đạt được các kết quả những công nghệ số tiên tiến trong vấn đề quyền, đạo đức khi ứng dụng trong việc cung cấp dịch vụ chứng các CQNN để thay đổi mô hình, cách trí tuệ nhân tạo... Điều này gây cản thực chữ ký số và các hình thức khác thức làm việc chưa được nhiều. trở rất lớn cho quá trình CĐS ? để triển khai việc định danh, xác thực Tóm lại, tại Việt Nam, việc ứng điện tử. Nhưng so với nhu cầu của TÀI LIỆU THAM KHẢO dụng và phát triển ICT đã được quan CĐS, vẫn còn nhiều hạn chế, các tổ tâm và trải đều trên các lĩnh vực cần chức mới chỉ cung cấp các dịch vụ [1]vhttps://izisolution.vn/chuyen-doi- chuyển đổi. Tuy nhiên, đa phần các định danh, xác thực cho dịch vụ, hệ so-la-gi-thuc-trang-chuyen-doi-so-tai-viet- ứng dụng và phát triển ICT ở đây thống khách hàng của riêng mình, nam/. chưa thực sự là CĐS, tức là chưa tạo phạm vi hẹp, thiếu kết nối, liên thông. [2]vhttps://news.microsoft.com/vi-vn/ được chuyển đổi đột phá về mô hình, Hạn chế này là do Việt Nam chưa xây 2018/06/29/gdp-chau-a-thai-binh-duong- quy trình sản xuất, sản phẩm dựa trên dựng được một hạ tầng định danh, se-tang-387-ty-usd-vao-nam-2021-nho- dữ liệu và công nghệ số. xác thực điện tử, kết nối, liên thông vao-nhung-chuyen-doi-so-cua-nganh-san- trên quy mô quốc gia, chưa có khung xuat/. Giải pháp thúc đẩy CĐS pháp lý về định danh và xác thực điện [3]vhttps://www.cisco.com/c/vi_vn/solutions CĐS tại Việt Nam trong thời gian tử hoàn chỉnh. Khi mà CĐS mạnh mẽ, /small-business/resource-center.html. tới là tất yếu, mang tính cấp thiết. Để các chủ thể, đối tượng trong thế giới [4]vhttps://enternews.vn/so-hoa-quan- CĐS thành công, cần phải có sự đầu thực sẽ dịch chuyển sang thế giới ảo, tri-doanh-nghiep-153194.html. tư nguồn lực, quyết tâm thực hiện của thì việc định danh, xác thực điện tử tất cả các thành phần trong xã hội và hay cung cấp danh tính số càng trở [5]vhttps://mic.gov.vn/Upload_Moi/Du cần có những định hướng giải pháp nên quan trọng và cấp thiết. ThaoVanBan/PL03-DU-THAO-DE-AN- cụ thể. CHUYEN-DOI-SO-QG-VER-1.0.pdf. Bốn là, nâng cao trình độ lực lượng Một là, phát triển hạ tầng viễn lao động ICT. Theo số liệu từ trang [6] https://doanhnghiepvn.vn/13-doanh- thông. Để tạo điều kiện cho CĐS, tuyển dụng Vietnamworks, đến cuối nhan-duoi-30-tuoi-noi-bat-nhat-viet-nam- năm 2018, Việt Nam vẫn thiếu hụt nam-2018-d125682.html. trong thời gian tới cần tiếp tục phát triển hạ tầng số, đặc biệt là sớm triển 70.000 lao động trong lĩnh vực ICT. [7] Báo cáo chiến lược phát triển ngành khai chính thức mạng di động 5G. Năm 2020, số lượng thiếu hụt nhân thông tin và truyền thông 10 năm 2021- Đồng thời phải quan tâm bảo đảm an lực sẽ lên tới 500.000 [11]. Không 2030 và định hướng đến 2045. toàn, an ninh thông tin. Vấn đề bảo vệ chỉ hạn chế về số lượng, sự thiếu hụt [8]vhttps://www.thesaigontimes.vn/ dữ liệu và an ninh mạng hiện vẫn là nhân lực có chuyên môn cao và các 270345/Sang-Singapore-kho. một thách thức lớn mà Việt Nam phải kiến thức bắt kịp xu hướng thay đổi đối mặt. Ước tính có tới 35% người của thị trường công nghệ là nguyên [9]vhttp://tapchitaichinh.vn/tai-chinh- nhân khiến cho nhân sự ICT cấp cao kinh-doanh/giai-phap-cho-doanh-nghiep- dùng Internet ở Việt Nam có khả năng viet-nam-trong-cuoc-cach-mang-cong- phải đối mặt với các cuộc tấn công ngày càng trở nên khan hiếm, dẫn tới nghiep-40-302110.html. mạng, cao thứ 6 trên thế giới [10]. sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để thu hút nhân tài. [10]vhttps://english.vov.vn/economy/ Hai là, thúc đẩy việc chia sẻ tài data-protection-the-main-challenge-for- nguyên dữ liệu số. Trong bối cảnh Năm là, tiếp tục hoàn thiện môi vietnams-digital-economy-372665.vov. CĐS, dữ liệu số đóng vai trò rất quan trường pháp lý cho phát triển ICT. trọng, là tài sản, tài nguyên, điều kiện Trong thời gian qua, nhiều văn bản [11]vhttps://nld.com.vn/cong-doan/ tiên quyết cho CĐS. Trong thời gian pháp lý đã được ban hành tạo điều viet-nam-can-78000-nhan-luc-cong-nghe- qua, việc phát triển các cơ sở dữ liệu kiện ứng dụng và phát triển ICT trong thong-tin-moi-nam-20180610062209763. htm. trong cả khu vực công và tư đã được các lĩnh vực. Cụ thể như Luật Công chú trọng, nhưng về cơ bản các cơ sở nghệ thông tin, Luật An toàn thông tin 15 Số 9 năm 2020
  16. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Con đường xây dựng các nền tảng số “made in Vietnam” Kinh tế số nói chung và kinh tế nền tảng nói riêng được cho là trụ cột của xã hội tương lai. Năm 2020 chứng kiến nhiều biến động do đại dịch COVID-19 và nguy cơ khủng hoảng toàn cầu, nhưng một số nền tảng số như Amazon, eBay, Alibaba… không chỉ chống chọi tốt với bất ổn của thị trường mà còn có xu hướng phát triển nhanh và mạnh. Tổ chức kinh doanh trên các nền tảng số, hoặc khởi nghiệp trên các mô hình số dường như là giải pháp cứu nguy cho nhiều doanh nghiệp, cá nhân trong cuộc chiến chưa biết đến hồi kết với đại dịch COVID-19. Vậy để xây dựng các nền tảng số “made in Vietnam”, các doanh nghiệp cần làm gì? Nhà nước cần có chính sách và hỗ trợ như thế nào? Nền kinh tế số vượt mức 40%/năm: Tại Việt Nam, mới chỉ có Đại dịch COVID-19 đang diễn một thị trường tiềm năng khoảng 20% doanh nghiệp vừa ra là thời điểm để các chủ thể và nhỏ (DNVVN) có sự hiện diện của nền kinh tế nhận ra vai trò Báo cáo về nền kinh tế số Đông trực tuyến (có website, có sự của kinh tế số và sự cần thiết của Nam Á năm 2019 do Google, tương tác với khách hàng qua các nền tảng. Đây có thể là động Tamesek và Bain & Company thực hiện đã phân tích tiềm năng mạng xã hội…). Phần lớn các lực để tạo nên bước ngoặt lớn hiện tại và tương lai của nền kinh doanh nghiệp này chưa sẵn sàng cho Việt Nam, hoặc sẽ là sự nuối tế số Đông Nam Á tại 6 thị trường tận dụng được cơ hội hòa mình tiếc lớn nếu chúng ta bỏ lỡ. Một lớn nhất, bao gồm: Indonesia, vào dòng chảy phát triển của nền số nền tảng của người Việt đang Malaysia, Philippines, Singapore, kinh tế số. Từ năm 2018, Google manh nha hình thành, nhưng sự Thái Lan và Việt Nam. Số liệu cho đã cung cấp các khóa học kỹ cạnh tranh là vô cùng khốc liệt thấy, nền kinh tế số của khu vực thuật số miễn phí, từ cơ bản đến vì nhiều nền tảng nước ngoài đã vừa đạt một cột mốc mới, chạm nâng cao và cả các khóa học kỹ có chi phí cận biên gần như bằng ngưỡng 100 tỷ USD lần đầu tiên không và đang dần xác lập hiệu năng mềm quản lý, lãnh đạo cho vào năm 2019, tăng 72 tỷ USD so ứng mạng độc quyền. Vậy đâu là 500.000 người lao động của các với năm 2018. Nền kinh tế số tại chỗ đứng cho doanh nghiệp Việt? DNVVN tại Việt Nam. Báo cáo Malaysia, Philippines, Singapore Có hay không một chỗ đứng cho cho đợt khảo sát gần đây nhất và Thái Lan đang tăng trưởng ở người Việt trong thế giới số? về kết quả ban đầu từ các khóa mức 20-30%/năm. Hai đại diện học cho thấy, việc phát triển kinh Yếu tố nào quyết định sự thành công dẫn đầu khu vực là Indonesia và tế số của Việt Nam rất lạc quan: của nền tảng số? Việt Nam có tốc độ tăng trưởng 97% học viên cho biết họ đã cải vượt mức 40%/năm. Năm 2019, Khác với các mô hình truyền thiện kỹ năng kỹ thuật số và tự thống, các nền tảng số có thể nền kinh tế số mang lại cho Việt tin ứng dụng kiến thức học được, thiết lập vị thế độc quyền nhờ tính Nam 12 tỷ USD và dự kiến đạt 43 họ cũng cảm thấy đã được chuẩn quy mô về lượng cầu: nền tảng tỷ USD vào năm 2025. Hiện Việt Nam đang có khoảng 61 triệu bị tốt hơn cho tương lai; 82% càng lớn thì càng có giá trị với người dùng Internet, trung bình DNVVN tham gia khóa học đã người dùng, tạo ra hiệu ứng mạng mỗi người dành khoảng 3 giờ 12 tạo sự hiện diện trực tuyến của tích cực lớn đến mức đối thủ khó phút sử dụng Internet trên thiết mình hoặc cập nhật thêm thông có thể tham gia thị trường. Ví dụ bị di động. Việc sử dụng Internet tin trực tuyến của sản phẩm và đơn giản như Facebook - một nền tập trung vào nhóm các ứng dụng dịch vụ của mình sau khóa học; tảng chia sẻ thông tin, kết nối mạng xã hội và truyền thông liên 73% DNVVN tham gia nhận thấy 2,45 tỷ người tham gia và 1,62 lạc (52%); ứng dụng xem video sự gia tăng lượng tương tác với triệu người hoạt động mỗi ngày (20%), game (11%)... khách hàng. đã trở thành rào cản lớn để ngăn 16 Số 9 năm 2020
  17. Diễn đàn khoa học và công nghệ các nền tảng mới tham gia vào Bảng 1. Một số nền tảng Việt Nam đã xây dựng bên cạnh các nền tảng thế giới. thị trường. Hoặc như Airbnb với Thị trường Nền tảng thế giới Nền tảng Việt Nam* 150 triệu người dùng trên 65.000 thành phố và khoảng 1,9 triệu cơ Du lịch Airbnb, TripAvisor Asia Platform Trave, Tubudd sở lưu trú hoạt động, sở hữu khối lượng thông tin khổng lồ mà ít có Vận tải Uber, Waze, Grab, Ola Cabs Be đối thủ nào trên thế giới có thể Bán lẻ Amazon, Alibaba, Burberry Tiki, Vatgia, Adayroi cạnh tranh được. iOS, Android, Windows, Hệ điều hành Microsoft Vậy đâu là yếu tố để các nền Facebook, Twitter, Tinder, tảng khác có thể vượt qua các Mạng xã hội Instagram, Wechat Zalo, Lotus “ông lớn”? Đó chính là tính khác Udemy, EdX, Doulingo, biệt - yếu tố then chốt để doanh Giáo dục Edumall, Kyna, Học mãi Coursera nghiệp xây dựng lợi thế cạnh Bitcoin, Lending Club, Tài chính Verig, Kalapa tranh. Ví dụ như Instagram - một Kickstarter nền tảng kết nối xã hội tương tự Chăm sóc sức khỏe Cohealo, SimplyInsured, Kaiser Ecomedic, Vicare Permanete như Facebook, song lại cá biệt hóa mình bằng hình thức chia Upwork, Fiverr, 99designs, Dịch vụ cung ứng việc làm Vietnamwork, 24h, Sittercity sẻ thông tin chủ yếu bằng hình ảnh; hoặc Tiktok thu hút tương Nông nghiệp John Deere, Intuit Fasal NextFarm, Hachi tác qua các video mà người sử Năng lượng và công Nest, Tesia Powerwall, dụng đăng lên. Tính tương thích nghiệp nặng EnerNOC với địa phương hoạt động cũng Logistic Munchery, Foodpanda, Haier Ahamove, Ship60 Group khiến một số nền tảng chiếm được lợi thế cạnh tranh, ví dụ như Hocmai.vn - đơn vị cung cấp các nhắn tin và gọi điện miễn phí độc tôn. Đơn giản nếu Facebook, khóa học trực tuyến mà Coursera tương tự như Messenger của Twitter đã được phát triển thân đang làm rất tốt ở trên thế giới, Facebook đã chứng kiến doanh thiện với người dùng Việt, cùng song vẫn tồn tại nhờ tối ưu hóa thu tăng trưởng ở mức 20% năm với sở hữu lượng thông tin khổng cho học sinh Việt Nam ôn luyện 2019 và lợi nhuận trước thuế tăng lồ từ hàng tỷ người dùng qua nhiều thi tại các cấp học. 1,5 lần, lên mức 641 tỷ đồng. Tuy năm thì tất nhiên các nền tảng Việt Nam hiện cũng đang sở nhiên, cũng không ít những tên Việt tương tự sẽ trở nên kém cạnh hữu các nền tảng số hoạt động tuổi xuất hiện đình đám nhưng tranh hơn. Trong khi đó, Momo đa dạng trong các lĩnh vực tương nhanh chóng biến mất trên thị chiếm ưu thế hơn so với các nền tự như trên thế giới, ngoại trừ nền trường như Lotus, Gapo - mạng tảng nước ngoài (như Paypal tảng hệ điều hành và năng lượng xã hội được kỳ vọng sẽ thay thế chẳng hạn) vì hệ thống ngôn ngữ, và công nghiệp nặng (bảng 1). Facebook. Vậy vì đâu mà trên giao diện gần gũi với người Việt, Tuy nhiên, chúng ta cũng chứng cùng một mảnh đất, kẻ rơi nước khả năng kết nối với nhiều ngân kiến không ít những thành công mắt, người mỉm cười? hàng nội địa thông qua hệ thống và thất bại của các nền tảng số. thẻ tín dụng mà phần đông người Những nhân tố quyết định đến Một số nền tảng có tốc độ phát Việt sở hữu. Tương tự như vậy, thành - bại của các nền tảng số triển nhanh và mạnh như Momo so với Messenger của Facebook, nêu trên ít nhiều giải thích được - dịch vụ ví điện tử tiếp cận hơn Line, Kakao Talk thì Zalo chiếm câu chuyện. Với những nền tảng 10 triệu người dùng (năm 2018) Việt xây dựng dựa trên format của được ưu thế nhờ thân thiện với và thành công gọi vốn với trị giá thế giới, nếu không có tính sáng người Việt từ ngôn ngữ, giao diện, hơn 100 triệu USD từ Warburg tạo đặc biệt hoặc tính địa phương phương thức cài đặt... Pincus, đồng thời lọt top 100 cao, ắt hẳn sẽ không thể tham công ty công nghệ tài chính lớn gia vào thị trường mà những “tay * Các nền tảng sở hữu bởi các công ty đăng nhất toàn cầu. Zalo - ứng dụng chơi ngoại quốc” đã chiếm vị trí ký tại Việt Nam. 17 Số 9 năm 2020
  18. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Dưới góc độ hoạch định chính sách, TS Nguyễn Đức Thành - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cho rằng, bản thân các nền tảng phụ thuộc vào yếu tố công nghệ. Các doanh nghiệp khi phát triển các nền tảng có được bảo vệ thông tin, quyền sở hữu trí tuệ… hay không phụ thuộc vào vai trò của các nhà lập pháp. Chính vì vậy, vai trò của Nhà nước chỉ nên tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng trong việc sáng tạo các nền tảng chứ không nên là một chủ thể cạnh tranh với So với các nền tảng nổi tiếng tương tự khác, Zalo đã chiếm được ưu thế nhờ thân các doanh nghiệp hoặc quốc gia thiện với người Việt từ ngôn ngữ, giao diện, phương thức cài đặt... khác. Với mô hình bao bọc, can thiệp quá nhiều trong việc phát Mô hình và lựa chọn chính sách cho Twitter… tại thị trường nội địa như triển nền tảng của doanh nghiệp phát triển cách Trung Quốc đang làm thì theo kiểu của Trung Quốc, TS được và mất gì? Chúng ta có thể Phạm Sỹ Thành (nguyên Giám Đối với doanh nghiệp, không mất: nguồn vốn lớn đầu tư cho đốc Chương trình Nghiên cứu có mô hình nào để xây dựng nên doanh nghiệp (trong khi có nhiều kinh tế Trung Quốc thuộc VEPR) nền tảng số tại Việt Nam, tuy khả năng thất bại do không vượt nhận định: điều khác biệt lớn nhất nhiên từ bài học thất bại và thành qua được hiệu ứng mạng độc giữa Trung Quốc và Việt Nam công cũng như quan sát những quyền); xáo trộn các hoạt động chính là Trung Quốc biết họ thực nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng thương mại, sản xuất sẵn có đã và sự muốn cái gì, họ làm rất nhất các nền tảng số sẽ là những gợi ý đang hoạt động trên các nền tảng quán, từ đó đưa ra các chính sách hữu ích. Các nền tảng muốn vươn nước ngoài; cưỡng chế sự tự do dài hạn, thích hợp. Chính vì vậy, ra nước ngoài, trước hết nên đảm lựa chọn của người sử dụng nền doanh nghiệp Việt Nam phải thực bảo sự sinh tồn tại thị trường thân tảng. Tuy nhiên ở chiều ngược sự biết và hiểu rõ về nền tảng quen nhất, đó là thị trường nội địa lại, việc chấp nhận xây dựng nền đang cần thiết với mình; Chính và để cạnh tranh với những nền tảng Việt hoàn toàn như Wechat, phủ phải có các quyết sách dài tảng đã có sẵn với đông người sử Tiktok của Trung Quốc sẽ tạo hạn, nhất quán để doanh nghiệp dụng, không còn cách nào khác động lực cho sự sáng tạo, làm chủ xác định được mục tiêu dài hạn ngoài gia tăng tính khác biệt và công nghệ. Nhưng vấn đề đặt ra của mình. Ý kiến của các chuyên nội địa hóa. là so với Trung Quốc, dân số và gia nêu trên có lẽ cũng là những Từ góc độ vĩ mô cũng đặt ra số lượng người sử dụng tiếng Việt gợi ý hữu ích để các nhà hoạch bài toán là nên khuyến khích tương đối hạn chế, chúng ta khó định chính sách tham khảo ? doanh nghiệp Việt tự xây mới nền có được thị trường nội địa rộng lớn tảng hay tận dụng các nền tảng như vậy để nuôi dưỡng các nền Nguyễn Thị Hiền đã có sẵn của nước ngoài. Cùng tảng nội địa. Ngoài ra sự tham với doanh nghiệp, nhà hoạch địch gia tích cực của Việt Nam vào các chính sách cần có cái nhìn bao hiệp định thương mại với tư cách quát và dài hơi hơn. Nếu quyết là nước đang phát triển cũng khó tâm xây các nền tảng số của lòng cho phép chúng ta “cưỡng người Việt, cho người Việt và ngăn chế” các nền tảng nước ngoài chặn sự phát triển của Facebook, dừng hoạt động tại Việt Nam. 18 Số 9 năm 2020
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2