intTypePromotion=1
ADSENSE

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 04/2016

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:65

25
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 04/2016 trình bày các nội dung chính sau: Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội, luật tục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường của một số tộc người ở Tây bắc và Tây nguyên, biển hiệu - bản chất và mối quan hệ với quyền sở hữu nhãn hiệu và tên thương mại, trách nhiệm hoàn trả của công chức theo Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 04/2016

  1. Mục lục 2/2016 NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 3 Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội ThS. Nguyễn Trọng Bình 12 Luật tục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường của một số tộc người ở Tây bắc và Tây nguyên ThS. Hoàng Văn Quynh 19 Biển hiệu - bản chất và mối quan hệ với quyền sở hữu nhãn hiệu và tên thương mại TS. Trần Lê Đăng Phương BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT 25 Trách nhiệm hoàn trả của công chức theo Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước ThS. Trần Việt Hưng CHÍNH SÁCH 32 Bảo đảm quyền con người trong chính sách, pháp luật về biến đổi khí hậu ở Việt Nam ThS. Võ Trung Tín THỰC TIỄN PHÁP LUẬT 39 Những điểm mới và thách thức trong thi hành Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 TS. Trần Huỳnh Thanh Nghị 47 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 với việc khắc phục các hạn chế trong xây dựng văn bản quy định chi tiết ThS. Dương Hồng Thị Phi Phi KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 55 Quyền an tử theo luật nhân quyền quốc tế, pháp luật ở một số quốc gia và gợi mở cho Việt Nam PGS. TS. Vũ Công Giao – ThS. Nguyễn Minh Tâm Ảnh bìa: ST
  2. Legis 2/2016 STATE AND LAW 3 Publicizing information with the implementation of social criticism LLM. Nguyen Trong Binh 12 Customary laws of some ethnic groups in the Northwest and Central Highlands on protecting natural resources and environment LLM. Hoang Van Quynh 19 Signboard - the nature and relationship with the ownership of trademarks and trade names Dr. Tran Le Dang Phuong DISCUSSION OF BILLS 25 The reimbursement liability of civil servants under the Law on compensation liability of the State LLM. Tran Viet Hung POLICIES 32 Ensuring human rights in the policies and legislations on climate change in Vietnam LLM. Vo Trung Tin LEGAL PRACTICE 39 The new contents and the challenges in the enforcement of the Law on real estate business in 2014 Dr. Tran Huynh Thanh Nghi 47 Law on promulgation of legal documents in 2015 with overcoming the limitations in providing documents to detail regulations LLM. Duong Hong Thi Phi Phi FOREIGN EXPERIENCE 55 The right to euthanasia under international human rights law, the laws in some countries and suggestions for Vietnam Prof, Dr. Vu Cong Giao - LLM. Nguyen Minh Tam
  3. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT CÖNG KHAI THÖNG TIN VÚÁI VIÏåC THÛÅC HIÏåN PHAÃN BIÏåN XAÄ HÖÅI NguyễN TrọNg BìNh* Phản biện xã hội (PBXH) là một hình thức phát huy sự tham gia của công dân vào quá trình hoạch định chính sách công. Thực tiễn cho thấy, hiệu lực và hiệu quả của PBXH phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc thực hiện công khai thông tin (CKTT) về ý tưởng và dự thảo chính sách cũng như công khai cả quá trình phản biện có ý nghĩa như là điều kiện để đảm bảo tính chủ động của PBXH và chất lượng PBXH. Trên cơ sở khái lược một số vấn đề lý luận có liên quan, bài viết bước đầu phân tích thực trạng CKTT trong mối quan hệ với PBXH và đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn CKTT, góp phần đảm bảo tính chủ động và hiệu quả của PBXH. 1. Một số vấn đề cơ bản về công khai gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo thông tin và phản biện xã hội luận và kiến nghị với các cơ quan nhà nước Dưới góc độ quyền công dân, CKTT và về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả PBXH là những quyền cơ bản của công dân nước” của công dân. đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013: Dưới góc độ giám sát quyền lực nhà “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do nước, CKTT và PBXH có thể xem là những báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, phương thức để bảo đảm và tăng cường sự biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do giám sát của công dân và xã hội đối với pháp luật quy định” (Điều 25); “Công dân có quyền lực công, là điều kiện để thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, “lấy xã hội chế ước quyền lực công”, “dùng tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan quyền công dân để chế ước quyền lực”, qua nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa đó góp phần bảo đảm thực hiện quyền lực phương và cả nước”, “Nhà nước tạo điều công và thể hiện tốt lợi ích công. Chính vì lẽ kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước đó, thực hiện CKTT và PBXH (cũng như các và xã hội; công khai, minh bạch trong việc hình thức tham gia khác của công dân) là tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của những phương thức không thể thiếu nhằm công dân” (khoản 1 và 2 Điều 28). Như vậy, bảo đảm sự giám sát của công dân và xã hội ở góc độ nào đó, có thể nói thực hiện CKTT đối với quyền lực công. là để bảo đảm “quyền tiếp cận thông tin” của Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước đều công dân; còn thực hiện PBXH là một trong thuộc về nhân dân, cơ quan nhà nước là những phương thức để đảm bảo “quyền tham người đại diện để thực thi ý chí của công * ThS. Học viện Chính trị khu vực IV. NGHIÏN CÛÁU Söë 04(308) T2/2016 LÊÅP PHAÁP 3
  4. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT dân. Người đại diện có thật sự thực thi một quan trọng để tăng cường năng lực cạnh tranh cách trung thành ý chí của công dân hay quốc tế. Cũng chính từ ý nghĩa này, chủ động không đòi hỏi phải dựa vào cơ chế giám sát công khai thông tin đã trở thành một hoạt và cơ chế trách nhiệm. Mà điều này lại được động bình thường và tất yếu của chính phủ. quyết định bởi: với tư cách chủ thể quyền “Công khai thông tin chính phủ không chỉ có lực, công dân có thật sự nắm bắt được một nghĩa là công khai bản thân thông tin, mà cách đầy đủ tất cả hành vi của người đại diện quan trọng hơn còn bao gồm công khai về (chính phủ) hay không1. Có thể nói, CKTT có quy trình (tức sự minh bạch của quá trình chế ý nghĩa và vai trò rất quan trọng. Một là, định và thực thi chính sách của chính phủ) và CKTT là để thực hiện “quyền được biết” của công khai về hiệu suất và kết quả (tức công công dân đã được quy định trong Hiến pháp. khai một cách đầy đủ hiệu suất và hiệu quả Hiện nay, đã có hơn 70 quốc gia trên thế giới hoạt động của chính phủ), mục đích của nó thông qua Luật công khai thông tin hoặc Luật là ở chỗ tạo ra áp lực để nâng cao hiệu suất tự do thông tin để đề ra các quy định cụ thể hoạt động của chính phủ4. nhằm đảm bảo quyền được biết của công dân. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Hai là, CKTT là phương thức để công dân và X (năm 2006), Đảng ta đã đề ra chủ trương xã hội giám sát quyền lực công, góp phần Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và ngăn ngừa hành vi vi hiến của quyền lực nhân dân thực hiện chức năng giám sát và công. Kneneth Culp Davis cho rằng: “Công PBXH. Có thể nói, đây là một chủ trương khai là kẻ thù tự nhiên của độc đoán chuyên quan trọng nhằm tăng cường sự tham gia của quyền, cũng là đồng minh tự nhiên để chống công dân vào quá trình quản trị công trong lại sự bất công”2. Còn Norman Marsh cũng bối cảnh dân chủ hóa, toàn cầu hóa và thông cho rằng: “Bản thân bí mật cũng giống như tin hóa. Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy điều ác, là công cụ của âm mưu, là nguyên định chức năng PBXH của Mặt trận Tổ quốc nhân của bất bình đẳng; công khai chính là Việt Nam. Cũng trong năm 2013, Bộ Chính bản chất của chính trị dân chủ, công khai trị đã ban hành “Quy chế giám sát và phản càng nhiều tư liệu thì càng giúp ích nhiều cho biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”. Ngày lợi ích công”3. Ba là, CKTT nhằm đáp ứng 14/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban nhu cầu thông tin của công chúng và xã hội, hành “Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg về đồng thời là cơ sở để công dân có thể tham hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã gia có hiệu quả và đầy đủ vào quá trình quản hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ trị công. Ngày nay, do xuất phát từ nhu cầu thuật Việt Nam” thay thế cho Quyết định số tham gia chính trị, hoạt động sản xuất, kinh 22/2002-TTg ngày 30/01/2002. doanh, học tập và sinh hoạt mà nhu cầu thông Từ Hiến pháp, các văn bản pháp luật có tin của công dân và xã hội ngày càng tăng lên. liên quan và từ thực tiễn thực hiện PBXH ở Do đó, để đảm bảo nhu cầu thông tin của nước ta thời gian qua, có thể thấy, chủ thể công dân, nhất là để công dân có thể tham gia PBXH là nhân dân, nhưng nhân dân lại vào quá trình chính sách công, cần đảm bảo thông qua nhiều phương thức khác nhau để “quyền được biết” của công dân, hay quyền thực hiện vai trò PBXH của mình, chứ không tiếp cận thông tin của công dân. Bốn là, chỉ là thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “công khai thông tin là cơ sở cho tính chính và các đoàn thể nhân dân. Cho đến hiện nay, đáng của quản trị chính phủ, là yêu cầu cơ việc xác định các hình thức PBXH vẫn còn bản của thực thi chính sách công và tiền đề nhiều quan điểm khác nhau: 1 Zhang Cheng-fu (2014), On Open Government, Journal of Renmin University of China, No.4. 2 Kneneth Culp Davis (1970): Discreption Just. Baton Rouge: Louisiana State University, p.97. 3 Norman Marsh (1987): Public Access to Goverment Held Information. London: Steven L.Son Ltd, pp.2-4. 4 Zhang Cheng-fu (2014), On Open Government, Journal of Renmin University of China, No.4. NGHIÏN CÛÁU 4 LÊÅP PHAÁP Söë 04(308) T2/2016
  5. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT Thứ nhất, PBXH theo phạm vi hẹp. Đối nghiên cứu chính sách... trên cơ sở đánh giá, với những chính sách hoặc dự án công có thẩm định dự thảo chính sách để nêu lên ý tính kỹ thuật cao, đòi hỏi thông tin chuyên kiến, kiến nghị đối với cơ quan xây dựng ngành cao hoặc cơ quan xây dựng chính sách chính sách. Hình thức này lại có thể được nhận thấy không cần thiết phải công khai chia thành hình thức PBXH trực tiếp và hình một cách rộng rãi thì có thể thực hiện PBXH thức PBXH gián tiếp như đã nêu trên; 2) theo phạm vi hẹp. Ở đây, chủ thể thực hiện Hình thức không thông qua tổ chức, tức công PBXH có thể là các tổ chức nghiên cứu, tư dân có thể thông qua báo chí, mạng xã hội, vấn, các tổ chức xã hội nghề nghiệp có thế gửi thư phản ánh hoặc báo cáo kiến nghị (qua mạnh và am hiểu sâu về lĩnh vực chính sách bưu điện, hộp thư điện tử)... để thể hiện quan hoặc dự án đó. Chẳng hạn như Liên hiệp các điểm, ý kiến của mình đối với dự thảo chính Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Hội sách cho cơ quan xây dựng chính sách6. 3) Luật gia Việt Nam... PBXH theo phạm vi hẹp Hình thức xác định rõ chủ thể PBXH cụ thể, lại có thể chia thành hai hình thức chủ yếu: có nghĩa là chính phủ hoặc cơ quan xây dựng 1) Hình thức PBXH trực tiếp, tức cơ quan chính sách yêu cầu tổ chức hoặc đơn vị cụ chế định chính sách thông qua hội nghị lắng thể nào đó tiến hành PBXH đối với dự án nghe ý kiến, tọa đàm, hội nghị tham vấn... để công hoặc dự thảo chính sách nào đó. Chẳng trực tiếp lắng nghe ý kiến, kiến nghị của chủ hạn như Bộ Tư pháp yêu cầu Hội Luật gia thể PBXH; 2) Hình thức PBXH gián tiếp, có Việt Nam phản biện một dự thảo văn bản quy nghĩa là chủ thể PBXH (cơ quan, tổ chức phạm pháp luật nào đó do một cơ quan nào được giao trách nhiệm PBXH) không phải đó soạn thảo; 4) Hình thức PBXH không thông qua đối thoại và làm việc trực tiếp với chính thức, tức là Chính phủ hoặc cơ quan cơ quan soạn thảo chính sách để nêu lên ý xây dựng chính sách không yêu cầu tổ chức kiến, kiến nghị của mình, mà trên cơ sở đánh cụ thể nào đó phản biện, mà chỉ cần công giá, thẩm định dự thảo chính sách, chủ thể khai ý tưởng chính sách hoặc dự thảo chính PBXH gửi báo cáo phản biện cho cơ quan có sách nào đó cho công chúng và xã hội, và khi chính sách được phản biện5. đó, ngay cả khi không cần trưng cầu ý kiến Thứ hai, PBXH theo phạm vi rộng. Đối phản biện thì công dân và xã hội - bằng với những chính sách, dự án lớn, có ảnh những phương thức khác nhau - vẫn có thể hưởng rộng tới quyền và lợi ích của đông đảo nêu lên ý kiến và kiến nghị của mình. Chẳng nhân dân, đồng thời cơ quan xây dựng chính hạn, đối với việc tổ chức hay không tổ chức sách nhận thấy việc tiếp nhận thông tin nhiều ASIAD 18, Chính phủ không trưng cầu phản chiều từ công dân và xã hội là rất quan trọng, biện, nhưng do Chính phủ công khai vấn đề thì có thể được thực hiện PBXH theo phạm này nên người dân, báo chí... vẫn có thể thể vi rộng. PBXH theo phạm vi rộng cũng có hiện ý kiến là nên hay không nên tổ chức... thể bao hàm trong đó PBXH theo phạm vi Tuy nhiên, sự phân loại phản biện theo hẹp, do đó, so với PBXH theo phạm vi hẹp, phạm vi hẹp và phản biện theo phạm vi rộng các hình thức thực hiện PBXH theo phạm vi chỉ có ý nghĩa tương đối. Nếu một chính sách rộng phong phú hơn. Có thể phân loại thành có tính kỹ thuật cao, đòi hỏi cao về thông tin các hình thức cụ thể như sau: 1) Hình thức chuyên ngành thì sẽ thực hiện PBXH theo thông qua tổ chức, tức các cơ quan đại diện phạm vi hẹp, nhưng mỗi khi thông tin về của công dân như Mặt trận Tổ quốc Việt chính sách được công khai một cách rộng rãi, Nam, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức thu hút sự quan tâm, thảo luận của công dân 5 Trần Đăng Tuấn: Phương thức thực hiện phản biện xã hội, Tạp chí Cộng sản, (12/2006). 6 Nguyễn Trọng Bình (2014): Đặc điểm và giá trị thực tiễn của PBXH - từ thực tiễn thực hiện PBXH đối với quyết sách hành chính thời gian qua, Tạp chí Mặt trận, số 128, (6). NGHIÏN CÛÁU Söë 04(308) T2/2016 LÊÅP PHAÁP 5
  6. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT và xã hội, thì khi đó nó sẽ trở thành PBXH khi hình thành ý tưởng chính sách và xây theo phạm vi rộng. Tương tự, trong PBXH dựng các phương án chính sách nên chỉ tham theo phạm vi rộng cũng có thể có PBXH theo gia một cách bị động vào khâu cuối cùng của phạm vi hẹp. Chẳng hạn như, Dự thảo Hiến hoạch định chính sách, thậm chí khi chính pháp sửa đổi (2013), Luật Đất đai (sửa đổi), sách đó đã được thông qua và bắt đầu triển Dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam... vừa bao khai. CKTT ngay khi hình thành ý tưởng gồm PBXH theo phạm vi hẹp, vừa bao gồm chính sách, xây dựng phương án chính sách PBXH theo phạm vi rộng. Thực tiễn trong là điều kiện để bảo đảm tính chủ động của những năm qua cho thấy, đối với những PBXH, cũng là điều kiện để đảm bảo thời chính sách, dự án lớn, quan trọng thường có gian đủ mức cho hoạt động PBXH. Còn sự kết hợp cả PBXH theo phạm vi hẹp và không CKTT khi hình thành ý tưởng chính PBXH theo phạm vi rộng. Cốt lõi của vấn đề sách và xây dựng phương án chính sách, mà chính là, trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc chỉ CKTT khi chính sách đã “định hình” và gia, còn lại các ý tưởng chính sách, dự thảo đã thông qua thì không thể có được sự chủ chính sách cần được công khai rộng rãi, đầy động trong PBXH. đủ và kịp thời cho xã hội và công dân nhằm Thứ ba, mức độ CKTT quyết định “độ đảm bảo tính chủ động và hiệu quả của hoạt động PBXH. rộng”, “độ sâu” và chất lượng của PBXH. Có nghĩa là, thông tin về ý tưởng chính sách, 2. Mối quan hệ giữa công khai thông tin dự thảo chính sách càng được công khai, có và phản biện xã hội thể càng tạo ra sự quan tâm của nhiều công Thứ nhất, CKTT là điều kiện để thực dân và các tổ chức xã hội đối với vấn đề hiện PBXH. Như tên gọi của nó, PBXH là chính sách đó, từ đó có thể thu hút được sự phản biện của xã hội đối với ý tưởng chính sách hay dự thảo chính sách công do các cơ tham gia thảo luận của nhiều người. CKTT quan nhà nước xây dựng mà không phải là về chính sách không chỉ đơn thuần là “đưa phản biện của nhà nước và trong nhà nước. dự thảo chính sách lên mạng”, mà còn cần Để công dân và xã hội có thể phản biện có những thông tin giải thích kèm theo. Điều được, điều kiện đầu tiên là công dân phải này tạo cơ sở để công chúng có được thông được đảm bảo “quyền được biết” đối với tin đầy đủ hơn, từ đó đưa ra phán đoán chính những thông tin liên quan đến ý tưởng chính xác và lý tính hơn. Một cách tự nhiên, việc sách, dự thảo chính sách, để từ đó có thể tiến CKTT về chính sách càng rộng rãi, càng đầy hành phán đoán, tham gia thảo luận và đưa đủ, càng tạo ra khả năng để nhiều đối tượng ra kiến nghị đối với các cơ quan xây dựng tham gia thảo luận và đưa ra ý kiến đánh giá, chính sách. Không thực hiện CKTT để đảm từ đó giúp người làm chính sách có thể có bảo “quyền được biết” một cách đầy đủ, kịp được nhiều thông tin hữu ích hơn nhằm góp thời của công dân thì không thể nói đến phần hoàn thiện dự thảo chính sách. PBXH, nhất là PBXH theo phạm vi rộng. Thứ tư, CKTT góp phần đảm bảo tính Thứ hai, CKTT là yêu cầu để đảm bảo hiệu lực của PBXH. Tính hiệu lực của PBXH tính chủ động của PBXH. Tính chủ động của được hiểu là những ý kiến hợp lý, có căn cứ PBXH được hiểu là công dân và xã hội thực khoa học và thực tiễn được đề xuất thông qua hiện quyền phản biện của mình ngay khi quá trình PBXH được các cơ quan có trách hình thành ý tưởng chính sách hoặc khi chính nhiệm quan tâm, nghiên cứu, tiếp thu, giải sách đang được soạn thảo. Nói cách khác, trình và đưa đến sự thay đổi nào đó đối với PBXH là cách để cơ quan nhà nước, chuyên đường hướng chính sách. Ưu thế của CKTT gia cùng với xã hội và công dân tham gia và công khai ý kiến PBXH là ở chỗ điều này thiết kế chính sách. Còn tính bị động của giúp thông tin về chính sách và ý kiến PBXH PBXH được hiểu là, công dân và xã hội do vượt qua sự “chế ước” về không gian và thời không đảm bảo “quyền được biết” ngay từ gian. Có nghĩa là, mỗi khi được công khai thì NGHIÏN CÛÁU 6 LÊÅP PHAÁP Söë 04(308) T2/2016
  7. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT thông tin có liên quan sẽ được các cơ quan biện của công dân và các tổ chức có liên có trách nhiệm tiếp cận và coi đó như là căn quan. Hai là, cung cấp thông tin qua họp cứ để đưa ra sự tác động kịp thời. Chẳng hạn, báo: CKTT và ý tưởng chính sách, dự thảo nếu báo chí không đưa tin về Dự án cải tạo chính sách qua họp báo định kỳ do các cơ cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng quan nhà nước tổ chức. Hiện nay, Văn phòng Nai cũng như ý kiến phản biện của các Chính phủ luôn tổ chức họp báo định kỳ chuyên gia về dự án này (khi đã thực hiện) nhằm cung cấp những thông tin có liên quan thì các cơ quan ở Trung ương có thể không về hoạt động của Chính phủ cho báo chí. thể biết được các thông tin có liên quan, để Ngoài việc trả lời trực tiếp các câu hỏi của từ đó chỉ đạo kịp thời đối với chính quyền phóng viên tại cuộc họp báo, một số vấn đề địa phương về vấn đề này. mà báo chí quan tâm, khi có yêu cầu còn có Tuy nhiên, PBXH lại có tác động trở lại thể được Văn phòng Chính phủ trả lời bằng đối với công khai và minh bạch thông tin, thể văn bản. Các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh hiện ở chỗ PBXH thúc đẩy tính minh bạch cũng chú trọng việc tổ chức họp báo định kỳ của thông tin. PBXH mà gắn liền với nó là và đột xuất nhằm cung cấp thông tin cho báo sự đối thoại, tranh luận có tác dụng tăng chí và trả lời những vấn đề mà báo chí quan cường năng lực giải trình của các cơ quan tâm. Ba là, CKTT qua việc truyền hình, phát xây dựng chính sách, từ đó làm cho thông tin thanh trực tiếp và đưa tin các kỳ họp của cơ về chính sách trở nên minh bạch hơn. PBXH quan Đảng và các cơ quan nhà nước: Thông còn thúc đẩy sự chia sẻ về mặt thông tin, làm qua truyền hình, phát thanh, báo chí, những cho công chúng và xã hội tiếp cận được các vấn đề liên quan trong chương trình nghị sự quan điểm, ý kiến khác nhau về dự thảo của các cơ quan nhà nước đã được đưa tin chính sách, qua đó đưa ra sự phán đoán tốt đầy đủ, kịp thời cho công dân và xã hội. Bốn là, CKTT qua việc các thành viên Chính phủ hơn đối với chính sách. trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội và 3. Thực trạng thực hiện công khai thông Chính phủ, các Bộ và các cơ quan có liên tin với phản biện xã hội quan trả lời các kiến nghị của cử tri và Mặt Thực hiện Luật Phòng, chống tham trận Tổ quốc Việt Nam: Thời gian qua, bên nhũng, Luật Báo chí và các quy định của cạnh việc trả lời chất vấn tại các kỳ họp của pháp luật khác có liên quan, thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan của việc thực hiện CKTT ở nước ta đã có bước Chính phủ còn gửi báo cáo trả lời chất vấn tiến quan trọng, qua đó vừa từng bước đáp cho các đại biểu Quốc hội và một số báo cáo ứng nhu cầu thông tin của người dân, doanh trả lời chất vấn đã được công khai trên Cổng nghiệp, vừa thúc đẩy sự tham gia của công thông tin điện tử Chính phủ. Đây là phương dân vào quá trình quản trị công, nhất là thực thức quan trọng giúp công chúng nắm được hiện vai trò giám sát xã hội và PBXH. Trong thông tin về hoạt động của Chính phủ và một bối cảnh thông tin hóa hiện nay, việc thực số vấn đề có liên quan. Năm là, CKTT qua hiện CKTT của Chính phủ có nhiều điều tiếp xúc cử tri và hoạt động đối thoại: Thời kiện thuận lợi để thực hiện, trong đó có việc gian qua, tiếp xúc cử tri và hoạt động đối công khai ý tưởng chính sách và dự thảo thoại trực tiếp và gián tiếp cũng là những chính sách được thực hiện thông qua nhiều “kênh” để cung cấp thông tin cho cử tri và phương thức khác nhau, chủ yếu bao gồm: công dân. Sáu là, bảo đảm quyền tiếp cận Một là, CKTT qua cổng thông tin điện tử của thông tin của công chúng qua hệ thống báo các cơ quan nhà nước: Các cơ quan xây dựng chí và các kênh thông tin khác: Có thể nói, dự thảo chính sách ở trung ương và một số trong thời kỳ đổi mới đất nước, hệ thống báo địa phương đều chú ý công bố các dự thảo chí nước ta đã có sự phát triển mạnh mẽ, thực trên cổng thông tin điện tử với thời gian nhất hiện nhiều chức năng quan trọng, trong đó định nhằm tranh thủ ý kiến đóng góp, phản chức năng đưa tin chính xác, kịp thời và đầy NGHIÏN CÛÁU Söë 04(308) T2/2016 LÊÅP PHAÁP 7
  8. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT đủ cho công chúng. Các chuyên mục của một Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) cho thấy, số cơ quan báo chí như “Dân hỏi, Bộ trưởng “việc thực hiện công khai, minh bạch trong trả lời”, “Đối thoại chính sách”... do Đài các hoạt động ngân sách ở các cấp trong truyền hình Việt Nam thực hiện và các nhiều trường hợp còn mang tính hình thức, chuyên mục tương tự do các cơ quan báo chí chưa thuận lợi để người dân hiểu và bày tỏ ý khác thực hiện có tác dụng quan trọng trong kiến của mình. Người dân không biết, không cung cấp thông tin cho công chúng. Bảy là, hiểu về các thông tin liên quan đến ngân sách công khai thông tin qua việc cơ quan xây nhà nước nói chung và việc phân bổ ngân dựng chính sách trưng cầu PBXH đối với sách nói riêng” và “công khai thông tin chưa một cơ quan cụ thể: Việc Chính phủ và các gắn với cơ chế giải trình, cung cấp thông tin bổ sung về các vấn đề có liên quan hoặc cơ cơ quan xây dựng chính sách chuyển dự thảo chế giải đáp thắc mắc của người dân về thông chính sách và một số thông tin có liên quan tin đã công khai”8, điều đó cho thấy, mức độ để trưng cầu ý kiến phản biện của một tổ đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công chức nào đó (chẳng hạn như Mặt trận Tổ dân ở cơ sở còn một số vấn đề đang đặt ra. quốc Việt Nam, Liên hiệp các Hội khoa học Một số dự án lớn và quan trọng, liên và kỹ thuật Việt Nam...), cũng là một hình quan mật thiết đến lợi ích của công dân ở địa thức CKTT. Ngoài ra, ở cơ sở, việc thực hiện phương chưa được cơ quan xây dựng chính CKTT còn được thực hiện qua đài phát sách chủ động cung cấp thông tin đầy đủ và thanh, niêm yết thông tin tại trụ sở làm việc... kịp thời cho công dân và xã hội để họ biết, Bên cạnh những thành tựu và kết quả tham gia thảo luận, tranh luận và cho ý kiến. quan trọng nêu trên, việc thực hiện CKTT Trên một mức độ nào đó, một số dự án, chính vẫn còn tồn tại một số hạn chế và yếu kém, sách ở địa phương và cơ sở được thông qua không có lợi cho việc bảo đảm và thúc đẩy và khi bắt đầu thực hiện đã chịu sự phản đối sự tham gia của công dân vào quá trình quản của công chúng và dư luận xã hội (chẳng hạn trị công, nhất là hoạt động giám sát và như dự án thay thế cây xanh ở Hà Nội, Dự PBXH. Khi đánh giá về mức độ công khai, án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven minh bạch, kết quả điều tra của Chỉ số Đo sông Đồng Nai...), có một nguyên nhân quan lường Hiệu quả quản trị và hành chính công trọng là, trong quá trình xây dựng, hình thành cấp tỉnh (PAPI) năm 2014 cho thấy, về công đề án, cơ quan có trách nhiệm đã chưa thực khai, minh bạch danh sách hộ nghèo ở cơ sở, hiện CKTT một cách đầy đủ cho công chúng có 59% người dân được hỏi biết đến danh và chưa đảm bảo quyền tham gia thật sự của sách hộ nghèo; về công khai, minh bạch thu họ vào quá trình xây dựng chính sách và đề chi ngân sách cấp xã, phường, có 36% người án. Đây cũng là nguyên nhân tạo nên tính được hỏi cho biết thu, chi ngân sách của xã, chất bị động của PBXH đối với một số chính phường được công bố công khai; về công sách, dự án, tức là nhiều dự thảo chính sách khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đã được “giữ kín” đến giai đoạn cuối cùng, khung giá đất, chỉ có 16% số người được hỏi chỉ khi trình cơ quan có trách nhiệm phê trên toàn quốc cho biết họ được biết về quy duyệt hoặc đã được phê duyệt và đưa vào hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở địa phương, thực hiện thì công dân và xã hội mới có thể chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ (5%) có cơ hội đóng được biết và đưa ra ý kiến phản biện có tính góp ý kiến của mình trước khi quy hoạch/kế bị động đối với chính sách, dự án đó. hoạch được ban hành”7. Báo cáo tổng hợp kết Một vấn đề khác liên quan đến tính công quả tham vấn cộng đồng góp ý cho Dự thảo khai và minh bạch chính là tính công khai và 7 http://papi.vn/tai-lieu-va-so-lieu.html, truy cập ngày 22/4/2015. 8 http://vnmedia.vn/VN/xa-hoi/thoi-su/nhieu-truong-hop-minh-bach-ngan-sach-mang-tinh-hinh-thuc-23-3421729.html, truy cập ngày 22/4/2015. NGHIÏN CÛÁU 8 LÊÅP PHAÁP Söë 04(308) T2/2016
  9. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT minh bạch của quá trình PBXH. Thực hiện dân và xã hội, tiếp thu ý kiến phản biện đúng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh và hoàn thiện dự thảo chính và các luật có liên quan, các cơ quan xây sách, thì rất dễ dẫn đến một số thiếu sót trong dựng chính sách cũng có gửi dự thảo chính chính sách và dự án cũng như tạo nên sự bị sách để các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc động trong PBXH. Mà điều này lại có thể Việt Nam tham gia thẩm định và cho ý kiến gây nên sự lãng phí và ảnh hưởng không tốt phản biện. Tuy nhiên, một số cơ quan xây đến uy tín của cơ quan xây dựng chính sách dựng chính sách lại có xu hướng mở rộng và cơ quan nhà nước. diện “bảo mật” các dự thảo trưng cầu ý kiến 4. Một số giải pháp tăng cường công khai phản biện và cả ý kiến của chủ thể phản biện. thông tin nhằm góp phần nâng cao chất Có nghĩa là, cơ quan xây dựng chính sách lượng hoạt động phản biện xã hội yêu cầu chủ thể phản biện không được công Thứ nhất, đổi mới nhận thức, tư duy và khai nội dung dự thảo và ý kiến phản biện quan niệm quản trị của đội ngũ cán bộ, công của mình cho công chúng và xã hội. Chính chức. Một đặc điểm và xu thế nổi bật của điều này đã làm cho PBXH (PBXH theo quản trị công hiện đại đó là quản trị công lấy phạm vi hẹp) chưa phát huy hết tác dụng cần công dân làm trung tâm hay quản trị một có của nó và có thể không đảm bảo chất cách dân chủ. Điều này có nghĩa là, khác với lượng của PBXH. Điều này cũng làm cho trước đây, người ta coi quản trị công là việc công chúng và xã hội không thể giám sát của chính trị gia, quan chức chính phủ, được hành vi của chủ thể và khách thể phản chuyên gia và công chức, còn công dân và biện trong quá trình xây dựng chính sách. xã hội chỉ là “người tiêu dùng hàng hóa và Đây cũng là một nguyên nhân lý giải tại sao dịch vụ công”, là bên bị động tiếp nhận chính trong thời gian qua, tuy một số chính sách, sách và hành vi của chính phủ, thì nay do cơ quan xây dựng chính sách cho rằng “việc “tính không thể quản trị”, tính phức tạp của xây dựng và thông qua đề án đã theo trình tự môi trường quản trị công và vấn đề chính luật định, đã tranh thủ ý kiến góp ý của cơ sách công ngày càng tăng lên, ý thức và năng quan có liên quan”, nhưng khi công bố chính lực làm chủ của công dân ngày càng được thức hoặc chính sách, dự án đó được đưa vào nâng cao; nên mô thức quản trị “lấy chính thực hiện thì một số thiếu sót của chính sách phủ làm trung tâm” đã không còn phù hợp đó, dự án đó lại thể hiện ra và vấp phải sự nữa, mô hình chính sách “từ trên xuống phản đối của công chúng và xã hội. dưới”, nặng về “đưa chính sách vào cuộc Có thể nói, đối với một số dự án do tính sống” mà coi nhẹ “từ dưới lên trên” và “đưa chất bí mật quốc gia hay do nguyên nhân rất cuộc sống vào chính sách” đã không còn phù đặc thù nên việc thực hiện PBXH theo phạm hợp nữa. Quản trị công lấy công dân làm vi hẹp và cần đảm bảo tính bí mật là cần trung tâm có nghĩa là, bảo đảm việc thực thiết, song không nên lạm dụng điều này để hiện quyền lợi chính trị, kinh tế và xã hội của mở rộng diện “bảo mật” của dự thảo chính công dân, thỏa mãn nhu cầu cơ bản của công sách hoặc dự án với tư cách đối tượng dân, nhất là nhu cầu cơ bản của nhóm yếu PBXH. Nếu lạm dụng điều này thì PBXH thế; cung ứng dịch vụ công cơ bản, từ đó làm theo phạm vi hẹp vẫn có thể chỉ là hình thức, cho công dân có cuộc sống ngày càng tốt đẹp làm cho PBXH vốn dĩ là phản biện của xã hơn, là chức trách và sứ mệnh của chính phủ. hội lại trở thành phản biện của số ít người, Đó còn là chính phủ nhận thức được rằng, hoặc phản biện của một số chuyên gia, mà quản trị công không chỉ là việc của chính trị không phải là phản biện của công chúng và gia, chuyên gia, quan chức chính phủ và xã hội - đối tượng chịu sự ảnh hưởng thật sự công chức, mà còn là việc của công dân, của chính sách và dự án. Và thực tế đã cho doanh nghiệp và xã hội, do đó, chính phủ cần thấy, không chú trọng thực hiện CKTT đầy tôn trọng và phát huy quyền tham gia quản đủ, ngay từ đầu và trưng cầu ý kiến phản trị của công dân; lắng nghe tiếng nói của công biện một cách thật sự và rộng rãi của công dân và xã hội trong quá trình quản trị công; NGHIÏN CÛÁU Söë 04(308) T2/2016 LÊÅP PHAÁP 9
  10. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT tích cực hợp tác với xã hội và công dân trong quyền tiếp cận thông tin sớm của công dân quá trình chế định chính sách. Vì vậy, thực ngay cả đối với những chính sách, dự án hiện công khai thông tin chẳng những là để không thuộc diện bí mật quốc gia. thực hiện quyền công dân, mà còn là điều Thứ ba, thực hiện công khai quá trình kiện để công dân và xã hội tham gia có hiệu thực hiện PBXH. Như đã trình bày ở trên, quả vào quá trình chế định chính sách. CKTT PBXH là phản biện của xã hội, là tiếng nói bao gồm công khai về dự thảo chính sách sẽ của công dân và xã hội đối với các dự thảo tạo điều kiện để công chúng và xã hội giúp chính sách công và dự án công. Thực tiễn cho cơ quan xây dựng chính sách thấy được chỗ thấy, hiệu quả của PBXH phần nhiều được thiếu sót, từ đó có thể kịp thời sửa chữa sai thể hiện thông qua PBXH theo phạm vi rộng. lầm và thiếu sót. CKTT vừa là để thực hiện Do đó, các quy định có liên quan về hoạt “quyền được biết” của công dân, nhưng quan động PBXH cần được xây dựng và hoàn trọng hơn là giúp chúng ta thực hiện tốt hơn thiện theo hướng bảo đảm tính công khai của trách nhiệm của mình đối với công dân. quá trình PBXH: gồm công khai về dự thảo Thứ hai, hiện nay, trách nhiệm cung cấp chính sách được phản biện, công khai về ý thông tin của các cơ quan nhà nước đã được kiến của chủ thể phản biện, công khai về ý quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác kiến giải trình, tiếp thu và phản hồi của cơ nhau, như Luật Phòng chống tham nhũng, quan có dự thảo chính sách được phản biện. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý thị trấn... Tuy nhiên, do đây không phải là các nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh về hoạt trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến động cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nghị của công dân”. Chính vì vậy, hoàn thiện nước nên chưa xác định rõ hình thức công các quy định theo hướng đảm bảo tính công khai thông tin, nội dung công khai thông tin, khai của quá trình PBXH là phù hợp với quy trình tự công khai thông tin, loại hình thông định của Hiến pháp hiện hành. tin cần công khai, trách nhiệm của cơ quan Thứ tư, đa dạng hóa các hình thức CKTT. cung cấp thông tin và chế tài xử lý trách Như đã phân tích ở trên, trong thực tế, CKTT nhiệm trong trường hợp không thực hiện tốt có thể được thực hiện bằng nhiều con đường nghĩa vụ cung cấp thông tin... Điều này dễ tạo và phương thức khác nhau, chẳng hạn như: nên sự tùy tiện hoặc chối bỏ trách nhiệm cung công khai thông tin qua cổng thông tin điện cấp thông tin. Do đó, để thực hiện tốt hơn tử của các cơ quan nhà nước, công khai thông CKTT, thực hiện tốt hơn quyền được biết của tin qua tổ chức họp báo, công khai thông tin công dân, đảm bảo để công dân có thể tham qua việc truyền hình, phát thanh trực tiếp và gia có hiệu quả vào quá trình quản trị công, đưa tin đối với các kỳ họp của cơ quan Đảng cần sớm ban hành Luật Tiếp cận thông tin. và các cơ quan nhà nước, công khai thông tin Đồng thời với điều này, việc sửa đổi, hoàn qua hoạt động trả lời chất vấn, công khai qua thiện các văn bản pháp luật có liên quan theo tiếp xúc cử tri và đối thoại, công khai thông hướng đảm bảo tốt hơn quyền tiếp cận thông tin qua hệ thống báo chí và truyền thông đại tin của công dân và xã hội cũng có ý nghĩa chúng, công khai thông tin qua niêm yết rất quan trọng. Chẳng hạn cần nhấn mạnh thông tin tại trụ sở làm việc của cơ quan công việc thực hiện CKTT và quyền tiếp cận thông quyền... Do đó, cần thông qua những hình tin trong Luật Báo chí... Đặc biệt, các quy thức nêu trên để CKTT đầy đủ, kịp thời cho định pháp luật điều chỉnh hoạt động PBXH công chúng và xã hội. Về nội dung thông tin cần xác định rõ những tiêu chí cụ thể để dự cần cung cấp, ngoài các thông tin có liên án nào, chính sách nào thuộc diện “không quan, cần chú ý cung cấp về những ý tưởng được cung cấp thông tin ra bên ngoài” để chính sách mà các cơ quan dự định sẽ xây tránh tình trạng các cơ quan trưng cầu phản dựng, những dự thảo chính sách đang được biện lạm dụng việc “bảo mật” để hạn chế xây dựng. Trong các kênh cung cấp thông tin, NGHIÏN CÛÁU 10 LÊÅP PHAÁP Söë 04(308) T2/2016
  11. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT báo chí và truyền thông đại chúng có vai trò chấp hành pháp luật trong thực thi công vụ rất quan trọng. Để làm tốt chức năng thông của một số tổ chức, cá nhân còn chưa tốt, mặt tin, các cơ quan báo chí cần đưa tin đầy đủ, khác còn có nguyên nhân là công tác kiểm kịp thời về các chủ trương, chính sách đang tra, giám sát của một số cơ quan có trách được xây dựng, mở các chuyên mục cần thiết nhiệm còn chưa thực hiện tốt, việc xử lý trách như: “bình luận chính sách”, “phản biện nhiệm đối với trường hợp ban hành văn bản chính sách”, “giới thiệu dự thảo chính sách”, quy phạm pháp luật chưa theo đúng trình tự, “đối thoại chính sách” để vừa cung cấp thông hoặc sai về nội dung, gây hậu quả xấu… chưa tin, vừa là diễn đàn lôi cuốn công chúng tham được thực hiện tốt. Do đó, để các quy định gia hiến kế và góp ý chính sách. Cần lưu ý là, của pháp luật điều chỉnh về CKTT và quy có nhiều dự thảo chính sách, pháp luật có nội trình xây dựng chính sách được thực hiện tốt dung dài, liên quan đến nhiều khía cạnh khác hơn, qua đó đảm bảo tính hợp hiến, tính hợp nhau, có tính chuyên môn cao, cho nên để pháp, hợp lý của hành vi hành chính, bên đảm bảo tính hiệu quả, các cơ quan báo chí cạnh việc nâng cao ý thức pháp luật, trách cần giới thiệu khái quát về tinh thần của dự nhiệm pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công thảo chính sách và chọn lọc trong đó một số chức các cấp, cần chú trọng công tác kiểm tra, nội dung thật sự cần thiết để thu hút sự tham giám sát trước, trong và sau quá trình ban gia thảo luận của công chúng. hành văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời Thứ năm, nâng cao năng lực thực thi xử lý trách nhiệm đối với trường hợp không pháp luật trong lĩnh vực cung cấp thông tin CKTT cũng như không tuân thủ thực chất và tăng cường giám sát đối với hoạt động xây quy trình, thủ tục ban hành chính sách. Cụ dựng chính sách. Như đã phân tích ở trên, tuy thể, cần tăng cường và nâng cao hiệu quả cần tiếp tục hoàn thiện, song CKTT đã được kiểm tra, giám sát trong hệ thống hành chính quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác (kiểm tra, giám sát của cấp trên, cơ quan giám nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, việc thực hiện sát chuyên ngành...) đối với cơ quan xây CKTT theo quy định của pháp luật vẫn chưa dựng chính sách, cũng như tăng cường sự được thực hiện tốt, hiện tượng “thích thì công kiểm tra, giám sát của cơ quan đảng, cơ quan khai, không thích thì không công khai” còn lập pháp, cơ quan tư pháp, Mặt trận, các đoàn tồn tại ở nhiều nơi. Điều đó cho thấy, việc thể nhân dân, các tổ chức xã hội, báo chí và đảm bảo nguyên tắc pháp quyền trong hoạt công dân đối với quá trình xây dựng và ban động của một số cơ quan, tổ chức vẫn chưa hành các chính sách, quyết định của các cơ được thực hiện triệt để. Tương tự như vậy, quan hành chính nhà nước. trong hoạt động xây dựng chính sách, các quy *** định điều chỉnh về trình tự, thủ tục xây dựng Tóm lại, cùng với việc hoàn thiện cơ chế và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã giám sát quyền lực trong bộ máy nhà nước được quy định trong Luật Ban hành văn bản thì việc tăng cường giám sát của công dân và quy phạm pháp luật, Luật Ban hành văn bản xã hội đối với quyền lực nhà nước đang là quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân một nhu cầu khách quan, tất yếu hiện nay. và Ủy ban nhân dân và một số quy định khác, Trong đó, việc thực hiện tốt CKTT và PBXH song hiện tượng không tuân theo đầy đủ, chặt vừa là để đảm bảo tốt hơn quyền công dân, chẽ và thực chất các quy định của pháp luật vừa là để tăng cường sự giám sát của xã hội trong hoạt động xây dựng và ban hành các và công dân đối với quyền lực công. Vì vậy, văn bản, chính sách, dự án vẫn còn tồn tại ở cần hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực một số nơi. Trong đó, việc thực hiện CKTT, thực hiện thể chế để thực hiện tốt hơn CKTT, việc lấy ý kiến của Mặt trận Tổ quốc và đối qua đó góp phần đảm bảo tính hiệu lực và tượng chịu sự tác động của chính sách hoặc hiệu quả của PBXH cũng như bảo đảm sự là còn hình thức, hoặc là chưa được thực hiện tham gia của công dân và xã hội vào quá trình đầy đủ. Điều này có nguyên nhân là ý thức hoạch định chính sách công n NGHIÏN CÛÁU Söë 04(308) T2/2016 LÊÅP PHAÁP 11
  12. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT LUÊÅT TUÅC BAÃO VÏå TAÂI NGUYÏN THIÏN NHIÏN, MÖI TRÛÚÂNG CUÃA MÖÅT SÖË TÖÅC NGÛÚÂI ÚÃ TÊY BÙÆC VAÂ TÊY NGUYÏN hoàNg VăN QuyNh* Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã được các tộc người quan tâm chú ý từ rất lâu. Để bảo vệ, khai thác và quản lý vấn đề này, họ đã tạo ra những thế ứng xử hài hoà giữa con người và thế giới tự nhiên. Đó là những nguyên tắc, cách ứng xử được áp dụng trong cuộc sống của các dân tộc thiểu số nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên và bảo tồn sự hài hòa giữa con người và thế giới tự nhiên. Các tộc người đều có những biện pháp bảo vệ môi trường riêng của mình, mà một trong những biện pháp được coi là có hiệu quả nhất chính là các điều khoản của luật tục dân gian đã tồn tại hàng ngàn đời nay. 1. Khái niệm luật tục địa phương”, “Luật dân gian”. Đây là một Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu, hiện tượng xã hội phổ quát của nhân loại ở luật tục là những phương ngôn, ngạn ngữ thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và còn tồn diễn đạt bằng lời nói có vần điệu, chứa đựng tại đến ngày nay với những mức độ khác các quy tắc xử sự, thể hiện, phản ánh quy nhau ở nhiều tộc người trên thế giới, nhất là chuẩn phong tục, tập quán, ý chí, nguyện các tộc người châu Á và châu Phi. Luật tục vọng của cộng đồng, bảo đảm thực hiện về cơ bản là một hình thức của tri thức bản trong cộng đồng dân tộc thiểu số, được cộng địa, tri thức địa phương về cách ứng xử và đồng bảo đảm thực hiện1. quản lý cộng đồng còn tồn tại ở hầu khắp các Đối với các nhà nghiên cứu văn hoá dân dân tộc ở nước ta, không kể đó là dân tộc gì, gian, các quan niệm của họ lại đi sâu phân ít người hay đa số2. tích làm rõ nội hàm của luật tục. Thuật ngữ Ngoài ra, còn nhiều ý kiến khác về khái luật tục hay tập quán pháp ở Việt Nam có thể niệm luật tục, nhưng trên cơ sở các quan gọi với nhiều tên gọi khác nhau, như là “Luật điểm khác nhau, sau một thời gian dài tìm * ThS. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. 1 Lê Hồng Sơn: Vai trò của phong tục tập quán và việc kế thừa phong tục tập quán trong xây dựng pháp luật, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 863-875. 2 Viện Dân tộc học, Tư liệu lịch sử và xã hội dân tộc Thái. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 25-54. NGHIÏN CÛÁU 12 LÊÅP PHAÁP Söë 04(308) T2/2016
  13. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT hiểu, nghiên cứu, thảo luận, nhiều cuộc hội cưỡng chế và bắt buộc đối với những ai thảo quốc tế cũng như trong nước và các không tuân theo. Luật tục là những quy định cuộc thảo luận chuyên đề, nhiều nhà khoa của quần chúng trong cộng đồng đặt ra để học nước ta tạm thời chấp nhận khái niệm điều hoà mối quan hệ của tập thể cộng đồng luật tục như sau: “Luật tục là một hình thức một cách tự nguyện và dân chủ, không phải của tri thức bản địa, được hình thành trong là luật lệ do một tầng lớp người đặt ra và thực lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với thi để bảo vệ quyền lợi của họ. môi trường và xã hội, được thể hiện dưới 2. Các quy định về bảo vệ tài nguyên thiên nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời nhiên và môi trường trong luật tục của này qua đời khác bằng trí nhớ qua thực hành một số tộc người ở Tây Bắc và Tây sản xuất và thực hành xã hội, nó hướng đến Nguyên việc hướng dẫn các quan hệ xã hội, quan hệ Theo kết quả nghiên cứu của ngành dân con người với thiên nhiên. Những chuẩn tộc học, Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có mực ấy của luật tục được cả cộng đồng thừa 53 dân tộc là các dân tộc thiểu số. Các dân nhận và thực hiện, nhờ đó đã tạo ra sự thống tộc này chủ yếu sống ở miền núi, như miền nhất và cân bằng trong mỗi cộng đồng. Luật núi Tây Bắc, Đông Bắc, dãy Trường Sơn và tục như hình thức phát triển cao của phong Tây Nguyên. Đây là những nơi tập trung tục, tục lệ và là hình thức sơ khai của luật nhiều tài nguyên thiên nhiên quý của đất pháp”3. nước với hàng chục ngàn loài động thực vật Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể và đất rừng phù hợp với trồng cây công nhận thấy, đối tượng điều chỉnh của luật tục nghiệp; các nguồn khoáng sản như than đá, là những quan hệ xã hội tồn tại khách quan quặng kim loại.... Trong đó, miền núi và cao của đời sống cộng đồng. Luật tục có phạm vi nguyên chiếm 3/4 diện tích cả nước, là nơi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh cư trú chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu vực của đời sống xã hội như: lĩnh vực tổ số. Ở đây, có rất nhiều tiềm năng về kinh tế, chức và quản lý cộng đồng xã hội, lĩnh vực có hơn 10 triệu ha rừng và đất rừng với nhiều ổn định trật tự an ninh và bảo đảm lợi ích loại gỗ quý, trữ lượng cao và nhiều loại động cộng đồng; việc tuân thủ phong tục, tập thực vật có giá trị kinh tế và khoa học lớn4. quán; các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình; Với tiềm năng tự nhiên dồi dào, phong lĩnh vực giáo dục nếp sống văn hoá tín phú như vậy, trong một thời gian dài, các dân ngưỡng; lĩnh vực quản lý sử dụng đất đai, tộc thiểu số miền núi nước ta chủ yếu dựa bảo vệ sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và vào tự nhiên mà sống, mọi sinh hoạt cuộc môi trường. sống đều dựa vào thiên nhiên và cho đến tận Như vậy, luật tục là một hệ thống các bây giờ nhiều nơi vẫn như vậy. Môi trường quy tắc xử sự mang tính dân gian, quy định thiên nhiên có vai trò rất quan trọng đối với về mối quan hệ ứng xử của con người đối với đời sống sinh hoạt của họ, gần như trong tất môi trường tự nhiên và con người với con cả các lĩnh vực ăn, mặc, ở, sinh hoạt đều dựa người trong cộng đồng, thể hiện ý chí của vào thiên nhiên, gắn bó mật thiết với thiên toàn thể cộng đồng, được thực hiện một cách nhiên và thấy được sự tác động trở lại của tự giác, theo thói quen, nhưng vẫn có tính thiên nhiên đến đời sống sinh hoạt của họ. 3 Hoàng Xuân Tý, Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao đất, khoán rừng và quản lý tài nguyên thiên nhiên, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 310-323. 4 Bế Viết Đẳng (chủ biên), 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945 - 1995), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr. 109- 110. NGHIÏN CÛÁU Söë 04(308) T2/2016 LÊÅP PHAÁP 13
  14. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT Từ đó, việc hình thành những kinh nghiệm định mang tính chất phòng ngừa, dạy bảo ý và cách thức bảo vệ, khai thác môi trường tài thức của mọi người về những tác hại của vụ nguyên thiên nhiên từ rất lâu đời ở các dân việc đó gây ra cho cộng đồng, cho chính tộc thiểu số miền núi nước ta là điều hiển cuộc sống hàng ngày của họ. Điều 18 Luật nhiên. Bởi vì họ quan niệm rằng, cuộc sống tục M’nông quy định: “Rừng bị cháy mà của họ tồn tại được chính là nhờ môi trường không dập tắt, người đó sẽ không có rừng, thiên nhiên, nếu môi trường thiên nhiên bị người đó sẽ không có đất”6. huỷ hoại thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời Ngoài ra, ở một số vùng dân tộc Thái, sống của họ. vấn đề ngăn chặn nạn cháy rừng cũng được 2.1. Bảo vệ tài nguyên rừng quy định thành lệ rất cụ thể. Trước khi đốt Các dân tộc thiểu số ở nước ta sống chủ rẫy, bà con thường phát cây xung quanh rẫy yếu ở các vùng rừng núi (3/4 diện tích là hai, ba sải tay để có một khoảng cách an toàn rừng núi). Rừng rất cần thiết đối với họ, rừng nhất định tránh lửa có thể bén tới chân rừng. gần như quyết định cuộc sống của họ (với Hoặc đốt nương cũng phải chọn những ngày cuộc sống săn bắt, hái lượm trước đây). Do không có gió, còn những ngày có gió to, gió đó, họ đã có những quy định rất chặt chẽ, cụ Lào thì tuyệt đối không ai được đốt nương. thể về cách thức quản lý, khai thác và bảo vệ Trong Luật tục Thái (Hịt khòng Mường rừng, được thể hiện trong các bộ luật tục của Bản) cũng có đoạn quy định: từng tộc người. “Không nạn nào hơn nạn lửa, nạn nước Trong Luật tục Ê Đê đã có những điều Dùng nước phải biết tránh luồng nước luật về các vụ cháy rừng, quy định về việc Dùng lửa hãy giữ gìn nạn cháy”7. không đốt lửa bừa bãi, vô ý thức khi vào Như vậy, việc quy định về cách bảo vệ, rừng; khuyên răn mọi người phải hết sức chú phòng, chống nạn cháy rừng rất cụ thể, sát ý khi dùng lửa, nếu ai gây cháy sẽ bị trừng thực tiễn và mọi người rất hưởng ứng tuân phạt rất nặng. “Đàn ông thường đốt lửa bừa theo và nó ăn sâu vào trong tâm thức của bãi, đàn bà thường đốt lửa bậy bạ, có những từng người. Người dân thường rất vui khi người đốt lửa mà làm như kẻ điếc, kẻ đui, có thực hiện những quy định của cộng đồng đề những người đốt lửa mà làm như kẻ điên, ra. Đây là một vấn đề mà pháp luật bảo vệ người dại”… “E rằng đi rẫy lo việc nương tài nguyên môi trường cũng như các lĩnh vực rẫy mà không biết đi, cầm theo những đầu pháp luật khác của Nhà nước ta chưa làm dây còn cháy dở có thể huỷ diệt cả rừng. Lửa được. sẽ bén vào rừng thiêu trụi cỏ cây, mọi vật. Ngoài nạn cháy rừng, luật tục quy định Còn e rằng lửa sẽ cháy lan, thiêu trụi cả xóm rất cụ thể về quản lý, khai thác, bảo vệ các làng người ta, thiêu trụi cả chòi, cả kho lúa cánh rừng, việc vi phạm những điều luật về người ta đã dựng lên trong rừng, trong rẫy, bảo vệ rừng bị xử phạt nghiêm khắc. Thông mà xung quanh chưa kịp dọn quang”5. thường, đồng bào quan niệm rừng, môi Trong Luật tục M’nông cũng vậy, vấn đề trường thiên nhiên là tài sản chung của tất cả cháy rừng được cộng đồng rất quan tâm. Để mọi người, không phải của riêng ai và là bảo vệ tốt, trước hết thường có những quy nguồn sống không thể thiếu được của họ. Do 5 Hoàng Xuân Tý, tlđd, tr. 310-323. 6 Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Luật tục M’nông, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 268. 7 Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng, Luật tục Thái (Tập quán pháp), Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1999. tr. 446. NGHIÏN CÛÁU 14 LÊÅP PHAÁP Söë 04(308) T2/2016
  15. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT vậy, mọi người phải có trách nhiệm bảo vệ tươi. Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh rừng, bảo vệ môi trường thiên nhiên. tế thị trường hiện nay, nếu biết vận dụng tốt Luật tục M’nông quy định: “Khu rừng các phong tục, tập quán, luật lệ quản lý và sâu đâu phải của nai, khu rừng đó là của tổ bảo vệ rừng trên cơ sở của Luật Bảo vệ và tiên, khu rừng đó là của con cháu, khu rừng phát triển rừng của Nhà nước để xây dựng đó là của ông bà, khu rừng đó là của chúng nên một quy chế bảo vệ và phát triển rừng ở ta”. Do đó, nếu ai phá rừng sẽ bị lên án bằng từng cơ sở, thì việc quản lý, bảo vệ và khái cách: “Làm nhà đừng dùng cây nữa; làm thác tài nguyên rừng sẽ có hiệu quả hơn. chòi đừng đừng dùng cây nữa; làm rẫy 2.2. Bảo vệ tài nguyên nước không phát rừng nữa; khi thiếu đói đừng đào Tài nguyên nước cũng là một thành phần củ nữa…”8. cơ bản của môi trường, có vai trò rất quan Luật tục Thái quy định về sự cân bằng trọng trong đời sống của con người. Ở nước sinh thái giữa con người với rừng núi; nó thể ta, Luật Tài nguyên nước năm 2012 mới hiện trong tập quán phân loại rừng thành được ban hành và đang dần dần đi vào cuộc từng khu vực nhằm phục vụ các nhu cầu sống, nhưng ở các dân tộc thiểu số nước ta, khác nhau của cuộc sống như: rừng núi từ lâu đã có những phong tục, tập quán, luật phòng hộ nằm trên khu vực đầu nguồn nước, lệ bảo vệ và giữ gìn nguồn nước rất cụ thể. tuyệt đối cấm khai thác; rừng núi dành cho Họ đều cho rằng, có nước sẽ có tất cả. Người việc khai thác tre, gỗ để dựng nhà và phục Thái có khẩu ngữ quen thuộc là: “có nước vụ các nhu cầu cuộc sống thì tuyệt đối không mới có ruộng, có ruộng mới có lúa”, có nơi được chặt đốt làm nương; núi rừng phục vụ còn quy định “ăn cắp nước lã phải phạt 80 cuộc sống tâm linh, được gọi bằng tên chung lạng bạc, kèm theo rượu, trâu, phải cúng cho là “rừng thiêng”9. chủ hồn nước 03 đồng bạc và trả lại số nước Tóm lại, việc quản lý bảo vệ và sử dụng đã lấy”10. Để bảo vệ tốt nguồn nước, dân tộc tài nguyên rừng được quy định rất chặt chẽ Thái có những quy định rất chặt chẽ về các và cụ thể trong các điều khoản của các bộ vùng nước, các khúc sông suối, họ thường luật tục. Ngoài ra, việc bảo vệ, khai thác và quy những vùng nước, khúc sông suối cần sử dụng tài nguyên rừng này còn được thể bảo vệ thành những vùng linh thiêng như hiện rộng rãi trong các phong tục, tập quán “vũng cấm” (văng hảm) hay “vũng mường” sinh hoạt hàng ngày của từng dân tộc khác (văng mương). Đây là những chỗ sông, suối nhau mà không được ghi chép thành văn bản. sâu thẳm, xanh biếc và được mở rộng ra hai Nó được truyền miệng từ đời này đến đời bên bờ nơi có khu rừng già, nước chảy lững khác và ăn sâu trong tâm thức của từng con lờ nên có cảnh quan bề ngoài như một cái ao người. Với cách thức bảo vệ rừng như vậy trời phú. Theo tôn giáo tín ngưỡng Thái thì của các dân tộc thiểu số ở nước ta trước đây, đây là những chỗ để các siêu linh dưới nước trong một thời gian dài các dân tộc thiểu số trú ngụ và là những nơi để tế chủ nước cũng đã bảo vệ được những cánh rừng luôn xanh như tổ chức hội đánh cá. 8 Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Luật tục M’nông, sđd, tr. 268. 9 Rừng thiêng: i) nơi rừng cấm để làm lễ cúng “thần linh bản” (xên phi bản) hoặc “thần linh mường” (xên phi mường); ii) chỉ có ở đất Chiềng (xiềng) tức trung tâm của mường mới có ngọn núi được chọn để cúng khí thiêng của đất, mang ý niệm là “siêu linh cạn” (phi bốc) đối lập với “siêu linh nước” (phi nặm) mang tên là “Núi hồn mường” (pom minh mương). Bề mặt của núi thường phủ lớp rừng thiêng; iii) gồm những khu rừng già dành để chôn cất người chết. 10 Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng: Luật tục Thái (Tập quán pháp), Sđd, tr. 311. NGHIÏN CÛÁU Söë 04(308) T2/2016 LÊÅP PHAÁP 15
  16. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT Để giữ gìn, bảo vệ nguồn nước thường là bảo vệ rừng đầu nguồn, nơi tạo ra nguồn xuyên cho các con sông, suối và các mạch nước, cấp nước sinh hoạt cũng như trồng nước ngầm, người Thái đã sớm biết tạo ra và trọt. Hầu như các dân tộc đều có những quy bảo vệ các khu rừng đầu nguồn. Trên mỗi định về bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ mạch một nguồn nước là những khu rừng có nhiều nước ngầm, bảo vệ các khúc sông, suối chạy cây cối um tùm. Tín ngưỡng dân gian coi qua làng, bản của họ. Điều đặc biệt ở đây là mỗi khu rừng đó là nhà của các loại ma liên các dân tộc đều rất chú ý cấm kỵ việc làm dơ quan đến sức mạnh tạo ra nguồn nước. Cây bẩn nguồn nước. cối càng rậm rạp chúng càng thích trú ngụ. Hiện nay, vấn đề bảo vệ, gìn giữ nguồn Bởi vậy, nếu phá rừng đầu nguồn cũng có nước đã được Nhà nước luật pháp hoá bằng nghĩa là phá nhà và những người đụng chạm việc ban hành Luật Tài nguyên nước. Các đến chúng sẽ bị ma bắt mất hồn mà sinh ra vấn đề như sở hữu, quản lý nước, bảo vệ, ốm hay chết. Theo một số nhà nghiên cứu, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, tín ngưỡng dân gian quan niệm nguồn nước chống khắc phục hậu quả lũ lụt và các tác hại nào cũng có “thần chủ” gọi bằng thuật ngữ khác do nước gây ra… được pháp luật quy tôn giáo tín ngưỡng Thái là “ma đầu nguồn” định rất cụ thể, tạo ra một hành lang pháp lý (phi hua bó) hay “ma huỷ” (phi khuông) trong việc quản lý, khai thác và sử dụng tài chuyên gây cho người bệnh đau khớp xương nguyên nước. Tuy nhiên, việc ban hành là không thể chữa chạy được và đến khi khuất như vậy, nhưng việc thực thi có hiệu quả lại núi thì linh hồn không thể biến thành ma về là một vấn đề khác, vấn đề triển khai còn rất cõi trời mà phải “trực gác” nơi đầu nguồn để chậm, nội dung chung chung, không cụ thể chuyên hại người khác11. và hầu như các vùng dân tộc miền núi không Luật tục Gia Lai có những quy định rất biết đến Luật này mà các dân tộc thiểu số cụ thể về bảo vệ nguồn nước, nước sạch, nước ta chủ yếu thực hiện bảo vệ nguồn nước như: cấm làm nhà nơi nguồn nước, nơi có theo phong tục, tập quán, các luật lệ của dân mạch ngầm, mạch phun; nếu có người nào tộc và thực tế, công tác bảo vệ về tài nguyên làm dơ bẩn nơi mạch nước ngầm trong sạch nước có hiệu quả rất cao. Vì vậy, cùng với đó thì nó sẽ khiến cho con người bị to bụng, sự ra đời của Luật Tài nguyên nước, nếu biết tả lỵ. kết hợp tốt với các phong tục, tập quán, luật Ngoài ra, luật tục Gia Lai còn quy định: tục của các địa phương, các dân tộc thiểu số nước uống dùng một con sông, một dòng thì hiệu quả bảo vệ, giữ gìn tài nguyên nước suối, một hồ nước sạch… phải dùng một của cả nước sẽ cao hơn. phía, nhà ở về một phía, đi chôn người chết 2.3. Bảo vệ tài nguyên đất đai không được sang sông, sang suối, vượt nhà, Đất đai là một tài nguyên quốc gia vô vượt làng, qua rẫy, qua nương. Ai phạm vào cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là một trong các điều trên đều bị xử phạt tuỳ thành phần quan trọng hàng đầu của môi theo mức độ vi phạm mà có mức phạt nặng trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân nhẹ khác nhau. cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá - xã Nói chung, cách thức bảo vệ, gìn giữ hội, an ninh và quốc phòng. Nhà nước ta đã nguồn nước của các dân tộc thiểu số chủ yếu ban hành khá nhiều văn bản pháp luật về bảo 11 Phan Hữu Dật - Cầm Trọng, Văn hoá Thái Việt Nam. Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1995, tr. 94. NGHIÏN CÛÁU 16 LÊÅP PHAÁP Söë 04(308) T2/2016
  17. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT vệ rừng, đất rừng, đất đai nói chung nhưng số miền núi nước ta rất thành công trong việc hiệu quả đạt được lại không được như ý muốn. quản lý khai thác và sử dụng đất đai (chủ yếu Trong khi đó, ở các dân tộc thiểu số miền núi là đất rừng). Vì vậy, chúng ta nên vận dụng nước ta có rất nhiều kinh nghiệm, phong tục những quy định do đồng bào các dân tộc tập quán trong việc bảo vệ tài nguyên đất. thiểu số đặt ra và được thi hành bao đời nay Nhiều dân tộc đã hình thành những bộ luật tục để thực hiện những chính sách của Đảng và và có những quy định về bảo vệ đất đai rất cụ Nhà nước đối với việc quản lý, khai thác và thể mà chủ yếu là đất rừng. sử dụng đất đai. Trong Luật tục Ê Đê đã có hẳn một 2.4. Bảo vệ động thực vật chương quy định về đất đai và người chủ đất Cũng như việc quản lý, bảo vệ các như: chăm nom đất đai, không để mất người nguồn tài nguyên môi trường khác, động chủ đất; quyền hạn, quyền lợi và nhiệm vụ thực vật cũng được các dân tộc thiểu số miền của người chủ đất; việc lấn chiếm đất đai, núi nước ta quản lý, bảo vệ và khai thác rất xâm phạm đất đai. Ví dụ, đất đai, sông suối, hiệu quả bằng các phong tục tập quán, luật cây rừng (là) cái nong, cái nia, cái lưng của tục truyền thống từ rất lâu. ông bà12 (Điều 232 Luật tục Ê Đê). Những Trong Luật tục M’nông có đến hàng người được gọi là chủ đất có trách nhiệm rất trăm điều luật khác nhau, trong đó có khá lớn đối với đất đai thuộc quyền quản lý của nhiều điều luật liên quan đến các loại động họ, họ phải có nhiệm vụ đi thăm đất13 (Điều thực vật, như trong quan hệ sở hữu, tài sản, 233 Luật tục Ê Đê). các điều luật đã đề cập đến việc bảo vệ, gìn Luật tục M’nông quy định về tội bán đất giữ động thực vật quý hiếm. Loại động vật rừng: Bán đất bon làng khiếu nại; bán rẫy lúa được nói đến nhiều nhất là con voi, đã có mất đất làm khổ con cháu hoặc bán đất, rừng những điều luật quy định xử phạt những ai có tội với con cháu14. vi phạm như ăn thịt voi, coi khinh voi, chửi Luật tục Thái cũng có quy định về quản mắng voi, nhất là tội hành hạ voi đến mức lý, sử dụng và khai thác đất đai. Ví dụ, họ có làm cho chúng bị thương và bị chết. Người quy định rất cụ thể về việc giải quyết tranh nào sử dụng voi nhưng không chăm sóc chu chấp đất ruộng: “Nếu hai bên tranh chấp đáo hoặc cục cằn, đối xử tàn nhẫn với voi sẽ nhau thửa ruộng, luật sẽ giải quyết theo văn bị phạt rất nặng. Nếu người nào săn bắn làm tự của thửa ruộng. Nếu không có văn tự, bên chết các loài thú hiếm, Luật tục M’nông buộc nào quen “ăn” thửa ruộng đó, đã được một người đó phải nộp phạt rất nặng để tạ tội với đời không bỏ, thì cho bên đó được tiếp tục thần linh. “ăn” thửa ruộng như cũ”15. Ngoài ra, việc bắt cá bằng cách đánh Với những quy định truyền thống như thuốc, chập điện như hiện nay cũng bị coi là vậy, đã có một thời kỳ dài các dân tộc thiểu một trọng tội, phải nghiêm cấm vì nó huỷ 12 Người Ê Đê coi đất là mẹ, đất trên cao nguyên lại có cấu trúc lượn sóng nên họ quan niệm mặt đất là cái lưng của tổ tiên. Thành ngữ này thường thấy lặp đi lặp lại trong văn ngôn của tập quán pháp ca. Đất đai, rừng núi cũng được ví như cái nong, cái nia. 13 Đi thăm là để đất đai mãi mãi tốt tươi, để nước không ngừng chảy, để chuối mía mọc xum xuê. Đất nào phải đâu như con ngựa không chủ, như con bò không người chăn. 14 Ngô Đức Thịnh (chủ biên), sđd, tr. 524. 15 Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng, sđd, tr. 341. 16 Ngô Đức Thịnh (chủ biên), sđd, tr. 280. NGHIÏN CÛÁU Söë 04(308) T2/2016 LÊÅP PHAÁP 17
  18. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT hoại môi trường sống của các sinh vật khác. thường được gắn với một loài động thực vật Vấn đề này được Luật tục M’nông quy định nào đó như hổ, chim, khỉ… Khi đã gắn với trong điều Tội thuốc cá: “Thuốc cá làm suối loài đó như vậy thì dòng họ đó không được nghèo; muốn ăn ếch phải dùng ná bắn; muốn giết hại, cũng như ăn thịt loài đó, vì họ cho ăn cá dùng rổ mà vớt…” tức là làm gì cũng rằng đó là tổ tiên của họ. Hoặc các bà lang phải bảo vệ nòi giống, không được giết hàng khi đi hái thuốc trong rừng không bao giờ họ loạt “Làm chết sạch cả tép, cả cua; ai thuốc chặt cả cây, nhổ cả gốc, nếu cần lấy rễ cây cá có tội với làng; tội thuốc cá không ai đền thì họ chỉ đào lấy những rễ phụ không ảnh nổi”16. hưởng đến sự sống của cây, hoặc lấy lá thì Luật tục Êđê cũng có nhiều điều liên cũng không bao giờ vặt trụi cả cây… quan đến quản lý, bảo vệ, khai thác động Chỉ với những phong tục truyền thống, thực vật. Con voi cũng được Luật tục Ê Đê những quy định đơn giản như vậy, nhưng đã đề cập tới nhiều như: “Nếu làm voi đau ở có một thời kỳ dài các dân tộc thiểu số ở chân thì anh ta (người vi phạm) phải chăm nước ta rất thành công trong việc bảo vệ các sóc voi, băng bó cho voi, khấn lên bài khấn loài động thực vật quý hiếm cũng như các cầm máu cho voi, đặt cho voi các thứ thuốc loại động thực vật phục vụ đời sống hàng để lành sẹo vết thương, nếu máu vẫn chảy, ngày của họ. vết thương không khô, người ta không còn Nhìn một cách khái quát, chúng ta thấy đóng bành trên lưng voi được nữa, nếu voi rằng, các quy định của luật tục mặc dù rất không ăn cỏ (voi chết) thì anh ta phải đền lại manh mún, phạm vi áp dụng hẹp và còn lạc giá trị hoặc thay thế một con voi khác to hậu, nhưng đi sâu tìm hiểu chúng ta thấy rất bằng” (Điều 222 Luật tục Ê Đê). hợp lý, phù hợp với từng địa phương, với đời sống của từng tộc người cụ thể. Có thể khẳng Luật tục Gia Lai cũng có những điều luật định rằng, nó thể hiện tính tự quản rất cao quy định về việc bảo vệ thú rừng: trong việc quản lý xã hội nói chung và trong “Cấm săn bắt quá mức; việc bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái Thịt con khỉ, con dộc, con vượn, con khỉ phục vụ cho riêng đồng bào các dân tộc thiểu đột, con chuột, con ếch, con nhái… số. Tuy nhiên, các quy định của luật tục như Không được mang về nhà ăn, xui khiến vậy chỉ phù hợp với xã hội trong điều kiện cháy khô bắp lúa, ghẻ lở phong độc tới con thuần tuý về mặt nông nghiệp, có thành phần người, và không được săn bắn”. cư dân thuần nông. Với điều kiện phát triển Các bộ luật tục của dân tộc Thái rất ít đề nền kinh tế thị trường như hiện nay thì việc cập đến việc bảo vệ, khai thác các loài động thực hiện những quy định của luật tục cũng thực vật. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày sẽ có những biến đổi. Do đó, cùng với hệ của họ vẫn có những luật lệ rất cụ thể, mà thống pháp luật bảo vệ tài nguyên và môi gần như ai cũng biết và phải thực hiện như trường của nước ta hiện nay, chúng ta có thể là điều đương nhiên. Ví dụ: ở người Thái xây dựng quy chế dân chủ cơ sở (quy ước địa Mường Tấc (Phù Yên - Sơn La) khi con cháu phương) trên cơ sở kế thừa những yếu tố tốt lớn lên, các cụ (ông bà, bố mẹ…) thường chỉ đẹp của luật tục truyền thống (tính cộng bảo con cháu rất cẩn thận về cách thức bảo đồng, tính nhân bản, hợp lý) để bảo vệ các vệ các loại động, thực vật, như khi đi đánh thành phần quan trọng của môi trường như cá cũng phải có mùa, tránh đánh bắt cá vào rừng, nguồn nước, đất rừng, động thực vật mùa cá đẻ, tránh săn bắn thú rừng vào mùa quý hiếm có hiệu quả hơn, khuyến khích sinh nở hoặc một số dòng họ của người Thái được mọi người dân hưởng ứng tham gia n NGHIÏN CÛÁU 18 LÊÅP PHAÁP Söë 04(308) T2/2016
  19. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT BIÏÍN HIÏåU - BAÃN CHÊËT VAÂ MÖËI QUAN HÏå VÚÁI QUYÏÌN SÚÃ HÛÄU NHAÄN HIÏåU VAÂ TÏN THÛÚNG MAÅI TrầN Lê ĐăNg PhươNg* Biển hiệu trong kinh doanh đóng vai trò truyền tải thông tin về chủ thể kinh doanh ra công chúng, hay nói cách khác, chỉ đích danh chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động sản xuất kinh doanh có trụ sở hoạt động gắn biển hiệu. Bên cạnh đó, biển hiệu còn đóng vai trò thông tin nên chủ thể kinh doanh cố gắng tận dụng lợi thế này để truyền tải tất cả thông tin liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà họ đang kinh doanh, nhưng từ đó có thể phát sinh những tình huống vi phạm quyền sở hữu đối với tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hóa. 1. Pháp luật thực định về biển hiệu cụ thể phải có “Tên cơ quan chủ quản trực Giống như tên thương mại, biển hiệu tiếp (nếu có); tên cơ sở sản xuất, kinh doanh trong thực tế là yếu tố cấu thành sản nghiệp theo đúng giấy chứng nhận đăng ký kinh thương mại và có chức năng phân biệt với doanh; và địa chỉ, điện thoại”. Bên cạnh đó, các đối thủ cạnh tranh khác. Biển hiệu trước pháp luật không thừa nhận xác lập quyền đối tiên là một dấu hiệu phải được thể hiện ra với việc sử dụng thực tế biển hiệu. Vì thế, bên ngoài và nhìn thấy được. Vì thế, một việc lựa chọn một biển hiệu không được trái biển hiệu chỉ được đặt tại trụ sở doanh với các quy định của pháp luật, cụ thể là đảm nghiệp khi đáp ứng các điều kiện sau: bảo tính mỹ quan. Một biển hiệu được công Tính hợp pháp: Pháp luật Việt Nam quy nhận là tồn tại hợp pháp chỉ khi được treo tại định các điều kiện theo đó một dấu hiệu có trụ sở của chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, thể được công nhận là biển hiệu khi đáp ứng pháp luật chưa đề cập đến nội dung biển hiệu các yêu cầu về nội dung được quy định tại không được xâm phạm đến quyền và lợi ích khoản 1 Điều 34 Luật Quảng cáo năm 2012, hợp pháp của các chủ thể khác trong kinh * TS. Đại học An Giang. NGHIÏN CÛÁU Söë 04(308) T2/2016 LÊÅP PHAÁP 19
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2