intTypePromotion=1

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 10/2017

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:65

0
6
lượt xem
0
download

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 10/2017

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 10/2017 trình bày các nội dung chính sau: Quy trình lập pháp ở Việt Nam và vai trò của Đại biểu Quốc hội, các nguyên tắc Paris về tính độc lập của cơ quan nhân quyền quốc gia và việc áp dụng ở Việt Nam, xác định lỗi của pháp nhân trong vi phạm pháp luật,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 10/2017

  1. Mục lục Số 10/2017 NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 3 Quy trình lập pháp ở Việt Nam và vai trò của Đại biểu Quốc hội TS. Nguyễn Đình Quyền 11 Các nguyên tắc Paris về tính độc lập của cơ quan nhân quyền quốc gia và việc áp dụng ở Việt Nam TS. Lã Khánh Tùng – PGS, TS. Vũ Công Giao 17 Xác định lỗi của pháp nhân trong vi phạm pháp luật TS. Bùi Xuân Phái 22 Tội phạm khủng bố trong pháp luật quốc tế ThS. Nguyễn Quyết Thắng BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT 28 Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, thị trường tội phạm và trách nhiệm hình sự của pháp nhân: ba vấn đề lớn phải quan tâm khi xây dựng Bộ luật Hình sự PGS, TS. Ngô Huy Cương 38 Kiến nghị hoàn thiện dự thảo sửa đổi Luật du lịch ThS. Đào Thị Thu Hằng THỰC TIỄN PHÁP LUẬT 42 Thực trạng khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên ThS. Lê Duyên Hà 49 Hậu quả pháp lý và cách thức xử lý các vi phạm nghĩa vụ góp vốn khi thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 Nguyễn Thị Liễu Hạnh KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 55 Những nội dung có thể tham khảo từ pháp luật về khiếu nại của cộng hòa pháp PGS, TS. Nguyễn Hoàng Anh Ảnh bìa: ST
  2. Legis No.10/2017 STATES AND LAWS 3 Legislative Process in Vietnam and Role of National Assembly Delegates Dr. Nguyen Dinh Quyen 11 Paris Principles on Independence of National Human Rights Institutions and Application in Vietnam Dr. La Khanh Tung – Prof., Dr. Vu Cong Giao 17 Determinaton of Faults by Legal Entity in Law Violations Dr. Bui Xuan Phai 22 Terrorist Crimes in International Laws LLM. Nguyen Quyet Thang BILL OF LAW 28 Transnational Organized Crimes, Crime Markets and Criminal Liability of Legal Entity: Three Major Matters Need to be Considered for Development of the Penal Code. Prof., Dr. Ngo Huy Cuong 38 Recommendations for Improvements of the Bill on Tourism (amended) LMM Dao Thi Thu Hang LAW PRACTICES 42 Status of Complaints and Settlement of Administrative Complaints in Land in Central Highlands Provinces LLM. Le Duyen Ha 49 Legal Consequences and Methods for Settlement of the Unpaid Capital Contribution under Establishment of Enterprises under the Enterprise Law of 2014 Nguyen Thi Lieu Hanh FOREIGN EXPERIENCES 55 The Reference Contents from the Law on Complaints of the Republic of France Prof., Dr. Nguyen Hoang Anh
  3. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT QUY TRÒNH LÊÅP PHAÁP ÚÃ VIÏåT NAM VAÂ VAI TROÂ CUÃA ÀAÅI BIÏÍU QUÖËC HÖÅI Nguyễn Đình Quyền* * TS. Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lập pháp, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội. Thông tin bài viết: Tóm tắt: Từ khoá: Quốc hội làm luật hay chỉ là cơ quan thông qua luật đang là vấn đề có nhiều lập pháp, quy trình lập pháp, ý kiến tranh luận. Qua những dẫn chứng, phân tích về quy trình lập pháp đại biểu Quốc hội. và vai trò, kỹ năng của đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp, bài viết khẳng định lập hiến và lập pháp là một trong những hoạt động quan trọng Lịch sử bài viết: và đặc trưng nhất của Quốc hội nước ta, phù hợp cả về cơ sở lý luận và Nhận bài: 09/05/2017 thực tiễn. Biên tập: 12/05/2017 Duyệt bài: 16/05/2017 Article Infomation: Abstract: Keywords: legislation, That the National Assembly acts as a law making body or just a law legislative process, National approving body one is a matter of several arguments. Based on the Assembly Delegates evidences, analysis of the legislative process and the roles, the skills of the National Assembly Delegates in legislative activity, it is confirmed that the Article History: constitutional and legislative activities are the one of the most important Received: 09 May 2017 and characteristic activities of the National Assembly of Vietnam, which is Edited: 12 May 2017 appropriate with both the theoretical basis and the practical one. Approved: 16 May 2017 I. Quốc hội - cơ quan thực hiện quyền lập 2013 đều khẳng định Quốc hội là cơ quan pháp lập hiến và lập pháp. Qua mỗi bản Hiến 1. Quốc hội làm luật hay chỉ là cơ quan pháp, cơ chế thực hiện chức năng lập pháp thông qua luật? của Quốc hội được kế thừa, phát triển ngày Lập hiến và lập pháp là một trong càng được làm rõ và quy định cụ thể hơn - đặc biệt từ Hiến pháp năm 1992. Về mặt những hoạt động quan trọng và đặc trưng pháp lý cũng như trên thực tế, quyền lập nhất của Quốc hội Việt Nam. Chức năng này pháp của Quốc hội cũng đang tiếp tục được đã được thể hiện xuyên suốt qua các bản hoàn thiện. Tuy nhiên, trong quá trình triển Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và khai thực hiện các quy định của Hiến pháp Hiến pháp năm 2013. Ngoài Hiến pháp năm và luật về quyền lập pháp của Quốc hội, có 1946 quy định nguyên tắc chung “Nghị viện ý kiến cho rằng, Quốc hội chỉ là cơ quan nhân dân đặt ra các pháp luật”, thì cả bốn thông qua luật, vì hầu hết các dự án luật đều bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và do Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao NGHIÏN CÛÁU Söë 10(338) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 3
  4. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho thấy, nếu so sánh giữa dự án luật trình (VKSNDTC) soạn thảo và trình. Đây là vấn Quốc hội với các dự án luật đã được các cơ đề cần được làm rõ. quan của Quốc hội thẩm tra, chỉnh lý, hoàn Hiến pháp năm 2013 khẳng định, thiện và Quốc hội thông qua thì có sự thay Quốc hội là cơ quan làm Hiến pháp, sửa đổi đổi cơ bản về chất, nhất là về các chính sách, Hiến pháp, làm luật, sửa đổi luật; thực hiện kể cả về mặt nội dung cũng như hình thức quyền lập hiến, lập pháp. Trên thực tế, quy văn bản. định này của Hiến pháp được thực hiện khá 2. Thẩm quyền và phương thức hoạt động chặt chẽ, cụ thể theo trình tự sau: hàng năm, của từng chủ thể trên cơ sở đề nghị của các cơ quan, tổ chức, - Quốc hội quyết định chương trình cá nhân có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ1 và Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) lập hàng năm, cho ý kiến, thảo luận và biểu và trình Quốc hội xem xét, quyết định quyết thông qua. chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trên - UBTVQH lập dự kiến chương trình cơ sở đó, UBTVQH phân công, chỉ đạo, đôn xây dựng luật, pháp lệnh để trình Quốc hội; đốc và giám sát các cơ quan, tổ chức, cá cho ý kiến về các dự án luật; quyết định việc nhân có liên quan thực hiện chương trình đưa các dự án vào chương trình kỳ họp này. Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, phiên họp của UBTVQH; ban Quốc hội, bên cạnh việc thẩm tra các dự án hành pháp lệnh về những vấn đề do Quốc luật, pháp lệnh, còn dành nhiều thời gian, hội giao; quyết định việc lấy ý kiến nhân dân công sức cho việc chỉnh lý, hoàn thiện các đối với các dự án luật. dự án luật trên cơ sở ý kiến của các vị đại - HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội biểu Quốc hội (ĐBQH), ý kiến của nhân kiến nghị về chương trình xây dựng luật, dân, của các cơ quan, tổ chức hữu quan. Để pháp lệnh, tổ chức thẩm tra, chỉnh lý và phục vụ cho công tác này, Hội đồng Dân tộc hoàn thiện dự án luật. (HĐDT), các Ủy ban của Quốc hội đã tham - Đoàn ĐBQH: tổ chức lấy ý kiến, gia ngay từ đầu vào quá trình xây dựng dự thảo luận về các dự án luật, pháp lệnh, dự án luật. UBTVQH với tư cách là cơ quan thảo nghị quyết; cung cấp thông tin và tạo chuẩn bị và chủ trì kỳ họp Quốc hội, thường điều kiện để các ĐBQH thu thập thông tin, xuyên cho ý kiến đối với các dự án luật, nhất là thông tin về hoạt động thực tiễn tại pháp lệnh. Giữa hai kỳ họp, các đoàn ĐBQH địa phương về dự án luật. đã tổ chức các hội nghị để trao đổi, thảo luận - ĐBQH: trình dự án luật, kiến nghị về và lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan. luật; nghiên cứu, góp ý kiến, phát biểu thảo Ý kiến của ĐBQH là cơ sở quan trọng mang luận tại Đoàn ĐBQH, HĐDT, các Ủy ban tính quyết định trong việc hoạch định chính của Quốc hội, tại các kỳ họp Quốc hội và sách, chỉnh lý và hoàn thiện từng nội dung biểu quyết thông qua. của dự án luật. Theo trình tự này, Quốc hội 3. Cơ sở pháp lý hoạt động lập pháp của đã nắm trọn quyền lập pháp và ý kiến rằng Quốc hội Quốc hội chỉ là cơ quan thông qua luật là - Hiến pháp không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Thực tế - Luật Tổ chức Quốc hội 1 Điều 31 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 không còn quy định về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ, mà chỉ quy định: “Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng hằng năm”, và “Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại kỳ họp thứ nhất của năm trước”. NGHIÏN CÛÁU 4 LÊÅP PHAÁP Söë 10(338) T5/2017
  5. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT - Luật Ban hành văn bản quy phạm khả thi, phù hợp với thực tiễn của Chương pháp luật (VBQPPL) trình đã được Quốc hội thông qua, tránh tình - Quy chế hoạt động UBTVQH trạng khi triển khai Chương trình xây dựng - Quy chế hoạt động của HĐDT, các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội thông qua, Ủy ban của Quốc hội cơ quan trình dự án, cơ quan thẩm tra dự án - Quy chế hoạt động của ĐBQH và phải tiếp tục chứng minh lại sự cần thiết hay Đoàn ĐBQH không cần thiết ban hành văn bản mà Quốc - Nội quy kỳ họp Quốc hội hội đã quyết định đưa vào Chương trình. II. Về quy trình lập pháp Chương trình xây dựng luật, pháp 1. Về chủ thể trình dự án luật lệnh là một định hướng quan trọng do Quốc Về cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền hội quyết định, nó đặt ra mục tiêu, yêu cầu trình dự án luật bao gồm: Chủ tịch nước, để Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc các cơ quan nhà nước hữu quan phấn đấu hội, ĐBQH, Chính phủ, TANDTC, VK- thực hiện nhằm phúc đáp yêu cầu bức xúc của SNDTC, Mặt trận và các tổ chức thành viên cuộc sống. Việc xây dựng và ban hành của Mặt trận. Đối với ĐBQH, bên cạnh Chương trình được gắn với Chiến lược phát quyền trình dự án luật còn có quyền trình triển kinh tế - xã hội, Chương trình phát triển kiến nghị về luật. kinh tế - xã hội 5 năm, hàng năm và trên cơ sở 2. Về chương trình xây dựng luật, pháp yêu cầu mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra. lệnh của Quốc hội 3. Các quy trình cụ thể của hoạt động Trên cơ sở ý kiến của các cơ quan, tổ lập pháp chức, cá nhân có quyền trình dự án luật, a) Giai đoạn soạn thảo, chuẩn bị pháp lệnh, căn cứ vào kế hoạch phát triển dự án kinh tế - xã hội và yêu cầu của thực tiễn, Trên thực tế, các dự án luật phần lớn UBTVQH lập và trình Quốc hội xem xét, được giao cho các cơ quan của Chính phủ quyết định Chương trình xây dựng luật, (các bộ, cơ quan ngang bộ) soạn thảo, trong pháp lệnh hàng năm. Căn cứ vào Chương đó, một số trường hợp được giao cho trình đã được Quốc hội thông qua, TANDTC, VKSNDTC, Mặt trận tổ quốc UBTVQH phân công soạn thảo, phân công Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt thẩm tra đối với các dự án luật. Kinh nghiệm trận, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội soạn cho thấy, việc phân công hợp lý, khoa học, thảo. Đối với một số dự án luật có liên quan đúng chức năng, nhiệm vụ, chuyên môn của đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực thì tùy theo cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra là một tính chất và phạm vi điều chỉnh của các dự trong những yếu tố quan trọng bảo đảm chất án đó mà UBTVQH hoặc Chính phủ sẽ lượng và thời gian, tiến độ chuẩn bị các dự quyết định thành lập Ban soạn thảo bao gồm án luật. nhiều cơ quan nhà nước có liên quan. Một vấn đề đặt ra trong quá trình lập - Các bước soạn thảo dự án luật: và triển khai thực hiện Chương trình xây + Tổng kết thực tiễn thi hành pháp dựng luật, pháp lệnh là cần phải xác định luật; tiến hành tập hợp hóa, pháp điển hóa ngay tính cần thiết ban hành một dự án luật các VBQPPL thuộc phạm vi, đối tượng điều khi UBTVQH lập và Quốc hội quyết định chỉnh của dự án. đưa vào Chương trình. Có như vậy mới đáp + Thu thập các thông tin, tài liệu trong ứng được yêu cầu đổi mới hoạt động lập và ngoài nước liên quan đến dự án. pháp, bảo đảm tính khoa học, chặt chẽ và + Tiến hành khảo sát thực tế trong NGHIÏN CÛÁU Söë 10(338) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 5
  6. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT nước và nước ngoài về những vấn đề mà dự thực tế của việc chuẩn bị dự án trước khi án luật điều chỉnh. trình Quốc hội. Một mặt xem xét tính hợp + Tổ chức Hội thảo khoa học trong hiến, hợp pháp, đồng bộ thống nhất của dự nước và quốc tế. án luật với hệ thống pháp luật hiện hành và + Đánh giá tác động về những chế các dự án luật cùng trình Quốc hội, mặt khác định, quy phạm của dự án. xem xét tính khoa học, phù hợp với quy luật + Soạn thảo dự án lần 1, lần 2, lần 3... phát triển khách quan và thực tiễn, với ý chí + Tiến hành lấy ý kiến các đối tượng và nguyện vọng của nhân dân, tính định chịu sự điều chỉnh của dự án; ý kiến của các hướng xã hội chủ nghĩa. Việc cân nhắc, xem chuyên gia trong và ngoài nước; ý kiến của xét một cách thận trọng tất cả các ý kiến khác nhân dân (trong những trường hợp do nhau trong quá trình thẩm tra dự án đã làm cho hoạt động thẩm tra ngày càng phong UBTVQH quyết định). phú, khoa học, chặt chẽ và toàn diện hơn. + Thảo luận trong Tổ biên tập, Ban - Việc phân công thẩm tra: soạn thảo. + Thẩm tra các dự án luật là chức + Thảo luận giữa Tổ biên tập, Ban năng riêng có của HĐDT, các Ủy ban của soạn thảo và các cơ quan, tổ chức hữu quan. Quốc hội. + Các dự án luật do Chính phủ trình + Việc phân công thẩm tra trên cơ sở Quốc hội phải được Chính phủ thảo luận tập lĩnh vực hoạt động của Hội đồng Dân tộc, thể và quyết định theo đa số; dự án luật do các Ủy ban của Quốc hội; TANDTC trình phải được Hội đồng thẩm + Sự đan xen của các quy phạm pháp phán TANDTC thảo luận tập thể và quyết luật trong các lĩnh vực có liên quan, nhất là định theo đa số; dự án luật do VKSNDTC trong điều kiện các bộ, cơ quan ngang bộ trình phải được Ủy ban kiểm sát VKSNDTC thực hiện quản lý nhà nước đa ngành, đa thảo luận tập thể và quyết định theo đa số; lĩnh vực cần phải được xem xét toàn diện, dự án luật do HĐDT, các Ủy ban của Quốc bảo đảm đúng lĩnh vực hoạt động của hội trình phải được HĐDT, các Ủy ban thảo HĐDT, Ủy ban khi UBTVQH tiến hành luận tập thể và quyết định theo đa số; dự án phân công thẩm tra; luật do Mặt trận tổ quốc và các thành viên + Nội dung quản lý nhà nước trong trình thì việc thảo luận tập thể, quyết định các dự án luật có liên quan tới các luật về tổ theo đa số được thực hiện theo quy định điều chức bộ máy nhà nước. Vai trò của Ủy ban lệ của các tổ chức đó. Pháp luật khi tham gia thẩm tra với HĐDT, b) Giai đoạn thẩm tra các Ủy ban khác bảo đảm tính hợp hiến, hợp - Tất cả các dự án luật trước khi trình pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật Quốc hội phải được HĐDT, các Ủy ban của phải được đề cao đúng mức; Quốc hội thẩm tra; UBTVQH cho ý kiến. + Công tác phối hợp thẩm tra cần có - Hiện nay, công tác thẩm tra dự án nhiều phương thức linh hoạt để phù hợp với luật của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội yêu cầu thực tiễn của cuộc sống và điều kiện ngày càng được tổ chức theo chiều sâu. Việc về tổ chức, hoạt động của HĐDT, các Ủy thẩm tra đã góp phần bảo đảm tính có căn ban hiện nay. cứ, tính khoa học, tính cần thiết, tính khả thi, - Chuẩn bị cuộc họp thẩm tra: tính phù hợp với thực tiễn, các quy luật + Thu thập thông tin, tài liệu (trong và khách quan… của dự án luật. Đồng thời, dự ngoài nước); án luật được xem xét đầy đủ, toàn diện về + Khảo sát thực tiễn trong nước và mọi mặt để đánh giá đúng mức về khả năng quốc tế; NGHIÏN CÛÁU 6 LÊÅP PHAÁP Söë 10(338) T5/2017
  7. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT + Tổ chức Hội thảo khoa học (trong nhất là những vấn đề còn có ý kiến, quan nước và nước ngoài); điểm khác nhau trong Ban soạn thảo, hoặc + Lấy ý kiến của các chuyên gia; ý giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan hoặc kiến của một số địa phương, của đối tượng giữa các thành viên của cơ quan thẩm tra; chịu sự điều chỉnh (trong trường hợp cần + Nội dung thảo luận bao gồm tính thiết); hợp hiến, hợp pháp, tính có căn cứ pháp luật, + Nghe cơ quan soạn thảo, các cơ căn cứ thực tiễn và tính thống nhất của hệ quan, tổ chức có liên quan giải trình, làm rõ thống pháp luật; phạm vi, đối tượng điều một số vấn đề mà cơ quan thẩm tra quan chỉnh; đánh giá tác động; tính tương đồng tâm. đối với các điều ước quốc tế mà Việt Nam - Tổ chức phiên họp thẩm tra: là thành viên; nội dung của dự án; về quản + Thành phần tham dự phiên họp lý nhà nước và hiệu lực của văn bản; thẩm tra bao gồm thành viên HĐDT, Ủy ban + Biểu quyết về những vấn đề còn có chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan tham gia ý kiến khác nhau giữa các thành viên cơ thẩm tra, cơ quan trình dự án, các thành viên quan thẩm tra (từng nội dung hoặc toàn bộ Ban soạn thảo, các cơ quan, tổ chức hữu dự án). quan, một số chuyên gia pháp lý, chuyên gia - Về nội dung Báo cáo thẩm tra: chuyên ngành và các nhà khoa học, các + Đây là hệ quả quan trọng của toàn phương tiện thông tin đại chúng. Trong một bộ hoạt động thẩm tra của HĐDT, các Ủy số trường hợp còn có sự tham gia của lãnh ban của Quốc hội; đạo Quốc hội; + Các quan điểm của đa số, thiểu số + Phương thức tổ chức bao gồm: Họp và ý kiến lập luận của các quan điểm đều toàn thể cơ quan chủ trì thẩm tra với các cơ phải được phản ánh, trình bày đầy đủ, toàn quan tham gia thẩm tra; họp toàn thể cơ diện trong Báo cáo thẩm tra; quan chủ trì thẩm tra với Thường trực hoặc + Làm rõ căn cứ lý luận, thực tiễn và đại diện cơ quan tham gia thẩm tra; họp khoa học về những vấn đề phản biện được Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra hoặc đặt ra trong báo cáo thẩm tra; Thường trực mở rộng; họp Thường trực cơ + Nêu rõ mặt được, những tồn tại, hạn quan chủ trì thẩm tra với đại diện các cơ chế, nguyên nhân của dự thảo luật, nhất là quan tham gia thẩm tra; về chất lượng văn bản, vấn đề lợi ích nhóm, + Trình tự tiến hành tại phiên họp vấn đề không khả thi, không phù hợp với thẩm tra: Đại diện cơ quan trình dự án trình thực tiễn…; bày Tờ trình; Thường trực cơ quan chủ trì + Nêu những kiến nghị, phương án, thẩm tra trình bày ý kiến nghiên cứu; Chủ giải pháp để hoàn thiện chính sách, các quy tọa phiên họp nêu những vấn đề cần tập định, chế định của dự án. trung thảo luận; các đại biểu dự họp đặt câu c) Giai đoạn cho ý kiến trước khi trình hỏi làm rõ một số vấn đề, đại diện cơ quan Quốc hội trình dự án giải đáp; các đại biểu thảo luận, - UBTVQH là chủ thể duy nhất cho ý tranh luận; Cơ quan trình dự án giải trình, kiến đối với các dự án luật trước khi trình tiếp thu ý kiến của các đại biểu để tiếp tục Quốc hội. chỉnh lý, hoàn thiện dự án; Chủ tọa kết luận - Việc cho ý kiến bao gồm các vấn đề phiên họp. cơ bản sau đây: - Về thảo luận tại phiên họp: + Nội dung và phạm vi của việc cho + Nêu các vấn đề tập trung thảo luận, ý kiến của UBTVQH: những vấn đề chính NGHIÏN CÛÁU Söë 10(338) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 7
  8. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT sách, tính khả thi, thống nhất, nguồn lực vấn đề của dự án, theo sự chỉ đạo của thực hiện; UBTVQH, Đoàn thư ký kỳ họp phối hợp + Việc thảo luận, tranh luận tại với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình UBTVQH; dự án gửi phiếu xin ý kiến các vị ĐBQH và + Giá trị pháp lý của việc cho ý kiến; trình Quốc hội về kết quả lấy ý kiến đó. + Trình tự của phiên họp cho ý kiến; Trong trường hợp cần thiết, Quốc hội có thể trong trường hợp cần thiết tiến hành việc biểu quyết về một số vấn đề của dự án làm biểu quyết; cơ sở cho việc tiếp thu chỉnh lý của các cơ + Giải trình, tiếp thu của cơ quan trình quan hữu quan; dự án, cơ quan thẩm tra. + Đoàn thư ký kỳ họp phối hợp với cơ d) Trình dự án luật tại kỳ họp Quốc quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án hội tập hợp, tổng hợp ý kiến của các vị ĐBQH - Theo quy định của Luật Ban hành làm cơ sở cho việc chỉnh lý giữa hai kỳ họp. VBQPPL thì một dự án luật trình Quốc hội - Việc chỉnh lý dự án luật giữa hai kỳ xem xét, thảo luận thông qua có thể được họp: tiến hành tại một kỳ họp, hai hoặc nhiều kỳ + Trên cơ sở Biên bản tập hợp, tổng họp. Nhưng trên thực tế, hầu hết các dự án hợp ý kiến của các vị ĐBQH thảo luận tại luật được trình Quốc hội xem xét cho ý kiến tổ và tại Hội trường về các dự án luật, kết và thông qua tại hai kỳ họp. quả biểu quyết của Quốc hội về các vấn đề - Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội cho ý lớn của dự án luật nếu có, UBTVQH chỉ đạo kiến về những vấn đề lớn, những vấn đề cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan soạn thảo thuộc chủ trương, chính sách của dự án luật, dự án, Ủy ban Pháp luật và các cơ quan, tổ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau làm chức có liên quan chỉnh lý, hoàn thiện dự án; cơ sở cho việc chỉnh lý, hoàn thiện dự án + Cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp luật giữa hai kỳ họp. cùng cơ quan soạn thảo và cơ quan, tổ chức - Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội xem hữu quan chỉnh lý dự án và chuẩn bị Báo xét, thảo luận dự án luật đã được UBTVQH cáo giải trình, tiếp thu. chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan + Sau khi chỉnh lý hoàn thiện dự án soạn thảo, Ủy ban Pháp luật, cơ quan, tổ luật, cơ quan chủ trì thẩm tra được giao chức hữu quan chỉnh lý, hoàn thiện, sau đó nhiệm vụ trình UBTVQH cho ý kiến về một xem xét và biểu quyết thông qua. số vấn đề lớn, những vấn đề còn có ý kiến - Việc trình dự án luật tại kỳ họp thứ khác nhau trong quá trình chỉnh lý, hoàn nhất được tiến hành như sau: thiện; + Cơ quan, tổ chức, cá nhân trình dự + UBTVQH tổ chức phiên họp cho ý án luật trình bày Tờ trình dự án luật trước kiến; Quốc hội; + Việc gửi dự án luật lấy ý kiến các + HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội đoàn ĐBQH; được giao chủ trì thẩm tra trình bày Báo cáo + Việc tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện thẩm tra trước Quốc hội; theo ý kiến kết luận của UBTVQH trước khi + Các ĐBQH thảo luận tại tổ và tại trình Quốc hội. Hội trường về dự án luật; - Việc trình dự án luật tại kỳ họp thứ + Khi có ý kiến khác nhau về một số hai: NGHIÏN CÛÁU 8 LÊÅP PHAÁP Söë 10(338) T5/2017
  9. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT + UBTVQH là cơ quan trình Quốc hội 2. Kỹ năng xem xét, thảo luận thông qua dự án luật đã a) Thu thập các tài liệu có liên quan được chỉnh lý, hoàn thiện trên cơ sở ý kiến tới dự án luật của ĐBQH; - Các văn kiện, nghị quyết của Đảng. + Quốc hội thảo luận; trường hợp cần - Hiến pháp và các văn bản pháp luật thiết thì biểu quyết những vấn đề còn có ý có liên quan. kiến khác nhau; - Tài liệu tham khảo trong nước và + UBTVQH chỉ đạo tiếp tục hoàn quốc tế. thiện dự án theo ý kiến phát biểu của các vị - Bài viết, đề tài của các nhà khoa học, ĐBQH; kết quả điều tra xã hội học. + Quốc hội xem xét và biểu quyết - Các báo cáo sơ kết, tổng kết, Hội thông qua. thảo khoa học; khảo sát thực tiễn trong nước Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực đối và nước ngoài; giám sát chuyên đề. với các dự án luật được Quốc hội thông qua b) Xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối và chuyển Chủ tịch nước công bố. tượng áp dụng và luật áp dụng để điều chỉnh III. Vai trò và kỹ năng của đại biểu Quốc - Các quan hệ xã hội cùng loại được hội trong hoạt động lập pháp điều chỉnh trong dự án. 1. Vai trò - Các chủ thể chịu sự điều chỉnh (địa - Lập hiến, lập pháp là chức năng quan vị pháp lý của các chủ thể). trọng nhất của Quốc hội, do đó, đây cũng là - Các quy phạm, chế định của ngành nhiệm vụ quan trọng nhất của ĐBQH. luật nào điều chỉnh các quan hệ xã hội được ĐBQH có vai trò quyết định trong quy trình quy định trong dự án luật. lập pháp. Cũng chính vì vai trò này mà Hiến - Việc giải quyết xung đột pháp luật pháp, Luật tổ chức Quốc hội đều quy định (trong trường hợp có phát sinh). ĐBQH có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, c) Xác định rõ dự án luật mà ĐBQH kiến nghị về luật ra trước Quốc hội. đang xem xét đang ở giai đoạn nào của quy - Quốc hội Việt Nam hoạt động theo trình lập pháp kỳ họp, do đó giữa các kỳ họp, việc nghiên cứu góp ý kiến của ĐBQH vào các dự án - Đang ở giai đoạn soạn thảo, chuẩn bị luật, pháp lệnh có ý nghĩa rất quan trọng. trước khi trình Quốc hội. Đây là điều kiện để ĐBQH tiếp cận vấn đề, - Trình Quốc hội lần đầu. nắm bắt, tìm kiếm thông tin, hình thành lập - Trình Quốc hội lần thứ hai. luận, luận chứng, quan điểm để phục vụ cho - Đang ở giai đoạn thẩm tra hoặc lấy việc nghiên cứu, thảo luận, chỉnh lý, xem ý kiến. xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp. - Đang ở giai đoạn chỉnh lý, hoàn - Điều kiện để ĐBQH tham gia vào thiện. quá trình lập pháp: - Đang ở giai đoạn lấy ý kiến nhân + Cung cấp và xử lý thông tin, tài liệu; dân, cơ quan, tổ chức hữu quan hoặc các + Cơ chế pháp lý trong việc ĐBQH Đoàn ĐBQH… tham gia vào quy trình lập pháp; d) Làm rõ những vấn đề cơ bản trong + Những điều kiện bảo đảm về mặt quá trình tổng kết thực hiện các quy định tham mưu, phục vụ và kinh phí hoạt động. thuộc đối tượng mà dự án luật điều chỉnh NGHIÏN CÛÁU Söë 10(338) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 9
  10. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT - Đã tiến hành chưa, ai tiến hành, thời - Thống nhất về cách thức quy định về gian tiến hành. cùng một vấn đề. - Những vấn đề bức xúc của xã hội - Thống nhất về hình thức kỹ thuật lập cần phải được dự án luật điều chỉnh qua pháp của văn bản. công tác tổng kết. g) Việc tuân thủ các bước trình dự án - Thực tiễn đòi hỏi đến đâu, như thế luật tại Quốc hội theo quy định của Luật ban nào, phạm vi và yêu cầu ra sao. hành VBQPPL: - Đánh giá sự phù hợp giữa quy định - Tổng kết. của dự án luật và yêu cầu của thực tiễn đặt ra. - Đánh giá tác động. - Tính khái quát hóa và tính dự báo - Lấy ý kiến. trong quy định của dự án luật đối với đòi hỏi - Hội thảo khoa học. của thực tiễn. - Khảo sát thực tiễn. e) Những kết cấu cơ bản và bố cục của - Thẩm định, thẩm tra, cho ý kiến. một dự án luật - Văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể. - Dự án luật ban hành mới. - Ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên - Dự án luật (sửa đổi). quan… - Dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều. h) Về nội dung: - Tính hợp lý của bố cục, giữa các - Làm rõ những vấn đề có tính chất phần, chương, mục, điều, khoản, tiết… phổ quát, kinh điển, có tính chất lý luận, f) Sự thống nhất của dự án luật với nguyên lý. các dự án luật khác và với Hiến pháp, hệ - Những vấn đề có tính chất đặc thù thống pháp luật hiện hành của Việt Nam trong từng thời kỳ và trong - Thống nhất về chủ trương, đường mối tương quan với cái chung phổ quát. lối. - Những vấn đề có tính chất đột phá. - Thống nhất về mặt thẩm quyền: hình - Những vấn đề mang tính xử lý tình thức và nội dung văn bản luật. huống. - Thống nhất về mặt nội dung điều - Những vấn đề có tính chất dự báo, chỉnh. chiến lược. - Thống nhất về mặt quy phạm áp - Sự liên kết logic, phù hợp, thống dụng. nhất giữa các vấn đề n TÀI LIỆU THAM KHẢO - Hiến pháp năm 2013. - Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014. - Luật Ban hành VBQPPL năm 2015. - Quy chế hoạt động UBTVQH năm 2015. - Quy chế hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội. - Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH. - Nội quy Kỳ họp Quốc hội năm 2015. NGHIÏN CÛÁU 10 LÊÅP PHAÁP Söë 10(338) T5/2017
  11. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT CAÁC NGUYÏN TÙÆC PARIS VÏÌ TÑNH ÀÖÅC LÊÅP CUÃA CÚ QUAN NHÊN QUYÏÌN QUÖËC GIA VAÂ VIÏÅC AÁP DUÅNG ÚÃ VIÏÅT NAM Lã Khánh Tùng* Vũ Công Giao** * TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. ** PGS,TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Thông tin bài viết: Tóm tắt: Từ khoá: Bài viết phân tích quy định về tính độc lập của các cơ quan nhân quyền cơ quan nhân quyền quốc gia; quốc gia trong các nguyên tắc Paris và bình luận về khả năng áp dụng ở các Nguyên tắc Paris; tính độc Việt Nam. Theo các tác giả, cơ quan nhân quyền quốc gia có vai trò quan lập; tính đa dạng; quyền con trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Dù theo nhiều người. mô hình khác nhau, cộng đồng quốc tế thường sử dụng các Nguyên tắc Paris về địa vị của các cơ quan nhân quyền quốc gia (1993) làm căn cứ để đánh giá, phân loại các cơ quan này. Các tác giả chỉ ra rằng, theo các nguyên Lịch sử bài viết: tắc Paris, các cơ quan nhân quyền quốc gia - bên cạnh các yêu cầu về căn Nhận bài: 08/10/2016 cứ pháp lý (được thành lập bởi Hiến pháp hoặc luật), phải có sự đa dạng về Biên tập: 23/11/2016 thành phần, đồng thời có thẩm quyền càng rộng càng tốt. Hơn nữa yêu cầu về tính độc lập là một tất yếu. Nhưng dù độc lập, các cơ quan này vẫn phải Duyệt bài: 29/11/2016 tuân thủ pháp luật và chịu sự giám sát của công chúng. Do đó, việc thiết lập cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam phù hợp với các Nguyên tắc Paris là một kế hoạch khả thi. Article Infomation: Abstract: Keywords: National human The article provides analysis of the independent principles of national rights institutions; the Paris human rights institutions (NHRIs) in the Paris Principles and gives Principles; independence; plu- discussions on the possibility for application of these principles in Vietnam. ralism; human rights. According to the authors, NHRIs play an important role in protection and promotion of the human rights in several countries. While they are followed by a number of models in the world, the Paris Principles relating to the Article History: status of national institutions (1993) are used as the standards benchmark Received: 08 Otc. 2016 for evaluation and classify these NHRIs. As demonstrated by the authors, Edited: 23 Nov. 2016 under the Paris Principles, the NHRIs, along with the requirements on the Approved: 29 Nov. 2016 legal status (under the Constitution or the laws) should be in a pluralism and have broad mandates as possible. Moreover, their independence is required as an indispensable principle. While being as an independent entity, they have to comply with the law and under the public supervision. Thus, it is a feasible scheme to establish a national human rights institution complying with the Paris Principles in Vietnam. NGHIÏN CÛÁU Söë 10(338) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 11
  12. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 1. Các nguyên tắc Paris và yêu cầu về tính Đến nay, cơ chế quốc gia về bảo vệ và độc lập của cơ quan nhân quyền quốc gia thúc đẩy quyền con người tuy được hiểu 1.1 Sự hình thành và nội dung chính theo các nghĩa rộng, hẹp khác nhau tại các của các nguyên tắc Paris quốc gia, nhưng đều hướng tới thực hiện Ngay từ năm 1946, Hội đồng Kinh tế những nghĩa vụ của nhà nước được nêu - Xã hội của Liên hiệp quốc (ECOSOC) đã trong hiến pháp, pháp luật quốc gia, cũng đề nghị các quốc gia “xem xét khả năng như trong các văn kiện quốc tế về quyền con thành lập các nhóm thông tin hoặc ủy ban người. Nòng cốt của cơ chế này chính là các quyền con người quốc gia để hợp tác trong cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân các hoạt động trên lĩnh vực này với Ủy ban quyền (National Institution on the Protection Quyền con người Liên hiệp quốc (LHQ)”1. and Promotion of Human Rights, hoặc Trong các thập niên 1960 và 1970, trên diễn national human rights institutions - NHRIs). đàn LHQ đã diễn ra nhiều cuộc thảo luận về Các nguyên tắc Paris có vai trò như một cơ quan nhân quyền quốc gia (CQ NQQG), “luật mềm” điều chỉnh việc xây dựng và vận trong đó tập trung vào phương thức làm việc hành của các cơ quan này. của các cơ quan này trong việc thực thi các chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Về tổ chức của CQ NQQG, các Năm 1978, Ủy ban Quyền con người LHQ nguyên tắc Paris khuyến nghị cần bảo đảm đã tổ chức một cuộc hội thảo nhằm soạn ra sự đa dạng của cơ quan này, thể hiện qua các hướng dẫn cho việc tổ chức và hoạt việc có đại diện của nhiều loại cơ quan, tổ động của các CQ NQQG tại Giơ-ne-vơ chức trong xã hội, trong đó bao gồm3: (Thụy Sỹ). Kết quả của cuộc hội thảo này là - Các tổ chức phi chính phủ hoạt động một bộ hướng dẫn được thông qua và được trên lĩnh vực quyền con người và chống chấp thuận bởi Ủy ban Quyền con người và phân biệt đối xử; Đại hội đồng LHQ. - Các tổ chức công đoàn; Năm 1991, Ủy ban Quyền con người - Các tổ chức xã hội và nghề nghiệp LHQ tổ chức một hội thảo nữa về CQ liên quan như đoàn luật sư, hiệp hội của các NQQG ở Paris (từ ngày 7 đến 09/10/1991). bác sỹ, nhà báo, các nhà khoa học...; Kết luận của Hội thảo được phê chuẩn bởi - Các tổ chức tôn giáo; Ủy ban Quyền con người trong Nghị quyết - Các trường đại học; số 1992/54 như là các nguyên tắc liên quan - Các nghị viện; đến địa vị của các CQ NQQG (Principles relating to the status of national institutions, - Các cơ quan chính phủ. còn được gọi là các nguyên tắc Paris)2. Văn Về thẩm quyền, các nguyên tắc Paris kiện này sau đó được phê chuẩn bởi Đại hội khuyến khích việc trao cho CQ NQQG các đồng LHQ trong Nghị quyết số 48/134 ngày thẩm quyền “càng rộng càng tốt”, và thẩm 20/12/1993 và hiện được coi là nền tảng cho quyền đó cần được quy định trong hiến pháp tổ chức và hoạt động của các CQ NQQG hoặc văn bản luật. Cụ thể, CQ NQQG cần trên thế giới. có các thẩm quyền sau4 : 1 Nghị quyết số 2/9 ngày 21/6/1946. 2 Xem toàn văn bản tiếng Anh tại http://www.ohchr.org/EN/ProfessionalInterest/ Pages/StatusOfNationalInstitutions.aspx. Xem bản tiếng Việt trong cuốn sách “Giới thiệu các văn kiện quốc tế về Quyền con người“, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Lao động - Xã hội, 2011, tr. 916. 3 Các nguyên tắc Paris, Mục 2 (Cơ cấu và các bảo đảm cho sự độc lập và đa dạng). 4 Các nguyên tắc Paris, Mục 1 (Thẩm quyền và trách nhiệm). NGHIÏN CÛÁU 12 LÊÅP PHAÁP Söë 10(338) T5/2017
  13. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT - Trình lên chính phủ, nghị viện và bất quyền con người mà thuộc về phạm vi chức kỳ cơ quan có thẩm quyền nào khác những năng hoạt động của cơ quan; quan điểm, khuyến nghị, đề xuất và báo cáo - Trực tiếp trả lời công luận hoặc về bất kỳ vấn đề nào liên quan đến thúc đẩy thông qua các cơ quan báo chí, đặc biệt và bảo vệ quyền con người; trong việc phổ biến các ý kiến và khuyến - Thúc đẩy và bảo đảm sự tương thích nghị của cơ quan; của pháp luật quốc gia với các văn kiện pháp - Gặp gỡ định kỳ các thành viên của lý quốc tế về nhân quyền mà quốc gia là cơ quan; thành viên, và việc áp dụng chúng một cách - Thiết lập các nhóm hoạt động, các hiệu quả; văn phòng địa phương hoặc khu vực nhằm - Khuyến khích việc phê chuẩn, gia hỗ trợ việc thực hiện các chức năng của cơ nhập và áp dụng các văn kiện quốc tế về quan; quyền con người; - Duy trì tư vấn cho các cơ quan, tổ - Đóng góp ý kiến xây dựng các báo chức khác của quốc gia có trách nhiệm trong cáo quốc gia về nhân quyền để trình lên các việc giải quyết các vấn đề về quyền con ủy ban và cơ quan LHQ cũng như cho các người (đặc biệt là các cơ quan thanh tra, hòa cơ quan khu vực; giải…); - Hợp tác với LHQ, các cơ quan của - Phát triển quan hệ với các tổ chức LHQ, các cơ quan khu vực và CQ NQQG phi chính phủ hoạt động trên lĩnh vực quyền của các nước khác; con người. - Hỗ trợ việc xây dựng các chương 1.2 Yêu cầu về sự độc lập của CQ trình giảng dạy và nghiên cứu về quyền con NQQG người và tham gia triển khai các chương Các nguyên tắc Paris đặc biệt quan trình đó trên thực tế; tâm đến tính độc lập, bên cạnh tính đa thành - Phổ biến các quyền con người và nỗ phần (đa dạng) của CQ NQQG. Điều đó thể lực chống mọi hình thức phân biệt đối xử, hiện ở việc văn kiện này dành hẳn một mục đặc biệt là phân biệt đối xử về sắc tộc, bằng riêng (mục 2, trong tổng số 4 mục) để đề cập việc tăng cường nhận thức cho công chúng đến các yếu tố cần thiết bảo đảm cho tính qua việc giáo dục, thông tin, hợp tác với các độc lập và đa dạng của CQ NQQG. Hai yếu cơ quan báo chí. tố độc lập và đa dạng có quan hệ đến nhau. Về các phương thức hoạt động, theo Tính độc lập trước hết là độc lập với các cơ các nguyên tắc Paris, các CQ NQQG cần quan nhà nước (cơ quan lập pháp, hành pháp được5: và tư pháp, cơ quan ở trung ương cũng như - Xem xét bất kỳ vấn đề nào về quyền địa phương). CQ NQQG cần độc lập với nhà con người thuộc phạm vi chức năng của cơ nước bởi lẽ nhà nước - do chức năng của quan, một cách chủ động hoặc theo đề nghị mình, chính là chủ thể đầu tiên, trước hết có của chính quyền hoặc của các tổ chức, cá các nghĩa vụ và khả năng bảo vệ, bảo đảm nhân khác; nhân quyền một cách hiệu quả, nhưng đồng - Xem xét ý kiến của bất kỳ cá nhân thời cũng là thủ phạm chính của những vi nào và tìm kiếm bất kỳ thông tin, tài liệu cần phạm nhân quyền. Ngoài ra, CQ NQQG thiết nào cho việc đánh giá thực trạng về cũng cần độc lập với các đảng phái chính trị, 5 Các nguyên tắc Paris, Mục 3 (Các phương pháp hoạt động). NGHIÏN CÛÁU Söë 10(338) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 13
  14. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT tổ chức xã hội, tổ chức tư nhân... Vị trí của cần bảo đảm sự ổn định nhiệm kỳ. Để đạt CQ NQQG phải đứng giữa nhà nước và xã được mục tiêu đó, quyết định bổ nhiệm hội, mà không nghiêng hẳn về bên nào. Để thành viên CQ NQQG cần ghi rõ thời hạn có được thế đứng đó, cơ quan này phải có cụ thể cho thẩm quyền mà họ được giao phó. thành phần từ cả hai khối nhà nước và các Một thành viên CQ NQQG có thể làm việc tổ chức xã hội. nhiều nhiệm kỳ, miễn là sự đa dạng trong cơ Ba yếu tố chính để bảo đảm tính độc cấu thành viên của cơ quan được đảm bảo. lập cho CQ NQQG được các nguyên tắc Mặc dù nêu ra nhiều tiêu chí và Paris nêu ra trong Mục 2 của văn kiện này khuyến nghị, các nguyên tắc Paris không ấn là: 1) Thành phần đa dạng, bao gồm đại diện định một mô hình CQ NQQG duy nhất áp của nhiều loại cơ quan, tổ chức trong xã hội; dụng chung cho mọi quốc gia. Cho đến nay, 2) Bảo đảm điều kiện vật chất đủ và ổn định; có ba mô hình CQ NQQG phổ biến trên thế 3) Nhiệm kỳ của thành viên được bảo đảm giới là Ủy ban Nhân quyền quốc gia, Thanh ổn định6. tra Quốc hội (Ombudsman)8 và Viện Nghiên Về thành phần, như đã nêu ở mục trên, cứu. Tuy nhiên, mô hình Ủy ban (gồm nhiều các nguyên tắc Paris khuyến nghị thành viên thành viên) được nhiều quốc gia lựa chọn của CQ NQQG không chỉ gồm những người nhất, mô hình Ombudsman chủ yếu hiện làm việc trong bộ máy nhà nước, mà cần có diện ở một số quốc gia châu Âu, mô hình cả những thành viên của các tổ chức phi Viện Nghiên cứu chỉ tồn tại ở một vài nước9. chính phủ, các tổ chức công đoàn, các tổ 2. Vận dụng quy định về tính độc lập của chức xã hội và nghề nghiệp, các tôn giáo, cơ quan nhân quyền quốc gia trong các các trường đại học... nguyên tắc Paris ở Việt Nam Về điều kiện vật chất, các nguyên tắc Trong tiến trình Kiểm điểm định kỳ Paris khuyến nghị cần bảo đảm có cơ sở phổ quát (UPR) vòng 2 tại Hội đồng Nhân vật chất tương xứng để các CQ NQQG có quyền LHQ (năm 2014), bên cạnh việc chấp thể hoạt động hiệu quả, đặc biệt là có nhận nguyên tắc chung là tăng cường các cơ nguồn ngân sách đầy đủ. CQ NQQG cần chế trong nước để thúc đẩy và bảo vệ nhân có đội ngũ nhân viên riêng và tài sản riêng quyền, Nhà nước Việt Nam đồng thời chấp để có thể “độc lập với chính phủ và không nhận khuyến nghị về việc thành lập CQ bị phụ thuộc vào bất cứ sự kiểm soát tài NQQG. Nhà nước Việt Nam cũng tuyên bố chính nào mà có thể ảnh hưởng đến sự độc sẽ “cân nhắc” (giving consideration towards) lập của nó”7. áp dụng hướng dẫn của các nguyên tắc Paris Về nhiệm kỳ của thành viên CQ trong việc thành lập CQ NQQG10. NQQG, các nguyên tắc Paris khuyến nghị Đến nay, ở Việt Nam vẫn có hai luồng 6 Các nguyên tắc Paris, Mục 2 (Cơ cấu và các bảo đảm cho sự độc lập và đa dạng). 7 Các nguyên tắc Paris, Mục 2 (Cơ cấu và các bảo đảm cho sự độc lập và đa dạng), điểm 2. 8 Cơ chế Ombudsman xuất hiện đầu tiên tại Nghị viện Thụy Điển vào năm 1809. Thuật ngữ “Ombudsman” có nguồn gốc từ tiếng Thụy Điển (có nghĩa là người đại diện). Tại một số quốc gia, Ombudsman tương đương với Thanh tra Quốc hội hoặc Thanh tra Nhà nước. Ombudsman có một bộ máy giúp việc, thường gọi là Văn phòng Ombudsman. Nguồn: http://www.nhanquyen.vn/modules.php?name=News&op=detailsnews&mid=83&mcid=3. 9 Theo nghiên cứu năm 2009 của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ (OHCHR). 10 Xem Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II, http://uprvietnam.vn/&op/detailsnews/276/94/bao-cao-quoc-gia-ve-thuc-hien-quyen-con-nguoi-o-viet-nam-theo- co-che-kiem-dinh-ky-pho-cap-(upr)-chu-ky-ii-(phan-1).html. NGHIÏN CÛÁU 14 LÊÅP PHAÁP Söë 10(338) T5/2017
  15. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT quan điểm liên quan đến vấn đề trên. Thứ Ủy ban Nhân quyền của Malaysia (SUHA- nhất, nếu đã thành lập CQ NQQG thì cần KAM) phải chịu trách nhiệm trước Nghị bảo đảm nó thực sự độc lập, còn nếu không viện Malaysia thông qua việc nộp báo cáo bảo đảm tính độc lập thì không nên thành hàng năm và bất cứ báo cáo đặc biệt nào lập vì sẽ không có uy tín, không tạo sự tin khác cho cơ quan này12, còn Ủy ban Nhân tưởng trong cộng đồng. Thứ hai, bước đầu quyền quốc gia của Hàn Quốc (NHRCK) có thể thành lập CQ NQQG chưa độc lập phải nộp báo cáo hàng năm cho Quốc hội và nhưng sẽ điều chỉnh dần (mở rộng thẩm Tổng thống13. Trách nhiệm báo cáo và chịu quyền, mở rộng sự tham gia…). Dù chưa sự giám sát là để bảo đảm CQ NQQG có độc lập nhưng việc hiện diện một cơ quan trách nhiệm giải trình, và chỉ được hoạt như vậy ít nhất cũng sẽ làm cho công chúng, động trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ, bộ máy nhà nước và giới truyền thông quan quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy tâm hơn đến việc bảo vệ, thúc đẩy quyền định. Vì thế, một CQ NQQG độc lập không con người11. phải là một thiết chế “vô chính phủ”, “muốn Trước hết, theo chúng tôi, CQ NQQG làm gì thì làm”. tương lai của Việt Nam cần đảm bảo tính - Tính độc lập không có nghĩa là thành độc lập, một đặc trưng cốt yếu không thể phần của CQ NQQG chỉ bao gồm đại diện thiếu để được coi là CQ NQQG theo quan của các tổ chức phi chính phủ. Thực tế cho điểm chung của cộng đồng quốc tế hiện nay. thấy, CQ NQQG ở các quốc gia, dù theo mô Tính độc lập cũng là một yêu cầu không thể hình nào, cũng khuyến khích sự tham gia thiếu để bảo đảm hoạt động thực chất, hiệu của nhiều cơ quan, tổ chức và tầng lớp xã quả của CQ NQQG. hội khác nhau, bao gồm các cơ quan nhà Việc thành lập CQ NQQG có tính độc nước. Ví dụ, thành phần CQ NQQG Kenya lập theo các nguyên tắc Paris không phải là có 02 thành viên là người khuyết tật, 03 là bất khả thi ở nước ta hiện nay, vì: người Hồi giáo và 06 là người Thiên chúa - Tính độc lập của CQ NQQG chỉ có giáo; CQ NQQG Pháp bao gồm đại diện của nghĩa là CQ NQQG không phải chịu sự can các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong thiệp tùy tiện của các cơ quan công quyền lĩnh vực nhân quyền, những cá nhân và và các chủ thể khác. chuyên gia có trình độ hiện đang tham gia - Tính độc lập không có nghĩa là CQ các tổ chức nhân quyền quốc tế, công đoàn, NQQG không có trách nhiệm giải trình với cơ quan giám sát, 02 thành viên của Nghị bất kỳ chủ thể nào. Thực tế trên thế giới cho viện và 01 thành viên của Hội đồng Kinh tế thấy, các CQ NQQG, dù thành lập theo mô - xã hội; CQ NQQG của Cộng hoà Liên hình nào, cũng phải báo cáo và chịu sự giám bang Đức bao gồm đại diện của “Diễn đàn sát của một chủ thể khác, như Nghị viện, Nhân quyền” hiệp hội bao trùm của các tổ Chính phủ, hay nguyên thủ quốc gia. Ví dụ, chức nhân quyền ở Đức, Ủy ban Nhân 11 Xem Kỷ yếu Hội thảo Thành lập Cơ quan nhân quyền quốc gia của Việt Nam: Lý luận và thực tiễn, do Ban chỉ đạo Nhân quyền của Chính phủ tổ chức tại Hà Nội ngày 14/9/2016. 12 Xem Báo cáo thường niên của SUHAKAM gửi nghị viện Malaysia, http://www.suhakam.org.my/c/document_li- brary/get_file?p_l_id=35723&folderId=23964&name=DLFE-7714.pdf. 13 Xem Frauke Lisa Seidensticker Anna Wuerth, Cơ quan nhân quyền quốc gia – Mô hình, chương trình, thách thức và giải pháp (nghiên cứu cho Bộ Ngoại giao Việt Nam), http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_TAILIEU/At- tachments/1018/NHRI_study_final_vn.pdf, tr.13. NGHIÏN CÛÁU Söë 10(338) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 15
  16. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT quyền và Cứu trợ nhân đạo của Quốc hội lập, ít nhất là về mặt tính đại diện. Liên bang, hiệp hội lớn nhất của Đức về Thứ ba, về một số khía cạnh cụ thể: người khuyết tật, các bộ tài trợ và Hội đồng - Thành phần của CQ NQQG tương Liên bang Quốc gia, giới học thuật và giới lai của Việt Nam nên bao gồm đại diện của truyền thông...14. Nói cách khác, CQ NQQG một số cơ quan nhà nước trung ương, các tổ không phải là một thiết chế do các tổ chức chức chính trị - xã hội, đại diện của các tôn phi chính phủ điều hành để “giám sát”, “đối giáo, khối học thuật, một số chuyên gia, lập” với nhà nước. nhân sĩ, trí thức có uy tín cao và hiểu biết về Trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam, nhân quyền. thành lập một CQ NQQG độc lập sẽ góp - Việc bảo đảm vật chất, kinh phí hàng phần duy trì sự ổn định và phát triển của xã năm của CQ NQQG cần do Quốc hội quyết hội. Hiện tại, bộ máy nhà nước ta đã có định theo luật; ngoài ra cần có quy định bảo nhiều cơ quan có tính độc lập tương đối (toà đảm cơ sở vật chất, bộ máy giúp việc cho án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, kiểm CQ NQQG. toán...), vì thế tính độc lập của một thiết chế - Về cơ chế bổ nhiệm và nhiệm kỳ của không phải là điều xa lạ, nhạy cảm hay cấm thành viên, các thành viên của CQ NQQG kỵ ở Việt Nam. CQ NQQG có thể có tính do các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đề độc lập ở mức độ cao hơn so với tất cả các cử, Quốc hội bổ nhiệm; cần xây dựng các cơ quan khác của bộ máy nhà nước hiện nay, tiêu chuẩn khách quan, rõ ràng cho việc đề song vẫn nằm trong hệ thống, và vì vậy hoàn cử, bổ nhiệm thành viên của CQ NQQG; toàn có thể xây dựng và vận hành được. nhiệm kỳ thành viên CQ NQQG có thể cùng Thứ hai, CQ NQQG tương lai của hoặc không cùng với nhiệm kỳ đại biểu Việt Nam không nhất thiết phải theo mô Quốc hội. hình sẵn có nào đó để bảo đảm tính độc lập. Tóm lại, từ việc nghiên cứu các tiêu Vì tính độc lập của CQ NQQG không phụ chuẩn quốc tế, kinh nghiệm của các quốc thuộc vào mô hình, mà phụ thuộc vào việc gia khác và bối cảnh thực tiễn của nước ta, bảo đảm các yếu tố nhất định khi thành lập có thể thấy rằng, khi xây dựng CQ NQQG, và vận hành nó, đặc biệt là 03 yếu tố: thành Việt Nam hoàn toàn có thể và nên có các phần đa dạng, bao gồm đại diện của nhiều quy định để bảo đảm tính độc lập của nó loại cơ quan, tổ chức trong xã hội; bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc Paris. Điều này điều kiện vật chất đủ và ổn định; cơ chế bổ trước hết là để bảo đảm hiệu quả của cơ nhiệm và nhiệm kỳ của thành viên ổn định, quan này trong việc bảo vệ và thúc đẩy phù hợp. Với hoàn cảnh hiện nay, việc đặt quyền con người ở nước ta trong thời gian CQ NQQG trong khuôn khổ của Quốc hội tới. Thêm vào đó, việc xây dựng CQ NQQG (do Quốc hội thành lập, có trách nhiệm giải có tính độc lập sẽ góp phần tạo lập sự tin trình trước Quốc hội) có thể dễ bảo đảm tính tưởng của người dân, các tổ chức xã hội độc lập hơn. Ngoài ra, mô hình Uỷ ban trong nước, và cộng đồng quốc tế với cam Nhân quyền quốc gia với nhiều uỷ viên có kết và hành động trên lĩnh vực nhân quyền thể thuận lợi hơn cho việc bảo đảm tính độc của Nhà nước Việt Nam n 14 Xem, Frauke Lisa Seidensticker Anna Wuerth, tài liệu đã dẫn, tr. 18, 26, 30; Cao uỷ Nhân quyền LHQ, National Human Rights Institutions: History, Principles, Rolesand Responsibilities, http://www.ohchr.org/Documents/Publications/PTS-4Rev1-NHRI_en.pdf. NGHIÏN CÛÁU 16 LÊÅP PHAÁP Söë 10(338) T5/2017
  17. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT XAÁC ÀÕNH LÖÎI CUÃA PHAÁP NHÊN TRONG VI PHAÅM PHAÁP LUÊÅT Bùi Xuân Phái* * TS.GV Trường Đại học Luật Hà Nội. Thông tin bài viết: Tóm tắt: Từ khoá: xác định lỗi của Việc xác định lỗi của chủ thể trong vi phạm pháp luật (VPPL) là một yêu pháp nhân, vi phạm pháp luật cầu bắt buộc trong mọi trường hợp vì không có lỗi thì không có vi phạm. Tuy nhiên, việc xác định lỗi từ trước đến nay mới chủ yếu là xác định ở chủ Lịch sử bài viết: thể vi phạm là cá nhân, việc xác định lỗi của chủ thể là pháp nhân chưa thực Nhận bài: 01/05/2017 sự được quan tâm. Về mặt lý luận, cơ sở của việc xác định lỗi của pháp nhân Biên tập: 12/05/2017 chưa được giải quyết thấu đáo. Thời gian gần đây, vấn đề tội phạm hóa đối Duyệt bài: 19/05/2017 với pháp nhân thương mại đã được đặt ra trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (đang sửa đổi, hoàn thiện). Bài viết cung cấp thêm một số vấn đề lý luận xung quanh việc xác định lỗi của pháp nhân trong VPPL nói chung và đặc biệt là trong các tội phạm được đề cập trong BLHS. Article Infomation: Abstract: Keywords: Determination of the fault of the subject in violation of the law is a Determination of faults by the mandatory requirement in all cases because no fault means no violation. legal entity, violation of the However, the determination of faults by the subject of individuals is so far law mainly focused, and the determination of faults by the subject of legal entities is not really interested. Theoretically, the ground for determination of faults Article History: by legal entities has not been thoroughly addressed. Recently, the crime Received: 01 May. 2017 matters by commercial entities have been set out in the Penal Code of 2015 Edited: 12 May. 2017 (being amended and finalized). This article provides some additional Approved: 19 May. 2017 theoretical issues related to determination of the faults of the legal entity under violation of the law in general and especially in the crimes mentioned in the Penal Code. Trong hầu hết các công trình nghiên hậu quả của nó. Có thể thấy hàng loạt các ví cứu, các văn bản pháp luật hay trong giáo dụ về khái niệm này. Chẳng hạn: “Lỗi phản trình giảng dạy luật ở bậc đại học… lỗi đều ánh thái độ tâm lý bên trong của chủ thể đối được xác định là thái độ hoặc trạng thái tâm với hành vi trái pháp luật và hậu quả của lý tiêu cực của chủ thể đối với hành vi và hành vi đó”1 hay “Lỗi là trạng thái tâm lý 1 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2016), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 426. NGHIÏN CÛÁU Söë 10(338) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 17
  18. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT của cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi thành viên sáng lập. Trên thực tế, sự quyết phạm”2 hoặc “Lỗi là trạng thái tâm lý của định của pháp nhân là quyết định của tập người thực hiện hành vi trái pháp luật gây thể, trong đó mỗi cá nhân có một phần trách nguy hiểm cho xã hội”3; cũng có khi trực nhiệm gắn với những lợi ích mà họ có thể tiếp đồng nhất lỗi trong tội phạm với lỗi nói có được do những quyết định ấy. Họ là chung là: “…thái độ tâm lý của người phạm những người thực hiện các hoạt động của tội với hành vi phạm tội mà người đó thực pháp nhân sau khi đã tham gia vào pháp hiện và đối với hậu quả của hành vi đó”4. nhân và đã thực hiện sự ủy quyền (thuê, giao Nói chung, theo những cách hiểu trên công việc…). Trong trường hợp những đây, lỗi được hiểu là hoạt động tâm lý bên quyết định của pháp nhân được ban hành bởi trong của các chủ thể VPPL. Nó thuộc mặt những người đại diện cho pháp nhân vượt chủ quan của VPPL5. Đây là một khái niệm thẩm quyền mà pháp nhân đã uỷ quyền thì phức tạp. Thứ nhất, lỗi là hoạt động tâm lý cá nhân này sẽ phải là người chịu trách bên trong của chủ thể và vì vậy nó không thể nhiệm về phần vượt quá đó. Thực chất năng cân, đong, đo, đếm được, do đó nó là một lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là pháp khái niệm rất trừu tượng và khó khái quát. nhân được xác định là khả năng gánh chịu Thứ hai, các khái niệm trên hầu như mới nói hậu quả pháp lý từ hoạt động của pháp nhân. tới lỗi với tư cách là hoạt động tâm lý của Nhưng điều đó không có nghĩa là trách cá nhân (hoặc con người cụ thể) chứ chưa nhiệm được chia đều cho các chủ thể tham nói tới loại chủ thể là tổ chức, trong đó có gia vào pháp nhân. Chính vì vậy, cần có sự pháp nhân. Thực ra, nếu nói lỗi là hoạt động phân hoá trách nhiệm cho cá nhân khi tham tâm lý bên trong của con người thì liệu có gia hoạt động của pháp nhân. Tất nhiên, phải thể nói pháp nhân có lỗi được hay không? có cơ chế cho việc phân hoá này. Ví dụ trong Hoạt động của pháp nhân là loại hoạt động trường hợp bồi thường thiệt hại do một phức tạp do sự phối hợp của nhiều người, thành viên hoặc nhóm thành viên trong pháp trong khi đó, mỗi cá nhân là một thực thể nhân gây ra khi hoạt động nhân danh pháp độc lập, có nhân cách, suy nghĩ, tình cảm và nhân, người ta không thể đòi bồi thường đối nhu cầu khác nhau. Ngay cả trong một công với từng cá nhân, mà tổ chức phải đứng ra ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì chịu trách nhiệm bồi thường thay, sau đó cũng phải có cơ cấu tổ chức để hoạt động vì pháp nhân có quyền yêu cầu các cá nhân một thành viên ở đây chỉ được xác định là phải bồi hoàn ngược lại cho mình. Mặt khác, 2 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2012), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 320. 3 Chủ biên PGS,TS Trần Ngọc Đường, (1998), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.373. 4 Nguyễn Duy Lãm, (1996), Sổ tay Thuật ngữ pháp lý thông dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 212. 5 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2016), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 426-427. NGHIÏN CÛÁU 18 LÊÅP PHAÁP Söë 10(338) T5/2017
  19. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT các pháp nhân do con người thành lập ra phải luôn luôn là dấu hiệu bắt buộc trong nhưng bản thân pháp nhân cũng là một chủ tất cả các VPPL hay không, hoặc là phải thể có tư cách riêng, độc lập với những xem xét lại khái niệm lỗi? Như ta đã xem xét người đã thành lập ra nó. Từ những lý do ở trên, lỗi là trạng thái (hay thái độ) tâm lý trên mà chúng ta buộc phải xem lại hoặc là của chủ thể đối với hành vi và hậu quả của khái niệm lỗi hoặc là phải xác định tư cách hành vi. Trong khi đó, hoạt động của một của chủ thể là cá nhân hay pháp nhân trong pháp nhân nhất định phải có sự kết hợp của VPPL, nếu không thì không thể có khái nhiều người, mỗi người lại có hoạt động niệm VPPL nói chung cho cả cá nhân và cho tâm lý riêng, có cách đánh giá khác nhau về cả tổ chức (là pháp nhân). Mâu thuẫn này đã tính hợp pháp của hành vi, về hậu quả của xảy ra trong thực tế. Nếu như luật hình sự hành vi đó. Nói cách khác, mỗi cá nhân sẽ khẳng định tội phạm chỉ có thể là các cá có một trạng thái tâm lý độc lập. Nếu muốn nhân thì vấn đề sẽ trở nên đơn giản6, nhưng xác định lỗi cho chủ thể là pháp nhân thì không phải chỉ có pháp luật hình sự điều phải xem lỗi của từng cá nhân ở trong pháp chỉnh các quan hệ xã hội mà có rất nhiều nhân và thực tế thì không có lỗi chung của ngành luật tham gia điều chỉnh và vì vậy, pháp nhân được. Đây là cơ sở quan trọng để cũng không chỉ có khái niệm tội phạm mà xác định trách nhiệm cuối cùng cho chủ thể còn có nhiều khái niệm VPPL khác tùy theo vi phạm. sự quy định của từng ngành luật hoặc tùy Chính vì mỗi con người là một thực từng quan niệm. Chẳng hạn, có quan điểm thể độc lập trong một tập thể nhưng lại được khẳng định rằng: “… lỗi chỉ là trạng thái tâm phân công trách nhiệm cụ thể với chức năng, lý của cá nhân trong khi thực hiện hành vi nhiệm vụ, thẩm quyền theo sự phân công vi phạm nên không đặt ra vấn đề lỗi với tổ hay uỷ quyền của tập thể, của pháp nhân, do chức vi phạm hành chính. Khi xử phạt vi vậy, những người hoạt động nhân danh pháp phạm hành chính đối với tổ chức, chỉ cần nhân và vì lợi ích của pháp nhân có lỗi thì xác định tổ chức đó có hành vi trái pháp luật đương nhiên lỗi đó sẽ bị coi là lỗi của pháp hành chính và hành vi đó theo quy định của nhân và chính pháp nhân phải chịu trách pháp luật bị xử phạt bằng các biện pháp xử nhiệm về lỗi đó. Sự liên quan của các cá phạt vi phạm hành chính là đủ”7. nhân trong pháp nhân chính là do sự uỷ Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là lỗi có quyền này. Thực ra, lỗi của pháp nhân ở đây 6 Hiện nay, BLHS số100/2015/QH13 ngày 27/11/ 2015 đã quy định tội phạm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, Bộ luật này đang trong quá trình chỉnh sửa, nên việc áp dụng sẽ được thực hiện theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực của BLHS năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016. 7 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2012), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 320. NGHIÏN CÛÁU Söë 10(338) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 19
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2