intTypePromotion=1
ADSENSE

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 16/2018

Chia sẻ: ViAnkanra2711 ViAnkanra2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

29
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 16/2018 trình bày các nội dung chính sau: Bàn về hiệu quả làm luật của Quốc hội, kỹ năng giám sát tối cao về xem xét báo cáo, bảo lưu điều ước quốc tế về quyền con người của Việt Nam, góp vốn dưới góc độ quyền tự do kinh doanh,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Số 16/2018

  1. www.nclp.org.vn VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI Mục lục Số 16/2018 HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP: TS. NGUYỄN ĐÌNH QUYỀN (CHỦ TỊCH) NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TS. NGUYỄN VĂN GIÀU PGS,TS. NGUYỄN THANH HẢI 3 Bàn về hiệu quả làm luật của Quốc hội PGS,TS. ĐINH VĂN NHÃ PGS,TS. LÊ BỘ LĨNH GS. TS. Nguyễn Minh Đoan TS. NGUYỄN VĂN LUẬT 9 Kỹ năng giám sát tối cao về xem xét báo cáo PGS,TS. HOÀNG VĂN TÚ TS. NGUYỄN VĂN HIỂN TS. Bùi Ngọc Thanh PGS,TS. NGÔ HUY CƯƠNG TS. NGUYỄN HOÀNG THANH 15 Bảo lưu điều ước quốc tế về quyền con người của Việt Nam ThS. Phạm Thị Bắc Hà PHÓ TỔNG BIÊN TẬP PHỤ TRÁCH: 22 Góp vốn dưới góc độ quyền tự do kinh doanh TS. NGUYỄN HOÀNG THANH ThS. Nguyễn Thị Thu Trang TRỤ SỞ: 27A VÕNG THỊ - TÂY HỒ - HÀ NỘI BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT ĐT: 0243.2121204/0243.2121206 FAX: 0243.2121201 29 Cơ cấu tổ chức trong các trường đại học công lập theo Dự Email: nclp@qh.gov.vn thảo Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học Website: www.nclp.org.vn TS. Nguyễn Ngọc Sơn THIẾT KẾ: BÙI HUYỀN CHÍNH SÁCH 36 Phương pháp kinh tế - luật trong phân tích chính sách GIẤY PHÉP XUẤT BẢN: Số 438/GP-BTTTT NGÀY 29-10-2013 lập pháp CỦA BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG PGS. TS. Võ Trí Hảo PHÁT HÀNH - QUẢNG CÁO HÀ NỘI: 0243.2121202 THỰC TIỄN PHÁP LUẬT 46 Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con TÀI KHOẢN: 0991000023097 ThS. Ngô Thị Anh Vân VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM KINH NGHIỆM QUỐC TẾ (VIETCOMBANK), CHI NHÁNH TÂY HỒ 55 Khái niệm và các loại nhãn hiệu trong quy định của pháp luật MÃ SỐ THUẾ: 0104003894 Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam TS. Vũ Thị Phương Lan IN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN IN HÀ NỘI GIÁ: 19.500 ÑOÀNG Ảnh bìa: Lễ diễu hành mừng ngày Quốc khánh 2/9 tại Hà Nội. Ảnh: ST
  2. LEGISLATIVE STUDIES www.nclp.org.vn INSTITURE FOR LEGISLATIVE STUDIES UNDER THE STANDING COMMITTEE OF THE NATIONAL ASSEMBLY OF THE S.R. VIETNAM Legis No 16/2018 STATE AND LAW EDITORIAL BOARD: Dr. NGUYEN DINH QUYEN (Chairman) 3 Discussions on Legislation Efficiency by the National Assembly Dr. NGUYEN VAN GIAU Prof. Dr. Nguyen Minh Doan Prof, Dr. NGUYEN THANH HAI Prof, Dr. DINH VAN NHA Skills for Supreme Supervision in Performance Report Prof, Dr. LE BO LINH 9 Reviews Dr. NGUYEN VAN LUAT Prof, Dr. HOANG VAN TU Dr. Bui Ngoc Thanh Dr. NGUYEN VAN HIEN Prof, Dr. NGO HUY CUONG Reservation of International Treaties on Human Rights of Dr. NGUYEN HOANG THANH 15 Vietnam LLM. Pham Thi Bac Ha CHEF EDITOR IN CHARGE: Capital Mobilization under the Right of Business Freedom TS. NGUYEN HOANG THANH 22 LLM. Nguyen Thi Thu Trang OFFICE: 27A VONG THI - TAY HO - HA NOI DISCUSSION OF BILLS ĐT: 0243.2121204/0243.2121206 FAX: 0243.2121201 29 Organization Structure for Government Owned Universities under Email: nclp@qh.gov.vn the Bill of Law on Amendments of Law on Higher Education Website: www.nclp.org.vn Dr. Nguyen Ngoc Son DESIGN: POLICIES BUI HUYEN 36 The Approach of Economics - Jurisprudence for Analysis of LICENSE OF PUBLISHMENT: NO 438/GP-BTTTT DATE 29-10-2013 Legislative Policy MINISTRY OF INFORMATION Prof. Dr. Vo Tri Hao AND COMMUNICATION DISTRIBUTION LEGAL PRACTICE HA NOI: 0243.2121202 46 The Parental Support to Their Children LLM. Ngo Thi Anh Van ACCOUNT NUMBER: 0991000023097 FOREIGN EXPERIENCE LEGISLATIVE STUDY MAGAZINE VIETCOMBANK 55 Definition and Classification in Corporate Brands under the Laws in the United States of America, Japan and Vietnam TAX CODE: 0104003894 Dr. Vu Thi Phuong Lan PRINTED BY HANOI PRINTING JOINT STOCK COMPANY Price: 19.500 VND
  3. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT BÀN VỀ HIỆU QUẢ LÀM LUẬT CỦA QUỐC HỘI Nguyễn Minh Đoan* * GS.TS. Trường Đại học Luật Hà Nội. Thông tin bài viết: Tóm tắt: Từ khóa: hiệu quả làm luật, Quốc hội, Có thể nói, hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất đại biểu Quốc hội của sự phát triển trong khi xây dựng nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang được xây dựng và phát Lịch sử bài viết: triển ở nước ta có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động khác, trong Nhận bài : 13/07/2018 đó có hoạt động pháp luật. Vấn đề hiệu quả cần được vận dụng Biên tập : 23/07/2018 thích hợp vào đánh giá hoạt động làm luật, sửa đổi luật của Quốc Duyệt bài : 30/07/2018 hội và đánh giá những luật mà Quốc hội đã làm được. Có như vậy thì trách nhiệm của Quốc hội, của từng đại biểu Quốc hội, của các tổ chức, cá nhân tham gia vào việc làm luật sẽ được nâng cao hơn. Article Infomation: Abstract Keywords: law making efficiency; It can be seen that socio-economic efficiency is the most important National Assembly, National criterion for the development when it is to persue a market economy. Assembly deputies The socialist-oriented market economy that is being established and developed in our country, which has a great influence on Article History: several activities, including legislative activities. The efficiency Received : 13 Jul. 2018 criterion needs to be appropriately applied for the assessment of Edited : 23 Jul. 2018 legislative activity, the law amendments by the National Assembly Approved : 30 Jul. 2018 and also the assessment of the laws by the National Assembly. Thus, the responsibilities of the National Assembly, the mandates of National Assembly deputies and takeholders involving in the law making will be raised. 1. Quan niệm về hiệu quả làm luật của nhận. Điều này thể hiện ở số lượng các luật Quốc hội được làm ngày càng nhiều, chất lượng các Theo quy định của Hiến pháp năm luật ngày càng cao, các luật được làm đã 2013, một trong những nhiệm vụ, quyền phát huy tốt vai trò của mình trong đời sống hạn của Quốc hội là “làm luật và sửa đổi xã hội. Tuy vậy, việc làm luật và sửa đổi luật luật”. Thời gian gần đây, việc làm luật và của Quốc hội vẫn còn có nhiều vấn đề cần sửa đổi luật của Quốc hội đã đạt được những phải được bàn luận, trong đó có vấn đề chậm kết quả, thành tựu rất to lớn không thể phủ làm luật và hiệu quả của một số quy phạm Số 16(368) T8/2018 3
  4. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT pháp luật mà Quốc hội đã làm ra chưa cao. luật, sửa đổi luật trên thực tế. Lâu nay, trên các diễn đàn khoa học Hiệu quả làm luật, sửa đổi luật của luật, đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh Quốc hội có thể được đánh giá với những giá vấn đề hiệu quả của các quy phạm pháp khoảng thời gian nhất định như theo nhiệm luật, các luật mà Quốc hội làm ra1, còn hiệu kỳ, theo giai đoạn được đánh dấu bằng quả làm luật của Quốc hội chưa được đặt ra. những sự kiện có tính chất bước ngoặt trong Khi tổng kết đánh giá hoạt động làm luật, sự phát triển của đất nước. chúng ta thường nói tới số lượng và chất - Kết quả (mục đích) mong muốn đạt lượng các luật mà Quốc hội đã làm trong được của Quốc hội khi thực hiện nhiệm vụ, nhiệm kỳ hoặc trong một thời gian nhất quyền hạn làm luật, sửa đổi luật. Kết quả định. Chúng tôi cho rằng, ngoài vấn đề số mong muốn (gọi tắt là mục đích) khi thực lượng và chất lượng của luật, còn cần phải hiện nhiệm vụ, quyền hạn làm luật, sửa đổi nói tới hiệu quả của các quy phạm pháp luật luật của Quốc hội thể hiện ở dự định, kế và cả hiệu quả làm luật của Quốc hội. hoạch mà Quốc hội đề ra cho kỳ họp hoặc Vậy nên hiểu thế nào về hiệu quả làm cho nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội là tạo luật của Quốc hội? Theo lý thuyết, hiệu quả ra được những luật, bộ luật nào đó có chất là một đại lượng so sánh giữa kết quả thực tế lượng cao, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu, đạt được với kết quả (mục đích) mong muốn đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của Nhà đạt được với mức độ những chi phí về các nước, việc quản lý xã hội bằng pháp luật ở nguồn lực để đạt được kết quả đó. Do vậy, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Mục hiệu quả làm luật của Quốc hội sẽ là kết quả đích (kết quả) mong muốn của Quốc hội so sánh giữa kết quả mong muốn (mục đích) phải thống nhất với mục đích (kết quả) mong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn làm luật, muốn chung của đất nước (của Đảng, của tất sửa đổi luật của Quốc hội với kết quả trên cả các cơ quan nhà nước, của các tổ chức xã thực tế các luật (số lượng, chất lượng các hội, của nhân dân). Điều này cũng thể hiện luật) mà Quốc hội đã làm được với mức độ sự thống nhất ý chí giữa Đảng, Nhà nước và những chi phí về các nguồn lực (số người Nhân dân trong việc ban hành pháp luật để tham gia, thời gian thực hiện, chi phí về vật điều chỉnh các quan hệ xã hội. Khi xác định chất và các chi phí khác cho việc làm luật) mục đích làm luật cũng cần phải xác định cả trong khoảng thời gian nhất định. Với cách những yêu cầu (mức độ phải đạt được khi tiếp cận trên cho thấy, hiệu quả làm luật của thực hiện mục đích) đối với những luật và bộ Quốc hội không chỉ là kết quả về số lượng, luật được làm ra. Tuy nhiên, đôi khi mức độ về chất lượng các luật mà Quốc hội đã làm đạt được cũng là mục đích cụ thể nên trong được mà còn phải quan tâm đến tất cả những những trường hợp đó khó phân biệt được chi phí và thời gian để đạt được kết quả đó mục đích với yêu cầu của việc làm luật. trên thực tế. Những mục đích, yêu cầu đề ra khi làm Để đánh giá hiệu quả việc làm luật luật có thể được định lượng, nhưng cũng có của Quốc hội cần phải xác định được những thể chỉ được định tính và được thể hiện ở tiêu chí cơ bản sau: kết quả (mục đích) nhiều cấp độ khác nhau như đối với cả quá mong muốn đạt được khi Quốc hội thực trình làm luật của Quốc hội nói chung (làm hiện nhiệm vụ, quyền hạn làm luật, sửa đổi được hệ thống các văn bản luật điều chỉnh có luật; kết quả thực tế các luật mà Quốc hội đã hiệu quả các quan hệ xã hội nhằm bảo đảm làm được, sửa đổi được; những chi phí về cho các quan hệ đó có trật tự và phát triển các nguồn lực cho việc đạt được kết quả làm theo hướng mong muốn trên quy mô toàn xã 1 Xem, Nguyễn Minh Đoan, Hiệu quả của pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2012, tr. 9-36. 4 Số 16(368) T8/2018
  5. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT hội, bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, tập hội đã thông qua. Kết quả thực tế đạt được thể và cá nhân, duy trì sự phát triển ổn định trong việc làm luật, sửa đổi luật của Quốc của cả xã hội, thực hiện sự công bằng xã hội hội thể hiện ở số lượng luật mà Quốc hội đã và đưa lại hạnh phúc cho con người); cũng thông qua theo dự định và chất lượng của có thể là mục đích, yêu cầu được đề ra đối luật cao hay thấp. Khi xem xét những kết với từng nhiệm kỳ, từng kỳ họp, phiên họp quả đó, cần chú ý tới số lượng, chất lượng của Quốc hội (thảo luận, xem xét sơ bộ hoặc của quy định hay văn bản luật, tính ổn định thông qua được một số văn bản luật nhất (văn bản luật đó tồn tại được bao nhiêu năm định…). Tuy nhiên, mục đích, yêu cầu được cho đến khi bị sửa đổi hoặc hủy bỏ), mức độ đề ra cho mỗi phiên họp, kỳ họp, nhiệm kỳ khả thi và hiệu quả của chúng trong đời sống của Quốc hội về thực chất chỉ là sự chi tiết xã hội. Luật được xem là có hiệu quả phải là hoá, cụ thể hoá mục đích chung, xuất phát từ luật thúc đẩy, tạo điều kiện cho những mục mục đích chung của việc làm luật của Quốc tiêu phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Việc thực hiện tốt những mục đích, yêu hội… của đất nước, phải góp phần tạo ra sự cầu của từng phiên họp, kỳ họp sẽ là điều tiến bộ, công bằng xã hội, đưa lại cuộc sống kiện để đạt được mục đích ở mức độ cao ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, được xã hội hơn của cả nhiệm kỳ Quốc hội của công tác đón nhận và ủng hộ. làm luật của Quốc hội nói chung. Do vậy, Khi xem xét những kết quả thực tế đạt muốn đạt được mục đích chung của Quốc được trong hoạt động lập pháp của Quốc hội trong công tác làm luật thì phải thực hội, cần tính tới cả những tác dụng tích cực hiện được những mục đích của từng nhiệm và cả những ảnh hưởng không tích cực nếu kỳ, từng kỳ họp, từng phiên họp cụ thể. Một có của hoạt động đó và của cả các quy định phiên họp, một kỳ họp hay một nhiệm kỳ của văn bản luật mà Quốc hội đã thông qua. làm luật không có hiệu quả hoặc hiệu quả Một số quy định pháp luật, văn bản luật có thấp có thể sẽ làm giảm tính hiệu quả làm thể vừa có những tác dụng tích cực vừa có luật của Quốc hội nói chung. Mức độ ảnh những tác dụng không tích cực nhất định. hưởng là tùy theo mức độ quan trọng, phạm Chẳng hạn, đối với Dự thảo Luật Đơn vị vi ảnh hưởng của luật đó đối với đời sống hành chính - kinh tế đặc biệt, mặt tích cực Nhà nước và xã hội. của nó là có thể thu hút được vốn, tranh thủ được công nghệ tiên tiến của nước ngoài, tạo Khi tìm hiểu mục đích của việc làm ra nhiều việc làm cho người lao động Việt luật cần phải quan tâm tới những điều kiện Nam, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng kinh bảo đảm cho việc thực hiện chúng. Mục tế của đất nước... song Dự thảo Luật cũng có đích đề ra cho việc làm luật của Quốc hội thể sẽ làm cho vấn đề bảo vệ an ninh chính cần phải phù hợp với các điều kiện thực tế trị, trật tự an toàn xã hội… khó khăn, phức như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... mà tạp hơn. Vì vậy, khi đánh giá những lợi ích trong đó việc làm luật được thực hiện. Mục mà quy định hay văn bản luật được làm ra đích đề ra cho việc làm luật của Quốc hội mang lại phải tính đến sự tương quan giữa chỉ có thể thực hiện được khi các điều kiện cái cơ bản (những lợi ích) đạt được với cái kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của đất không cơ bản (những hạn chế, tiêu cực có nước đủ khả năng để bảo đảm cho việc làm thể phát sinh) từ những quy định của luật và luật được thực hiện trên thực tế. việc thực hiện chúng trên thực tế. Xác định mục đích, yêu cầu của việc Thông thường, khi làm luật, Quốc hội làm luật là cơ sở để đối chiếu, so sánh với cần phải dự liệu trước được những tác động các kết quả thực tế đạt được trong việc làm tích cực cũng như những tác động tiêu cực luật của Quốc hội về sự phù hợp và mức độ (nếu có) sẽ diễn ra đối với các quan hệ xã hội phù hợp với mục đích đề ra. do sự tác động của quy định hay văn bản luật - Kết quả thực tế các luật mà Quốc (RIA - đánh giá dự báo tác động của luật) Số 16(368) T8/2018 5
  6. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT để cân nhắc xem, nên hay không nên thông thường, bên cạnh những ưu điểm, những lợi qua quy định hay văn bản đó. Tuy nhiên, ích mà các quy định của luật mang lại, chúng trên thực tế, có những trường hợp Quốc hội còn có thể có những hạn chế, thậm chí, có đã không dự liệu được, không lường trước thể gây ra những thiệt hại cho một số chủ thể được hết những biến đổi có thể có của các nhất định. Vì thế, khi xem xét những lợi ích quan hệ xã hội, dẫn tới những kết quả không mà việc làm luật mang lại và những phí tổn ngờ khi thông qua quy định hay văn bản luật mà nó gây ra đòi hỏi phải có cái nhìn tổng thể đó. Những biến đổi không ngờ đó có thể tốt giữa lợi ích cũng như phí tổn của Nhà nước, hơn, nhiều hơn so với kết quả dự định đề ra xã hội với lợi ích và phí tổn của tổ chức, cá ban đầu, nhưng cũng có thể xấu hơn, ít hơn nhân sao cho có thể chấp nhận được, thể hiện so với dự liệu ban đầu và thậm chí có trường tinh thần tiết kiệm ở tất cả các giai đoạn, quy hợp những biến đổi của các quan hệ xã hội trình của quá trình làm luật. Tuy nhiên, tiết trong thực tế còn trái ngược với dự tính ban kiệm là không lãng phí, không chi phí bừa đầu của nhà làm luật. bãi chứ không có nghĩa là cắt giảm những Những kết quả do sự tác động của chi phí quan trọng, cần thiết cho hoạt động luật luôn thay đổi theo không gian, nó có này. Chẳng hạn, để làm được những luật có thể tác động tốt ở phạm vi không gian này chất lượng, hiệu quả liên quan đến an ninh của đất nước nhưng lại tác động một cách quốc gia hay tính mạng, số phận con người hạn chế ở phạm vi không gian khác. Sự thì tốn bao nhiêu cũng cần phải chi. Đối với việc làm luật, tiêu chí của hiệu quả phải là khác nhau đó phụ thuộc vào hoàn cảnh, làm ra được những luật hoàn thiện có chất điều kiện, đặc điểm và nhiều yếu tố khác lượng cao chứ không thể chỉ lấy phí tổn vật của từng vùng lãnh thổ mà quy định của chất đã được sử dụng để đánh giá. Không vì luật tác động. Thông thường, theo thời lý do tiền bạc, lý do thời gian mà chấp nhận gian, tác dụng của luật sẽ giảm dần cùng thông qua những luật có chất lượng thấp để với những thay đổi của các quan hệ xã hội. bắt xã hội phải trả giá đắt khi nó được thực Khi tác dụng hữu ích của văn bản, của quy hiện. Trong mọi trường hợp, khi ban hành, định giảm đi đến một mức độ nào đó thì nó sửa đổi hay hủy bỏ một quy định nào đó của cần phải được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ luật phải quán triệt nguyên tắc là việc ban bỏ cho phù hợp với sự thay đổi của đời hành, sửa đổi hay hủy bỏ quy định đó phải sống xã hội. mang lại những lợi ích lớn hơn, lâu dài hơn - Những chi phí về vật chất và những so với những thiệt hại có thể có trước mắt và chi phí khác cho việc đạt được kết quả làm tạm thời. Việc hạch toán trong quá trình làm luật, sửa đổi luật trên thực tế. Mức độ chi luật, quá trình điều chỉnh pháp luật còn cho phí các nguồn lực như số lượng người tham phép dự báo được tính khả thi của luật trong gia lên kế hoạch, soạn thảo, khảo sát trong và thực tế. Theo đó, Quốc hội sẽ dự liệu nên hay ngoài nước, thẩm định, thẩm tra, thảo luận, không nên thông qua văn bản hay quy định thông qua, công bố... Ngoài ra, còn có thể đó hoặc sẽ lựa chọn thời điểm (thời gian) có cả chi phí cho việc tham gia đóng góp ý thông qua khi nào thì phù hợp nhất, thuận lợi kiến, tham vấn, phản biện của các tổ chức và nhất để đạt hiệu quả cao nhất. cá nhân, chi phí trưng cầu ý dân (nếu có)… Như vậy, hoạt động lập pháp của Những chi phí về các nguồn lực cho Quốc hội được xem là hiệu quả khi các kết việc đạt được các kết quả thực tế trong quá quả (mục đích) mong muốn được hiện thực trình làm luật và điều chỉnh pháp luật cần hóa bằng số lượng, chất lượng các luật mà phải được tính trong tổng thể của Nhà nước, Quốc hội đã thông qua với chi phí về các các cơ quan nhà nước, của các tổ chức xã nguồn lực ở mức thấp trong thời gian dự hội, của các tập thể và của cá nhân công dân định. Hiệu quả cao hay thấp là phụ thuộc hoặc của các chủ thể pháp luật khác. Thông vào số lượng, chất lượng các luật đã được 6 Số 16(368) T8/2018
  7. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT thông qua, những chi phí và thời gian dành Luật Tố cáo, một số ý kiến cho rằng, ngoài cho việc làm ra hay sửa đổi các luật đó. Nếu hình thức tố cáo bằng văn bản hoặc trực số lượng các luật được thông qua quá ít so tiếp thì nên mở rộng hình thức tố cáo bằng với dự định thì hiệu quả không cao. Nếu số tin nhắn qua điện thoại, bằng thông báo lượng luật được thông qua đúng như dự định qua điện thoại, fax… số khác lại cho rằng, nhưng chất lượng của chúng không cao, có không nên mở rộng vì như vậy có thể dẫn nhiều sai sót, không thể đi vào cuộc sống, đến một số người lợi dụng tố cáo có tính không phát huy được vai trò trong đời sống chất vu khống, sai sự thật… Trong trường xã hội thì hiệu quả làm luật cũng không cao. hợp này, những người ủng hộ sẽ tập trung Nếu số lượng và chất lượng các luật được nêu cái hay, cái được của phương án, còn thông qua đều đạt như dự định nhưng những những người phản đối thường tập trung nêu chi phí về các nguồn lực quá nhiều hoặc thời cái hạn chế, cái chưa được của phương án. gian làm quá lâu… thì hiệu quả làm luật Đấy là tinh thần dân chủ của công tác lập cũng không cao. pháp rất đáng phát huy ở Quốc hội nước ta Từ phân tích trên cho thấy, nếu trên hiện nay. Tuy nhiên, nếu so sánh cái được thực tế Quốc hội không làm đủ luật, hoặc và cái mất khi mở rộng hoặc không mở rộng làm luật có chất lượng thấp thì Quốc hội hình thức tố cáo thì việc mở rộng hình thức đã không hoàn thành nhiệm vụ đối với Nhà tố cáo sẽ được nhiều hơn là mất. Bởi lẽ, nếu nước với tư cách là cơ quan quyền lực nhà mở rộng hình thức tố cáo thì sẽ giúp chủ thể nước cao nhất, đồng thời Quốc hội cũng có tố cáo thuận lợi, nhanh chóng, đỡ ngại khi lỗi với Nhân dân với tư cách là cơ quan đại gửi thông tin đến chủ thể tiếp nhận và giải biểu cao nhất của Nhân dân. Tuy nhiên, cũng quyết. Vì vậy, những cơ quan, tổ chức, cá phải thấy rằng, hoạt động lập pháp của Quốc nhân có việc làm trái pháp luật sẽ bị tố cáo hội còn phụ thuộc vào hoạt động của các cơ nhiều hơn, đội ngũ cán bộ sẽ trong sạch hơn, quan, tổ chức, cá nhân và rất nhiều những còn người tố cáo có thể sẽ hạn chế bị trả thù. yếu tố, khác như: chất lượng của dự thảo Còn cái hại ở đây là có thể sẽ có người mạo luật được trình Quốc hội; năng lực, trình độ, danh lợi dụng tố cáo để vu khống, vu cáo trách nhiệm của đại biểu Quốc hội (ĐBQH); làm hại người khác, việc giải quyết tố cáo sẽ phương thức, quy trình xem xét, thông qua vất vả, khó khăn phức tạp hơn. Tuy nhiên, dự thảo luật; các điều kiện vật chất, kỹ thuật việc lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, vu phục vụ hoạt động của Quốc hội; điều kiện cáo làm hại người khác đã bị Hiến pháp và làm việc, thời gian, công sức, trí tuệ thực tế pháp luật nghiêm cấm và trừng phạt. Như mà đại biểu Quốc hội dành cho hoạt động vậy, nếu áp dụng lý thuyết hiệu quả của các lập pháp; việc tổ chức tham vấn chuyên gia, quy phạm pháp luật vào hoạt động làm luật lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân, nhân dân trong trường hợp này sẽ giúp ĐBQH lựa trong quá trình nghiên cứu, xem xét dự thảo chọn phương án dễ hơn. luật; chất lượng thẩm định, thẩm tra của các cơ quan, bộ phận được giao trách nhiệm… 2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả làm tất cả các khâu, các công đoạn trên đều đòi luật của Quốc hội hỏi phải được tổ chức, được tiến hành có Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu chất lượng, có hiệu quả thì mới làm cho hoạt quả làm luật của Quốc hội, do vậy, cũng có động lập pháp của Quốc hội có hiệu quả và nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả làm các luật làm ra mới có hiệu quả. luật của Quốc hội. Chúng tôi xin nêu ra một Trong một xã hội dân chủ, hoạt động số giải pháp quan trọng dưới đây: lập pháp của Quốc hội không thể thiếu được - Cần lựa chọn được những ĐBQH những cuộc tranh luận, những ý kiến trái thực sự có tài, có đức, có đủ năng lực và điều chiều về một số vấn đề thuộc nội dung của kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại luật. Chẳng hạn, khi thảo luận về dự thảo biểu. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất Số 16(368) T8/2018 7
  8. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT của Nhân dân thì đại biểu phải được chọn từ làm, còn đã thấy cần phải làm (do nhu cầu các địa phương, các tầng lớp Nhân dân trong thực tiễn đòi hỏi) thì phải tập trung làm cho cả nước, song Quốc hội đồng thời là cơ quan xong. Không thể chấp nhận việc có những quyền lực nhà nước cao nhất để lập hiến, lập dự án luật “treo” đến cả chục năm mà không pháp và quyết định những vấn đề quan trọng thông qua được trong khi cuộc sống đòi hỏi nhất của đất nước thì ĐBQH phải là những phải có luật, những trường hợp như vậy người giỏi nhất, có đức độ nhất từ những địa được xem là có sự lãng phí trong quá trình phương, những tầng lớp nhân dân mà họ là làm luật. đại diện. Có như vậy, họ mới đủ năng lực và phẩm chất để thay mặt Nhân dân quyết nghị Đành rằng, để việc làm luật của Quốc những vấn đề liên quan đến sự phát triển hội có hiệu quả còn đòi hỏi hoạt động của của đất nước. Do vậy, theo chúng tôi, việc các bộ phận khác có liên quan đến dự án giới thiệu ứng viên vào ĐBQH phải thật cẩn luật như soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và thận, bởi chúng ta vẫn nói rằng, cử tri phải trình dự thảo luật cũng phải có hiệu quả. Tuy thật sáng suốt khi lựa chọn, song trên thực nhiên, các bộ phận này cũng chỉ là những tế cử tri của chúng ta không có thông tin bộ phận giúp cho hoạt động của Quốc hội, đầy đủ về các ứng cử viên nên họ thường ĐBQH được tốt hơn, người quyết định cuối bị nhầm khi lựa chọn. Bên cạnh đó, đại biểu cùng vẫn phải là ĐBQH. Quốc hội, ĐBQH Quốc hội cần phải được bồi dưỡng những phải chịu trách nhiệm về số lượng, chất kiến thức cần thiết về pháp luật và kỹ năng lượng, hiệu quả của các luật đã được thông đại biểu để có đủ năng lực tham gia làm luật, qua, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm sửa đổi luật, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. về tình trạng thiếu luật điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng. - Nâng cao nhận thức của Quốc hội, của ĐBQH về trách nhiệm làm luật của - Cần tổng kết, đánh giá dưới phương mình. Luật là một văn kiện quy định những diện hiệu quả, rút kinh nghiệm về hoạt động vấn đề quan trọng liên quan đến sự phát triển làm luật đối với cả Quốc hội và từng ĐBQH. của đất nước trên phạm vi toàn xã hội, trong Đánh giá hoạt động lập pháp của Quốc hội một thời gian khá dài. Trên thế giới đã có không nên dừng lại là đã thông qua được những luật, bộ luật nổi tiếng không chỉ trong bao nhiêu luật trong nhiệm kỳ, mà còn phải nước mà còn ở phạm vi thế giới, tồn tại hàng đánh giá cả chất lượng của các luật đã được chục đến cả trăm năm. Do vậy, không thể thông qua, hiệu quả thực tiễn của chúng sau xem thường hoạt động này bởi nó liên quan những khoảng thời gian thực hiện nhất định. đến lợi ích của rất nhiều người. Quốc hội, Tổng kết đánh giá cả những chi phí cho việc cũng như từng ĐBQH phải ý thức được làm làm các luật đó mà còn phải đánh giá cả tinh luật là nhiệm vụ, quyền hạn, song cũng là thần thái độ, kết quả hoạt động của các bộ vinh dự, trách nhiệm cao cả của mình trước phận, cơ quan, từng ĐBQH đã tham gia làm nhân dân đối với đất nước. luật đó như thế nào. Những thông tin đó nên - Những chi phí về các nguồn lực cho được công bố để cử tri biết. Cử tri có biết việc làm luật phải theo tinh thần tiết kiệm, được đại biểu của họ hoạt động như thế nào, sao cho có thể chấp nhận được trong điều kiện hiện nay của đất nước. Như trên đã đại biểu có tham gia hay không tham gia tích bàn, để làm được những luật, bộ luật có chất cực vào các hoạt động làm luật của Quốc lượng, có hiệu quả cao, Nhân dân không tiếc hội, trên cơ sở đó mới có thể bỏ phiếu miễn tiền của, công sức, song không có nghĩa là nhiệm (nếu cơ quan có thẩm quyền tổ chức muốn chi bao nhiêu cũng được mà không bỏ phiếu miễn nhiệm đối với đại biểu) hoặc tiết kiệm. Theo chúng tôi, nếu thấy chưa cần bỏ phiếu cho đại biểu tái cử ở những lần bầu thiết về một luật nào đó thì không tiến hành cử sau■ 8 Số 16(368) T8/2018
  9. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT KỸ NĂNG GIÁM SÁT TỐI CAO VỀ XEM XÉT BÁO CÁO Bùi Ngọc Thanh* * TS. Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Thông tin bài viết: Tóm tắt: Từ khóa: giám sát tối cao, xem xét Trong bảy hình thức giám sát tối cao của Quốc hội được quy định báo cáo công tác, kỹ năng của đại biểu tại Điều 11 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Quốc hội nhân dân năm 2015 thì hình thức xem xét báo cáo công tác là hình Lịch sử bài viết: thức duy nhất diễn ra thường xuyên ở tất cả các kỳ họp của Quốc hội trong mỗi khóa. Bởi vậy, khi bàn về kỹ năng hoạt động giám Nhận bài : 20/07/2018 sát thì trước hết cũng ưu tiên bàn về kỹ năng giám sát của hình thức Biên tập : 01/08/2018 giám sát này. Duyệt bài : 10/08/2018 Article Infomation: Abstract Keywords: superime supervision; Of the seven types of superime supervisions by the National review of performance report; skills of Assembly specified in Article 11 of the Law on Supervisory National Assembly deputies. Activities of the National Assembly and People’s Councils of Article History: 2015, the supervision of reviewing the performance report is the Received : 20 Jul. 2018 only one that usually takes place at every meeting sessions of the National Assembly. Therefore, when the discussions on the skills Edited : 01 Aug. 2018 of the supervisory activities, it is first of all important to discuss the Approved : 10 Aug. 2018 supervisory skills of this supervision of reviewing the performance reports. I. Các quy định pháp lý về hoạt động giám hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo sát tối cao tại kỳ họp Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; Hiện nay có 3 văn bản pháp luật chủ xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy yếu quy định về hoạt động giám sát tối cao ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chính của Quốc hội tại kỳ họp, đó là: phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát - Hiến pháp năm 2013: Điều 70 nói nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, tại gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác khoản 2 Điều này quy định, Quốc hội thực do Quốc hội thành lập. Số 16(368) T8/2018 9
  10. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT - Luật tổ chức Quốc hội năm 2014: đương nhiên là các đại biểu Quốc hội sẽ Điều 6 ghi lại như Điều 70 Hiến pháp năm chấp nhận, thậm chí là tán dương. Tuy 2013. nhiên, chấp nhận hay tán dương cũng phải - Luật Hoạt động giám sát của Quốc lập luận với lý lẽ sắc bén (nếu không muốn hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) năm bị đánh giá là “mù tịt, chẳng biết gì nên toàn 2015: Điều 11 nói về các hoạt động giám sát khen “phò mã tốt áo”, nói cho qua chuyện”) tối cao của Quốc hội, trong đó khoản 1 ghi Muốn thế phải có thông tin, thông tin càng lại như Điều 70 của Hiến pháp năm 2013; “đắt giá” càng tốt. khoản 4 xem xét báo cáo giám sát chuyên Đối với thông tin sai, không chuẩn đề; khoản 5 xem xét báo cáo của Ủy ban lâm xác, đương nhiên là phải chứng minh. Tùy thời do Quốc hội thành lập để điều tra về từng vấn đề mà có thể chứng minh bằng lý một vấn đề nhất định; khoản 7 xem xét báo lẽ hay bằng số liệu hoặc cả hai. Lý lẽ và số cáo của UBTVQH về kiến nghị giám sát của liệu phải làm bật ra sự mâu thuẫn giữa báo UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của cáo và thực tế. Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại Đối với thông tin có đúng, có sai thì biểu Quốc hội. phải bóc tách ra điểm nào đúng, điểm nào Xin bàn thêm về kỹ năng xem xét các sai; chi tiết nào đúng, chi tiết nào sai. Đúng báo cáo theo Điều 13 của Luật Hoạt động vì sao, sai vì sao; chứng minh đúng, sai bằng giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015. lập luận, bằng thông tin của mình đã thu thập II. Kỹ năng giám sát tối cao tại kỳ họp về và đã được kiểm chứng. xem xét báo cáo công tác Đối với thông tin chưa rõ đúng, sai Xét về thời gian thì có hai loại báo cáo thế nào thì phải yêu cầu làm rõ, sẽ phải chất công tác tại kỳ họp của Quốc hội, đó là báo vấn. Tuy nhiên đại biểu phải chứng minh cáo hằng năm và báo cáo cuối nhiệm kỳ. Và cho được thông tin đó không đủ rõ là như cũng có thể chia làm hai loại kỹ năng, đó thế nào (giả dụ, cùng một việc nhưng ở đoạn là kỹ năng chung để xem xét mọi loại báo này thì nhận định là tốt; đến đoạn khác thì cáo và kỹ năng riêng để xem xét từng loại lại coi là hiện tượng xấu...). báo cáo. Trong quá trình xem xét (giám sát) 1.2 Kỹ năng trình bày (nói). Trước thì lại phải phối hợp cả hai loại kỹ năng với hết cần lưu ý là, chỉ có ở lễ kỷ niệm trọng nhau. thể một ngày lịch sử hay ở một đại hội thì 1. Những kỹ năng chung diễn văn hay báo cáo chính trị mới được đọc nguyên văn, còn đã là phát biểu ý kiến thì 1.1 Kỹ năng phản biện. Xem xét báo chủ yếu phải trình bày miệng (không nên nối cáo chính là phải thể hiện chính kiến (đúng, tiếp nhau đọc các bài viết sẵn như diễn văn, sai; hợp lý, không hợp lý thế nào; đó chính nhiều khi nhàm chán vì lặp đi lặp lại thông là phản biện). Xét về nội dung thông tin tin). Kỹ năng trình bày miệng (nói vo) cũng của báo cáo, trong các báo cáo thường xảy không dễ, do vậy phải tự rèn luyện. Những ra bốn tình huống: một là, thông tin đúng, lần đầu có thể phụ thuộc văn bản, giấy tờ chuẩn xác; hai là, thông tin sai, không chuẩn 80-90%, sau đó rèn luyện trí nhớ, “ly khai” xác; ba là, thông tin có đúng, có sai; bốn là, dần văn bản, giấy tờ, tới mức chỉ còn phụ thông tin không rõ đúng, sai thế nào. Ngoài thuộc 15-20% là đạt yêu cầu. Nghĩa là chỉ ra, có thể còn có thông tin lạc đề. cần đề cương sơ lược là có thể phát biểu Đối với thông tin đúng, chuẩn xác, được. Khoa học quản lý đã kết luận rằng, 10 Số 16(368) T8/2018
  11. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT người cầm giấy đọc đều đều như ru ngủ thì các đại biểu đều sử dụng hết thời lượng 7 người nghe giỏi lắm cũng chỉ vào tai độ 20% phút cho phép, có một số đại biểu nói quá nội dung bài đọc; còn nói vo mà súc tích, dí thời lượng do chuẩn bị quá nhiều nội dung; dỏm, người nghe có thể tiếp thu 80-90% ý do quá giờ nên bị Chủ tọa ngắt lời. Do vậy, kiến. Người ta thường đánh giá, người nói đại biểu nên cân nhắc “tuân thủ” một số vấn vo, súc tích bao giờ cũng thông minh hơn đề như là các “nguyên tắc”. nhiều so với người cầm giấy mà đọc (cầm - Tuân thủ nghiêm ngặt thời lượng giấy đọc thì chỉ cần thoát nạn mù chữ là làm được phép sử dụng để chuẩn bị bài nói vừa được). Có ba cách (phương pháp) lựa chọn vặn với thời lượng đó. Không nên viết quá ngôn ngữ để trình bày ý kiến: dài, nhiều vấn đề vì sẽ phải nói quá thời - Trình bày theo ngôn từ “bác học”, lượng. Nói dài, bị ngắt lời sẽ gây ra cảm giác nghĩa là tất cả các vấn đề, mọi chi tiết đều dang dở, sức lan tỏa của ý kiến phát biểu bị được diễn đạt bằng các luận cứ và ngôn hạn chế. Do đó chỉ nên lựa chọn một, hai ngữ khoa học. Ưu điểm của phương pháp vấn đề phù hợp với thời lượng cho phép, đó này là mọi sự kiện, mọi hiện tượng đều có là những vấn đề mình nắm chắc thông tin khả năng luận giải đến tận cùng. Nhưng có (cả lý luận và thực tiễn) và cảm thấy tâm đắc nhược điểm là không phải ai cũng hiểu cặn nhất và có đóng góp thiết thực; chắc chắn sẽ kẽ được tất cả các vấn đề khoa học, nhất là được nhiều người quan tâm hơn. những vấn đề kỹ thuật, chuyên môn hẹp và - Chọn lọc những chi tiết thông tin khó. “đắt giá” nhất cho mỗi vấn đề diễn đạt trong - Trình bày, diễn đạt bằng phương bài nói. Sử dụng những ngôn từ đặc trưng pháp “dân dã” một vấn đề nào đó, có thể nhất để lột tả sự việc một cách hợp lý, chính dẫn ra một vài việc thực tế, là người nghe xác nhất. có thể hiểu được. Ưu điểm của phương pháp - Các kiến nghị, các giải pháp nhất này là hầu như ai cũng hiểu, cũng nắm được thiết phải “ăn nhập”, logic với tình hình (hết vấn đề. Nhưng có nhược điểm là không thể sức tránh tình hình một đàng, kiến nghị một cắt nghĩa được cặn kẽ, lý giải đến tận cùng nẻo). được nhiều vấn đề, nhiều hiện tượng mang - Xem lại và tự trình bày một vài lần, tính khoa học. ngẫm nghĩ xem bản thân mình nghe có “lọt - Kết hợp từ ưu, nhược điểm của hai tai” không; sửa chữa tới mức mình ưng ý phương pháp trên để trình bày, có vấn đề nhất trước khi được phát biểu. trình bày bằng luận cứ, ngôn ngữ khoa học, Khi đã chuẩn bị chu đáo, nhuần nhuyễn có vấn đề được ví dụ bằng thực tiễn. Cấp độ, rồi thì như đã nói, nên trình bày, diễn đạt liều lượng kết hợp tùy nội dung đang được bằng lời nói diễn cảm sẽ có tính thuyết phục trình bày và tùy thuộc khả năng tri thức, hơn là cầm giấy đọc. trình độ thực tiễn và sự nhạy cảm của người 1.4 Kỹ năng tiếp nhận, xử lý thông trình bày. Hiện nay phương pháp kết hợp là tin. Các kỹ năng nói trên phụ thuộc nhiều phương pháp thông dụng được sử dụng rộng vào kỹ năng này. Mỗi đại biểu phải tạo cho rãi ở tất cả các phiên thảo luận kinh tế -xã mình một “kho” tư liệu và tích lũy kiến thức hội, giám sát chuyên đề, thảo luận dự án luật đạt tới mức phong phú và đa dạng. Có thể ví lần đầu và trong nhiều trường hợp khác. như làm một mâm cỗ ngon thì phải có nhiều 1.3 Kỹ năng chuẩn bị một bài phát loại thực phẩm ngon, tươi sống, phong phú biểu. Thực tế các kỳ họp cho thấy, hầu hết và đầy đủ gia vị cần thiết. Số 16(368) T8/2018 11
  12. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT - Có nhiều cách tiếp nhận thông tin, có 2. Kỹ năng riêng đối với mỗi loại báo cáo thể đọc tài liệu, đọc sách, báo, tạp chí; có thể Trên thực tế, có khá nhiều loại báo cáo nghe đài, xem truyền hình; nghe truyền đạt, trình Quốc hội để xem xét (giám sát), nhưng nghe nói chuyện, nghe thảo luận; tìm kiếm để gọn vấn đề, xin được phân chia theo “lô trên các trang mạng... Vấn đề quan trọng lớn” gồm 3 loại báo cáo: Báo cáo về lĩnh vực là khi đọc, nghe, xem, nhìn, nếu có những công tác lập pháp; báo cáo về các hoạt động thông tin thú vị, cần thiết thì phải lưu lại; của lĩnh vực hành pháp; báo cáo công tác thông tin “đắt giá” thì phải đánh dấu, có ký về lĩnh vực tư pháp. Để xem xét một cách hiệu lưu ý để dễ tra cứu. đúng hướng thì đại biểu phải nắm vững chức - Phải tiếp nhận thông tin nhanh năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi loại cơ chóng, nhạy bén và sàng lọc giỏi; phải có quan mà mình xem xét báo cáo. phương pháp đọc để đọc nhanh khi ít thời 2.1 Kỹ năng xem xét báo cáo về công gian, thâu tóm thông tin chính xác; phải có tác thuộc lĩnh vực lập pháp. Đó là các báo phương pháp nghe và tinh ý khi nghe để loại cáo của UBTVQH hàng năm và cả nhiệm bỏ những thông tin vu vơ; phải biết tổng kỳ về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hợp “cô đặc” thông tin và nhận định giá trị của Quốc hội và UBTVQH. Báo cáo thường của nó và sử dụng hợp lý. Trong 7 bậc nhận tập trung vào 3 chức năng của Quốc hội là thức: Biết, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Tổng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề hợp, Đánh giá và Sáng tạo thì bậc nào cũng quan trọng của đất nước. Gần đây có thêm quan trọng, nhưng đánh giá và sáng tạo là một phần về hoạt động đối ngoại (ngoại giao vô cùng quan trọng đối với người đại biểu Nghị viện). Quá trình xem xét (giám sát), về dân cử. kỹ năng cần chú ý một số vấn đề sau. - Trong mỗi kỳ họp, đại biểu thường - Có thể coi đây là bản kiểm điểm thực được cung cấp khá nhiều tài liệu chính thức thi quyền hạn, nhiệm vụ của Quốc hội, trong và tham khảo. Nếu không có phương pháp đó có trách nhiệm (hoạt động) của từng đại đọc sẽ không nắm được cốt lõi của mỗi văn biểu dân cử. Vì thế, việc xem xét phải khách bản. Có thể xem qua bố cục, các mục lớn, quan, trung thực và sâu sát; phải nắm chắc rồi xem kỹ những vấn đề mình quan tâm chương trình, nội dung, yêu cầu của mỗi nhất hay trọng tâm nhất. loại nhiệm vụ (xây dựng luật và pháp lệnh; - Phải luyện tập để có đầu óc phân tích, chương trình hoạt động giám sát; những vấn tổng hợp thông tin theo chuyên đề, theo lĩnh đề cần quyết định; chương trình hoạt động vực, tìm ra mối liên hệ giữa thông tin này đối ngoại); nắm vững kết quả thực hiện mỗi với thông tin khác; thông tin nào là nguyên loại nhiệm vụ, nhất là những vụ việc mà nhân, thông tin nào là kết quả và ngược lại. mình đã tham gia. Một khi đại biểu dân cử đã có phương - Ba chức năng của Quốc hội được thể pháp tiếp nhận thông tin, phân tích, tổng hợp, hiện thành nhiệm vụ cụ thể hàng năm và cả tìm thấy mối liên hệ giữa các thông tin thì nhiệm kỳ đều có phạm vi rộng lớn do nhiều chắc chắn hoạt động giám sát của đại biểu cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu sẽ ngày càng có hiệu quả. Tổng quát lại là, Quốc hội cùng tiến hành, bởi vậy, cần phải đại biểu dân cử phải cần mẫn, nhẫn nại, chịu làm rõ “lát cắt” phân công nhiệm vụ cho mỗi khó ghi chép, cập nhật thông tin và phân loại. chủ thể tham gia. Tuyệt đại bộ phận các dự Chịu khó nghe, chắt lọc thông tin trong hội án luật, pháp lệnh đều do Chính phủ và các họp, làm việc là một phương pháp làm việc chủ thể ngoài Quốc hội trình Quốc hội, do khoa học, có trách nhiệm và có chất lượng. đó, khi xem xét phải làm rõ trách nhiệm của 12 Số 16(368) T8/2018
  13. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT cơ quan trình dự án. Đồng thời, cũng phải mức độ đánh giá trong báo cáo có sát thực làm rõ trách nhiệm chỉ dạo, phân công, phối tiễn không. Ví dụ, trong một số báo cáo hàng hợp ở từng công đoạn và toàn bộ quy trình; năm của Chính phủ thường có câu: tình hình trách nhiệm chuẩn bị của UBTVQH; tinh chính trị, kinh tế, quốc phòng, trật tự, an toàn thần làm việc, trách nhiệm của đại biểu... xã hội được ổn định và giữ vững... Thực ra Nhân đây chúng tôi cũng xin được nói trong câu này phải phân biệt hai vế (hai vấn thêm rằng, khi giám sát chính mình thì hầu đề) để có nhận định thỏa đáng. Chính trị, như đại biểu Quốc hội cũng chưa thật sự làm kinh tế, quốc phòng đươc ổn định và được việc hết mình, chưa mạnh dạn phát biểu đầy giữ vững là chính xác. Còn trật tự, an toàn xã đủ mọi mặt, mọi góc cạnh của từng vấn đề. hội thì khác. Thời gian gần đây và hiện nay, Các báo cáo hàng năm rất ít được giám sát tình hình trật tự, an toàn xã hội hết sức đáng độc lập. lo ngại. Các vụ án giết người hàng loạt (kể cả giết nhiều người trong một gia đình) đã xảy 2.2 Kỹ năng xem xét các báo cáo ra. Tình trạng chống người thi hành công vụ thuộc lĩnh vực hành pháp. Đây là lĩnh vực cũng không hiếm; việc đi lại của công dân mà hàng năm cũng như cả nhiệm kỳ đều có không an toàn... Những năm gần đây, các nhiều báo cáo nhất. Trong đó, trọng tâm là cuộc biểu tình tự phát gây náo loạn ở một số các vấn đề kinh tế - xã hội, tài chính, ngân nơi có chiều hướng ngày càng nghiêm trọng... sách, an sinh xã hội... Như vậy khái quát chung như báo cáo là chưa - Trước hết, đại biểu dân cử phải nắm chính xác, nếu không muốn nói là chưa đúng chắc luật pháp, chính sách, thậm chí là các sự thật. Vì vậy, cần phải bóc tách vấn đề, so khái niệm cơ bản về các lĩnh vực đó. Ví dụ, sánh để chính xác hóa tình hình. Cần lưu ý nói về tăng trưởng kinh tế, phải hiểu rõ nội là, từ nhận định sẽ đi đến giải pháp, nếu cứ hàm của GDP là gì, những nhân tố nào tác nhận định là tình hình trật tự, an toàn xã hội động tới nó; trong điều kiện nào tăng lên là đã được giữ vững thì có thể có lúc, có nơi sẽ tốt, là bền vững và ngược lại. lơ là, mất cảnh giác! - Nên chọn trước những vấn đề thuộc - Cần hệ thống hóa tình hình trong lĩnh vực mình đã và đang hoạt động, trong nhiều kỳ họp để làm rõ hoặc xử lý hợp lý một đó cũng nên ưu tiên những việc mình nắm số vấn đề. Tại sao khi xây dựng kế hoạch thu chắc thông tin và có nhiều kinh nghiệm. Ở chi ngân sách thì lần nào cũng căng thẳng, một số kỳ họp Quốc hội, có đại biểu luôn so chật vật trong cân đối thu chi, trong đó báo sánh giữa cơ cấu kinh tế với cơ cấu lao động cáo thường nói tình hình rất “thảm thiết” do để đánh giá sự tiến bộ của việc đổi mới cơ những khó khăn về nguồn thu, mức thu, vậy cấu nền kinh tế. Đây là một kỹ năng đáng mà tại sao năm nào cũng vượt mức kế hoạch ghi nhận, vì giữa chuyển đổi cơ cấu kinh tế thu, có năm vượt cả nghìn tỷ đồng? Có phải và chuyển dịch cơ cấu lao động nói chung là cố tình “đánh đố”, nêu khó khăn để khẳng phải ăn khớp với nhau (tỷ trọng lao động định thành tích hay không? khu vực nông nghiệp giảm thì tỷ trọng lao - Cần phân tích rõ ràng, minh bạch hơn đông khu vực công nghiệp, dịch vụ thường những con số và tình hình mà lần nào Quốc tăng lên; tỷ trọng giá trị công nghiệp, dịch hội cũng phải “miễn cưỡng” chấp nhận. Ví vụ trong tổng GDP cũng thường tăng lên); dụ, luôn báo cáo là hàng năm đã giải quyết nếu thấy bất thường thì cần phân tích, mổ xẻ được việc làm cho 1,5 đến 1,6 triệu lao động. để làm rõ thực chất... Các con số này là thống kê cộng dồn từ các - Cần so sánh giữa vĩ mô và thực tế tỉnh, thành hay là điều tra chọn mẫu rồi suy ở vi mô xem có khác biệt gì không, để xem rộng? Tỷ lệ thất nghiệp rất thấp nhưng tại Số 16(368) T8/2018 13
  14. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT sao số người cụ thể thiếu việc làm và thất chính trị để xem xét, đối chiếu, đánh giá các nghiệp toàn phần lại lớn vậy? Tại sao rừng báo cáo tư pháp. bị tàn phá ngày càng dữ dội (phá cả rừng đầu - Ở bất kỳ lĩnh vực nào thì cán bộ (con nguồn, rừng phòng hộ) mà sao tỷ lệ độ che người trong bộ máy) đều có vai trò quyết phủ lại đạt cao thế, vượt cả độ che phủ rừng định đến kết quả công việc, công tác tư pháp theo thống kê trước Cách mạng tháng Tám liên quan trực tiếp đến sinh mệnh con người 1945?... thì cán bộ tư pháp càng có vai trò đặc biệt Tóm lại, cần phải phát hiện cho được quan trọng. Vì vậy, nên xem xét kỹ lưỡng những mâu thuẫn, những bất hợp lý, những phần bộ máy và cán bộ trong các báo cáo. hiện tượng trái chiều, không bình thường để đi đến đề xuất các giải pháp tương thích, hợp Vì sao trong hơn 30 năm đổi mới mà lý, có hiệu quả. Điều đó đặt ra yêu cầu đối xã hội lại xảy ra quá nhiều vụ án và có xu với đại biểu Quốc hội là phải nhanh chóng hướng ngày càng tăng? Tại sao phạm nhân mở mang kiến thức, nắm vững luật pháp, chí lại ngày càng “trẻ hóa”? Tại sao trong lĩnh thú với công việc. Đại biểu Quốc hội phải vực tư pháp lại để xảy ra quá nhiều vụ án làm việc cật lực nếu mong muốn có đóng oan gây chấn động dư luận xã hội; vì sao góp thực sự và “được cử tri biết đến”. cán cân công lý lại bị xô lệch như vậy? Đây 2.3 Kỹ năng xem xét báo cáo công tác là những câu hỏi chung nhất có tính chất tìm thuộc lĩnh vực tư pháp. Đây là các báo cáo “điểm tiếp cận” để làm rõ hiện tình công tác công tác hàng năm và cả nhiệm kỳ của Tòa tư pháp; làm rõ (đánh giá) tình hình đội ngũ án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cán bộ tư pháp. tối cao và một số báo cáo của Chính phủ về - Chiến lược cải cách tư pháp đến công tác thi hành án, công tác phòng, chống năm 2020 và nhiệm vụ trọng tâm của công vi phạm pháp luật. Một số báo cáo thuộc tác tư pháp đều nhấn mạnh nhiệm vụ: Xây lĩnh vực tư pháp thường có nhược điểm là dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư rất nhiều số liệu, rất nhiều tình hình nhưng pháp trong sạch, vững mạnh. Vậy, sau 15 thiếu tính đúc rút, tổng kết, khái quát; thiếu năm thực hiện, bây giờ đội ngũ này số lượng dự báo tình hình và biện pháp xử lý cụ thể... và chất lượng như thế nào? Lý giải như thế - Về kỹ năng xem xét, cũng như các nào tình trạng lãnh đạo cấp cao trong lĩnh báo cáo thuộc các lĩnh vực khác, đại biểu vực tư pháp có không ít người phạm nhiều Quốc hội phải nắm vững những nội dung cơ trọng tội? Có báo cáo nào nói rõ ngọn ngành bản của luật pháp thuộc lĩnh vực này, nhất những vấn đề này chưa? Ở đây không có kỹ là Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, năng nào hơn ngoài việc chất vấn đến cùng Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật để làm rõ vấn đề... Thi hành án…, phải nắm chắc những quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ Nhìn chung, có thể tóm tắt như sau: cơ bản của công dân được Hiến pháp năm Kỹ năng chính là trình độ am hiểu pháp luật; 2013 quy định. Đồng thời, phải nắm chắc là trình độ am hiểu chuyên môn nghiệp vụ những nội dung quan trọng của Nghị quyết nhiều lĩnh vực; là trình độ phân tích, tổng 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết hợp thông tin, đánh giá và sáng tạo; là số 49 ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Ban phương cách diễn đạt nội dung theo một trật chấp hành trung ương khóa IX về Một số tự hợp lý nhất, bằng ngôn từ trong sáng, hấp nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp và dẫn và dễ tiếp thu nhất. Tổng hợp các nội Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. dung đó chính là kỹ năng của người đại biểu Đó là những căn cứ pháp lý, là tư tưởng Quốc hội■ 14 Số 16(368) T8/2018
  15. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT BẢO LƯU ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆT NAM Phạm Thị Bắc Hà* * ThS. Bộ môn Công pháp quốc tế, Khoa Pháp luật Quốc tế, Đại học Luật Hà Nội. Thông tin bài viết: Tóm tắt: Từ khóa: bảo lưu điều ước quốc tế, Bên cạnh việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về quyền con điều ước quốc tế về quyền con người, người, với tư cách là một thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế, tuyên bố bảo lưu của Việt Nam. Việt Nam đang tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế của Lịch sử bài viết: mình. Để có thể thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế trong điều kiện đất nước và phù hợp với tinh thần chung của Luật Quốc tế, bảo lưu Nhận bài : 01/03/2018 điều ước quốc tế về quyền con người là phương thức Việt Nam đã và Biên tập : 22/05/2018 đang thực hiện khi tham gia ký, phê chuẩn, phê duyệt hay gia nhập Duyệt bài : 01/06/2018 một số điều ước quốc tế đa phương về quyền con người. Article Infomation: Abstract Keywords: reservation of international In addition to signing and accession to the international treaties on treaties; international treaties on human rights, as an active member of the international community, human rights; reservation declaration Vietnam is committed to its commitment fulfillment to the signed of Vietnam international. In order to fully implement international commitments Article History: in the context of the country and in line with the general spirit of Received : 01 Mar. 2018 the international laws, the reservation of international treaties on human rights is a method that Vietnam has been followed during Edited : 22 May 2018 its conclusion, ratification, approval or accession to a number of Approved : 12 Jun. 2018 multilateral treaties on human rights. 1. Các điều ước quốc tế đa phương về quyền quốc tế với các quốc gia và các tổ chức quốc con người mà Việt Nam là thành viên tế trên nhiều lĩnh vực bao gồm cả quyền Là một thành viên có trách nhiệm của con người. cộng đồng quốc tế, góp phần xây dựng trật Đối với Việt Nam, quyền con người tự chính trị và kinh tế công bằng, dân chủ1, vừa là những giá trị phổ quát được thừa Việt Nam đang hội nhập sâu rộng, hợp tác nhận rộng rãi đồng thời cũng phản ánh 1 Văn kiện Đại hội Đảng XI và Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị. Số 16(368) T8/2018 15
  16. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT những giá trị truyền thống của một dân tộc, kiện gia nhập 2 công ước tiếp theo là Công phản ánh thành quả của cuộc cách mạng giải ước về Quyền dân sự và chính trị năm 1966, phóng dân tộc giành độc lập, tự do. Chính Công ước về Quyền kinh tế, xã hội và văn vì thế, hơn 70 năm qua, Nhà nước Việt Nam hóa năm 1966. luôn nhất quán chủ trương tăng cường hợp - Ngày 4/6/1983, Việt Nam tiếp tục gia tác quốc tế và tham gia các điều ước quốc nhập Công ước Không áp dụng những hạn tế (ĐƯQT) về quyền con người nhằm thúc chế luật định đối với tội phạm chiến tranh và đẩy và bảo đảm các quyền của cá nhân theo tội phạm chống loài người năm 1968; đúng các chuẩn mực quốc tế. - Phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ Việt Nam bắt đầu tích cực tham gia em năm 1989 vào ngày 28/2/1990. Tháng các ĐƯQT quan trọng về quyền con người 12/2001, Việt Nam gửi thư phê chuẩn hai ngay vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, Nghị định thư Tùy chọn bổ sung Công ước trong bối cảnh kinh tế trong nước còn gặp về quyền trẻ em là Nghị định thư về Sử dụng nhiều khó khăn, phải nhờ vào sự viện trợ, trẻ em trong xung đột vũ trang và Nghị định giúp đỡ của các quốc gia trong khối XHCN. thư về Buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và Việc khôi phục lại đất nước sau chiến tranh văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em. cũng là một gánh nặng quá sức đối với một - Ngày 5/ 2/2015, Việt Nam phê chuẩn dân tộc đã chịu quá nhiều mất mát trong Công ước về Quyền của người khuyết tật thời kỳ kháng chiến. Tuy nhiên, vượt lên tất năm 2006 và Công ước Chống tra tấn năm cả, việc tham gia các ĐƯQT về quyền con 1984. người của Việt Nam trong thời kỳ này là một Như vậy, trong tổng số 13 công ước minh chứng đối với cả thế giới về nỗ lực quốc tế quan trọng về quyền con người, Việt của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong sự Nam đã chính thức trở thành thành viên của nghiệp bảo vệ quyền con người. 10 công ước. Đối với các công ước quốc tế Kể từ khi Tuyên ngôn thế giới về Nhân còn lại như Công ước về Quyền của người quyền được thông qua cho đến nay, đã có lao động di cư và thành viên gia đình họ 13 công ước quốc tế được coi là các ĐƯQT năm 1990, Công ước về Bảo vệ quyền của quan trọng về quyền con người được ký kết mọi người khỏi bị cưỡng bức mất tích năm trong khuôn khổ Liên hiệp quốc (LHQ). Với 2006… Việt Nam đang nghiên cứu, xem xét tư cách thành viên LHQ, đến nay Việt Nam về khả năng tham gia các công ước này. đã phê chuẩn và gia nhập hầu hết các công Bên cạnh các công ước quốc tế về ước quốc tế về quyền con người: quyền con người ở cấp độ toàn cầu, được - Ngày 9/6/1981, Việt Nam gửi văn ký kết trong khuôn khổ LHQ, Việt Nam kiện gia nhập 3 công ước quốc tế đầu tiên còn tham gia một số văn kiện về quyền con về quyền con người là Công ước về Ngăn người của ASEAN. Tuy nhiên, các văn kiện ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948, về quyền con người của ASEAN chủ yếu là Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân các văn kiện mang tính chính trị chứ chưa biệt chủng tộc năm 1965, Công ước về Ngăn ràng buộc về pháp lý. ngừa và trừng trị tội Apacthai năm 1973. 2. Nội dung tuyên bố bảo lưu của Việt - Việt Nam gia nhập Công ước về Xóa Nam đối với các điều ước quốc tế về quyền bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ con người nữ năm 1979 vào ngày 19/3/1982. Việc tham gia các ĐƯQT về quyền - Ngày 24/9/1982, Việt Nam gửi văn con người trong thời gian qua, đã góp phần 16 Số 16(368) T8/2018
  17. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT giúp Việt Nam bảo đảm và thúc đẩy tốt hơn và chính trị và Công ước về các Quyền kinh các quyền con người, quyền công dân trên tế, văn hóa và xã hội phát sinh hiệu lực lần lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, việc tham lượt từ ngày 3/1/19762 và ngày 23/3/19763. gia các ĐƯQT này cũng đặt ra một số vấn Năm 1982, Việt Nam gia nhập hai Công ước đề: (i) quy định của một số ĐƯQT về quyền với tuyên bố: “Quy định tại Điều 48 khoản con người chưa có sự tương thích với pháp 1 Công ước về quyền dân sự chính trị và luật Việt Nam; (ii) một số quy định còn có Điều 26 khoản 1 Công ước về quyền kinh khả năng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi tế, văn hóa và xã hội mang tính phân biệt ích của Việt Nam trong quan hệ quốc tế; làm hạn chế cơ hội tham gia Công ước của (iii) ĐƯQT về quyền con người cũng đặt một số quốc gia. Chính phủ nước CHXHCN ra nhiều nghĩa vụ mà một quốc gia khi trở Việt Nam cho rằng, phù hợp với nguyên tắc thành thành viên cần phải thực hiện. Chính bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, vì những vấn đề nêu trên nên Việt Nam khá Công ước nên được mở cho tất cả các quốc thận trọng khi quyết định tham gia một số gia tham gia không có bất kỳ sự phân biệt ĐƯQT về quyền con người, đồng thời cũng hoặc giới hạn nào”4. Tuyên bố của Việt Nam cân nhắc thực hiện quyền bảo lưu một số quy liên quan đến Điều 48 khoản 1 Công ước về định của ĐƯQT. Bảo lưu của Việt Nam đối Quyền dân sự chính trị năm 1966 và Điều với các ĐƯQT về quyền con người thường 26 khoản 1 Công ước về Quyền kinh tế, văn liên quan đến: hóa và xã hội năm 1966. Đây là hai điều - Quy định hạn chế quyền tham gia khoản quy định ở hai công ước khác nhau ĐƯQT của các quốc gia. nhưng đều chung nội dung là: “Công ước này để ngỏ để các nước thành viên của LHQ - Quy định về thẩm quyền của các hoặc thành viên của bất kỳ tổ chức chuyên thiết chế quốc tế được thành lập trên cơ sở môn nào của LHQ hoặc cho các nước tham các ĐƯQT. gia Quy chế Toà án quốc tế, cũng như những - Quy định về thẩm quyền của các cơ nước khác được Đại hội đồng LHQ mời quan tài phán quốc tế trong việc giải quyết tham gia Công ước này ký”5. Theo đó, tuyên các tranh chấp liên quan đến giải thích hay bố Việt Nam đưa ra là nhằm bảo lưu đối với thực hiện ĐƯQT. hai điều khoản này và cụ thể là hướng đến - Quy định về dẫn độ trên cơ sở các việc sửa đổi hiệu lực, phù hợp với nguyên ĐƯQT tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia. a. Nội dung tuyên bố bảo lưu Công Việt Nam bảo lưu theo hướng mở rộng sự ước về các Quyền dân sự, chính trị và Công tham gia ĐƯQT cho tất cả các quốc gia mà ước về các Quyền kinh tế, xã hội, văn hoá không có bất kỳ sự phân biệt nào. năm 1966 b. Nội dung tuyên bố bảo lưu một số Đây là hai công ước được thông qua ĐƯQT khác về quyền con người trong khuôn khổ Đại hội đồng LHQ vào ngày * Bảo lưu quy định hạn chế quyền 16/12/1966. Công ước về các Quyền dân sự tham gia của các quốc gia 2 Căn cứ Điều 27 Công ước về Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. 3 Căn cứ theo Điều 49 Công ước về các Quyền dân sự, chính trị; riêng quy định tại Điều 41 về Ủy ban nhân quyền đến ngày 28/3/1979 mới phát sinh hiệu lực phù hợp với Khoản 2 Điều 41. 4 https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=IV-3&chapter=4&clang=_en#EndDec 5 http://www.ohchr.org/Documents/ProfessionalInterest/cescr.pdf Số 16(368) T8/2018 17
  18. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT Tương tự như bảo lưu đối với hai quyền giải quyết tranh chấp của cơ quan tài Công ước về Quyền dân sự, chính trị và phán quốc tế Công ước về Quyền kinh tế, xã hội, văn hoá, Việt Nam đưa ra tuyên bố bảo lưu đối Việt Nam cũng đưa ra tuyên bố bảo lưu đối với thẩm quyền của Toà án Công lý quốc tế với quy định của một số ĐƯQT hạn chế và các cơ quan tài phán quốc tế khác trong quyền tham gia ĐƯQT của các quốc gia như việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến Điều 11 Công ước Ngăn ngừa và trừng trị việc giải thích, thi hành quy định của ĐƯQT tội diệt chủng năm 1948, Điều 17 Công ước (cơ sở lập luận để đưa ra những tuyên bố về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng bảo lưu này tương tự như đối với các ĐƯQT tộc năm 1965, Điều 5 Công ước về Không về ngoại giao, lãnh sự đã được phân tích ở áp dụng các hạn chế luật định đối với tội trên). Việt Nam bảo lưu Điều 22 Công ước phạm chiến tranh và tội phạm chống nhân về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng loại năm 1968… Ví dụ, tuyên bố của Việt tộc năm 1965, Điều 9 Công ước về Ngăn Nam về Bảo lưu Công ước Không áp dụng ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948, các hạn chế luật định đối với tội phạm chiến Điều 29 khoản 1 Công ước về Xóa bỏ mọi tranh và tội phạm chống nhân loại năm 1968 hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm có nội dung: “Chính phủ nước CHXHCN 1979, Điều 30 khoản 1 Công ước Chống tra Việt Nam thấy rằng, phù hợp với nguyên tắc tấn năm 1984… bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, Trong văn kiện phê chuẩn Công ước Công ước nên để tất cả các quốc gia tham xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc gia mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử năm 1965, Việt Nam đưa ra bảo lưu: “Chính hay hạn chế nào”6. phủ nước CHXHCN Việt Nam không bị ràng Khi tham gia vào các ĐƯQT, Việt buộc bởi các quy định tại Điều 22 Công ước7 Nam quan tâm tới điều khoản về quy chế và tuyên bố rằng bất kỳ tranh chấp nào liên thành viên. Nhiều điều ước khi quy định về quan đến việc giải thích hay áp dụng Công quy chế thành viên đã hạn chế một số quốc ước chỉ được đưa ra trước Tòa án Công lý gia tham gia điều ước. Theo quan điểm quốc tế nếu được sự đồng ý của tất cả các của Việt Nam, điều đó không phù hợp với bên”. nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các Tương tự, trong văn kiện phê chuẩn quốc gia. Hơn nữa, các ĐƯQT ra đời thường Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân điều chỉnh các vấn đề mang tính toàn cầu, biệt đối xử với phụ nữ năm 1979, Việt Nam xuyên quốc gia với mục đích mở rộng phạm tuyên bố: “Trong quá trình thực hiện Công vi, do đó, việc càng nhiều quốc gia tham gia ước, nước Cộng hòa XHCN Việt Nam không thì điều ước đó càng ảnh hưởng rộng khắp bị ràng buộc bởi quy định tại Điều 29 khoản hơn, nếu hạn chế các quốc gia tham gia thì 1”8. Cụ thể, Điều 29 khoản 1 Công ước quy mục đích đó khó đạt được. định: “Bất kỳ tranh chấp nào giữa hai hay * Bảo lưu quy định liên quan đến thẩm nhiều quốc gia thành viên liên quan đến việc 6 https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=IV-6&chapter=4&clang=_en 7 Điều 22 Công ước quy định “Bất kỳ tranh chấp nào giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng công ước mà không được giải quyết thông qua đàm phán hay bằng thủ tục được quy định trong Công ước thì theo yêu cẩu của bất kỳ bên nào trong tranh chấp sẽ được giải quyết tại Tòa Công lý quốc tế LHQ, trừ trường hợp các bên chấp thuận phương thức giải quyết khác. 8 https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=IV-8&chapter=4&clang=_en#EndDec 18 Số 16(368) T8/2018
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=29

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2