intTypePromotion=1

Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang

Chia sẻ: Hera_02 Hera_02 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
33
lượt xem
4
download

Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết "Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang" đi sâu nghiên cứu khảo sát sự lựa chọn ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của 88 người Khmer trong các bối cảnh giao tiếp (quy thức và bất quy thức) và ý nguyện sử dụng ngôn ngữ của họ ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang

  1. THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG TS. Hoàng Quốc Khoa Sư phạm 1. Khái niệm thái độ ngôn ngữ ngữ cũng không phải nhất thành bất biến mà nó Theo cách hiểu thông thường, thái độ ngôn thay đổi trong cộng đồng cũng như trong mỗi cá ngữ được định nghĩa như là tình cảm (feelings) nhân dưới tác động của các nhân tố nêu trên. của người bản ngữ đối với tiếng mẹ đẻ của họ và Theo đó, một vấn đề tất yếu kéo theo trong sử đối với các ngôn ngữ khác [1; 74]. Trong bài viết dụng đó là: hoặc theo hướng duy trì ngôn ngữ này, chúng tôi tìm hiểu thái độ của người Khmer hoặc theo hướng chuyển đổi ngôn ngữ. đối với đối với tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer) và đối với tiếng Việt – ngôn ngữ giao tiếp chung giữa Từ nội dung cơ bản của khái niệm thái độ các dân tộc. ngôn ngữ, dưới đây, chúng tôi khảo sát sự lựa chọn ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của 88 Cho đến nay, ngôn ngữ học xã hội thường người Khmer (theo mẫu điều tra ngẫu nhiên với nhắc đến ba loại thái độ cơ bản, đó là thái độ 50 nam và 38 nữ, độ tuổi từ 20 đến 70 tuổi) trong trung thành ngôn ngữ, thái độ kì thị ngôn ngữ và các bối cảnh giao tiếp (quy thức và bất quy thức) thái độ tự ti ngôn ngữ. và ý nguyện sử dụng ngôn ngữ của họ ở hai Thái độ trung thành ngôn ngữ là thái độ luôn huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang. hướng tới, bảo vệ ngôn ngữ của dân tộc mình, quê hương mình. Thái độ này bắt nguồn từ tình 2. Thái độ của người Khmer đối với tiếng cảm yêu quý và thuỷ chung với dân tộc mình. Vì Việt và đối với tiếng mẹ đẻ thế, yêu dân tộc mình tức là yêu ngôn ngữ của 1.2. Về thái độ của người Khmer đối với tiếng mình dù nó chỉ là một ngôn ngữ “nhỏ”, một Việt phương ngữ không chuẩn mực, xa lạ với ngôn Ở lớp người Khmer độ tuổi từ 20 - 45 có học, ngữ chuẩn mực mà theo cách nói của người Hán tiếng Việt là ngôn ngữ được lựa chọn ưu tiên, có là “ái ốc cập ô” (vì yêu ngôi nhà nên yêu luôn cả ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức của họ trong việc con quạ đậu trên nóc nhà đó; yêu ai thì yêu cả sự quyết định chọn ngôn ngữ để sử dụng cho từng vật liên quan đến người ấy; khi yêu, yêu cả đường phạm vi giao tiếp. Về mặt chức năng, rõ ràng đi lối về). Vì thế, “đây là cái lẽ vì sao khi người tiếng Việt được đánh giá là ngôn ngữ có uy tín, ta giao tiếp bằng ngôn ngữ của dân tộc mình thì được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp chính lại cảm thấy thân thiết” [1; 81]. thức, trang trọng, mang phong cách lịch sự. Tiếng Thái độ tự ti ngôn ngữ là thái độ mặc cảm - tự Khmer chỉ được dùng trong phạm vi sinh hoạt cảm thấy ngôn ngữ hay tiếng nói của mình không chính thức như khi chuyện trò với bố mẹ, (phương ngữ, thậm chí là giọng nói cá nhân) anh chị em trong gia đình và bạn bè,… Hiện “không bằng” các ngôn ngữ hay phương ngữ tượng song ngữ ở cộng đồng người Khmer An khác. Thái độ tự ti về ngôn ngữ thường dẫn đến Giang diễn ra hoàn toàn tự nhiên, có chiều hướng hai cách hành xử về ngôn ngữ: 1/ Từ bỏ ngôn ngữ hòa nhập với tiếng Việt nhiều hơn. hay phương ngữ của mình để chuyển sang ngôn Đối với lớp người đã lớn tuổi (55 – 70 tuổi), ngữ hay phương ngữ có uy tín cao hơn; 2/ Học do nghề nghiệp, tuổi tác, trình độ học vấn khác tập để nắm vững và biết cách sử dụng ngôn ngữ nhau, nên năng lực sử dụng tiếng Việt cũng khác có uy tín hơn để sử dụng trong môi trường giao nhau, nhưng nói chung chủ yếu là chỉ có khả tiếp phù hợp (tức là vẫn duy trì “ngôn ngữ của năng nghe - nói. Đặc biệt đối với những người mình” đồng thời tạo cho bản thân một khả năng lớn tuổi, ít giao lưu, tiếp xúc với “bên ngoài”, song ngữ hoặc song phương ngữ). nhất là với người Kinh, thì năng lực sử dụng tiếng Thái độ kì thị ngôn ngữ được biểu hiện bằng Việt rất hạn chế, do đó khi giao tiếp thường sự coi nhẹ, xem thường ngôn ngữ hoặc phương xuyên phải pha trộn với tiếng Khmer. Tuy nhiên, ngữ của cộng đồng khác, quá đề cao ngôn ngữ theo quan sát của chúng tôi thì, ngôn ngữ giao hay phương ngữ của cộng đồng mình. tiếp chính trong gia đình thuần dân tộc là tiếng mẹ đẻ. Hiện tượng này là phổ biến cho tất cả các Sự hình thành của thái độ ngôn ngữ phụ thuộc ấp, xã trên hai địa bàn huyện Tịnh Biên và Tri vào hàng loạt các nhân tố ngoài ngôn ngữ như Tôn. Việc có sử dụng một phần tiếng Việt trong giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác và các nguyên giao tiếp gia đình là hãn hữu, chỉ thấy ở những hộ nhân chính trị - xã hội khác nữa. Thái độ ngôn Bản tin Trường Đại học An Giang 16 Số 60 - 03/2014
  2. gia đình hôn nhân hỗn chủng và những gia đình chữ viết) đã đem lại những lợi ích nhất định trong cán bộ, công nhân viên nhà nýớc. sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn ở vùng dân tộc Khmer. Hiện nay, ở khu vực 2.2. Nhận thức của người Khmer ở An Giang miền núi và dân tộc nước ta, thông qua các dự án, về vị trí và lợi ích của tiếng Việt chính phủ Việt Nam và nhiều tổ chức quốc tế đã Trong tất cả các lĩnh vực từ giáo dục đến các và đang chú trọng đầu tư tiền của cho lĩnh vực cấp truyền thông (bao gồm cả báo chữ, báo tiếng sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn và báo hình), giao tiếp chính thức (trong các cuộc miền núi. Thực tế này đòi hỏi lực lượng lao động họp), giao tiếp hành chính (thông qua văn bản), các dân tộc có sự hiểu biết mới, cách nhìn nhận tiếng Việt được đồng bào nhận thức như một mới và phong cách làm việc mới. Việc mạnh dạn phương tiện gần như duy nhất, độc tôn (trừ một đứng ra vay vốn, việc đổi mới kỹ thuật trồng trọt, vài tiểu lĩnh vực như giáo dục tiểu học và THCS, chăn nuôi, áp dụng giống mới, sử dụng phân bón, báo chữ và báo tiếng địa phương, đôi khi là báo thuốc trừ sâu, đưa các quy trình công nghệ mới tiếng khu vực và cả báo tiếng Trung ương). vào sản xuất, việc điều khiển các máy cơ khí, nửa Lợi ích của tiếng Việt được đồng bào nhìn cơ khí cho trồng trọt, chăn nuôi hay nghề khác, nhận một cách thân thiết, thực tế và gắn chặt với v.v… ngoài việc đòi hỏi về sức khỏe, còn cần đến thói quen, tập quán cộng đồng: tiếng Việt với lợi trình độ hiểu biết thông qua các lớp học tập bồi ích tham gia công tác địa phương được đa số dưỡng nghiệp vụ và chuyên môn, qua việc mở đồng bào đặt lên hàng đầu (có lẽ đây là cái lợi rộng quan hệ giao tiếp với người Việt và các dân được nhìn thấy rõ, cụ thể nhất), sau đó là để tiếp tộc khác, và qua sách báo. Tất cả những công xúc các phương tiện truyền thông cũng đã trở nên việc đó đều đòi hỏi đồng bào dân tộc phải có một phổ biến, quảng đại, có tính cộng đồng cao và trình độ học vấn và trình độ tiếng Việt nhất định. cung cấp nhiều hiểu biết thiết thực, gần gũi và dễ Gần đây, nhiều dự án phát triển được đưa về vùng hiểu với đời sống cư dân. dân tộc thiểu số, thu hút không chỉ nam giới mà cả phụ nữ tham gia. Trong điều kiện thực tế của Lợi ích tiếng Việt để làm ăn buôn bán có số huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, số hộ Khmer mạnh người nhìn nhận ít hơn vì môi trường sống còn dạn đứng ra vay vốn (vốn do Hội Phụ nữ và Ngân thuần hậu của đồng bào (làm ruộng, làm rẫy, làm hàng nông nghiệp huyện phối hợp tổ chức) thuê). Môi trường sống thuần hậu cũng đẻ ra lối thường là những hộ mà người chủ hộ có trình độ tư duy chất phác, thuần hậu mà mặt trái của nó là học vấn hết cấp trung học cơ sở trở lên, và sử trì trệ, thiếu năng động. Chính vì thế, cái lợi của dụng thành thạo tiếng Việt (tiếng nói và chữ viết). tiếng Việt để làm ăn buôn bán còn được ít người Khmer nhìn nhận. Dường như người Khmer ở An Hiện nay ở vùng dân tộc Khmer, tiếng Việt Giang chỉ mới dừng ở nhận thức tiếng Việt như vẫn là ngôn ngữ chính thức được dùng để giảng một nguồn lợi tinh thần, cầu nối công tác xã hội dạy trong các lớp tập huấn. Do đó, số phụ nữ có (có thể kèm lợi ích vật chất – nhưng chỉ là vật trình độ tiếng Việt kém không đủ tự tin để đứng chất phái sinh). Phần đông họ vẫn chưa thấy lợi ra vay vốn, và không được tham gia vào các lớp ích vật chất đích thực mà tiếng Việt mang lại cho đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chăn nuôi, trồng họ trong cuộc mưu sinh thời kinh tế thị trường trọt. Trong đời sống gia đình cũng vậy, người phụ này: đó là những kiến thức khoa học, kiến thức xã nữ có trình độ học vấn tương đương cấp trung hội về làm ăn, buôn bán. Đặc biệt là kiến thức về học phổ thông thường quan tâm nhiều tới việc làm ăn. Vì đồng bào Khmer ở An Giang sống chủ đôn đốc, hướng dẫn con học bài hơn là việc rèn yếu bằng đất, dựa vào đất, thu lợi từ đất (đối với luyện kỹ năng lao động cho chúng. những hộ gia đình có đất sản xuất), và sống dựa 2.3. Thái độ của người Khmer đối với tiếng mẹ vào công sức làm thuê theo ngày (đối với những đẻ của họ người không có đất sản xuất). Phải có kiến thức Về thái độ đối với tiếng mẹ đẻ thì, 100% thâm canh, giống, cây trồng, phân bón v.v… mà người Khmer được phỏng vấn đều khẳng định các chủ đầu tư dự án sẵn sàng cung cấp cho họ - rằng tiếng Khmer là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Và nhưng lại bằng tiếng Việt. cũng 100% số những người này khẳng định sự Cuộc sống quanh quẩn trong phum, sóc cũng quan trọng của cả 2 ngôn ngữ Việt và Khmer hạn chế việc nhìn nhận tiếng Việt trong tương tác trong đời sống hàng ngày. với thoát ly làm ăn xa. Đối với người Khmer ở ĐBSCL nói chung và Nhìn một cách tổng thể, việc nắm vững tiếng ở An Giang nói riêng, một nhân tố thuận lợi nữa Việt và khả năng sử dụng tiếng Việt (tiếng nói và để cho tiếng nói và chữ viết Khmer được gìn giữ Bản tin Trường Đại học An Giang 17 Số 60 - 03/2014
  3. là những ngôi chùa. Các chùa Khmer là những song ngữ, nhất là trong các gia đình trí thức. Khả trung tâm tôn giáo và văn hóa, bởi vì chùa cũng năng song ngữ của các thành viên trong gia đình chính là một loại trường học đặc biệt, trong đó là rất cao (đặc biệt đối với những gia đình có điều người ta không chỉ dạy giáo lí, Phật pháp mà còn kiện tiếp xúc nhiều với bên ngoài, hoặc cha mẹ có dạy nghề, dạy chữ. Theo chúng tôi tìm hiểu được khả năng song ngữ tốt và con cái được đi học). Ở biết, có khoảng 70% trong tổng số 65 chùa những gia đình công chức hay giáo viên, thường Khmer trong tỉnh có các nhà sư dạy chữ Pali cho cha mẹ rất có ý thức cố gắng nói bằng tiếng Việt người đi tu. Người ta cho rằng, học chữ Pali để với con cái, nhằm rèn luyện cho con khả năng đọc kinh Phật theo đúng chuẩn quy ước là điều song ngữ. Nguyên nhân chủ yếu là do tiếng Việt hết sức quan trọng. Những quy tắc trong tụng được sử dụng trong môi trường học tập của con niệm sẽ góp phần chuẩn hóa tiếng Khmer và chữ cái, hoặc công việc có liên quan đến chính quyền, Pali, giúp phổ biến tiếng Khmer và chữ Pali cho đoàn thể. Tùy theo thói quen, các gia đình người con em đồng bào trong phum, sóc một cách thuận Khmer có thể chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ trong lợi, thuyết phục và hiệu quả hơn. Tháng tư âm gia đình, nhưng có thể thay đổi khi trong cuộc lịch được xem là mùa... đi tu ở vùng Thất Sơn. thoại có mặt người dân tộc khác như người Kinh Thanh niên khắp các phum, sóc xuất gia vào chùa chẳng hạn. Tùy tình huống giao tiếp khác nhau, tu báo hiếu. Đây còn là thời điểm các ngôi chùa các thành viên trong gia đình có thể sử dụng song Khmer sửa soạn bàn ghế, chỗ dạy chữ, phục vụ ngữ bằng cách chuyển mã luân phiên giữa tiếng việc nghiên cứu kinh kệ và tu học của tăng sinh Việt và tiếng Khmer. và người dân trong phum, sóc. Xu hướng chung của sự phát triển các hiện Có một đặc điểm nữa cũng rất đáng chú ý tượng song, đa ngữ ở các tỉnh vùng ĐBSCL và ở trong cảnh huống ngôn ngữ ở An Giang. Đó là tỉnh An Giang nói riêng là sự phổ cập của tiếng người Khmer ở An Giang có rất nhiều lễ hội, Việt diễn ra đồng thời với quá trình phát triển tự hàng năm có đến 32 lễ hội. Trong các dịp lễ hội do của tiếng mẹ đẻ. Sự phát triển của các loại này, người Khmer thường tổ chức các hoạt động hình song ngữ ở Tịnh Biên và Tri Tôn (An văn hóa, trong đó có những chương trình biểu Giang) không nằm ngoài xu thế này. diễn với các loại hình như: ca kịch Dù kê, sân Xét trong cư dân Khmer, sự mở rộng của các khấu Rô băm theo những tích truyện cổ mang loại hình hoạt động kinh tế trong cư dân nông đậm dấu ấn văn hóa tộc người và những đề tài lấy nghiệp đã phá vỡ tính chất khép kín của vùng từ trong sử thi của Ấn Độ thông qua các văn bản nông thôn ĐBSCL nói chung và ở An Giang nói bằng chữ Pali… Chính các hoạt động văn hóa, lễ riêng, mở rộng phạm vi giao tiếp của cư dân, tạo hội này đã góp phần tích cực nâng cao ý thức giữ tiền đề cho sự nâng cao năng lực sử dụng song gìn và phát huy tiếng mẹ đẻ của người Khmer. ngữ Khmer – Việt của cá nhân và cộng đồng. Cùng với các hoạt động văn hóa - xã hội, giáo 3. Thay lời kết dục, trong cảnh huống ngôn ngữ ở An Giang còn thấy thêm một điểm nữa cần chú ý là vai trò của Dân tộc là một phần của quốc gia. Trong một các phương tiện thông tin đại chúng cũng có ảnh quốc gia đa dân tộc, một ngôn ngữ giao tiếp hưởng không nhỏ tới tiếng Khmer. Bên cạnh báo chung là vô cùng quan thiết. Đó không chỉ là vấn viết có riêng chuyên trang bằng tiếng Khmer ở đề của Nhà nước – là quyền năng và trách nhiệm một số tỉnh ĐBSCL, ở An Giang phát thanh, của Nhà nước, mà cũng là quyền lợi và trách truyền hình bằng tiếng Khmer cũng chính là các nhiệm của các dân tộc trong cộng đồng chung. phương tiện giúp nâng cao vị thế và uy tín của Thái độ thừa nhận và sử dụng tiếng Việt rộng rãi tiếng Khmer. Các thông tin về kinh tế, văn hóa - ngoài xã hội của người Khmer ở Tri Tôn và Tịnh xã hội, chính trị được truyền đến mọi người dân Biên (An Giang) là sự tuân thủ quy luật khách bằng tiếng Khmer với thời lượng phát sóng đáng quan, phù hợp với xu thế thời đại. kể, giúp họ nhanh chóng, dễ dàng nắm bắt được Nhưng mặt khác, cũng như quốc gia, dân tộc, mọi thông tin. tiếng mẹ đẻ của họ còn là tiêu chí rõ nhất để nhận Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, 100% số diện và hợp nhất họ trong cộng đồng riêng. Thái người Khmer được điều tra đều khẳng định sự độ tha thiết bảo tồn và phát huy tiếng mẹ đẻ của quan trọng của cả 2 ngôn ngữ Việt và Khmer họ trong một số lĩnh vực như giáo dục, truyền trong đời sống hàng ngày. Đây là lẽ tự nhiên cho thông ở An Giang là mong muốn duy trì bản sắc sự xuất hiện song song 2 ngôn ngữ tại vùng này. thiêng liêng của dân tộc trong sự phát triển Ở các gia đình Khmer, thường xảy ra giao tiếp chung. Họ muốn “hoà nhập”, nhưng không “hoà Bản tin Trường Đại học An Giang 18 Số 60 - 03/2014
  4. tan”. Hoà nhập để phát triển. Nhưng không thể TÌM HIỂU NHU CẦU RÈN LUYỆN… hoà tan để đánh mất mình. (Tiếp theo trang 13) Một chính sách khôn ngoan là một chính sách Ngoài ra, trong quá trình sinh viên thực tập, cần làm hài hoà lợi ích chung riêng của quốc gia, dân thiết phải có sự hiện diện thường xuyên của các tộc. Một chính sách như vậy đã được Đảng và thầy cô hướng dẫn thực tập, những chuyến thăm, Nhà nước xác định ngay từ khi ra đời, thông qua dự giờ của giảng viên bộ môn phương pháp và các Nghị quyết, Hiếp pháp, và đã từng bước cụ đặc biệt phải có những buổi họp đoàn định kỳ thể hoá qua các Quyết nghị, Chỉ thị, Thông tư… nhằm giúp sinh viên giải quyết, khắc phục những Tuy nhiên, từ lý thuyết đến thực tiễn là một khó khăn, vướng mắc trong công tác giảng dạy và khoảng cách vô cùng lớn. Việc tạo ra các điều giáo dục học sinh. Những kinh nghiệm, giải pháp kiện để ngôn ngữ hành chức thực sự còn gặp mà sinh viên tiếp thu được trong thời gian thực nhiều khó khăn, yếu kém, cả về phía quảng bá tập sẽ giúp các em từng bước nâng cao kỹ năng của Nhà nước lẫn trình độ dân trí của đồng bào. nghề nghiệp, tự tin hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Cần phải thấy vấn đề ngôn ngữ luôn đi liền với nhà trường, xã hội phân công. vấn đề an ninh – chính trị - kinh tế - xã hội – văn Tóm lại, sinh viên ngành Sư phạm là lực lượng hoá, để tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách trí thức trẻ, sẽ trở thành trụ cột của nền giáo dục ngôn ngữ một cách nghiêm chỉnh, đồng bộ, sít quốc gia trong tương lai. Việc chuẩn bị cho sinh sao, giúp đồng bào dân tộc giữ gìn bản sắc văn viên thích ứng nhanh với môi trường làm việc, hoá riêng thông qua việc sử dụng tiếng nói và chữ môi trường sống sau khi ra trường, tham gia tích viết của dân tộc mình, vừa tiến kịp đồng bào cả cực và hiệu quả vào hoạt động giáo dục, hoạt nước về mọi mặt thông qua việc sử dụng thành động xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của thạo tiếng nói và chữ Việt. ngành giáo dục và là trọng trách của nhà trường, TÀI LIỆU THAM KHẢO đặc biệt là của ngành, khoa Sư phạm. Muốn sinh Nguyễn Văn Khang. (2003). Kế hoạch hoá ngôn ngữ - viên nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, có khả Ngôn ngữ học xã hội vĩ mô, Nxb Khoa học xã năng vận dụng kinh nghiệm lĩnh hội được vào hội, Hà Nội. việc giải quyết các nhiệm vụ, giáo dục đòi hỏi Hoàng Quốc. (2009). “Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ và nhà trường sư phạm ngoài việc cung cấp các kiến thái độ ngôn ngữ của học sinh người Hoa An Giang đối với việc sử dụng trong nhà trường”, thức chuyên môn còn phải trang bị thêm cho sinh trong Hội thảo Ngữ học toàn quốc 2009. viên những kỹ năng mềm quan trọng nhằm giúp Hoàng Quốc. (2010). “Thái độ ngôn ngữ của học sinh họ thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học, giáo dục Khmer An Giang đối với việc sử dụng ngôn ngữ và phát triển nhân cách học sinh trong tương lai. trong nhà trường”, Thông tin Khoa học Đại học TÀI LIỆU THAM KHẢO An Giang, (42), tr.29-31. Trịnh Trúc Lâm, Nguyễn Văn Hộ. (2009). Ứng xử sư Hoàng Quốc, Khảo sát, nghiên cứu năng lực sử dụng phạm. Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội. tiếng Việt của học sinh Khmer trên địa bàn huyện http://gdtd.vn Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang, Báo cáo kết http://www.tinmoi.vn quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, http://www.mamnon.com Trường Đại học An Giang, 01/2013. http://www.giaoduc.edu.vn http://kenhtuyensinh.vn http://www.lhu.edu.vn GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG VỚI VIỆC…. (Tiếp theo trang 15) TÀI LIỆU THAM KHẢO Hà Thị Đức, Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, 4 (1992) 23. Trần Thị Huyền, Phát triển năng lực tự học cho sinh viên trường đại học An Giang phù hợp với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Kỉ yếu hội thảo khoa học. Đổi mới kiểm tra, đánh giá đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ. 2011. Phan Bích Ngọc, "Nghiên cứu kĩ năng làm việc độc lập với sách của sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội", Đề tài cấp Đại học Quốc gia - mã số QN05.07. Trần Anh Tuấn, Vấn đề tự học của sinh viên từ góc độ đánh giá chất lượng kỹ năng nghề nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, 5 (1996) 18. Nguyễn Kỳ, Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục 2 (1990) 24. Bản tin Trường Đại học An Giang 19 Số 60 - 03/2014

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản