Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Thành tựu kinh tế huyện Vĩnh Linh – Quảng Trị thời kỳ đổi mới, giai đoạn 1990-2010

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

24
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Huyện Vĩnh Linh sau ngày tái lập (1990), Đảng bộ và nhân dân Huyện quyết tâm đưa quê hương thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, sớm trở thành một địa phương đi đầu trong công cuộc đổi mới. Những thành tựu nổi bật về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, Cơ cấu chuyển dịch đúng hướng; đời sống người dân nâng cao. Với những thành tích xuất sắc đạt được Vĩnh Linh đã được Đảng và nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” (2011).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thành tựu kinh tế huyện Vĩnh Linh – Quảng Trị thời kỳ đổi mới, giai đoạn 1990-2010

  1. THÀNH TỰU KINH TẾ HUYỆN VĨNH LINH – QUẢNG TRỊ THỜI KỲ ĐỔI MỚI, GIAI ĐOẠN 1990-2010 TRẦN THIÊN THỂ Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế Tóm tắt: Huyện Vĩnh Linh sau ngày tái lập (1990), Đảng bộ và nhân dân Huyện quyết tâm đưa quê hương thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, sớm trở thành một địa phương đi đầu trong công cuộc đổi mới. Những thành tựu nổi bật về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, Cơ cấu chuyển dịch đúng hướng; đời sống người dân nâng cao. Với những thành tích xuất sắc đạt được Vĩnh Linh đã được Đảng và nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” (2011). Từ khóa: huyện Vĩnh Linh, sản xuất, kinh tế 1. MỞ ĐẦU Bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ, mảnh đất Vĩnh Linh bị bom đạn cày xới, mặt đất dày đặc hố bom đạn. Toàn bộ cơ sở vật chất của Vĩnh Linh đã bị hủy diệt trong những năm chiến tranh phá hoại ác liệt. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, ý chí tự lập, tự cường và được sự quan tâm giúp đỡ to lớn của Trung ương, của tỉnh và của bạn bè quốc tế, huyện Vĩnh Linh đã nhanh chóng ổn định tình hình và tổ chức sản xuất. Năm 1986, Vĩnh Linh cùng cả nước thực hiện công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng liên tục qua từng năm. Đặc biệt từ ngày tái lập Huyện vào tháng 5 năm 1990 đến năm 2010, Vĩnh Linh đã thực hiện các Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ XIII, XIV, XV, XVI và các Nghị quyết chuyên đề của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân. Cũng từ đó huyện Vĩnh Linh đã phát huy sức mạnh toàn dân, nền kinh tế tăng trưởng mạnh, đúng hướng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực [1]. 2. THÀNH TỰU KINH TẾ HUYỆN VĨNH LINH - QUẢNG TRỊ THỜI KỲ ĐỔI MỚI, GIAI ĐOẠN 1990 – 2010 2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định Hai mươi năm (1990 – 2010), bằng sự nỗ lực và ý chí phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân toàn huyện Vĩnh Linh, kinh tế của huyện có bước phát triển vượt bậc. Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ 1990 đến 2010 Nhịp độ tăng Nhịp độ tăng Nhịp độ tăng Nhịp độ tăng hàng năm, hàng năm, hàng năm, hàng năm, Chỉ tiêu giai đoạn giai đoạn giai đoạn giai đoạn 1990-1995 (%) 1996-2000 (%) 2001-2005 (%) 2006-2010 (%) Tổng giá trị sản xuất 107,2 111,0 110,1 115,4 (giá cố định 1994) Thương mại - dịch vụ 110,0 111,4 111,3 124,8 Công nghiệp - xây dựng 110,7 114,1 114,3 120,0 Nông - lâm - thuỷ sản 106,9 103,0 108,3 108,0 Nguồn Chi cục Thống kê huyện Vĩnh Linh: [2, tr. 1-2] Năm 1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 4% với giá trị của nền kinh tế là 355 tỷ đồng. Đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 15,8% với tổng giá trị của nền kinh tế đạt 1.100 tỷ đồng. Qua từng giai đoạn, nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sau Đại học lần thứ hai Trường Đại học Sư phạm Huế, tháng 10/2014: tr. 400-404
  2. THÀNH TỰU KINH TẾ HUYỆN VĨNH LINH - QUẢNG TRỊ... 401 Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt cao và bền vững, nhiều tiềm năng, lợi thế đã được khai thác, phát huy hiệu quả. Sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp đã tạo ra được bước chuyển biến mới theo hướng đa cây, đa con, đa dạng hóa sản phẩm, từ kinh tế tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa. Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển tốt, đã thu hút nhiều doanh nghiệp đến đầu tư sản suất, tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ thị trường trong nước về xuất khẩu. Thương mại dịch vụ của các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện phát triển đa dạng, phong phú, góp phần tích cực vào việc ổn định giá cả thị trường, kích thích sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ phát triển. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế từng bước được chuyển dịch đúng hướng và tích cực, đầu tư có trọng tâm trọng điểm. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước được hoàn thiện, đồng bộ theo hướng vững chắc. 2.2. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Cơ cấu của nền kinh tế có sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng tăng tỷ trọng CN – DV – TM. Năm 1990, ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 60%, ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 18,0%, ngành thương mại - dịch vụ chiếm 22%. Năm 2010, ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 42,1%, ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 24,5%, ngành thương mại – dịch vụ chiếm 33,4%; tổng thu ngân sách tăng 15,7 lần; thu nhập bình quân đầu người tăng 15 lần so với năm 1990 [3, tr. 1-5]. Bảng 2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng từ 1990 đến 2010 Năm 1990 1995 2000 2005 2010 Nhóm ngành 1. Nông - lâm - ngư (%) 60,0 66,5 57,8 49,0 42,1 2. Công nghiệp - xây dựng (%) 18,0 16,7 16,1 22,0 24,5 3. Dịch vụ - thương mại (%) 22,0 16,8 26,1 29,0 33,4 Nguồn Chi cục Thống kê huyện Vĩnh Linh: [2, tr. 1-2] 2.2.1. Trong nông – lâm – ngư nghiệp Là huyện dẫn đầu phong trào dồn điền đổi thửa và xây dựng các mô hình kinh tế có giá trị kinh tế cao ở Quảng Trị. Huyện Vĩnh Linh đã xóa được tập quán độc canh, hiệu quả thấp, chuyển sang đa cây, đa con, sản xuất hàng hóa và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh, tăng năng suất, chất lượng cây trồng, con nuôi đạt giá trị thu nhập cao trên một đơn vị diện tích. Quy hoạch các vùng cây có giá trị kinh tế cao như cao su, hồ tiêu, lạc. Đặc biệt là thực hiện các đề án sản xuất nông nghiệp đạt giá trị 50 triệu đồng/1ha/1 năm trở lên. Trong những năm 1990 – 2010, nhà nước và nhân dân đã tập trung mọi nguồn lực đầu tư vào khai hoang được trên 3.794ha đất, chuyển đổi 1.207ha đất nghèo sang trồng được trên 6.054ha cây cao su, diện tích cây hồ tiêu 840ha, diện tích lạc 2.000ha, màu các loại 4.625ha. Diện tích cây lúa nước 6.800ha, năng suất lúa đạt từ 27 – 28 tạ/ha đã tăng lên 52 tạ/ha vào năm 2010, đạt 6.254ha, đã cho khai thác 4.170ha diện tích cây cao su, sản lượng cao su, sản lượng cao su mủ khô 6.686 tấn cho thu nhập 545 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 16.635 lao động [3]. Từ việc phát triển cây cao su tiểu điền của huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị rút kinh nghiệm và nhân rộng ra các huyện (năm 2010 đã đạt 16.000ha). Hồ tiêu 764 tấn, giá trị đạt 397 tỷ đồng, lạc vỏ khô sản lượng đạt 4.800 tấn, giá trị đạt 43,2 tỷ đồng. Đã chuyển đổi diện tích trồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2010, toàn huyện có 704,3ha nuôi trồng thủy sản, trong đó 364ha tôm sú, tôm thẻ chân trắng mang lại giá trị hàng hóa cao.
  3. 402 TRẦN THIÊN THỂ Huyện đã xây dựng và nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp đạt giá trị 50 triệu đồng/ha/năm trở lên, đã nhân rộng được 3.160ha với 9 dạng mô hình kết hợp trên 4 vùng kinh tế của Huyện nhằm khai thác thế mạnh của vùng như: Ném xen ngô đông xuân – dưa non, môn xen khoai lang gối sắn và sắn dây, lạc đông xuân – mướp đắng. Chính nhờ vậy mà nhiều hộ có thu nhập bình quân hàng năm từ 200 – 250 triệu đồng/ha. Ngành chăn nuôi được đầu tư, thay đổi phát triển về chất lượng, chủng loại và trở thành ngành sản xuất hàng hóa. Tổng đàn trâu 6.918 con, bò 13.986 con, lợn 40.058 con, gia cầm 249.000 con. Số lượng gia súc và gia cầm tăng lên 30%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 7,8 lần so với năm 1990. Nhiều mô hình chăn nuôi bò nhốt, lợn siêu nạc, chăn nuôi bán công nghiệp của một số hợp tác xã và hộ gia đình phát triển mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế cao [3]. Kinh tế trang trại trên địa bàn huyện được khuyến khích, phát triển cả về quy mô, số lượng và hiệu quả kinh tế. Toàn huyện có 342 trang trại theo mô hình hộ gia đình và nhóm hộ với loại hình sản xuất đa dạng, chủ yếu thuộc các lĩnh vực chăn nuôi nông – lâm kết hợp; nông – lâm – ngư kết hợp. Phát triển kinh tế trang trại bình quân hàng năm đạt trên 16 tỷ đồng. Việc phát triển kinh tế trang trại không những khai thác và sử dụng có hiệu quả về đất đai, giải quyết việc làm mà còn góp phần quan trọng làm tăng tỷ lệ hộ giàu trong cộng đồng dân cư. Nhờ vậy đã góp phần đưa giá trị sản xuất ngành nông – lâm – ngư nghiệp năm 2010 đạt 672 tỷ đồng, tăng 11 lần so với năm 1990. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành nông – lâm – ngư nghiệp hàng năm đạt 12,34% [4]. Hoạt động lâm nghiệp chuyển từ lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội. Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ khai thác rừng là chính sang khôi phục bằng việc trồng rừng kết hợp với việc khoanh nuôi rừng tái sinh tự nhiên đã đem lại kết quả tốt. Từ năm 1990 đến 2010 bình quân mỗi năm trồng mới 800ha rừng tập trung và 1.000.000 cây phân tán. Tổng số rừng tập trung trồng mới được 16.000ha và 20 triệu cây phân tán. Tổng diện tích khoanh nuôi 31.241 ha. Công tác quản lý, bảo vệ, khai thác rừng được chú trọng. Bình quân hàng năm khai thác 45.000m3 gỗ; 43.000 ste củi rừng trồng, 1.400 tấn nhựa thông. Quản lý, bảo vệ 21.464ha rừng đầu nguồn tự nhiên. Với những thành tích trên Công ty TNHH 1 thành viên Lâm trường Bến Hải, đơn vị chủ lực trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng của Huyện, được Chủ tịch nước tặng thưởng “Anh hùng Lao động” năm 2003. Công tác định canh – định cư – kinh tế mới được tập trung chỉ đạo thực hiện tốt, đã hoàn thành việc định canh, định cư cho 100% số thôn, bản, tạo sự ổn định về cuộc sống và đất sản xuất cho đồng bào dân tộc Vân Kiều, xóa bỏ được tình trạng du canh, du cư, thực hiện việc di dân trong nội vùng trên 1.260 hộ, 3.910 nhân khẩu, 1.800 lao động (ở hai vùng kinh tế mới Bắc sông Bến Hải và làng Thanh niên lập nghiệp Tây Vĩnh Linh). Với việc thực hiện chương trình đánh bắt xa bờ, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật nghề khai thác hải sản nên sản lượng ngư nghiệp tăng cao: Năm 1990 là 1.200 tấn, tăng lên 4.150 tấn năm 2010, tăng 3,41 lần so với năm 1990. Trong đó diện tích nuôi trồng thủy sản 704,3ha, sản lượng 1.400 tấn. 2.2.2. Trong công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng Đã phát triển nhanh chóng, đặc biệt huyện quan tâm đầu tư xây dựng các chợ tiêu thụ trên các vùng kinh tế nhằm phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã có bước phát triển đáng phấn khởi. Đến năm 2010 trên địa bàn có 5 doanh nghiệp khai thác quặng ti tan, hàng năm khai thác trên 20.000 tấn quặng, 3 doanh nghiệp chế biến mủ cao su, một năm chế biến 11.000 tấn mủ cao su dạng cốm, 2 xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, một nhà máy sản xuất phân bón sản lượng
  4. THÀNH TỰU KINH TẾ HUYỆN VĨNH LINH - QUẢNG TRỊ... 403 10.000 tấn/năm, 6 xí nghiệp chế biến gỗ mỗi năm chế biến 15.000m3 gỗ, 1 nhà máy sản xuất giấy hàng năm sản xuất 2.500 tấn giấy. Nhiều nhà máy và cơ sở chế biến nông – lâm – hải sản được đầu tư xây dựng gắn liền với nhóm vùng nguyên liệu (cao su, lạc, ti tan, gỗ, gạch ngói…). Một số ngành nghề truyền thống được khôi phục như: Đan lưới, đan lát, chổi đót, chế biến nước mắm… Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 17%, năm 2010 đạt 159,5 tỷ đồng, gấp 23,3 lần so với năm 1990. 2.2.3. Trong thương mại – dịch vụ Trong những năm 1990 – 2010, ngành thương mại – dịch vụ của huyện có nhiều chuyển biến tích cực, tiếp cận và thích ứng với cơ chế thị trường, giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, phục vụ đời sống xã hội và sản xuất kinh doanh của các ngành, thúc đẩy sản xuất phát triển. Hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại – dịch vụ của các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện ngày càng đa dạng, phong phú và sôi động, kích thích cạnh tranh, thúc đẩy phát triển sản xuất giữa các thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân (chiếm 85% tổng mức hàng hóa dịch vụ xã hội và chiếm phần lớn thị trường bán lẻ), đồng thời thu hút ngày càng nhiều lực lượng lao động xã hội của huyện, góp phần nâng hệ số thời gian lao động nông thôn tăng lên 81%. Toàn huyện có trên 3.934 cơ sở sản xuất kinh doanh – dịch vụ, thu hút 5.750 lao động, trong đó có một doanh nghiệp nhà nước, 106 doanh nghiệp chi nhánh Nhà nước và tư nhân, 54 HTX và 3.170 hộ kinh doanh cá thể. Ngoài ra, còn có hàng nghìn hộ kinh doanh lưu động khác hoạt động, đa dạng, tạo mạng lưới kinh doanh dịch vụ rộng khắp [3], [4]. Đặc biệt, huyện đã đầu tư để xây dựng hệ thống chợ nông thôn với kinh phí 26 tỷ đồng, trong đó có 2 chợ trung tâm là chợ Do và chợ Hồ Xá được đầu tư xây dựng khang trang, đã thu hút số lượng lớn khách trong tỉnh và ngoài tỉnh trao đổi, mua bán, đồng thời cũng là trung tâm phân phối hàng hóa đến các chợ trong và ngoài huyện, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng ngành thương mại – dịch vụ tăng bình quân hàng năm 22%, riêng năm 2010 tốc độ tăng trưởng đạt 223%, giá trị đạt 715 tỷ đồng, tăng 18 lần so với năm 1990. 2.3. Đời sống kinh tế của người dân được nâng cao Công tác giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở. Thông qua thực hiện tốt các chương trình dự án như: Chương trình 134 – 135, định canh, định cư đồng bào dân tộc miền núi, thành lập làng kinh tế mới Bắc sông Bến Hải, làng Kinh tế mới thanh niên lập nghiệp, công tác xóa đói giảm nghèo, chương trình phát triển cây cao su tiểu điền… Cùng với việc thu hút đầu tư xây dựng nhà máy cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện, trong hơn 20 năm huyện đã giải quyết việc làm mới cho trên 21.000 người, trong đó có công nghiệp – thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ thu hút trên 6.000 người, chương trình cao su tiểu điền 6.254 ha, thu hút gần 16.635 người (bình quân 1ha cao su/2,5 người). Bình quân hàng năm tạo việc làm mới cho trên 1.300 người lao động, tạo việc làm ổn định cho trên 45.000 lao động. Công tác dạy nghề được chú trọng, đã thành lập trung tâm dạy nghề tổng hợp, hàng năm bồi dưỡng, đào tạo nghề cho 1.500 lao động [4]. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đến năm 2010 đạt 32%. Tổng thu nhập bình quân trên đầu người tăng: năm 1994 là 0,137 triệu đồng/năm, năm 2000 tăng lên 2,8 triệu đồng/năm, năm 2005 tăng lên 5,03 triệu đồng/năm, đến năm 2010 là 15,3 triệu đồng/năm. Tỷ lệ hộ nghèo năm 1990 trên 30%, năm 1995 là 29,8%, năm 2000 là 18,1%, năm 2005 là 25,6%, năm 2010 giảm còn 15,9%. Bình quân lương thực trên đầu người tăng cao, năm 1990 là 200kg/người, đến năm 2010 là 473,0kg/người. Với những nỗ lực và kết quả đạt được nêu trên, ngành Lao động – Thương binh Xã hội huyện vinh dự được tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhất năm
  5. 404 TRẦN THIÊN THỂ 1997. Bên cạnh đó, huyện đã huy động quỹ vì người nghèo từ nhiều nguồn khác nhau, đến năm 2010 đã đầu tư xây dựng được 1.623 căn nhà ở cho dân (trong đó nhà ở hộ nghèo 1.127 căn, nhà tình nghĩa là 496 căn) với tổng vốn lên đến 31,9 tỷ đồng. Đến giai đoạn 2005 - 2010 toàn huyện đã hoàn thành đề án xóa nhà tạm bợ, dột nát hộ nghèo cho dân [3, tr. 10-11]. Những thành tựu đạt được ở trên cho thấy kinh tế huyện Vĩnh Linh trải qua hơn 20 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành công vượt bậc trên mọi lĩnh vực, làm thay đổi bộ mặt của toàn huyện, điều đáng quan tâm hàng đầu là đời sống kinh tế của người dân trong địa bàn huyện đã dần dần được cải thiện và nâng cao, công ăn việc làm được giải quyết ổn định, mức thu nhập bình quân đầu người được nâng lên, hộ gia đình đói – nghèo được giảm mạnh. Đời sống kinh tế của người dân đang dần được cải thiện từ chỗ ổn định vươn lên khá giả và giàu có. 3. KẾT LUẬN Từ những kết quả đã đạt được trong 20 năm (1990-2010) đổi mới của huyện Vĩnh Linh, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện đã được nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: 2 đơn vị được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lao động, 2 đơn vị được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhì và hạng ba, 22 tập thể được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, 9 cờ thi đua của Chính phủ... Đảng bộ huyện Vĩnh Linh đã được công nhận là Đảng bộ vững mạnh toàn diện liên tục từ 1990 đến năm 2010. Với những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp đổi mới, tháng 8 – 2007 cán bộ và nhân dân huyện Vĩnh Linh vinh dự được Chủ tịch Nước tặng thưởng huân chương Độc lập hạng nhì; ngày 23/11/2011 được phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” [3]. Những thành tựu đạt được sau 56 năm (1954–2010) hòa bình, xây dựng của Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Linh là bước phát triển có ý nghĩa hết sức quan trọng và rất đáng tự hào, là nền tảng vững chắc để huyện Vĩnh Linh tiếp tục phấn đấu vươn lên thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa quê hương. Phấn đấu đưa Vĩnh Linh trở thành huyện trọng điểm trong phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Trị để “Lũy thép” Vĩnh Linh sẽ trở thành “Lũy hoa” trong thời đổi mới và hội nhập phát triển. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Linh (2007), Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Linh 1975 – 2000, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. [2] Chi cục Thống kê huyện Vĩnh Linh (2013). Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Vĩnh Linh, bản lưu tại Chi cục Thống kê huyện Vĩnh Linh. [3] Huyện Vĩnh Linh (2011). Hồ sơ đề nghị nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh Hùng Lao Động đơn vị huyện Vĩnh Linh – tỉnh Quảng Trị, Tài liệu lưu tại huyện ủy Vĩnh Linh. [4] Ủy ban Nhân dân huyện Vĩnh Linh (2012), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Linh đến năm 2020, Tài liệu lưu tại huyệnVĩnh Linh. Title: THE ECONOMIC ACHIEVEMENTS OF VINH LINH DISTRICT, QUANG TRI PROVINCE IN OPEN-DOOR PERIOD 1990 – 2010 Abstract: After the re-establishment in1990, party commitee and the locals of Vinh Linh district determined to help the district escape poverty and backwardness, soon became a leading district in innovating economic. The remarkable achievements of economic are growth rate is high and stable ; economic structure shifts in the right direction and and people’s lives is improved. With the excellent performances , State and party has awarded the title of Labor Hero in the renewal period to Vinh Linh in 2011. Keywords: Vinh Linh district, production, economics. TRẦN THIÊN THỂ, ĐT: 0915 932 736, Email: thienthe80@gmail.com Học viên Cao học, chuyên ngành LSVN, khóa 21 (2012-2014), Trường ĐHSP – Đại học Huế
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2