intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Thảo luận hóa môi trường: Công nghệ xử lý nước cấp sinh hoạt

Chia sẻ: Nguyên Ngọc | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:45

0
59
lượt xem
10
download

Thảo luận hóa môi trường: Công nghệ xử lý nước cấp sinh hoạt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thảo luận hóa môi trường "Công nghệ xử lý nước cấp sinh hoạt" gồm có 5 chương được trình bày chi tiết như: tổng quan tầm quan trọng của nước, chất lượng nước thiên nhiên (nguồn nước) làm nước cấp, công nghệ xử lý nước mặt cấp cho sinh hoạt,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thảo luận hóa môi trường: Công nghệ xử lý nước cấp sinh hoạt

  1. KHOA HÓA LÝ KỸ THUẬT BỘ MÔN CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG *****o0o***** THẢO LUẬN HÓA MÔI TRƯỜNG Chủ đề : Công nghệ xử lý nươc cấp sinh hoạt
  2. Mở đầu Nước là một nhu cầu thiết yếu cho mọi sinh vật. Không có nước cuộc sống trên trái  đất không tồn tại. Nhu cầu dùng nước của con người là từ 100 ­ 200l/ngày đêm cho các hoạt  động bình thường (theo tiêu chuẩn 20 TCN 33 ­ 85) chưa kể đến hoạt động sản xuất. Lượng  nước này thông qua con đường thức ăn nước uống đi vào cơ thể để thực hiện quá trình trao  đổi chất, trao đổi năng lượng, sau đó theo đường bài tiết (nước giải, mồ hôi...) thải ra ngoài.  Ngày nay với sự phát triển công nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số đã làm cho nguồn nước  tự nhiên bị hao kiệt và ô nhiễm dần. Vì thế, con người phải có công nghệ xử lý nước cấp  sinh hoạt (các nguồn nước) để có đủ số lượng và đảm bảo đạt chất lượng cho mọi nhu cầu  sinh hoạt và sản xuất công nghiệp.
  3. I. TỔNG QUAN TẦM QUAN TRỌNG CỦA NƯỚC I.1. Định nghĩa Nước là một hợp chất hóa học của oxy và hidro, có công thức hóa học là H2O.  Với các tính chất lý hóa đặc biệt (ví dụ như tính lưỡng cực, liên kết hiđrô và  tính bất thường của khối lượng riêng) nước là một chất rất quan trọng trong  nhiều ngành khoa học và trong đời sống. 70% diện tích của Trái Đất được  nước che phủ nhưng chỉ 0,3% tổng lượng nước trên Trái Đất nằm trong các  nguồn có thể khai thác dùng làm nước uống. Bên cạnh nước "thông thường" còn có nước nặng và nước siêu nặng. Ở các  loại nước này, các nguyên tử hiđrô bình thường được thay thế bởi các đồng  vị đơteri và triti. Nước nặng có tính chất vật lý (điểm nóng chảy cao hơn, nhiệt  độ sôi cao hơn, khối lượng riêng cao hơn) và hóa học khác với nước thường. I.2. Vai trò của nước và thực trạng hiện nay. Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ trong nước. Tất cả các sự sống trên Trái  Đất đều phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước. Nước có ảnh hưởng quyết định đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết.  Năng lượng mặt trời sưởi ấm không đồng đều các đại dương đã tạo nên các  dòng hải lưu trên toàn cầu. Nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh  học và là môi trường của các quá trình sinh hóa cơ bản như quang hợp. Hơn 75% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước trên Trái  Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³. Trong đó 97,4% là nước mặn trong các đại  dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới  dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên  toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống. Việc cung  cấp nước uống sẽ là một trong những thử thách lớn nhất của loài người trong  vài thập niên tới đây. 
  4. Nước đối với cơ thể người và động vật Đối với  cơ thể con người nước chiếm  70% ở lúc sơ  sinh và giảm xuống còn 60% khi  trưởng  thành,85% khối lượng bộ não  được cấu tạo từ  nước. Trong cơ thể nước đóng vai  trò là dung môi  cho những phản ứng hóa học  trong cơ thể xảy  ra. Nước vận chuyển những  nguyên tố dinh  dưỡng đến toàn bộ cơ thể. Điều  hòa thân nhiệt  bằng tuyến mồ hôi… Con  người vẫn có thể sống sót nếu  nhịn ăn 2 tháng, nhưng không thể tồn tại được nếu thiếu nước khoảng 3­4 ngày. Nếu cơ thể mất đi  2% lượng nước thì khả năng làm việc sẽ giảm đi 20%. Nếu mất đi 10% lượng nước thì cơ thể sẽ tự  đầu độc và nếu mất 21% lượng nước sẽ dẫn đến tử vong. Do đó cơ thể luôn cần phải được cung cấp  đủ lượng nước cần thiết để đảm bảo sự hoạt động ổn định của mình. Nhưng việc uống nhiều nước  quá cũng không phải là tốt vì khi đó thận sẽ phải làm việc quá tải và nếu tình trạng diễn ra trong một  thời gian dài sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Với động vật như chó, mèo thì nước cũng chiếm một vài trò quan trọng để duy trì sự sống  như:  Tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong thức ăn  Vận chuyển vật chất:  Tham gia vào những phản ứng hóa học  Điều hòa áp suất thẩm thấu, thực hiện trao đổi chất giữa tế bào và dịch thể:  Làm giảm tác dụng ma sát:  Tham gia tích cực trong quá trình điều tiết thân nhiệt:  Nước được sử dụng trong công nghiệp từ lâu như là nguồn nhiên liệu (cối xay  nước, máy hơi nước, nhà máy thủy điện), Như là chất trao đổi nhiệt.  Với tình trạng ô nhiễm ngày một nặng và dân số ngày càng tăng, nước sạch  dự báo sẽ sớm trở thành một thứ tài nguyên quý giá không kém dầu mỏ trong 
  5. thế kỷ trước. Nhưng không như dầu mỏ có thể thay thế bằng các loại nhiên  liệu khác như điện, nhiên liệu sinh học, khí đốt..., nước không thể thay thế và  trên thế giới tất cả các dân tộc đều cần đến nó để bảo đảm cuộc sống của  mình, cho nên vấn đề nước trở thành chủ đề quan trọng trên các hội đàm quốc  tế và những mâu thuẫn về nguồn nước đã được dự báo trong tương lai. Nước đối với cuộc sống hàng ngày  Chắc hẳn cuộc sống của chúng ta sẽ bị đảo lộn rất nhiều nếu bị mất nước  trong một thời gian. Đa số hoạt động sinh hoạt hàng ngày của chúng ta đều  gắn liền với nước. Từ việc nấu nướng, tắm giặt, vệ sinh đều cần đến  nước. Hãy tưởng tượng xem một ngày nào đó lượng nước không đủ dùng  cho mỗi người hoặc nước không còn được sạch nữa thì cuộc sống của  chúng ta sẽ ra sao nhỉ? Nước đối với trái đất  Đối với đa số nước tồn tại trên hành tinh là một điều hiển nhiên bởi vì nó  cần thiết cho hoạt động sống của tất cả các sinh vật. Nhưng ngoài ra nước  trên hành tinh còn có một nhiệm vụ khác rất quan trọng đó là điều hòa 
  6. nhiệt độ của trái đất. Bởi nước là một chất lỏng có nhiệt dung riêng rất  lớn vào khoảng 4200j/kg.K. Tức là để đun nóng 1 kg nước lên 1 độ thì phải  cần phải cung cấp 4200J. Do đó năng lượng mặt trời chiếu đến hành tinh  của chúng ta là rất lớn nhưng nhiệt độ của trái đất luôn được duy trì để  đảm bảo sự sống. Và thực trạng sử dụng nước hiện nay?  Rất nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng nước chiếm 3/4 diện tích trái đất  cơ mà. Sao chúng ta lại phải lo thiếu nước? Nhưng các bạn có biết rằng  3/4 hay 75% nước đó lại chứa tới 97% là nước mặn ở các đại dương, cái  mà chúng ta không thể sử dụng được cho những mục đích hàng ngày được.  Đó là chưa kể đến 99.7% trong số 3% nước ngọt lại tồn tại ở dạng băng  đá và tuyết. Vậy chỉ còn 0.3% trong tổng số 3/4 kia là nước ngọt mà chúng  ta có thể sử dụng cho mục đích sinh hoạt của mình được. Quá là ít phải  không nào?  Mặc dù lượng nước ngọt ít là vậy nhưng hàng ngày chúng ta vẫn đang luôn  làm cho nó ít hơn bằng sự vô tâm trong cách sử dụng nước một cách hoang  phí và làm ô nhiễm nguồn nước.  Hiện nay công nghiệp phát triển kéo theo đó là việc thải ra môi trường một  lượng lớn nước thải. Nếu lượng nước thải này không được xử lý một cách  bài bản thì việc ô nhiễm nguồn nước là điều khó tránh khỏi. Báo chí đã  phanh phui rất nhiều những doanh nghiệp vì không muốn bỏ ra một số tiền  lớn xử lý nước thải đã cố tình che dấu việc thải trực tiếp nước sau sản  xuất ra tự nhiên. Điều này sẽ dẫn đến việc ô nhiễm nguồn nước xung  quanh và trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân xung quanh đó. Tương lai…  Theo như dự đoán của những nhà phân tích thì trong tương lai nước sạch  sẽ là một nguồn tài nguyên quý hiếm không khác gì dầu mỏ ở những thập  kỷ trước và thậm trí nước còn có tầm quan trọng hơn rất nhiều. Dầu mỏ  có thể được thay thế bằng khí đốt và những nguồn nhiên liệu khác. Nhưng 
  7. nước thì không. Sẽ không khó tưởng tượng ra viễn cảnh xung đột giữa  những quốc gia xung quanh việc chiếm hữu nguồn nước sinh ho ạt. Giải pháp?  Trong khi dân số ngày càng tăng, nguồn nước lại ngày càng giảm thì việc tìm  đến một giải phải tái xử lý, sử dụng nguồn nước ô nhiễm là một phương pháp  cần thiết. Ngày nay chúng ta cũng đang dần từng bước trong việc phát triển  những hệ thống xử lý và tái tạo nguồn nước ô nhiễm để phục vụ cho việc  sinh hoạt. Trong tương lai rất có thể chúng ta sẽ có những thiết bị tái chế  nước với hiệu quả cao và giá thành rẻ, nhưng trước mắt việc mà mỗi người  chúng ta có thể làm được đó là hãy sử dụng nước một cách phù hợp tránh lãng  phí và có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường, tránh làm ô nhiễm nguồn  nước.  Tìm đến giải pháp xử lý, sử dụng các nguồn nước thô, nguồn nước ô nhiễm là  một pp cần thiết. Ngày nay chúng ta đang  có những công nghệ xử lý các nuồn  nước thô hoặc nguồn nước ô nhiễm để phục vụ cho sinh hoạt
  8. II. Chất lượng nước thiên nhiên ( nguồn nước) làm nước cấp II.1. Mục đích quá trình xử lý nước. Cung cấp số lượng nước đầy đủ và an toàn về mặt hóa học, vi trùng để thỏa mãn các nhu cầu  về ăn uống sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất công nghiệp và phục vụ sinh hoạt công cộng của các  đối tượng dùng nước. Cung cấp nước có chất lượng tốt, ngon, khong chứa các chất vẩn đục gây ra màu, mùi, vị của  nước. Cung cấp nước có đủ thành phần khoáng chất cần thiết cho việc bảo vệ sức khỏe người tiêu  dung. Để thỏa mãn các yêu cầu trên thì nước sau khi xử lý phải có các chỉ tiêu chất lượng thảo mãn  “ Tiêu chuẩn vệ sinh đối với chất lượng nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt Các loại nguồn nước dùng để cấp nước Để cung cấp nguồn nước sạch có thể khai thác các nguồn nướ thiên nhiên ( thường gọi là  nước thô) từ nước mặt nước ngầm nước biển. Theo tính chất của cảu nước có thể phân ra: nước ngọt, nước mặn, nước lợ, nước khoáng,  nước mưa, nước phèn chua. Nước mặt: Bao gồm các nguồn nước trong ao, đầm hồ chứa, sông, suối. Do kết hợp từ các  dòng chảy trên bề mặt và thường xuyên tiếp xúc với không kí nên có các đặc trưng là: •  Chứa khí hòa tan đặc biệt là oxy. • Chứa nhiều chất rắn lơ lửng,trong các ao đầm,hồ do xảy ra quá trình lắng cặn  nên chất lơ lửng còn lại trong nước có nồng độ tương đối thấp và chủ yếu ở dạng  keo. • Có hàm lượng chất hữu cơ cao. • Chứa nhiều loại tảo. • Chứa nhiều vi sinh vật.
  9. Nước ngầm: Được khai thác từ các tầng chưa nước dưới đất, chất lượng nước ngầm phụ  thuộc vào thành phần khoáng hóa và cấu trúc địa tầng mà nước thấm qua. Do vậy nước chảy qua các  địa tầng chưa cát và granit thường có tính axit và chưa ít chất khoáng.Khi nước ngấm chảy qua địa  tầng chứa đá vôi thì nước thường có độ cứng và độ kiềm cao.Ngoài ra đặc trưng chung của nước  ngầm là: •  Độ đục thấp. • Chiệt độ và thành phần hóa học tương đối ổn định •  Không có oxy nhưng có thể chứa nhiều khí như CO2, H2S.., • Chứa nhiều khoáng hòa tân chủ yếu là sắt, mangan, canxi, magie, flo.  • Không có vi sinh vật Nước biển: Nước biển thường có độ mặn rất co ( độ mặn ở Thái Bình Dưng là 32­35g/l).  Hàm lựng muối trong nước biển thay đổi tùy theo vị trí địa lý như: cửa sông, gần bờ hay xa bờ, ngoài  ra nước biển thường có nhiều chất lơ lửng, càng gần bờ nồng đọ càng tăng, chủ yếu là các phiêu sinh  động thực vật. Nước lợ: Ở cửa sông và các vùng ven bờ biển, nơi gặp nhau của các dòng nước ngọt chảy từ  sông ra, các dòng thấm tù đất liền chảy ra hòa trộn với nước biển. do ảnh hưởng của thủy  triều, mực nước tại chỗ gặp nhau lúc ở mức cao , lúc ở mức thấp và  do sự hòa trộn giữa  nước ngọt và nước biển làm cho dô muối và hàm lượng huyền phù trong nước ở khu vực này  luôn thay đổi và có trị số cao hơn chuẩn nước cấp cho sinh hoạt và thấp hơn nhieeufso với  nước biển được gọi là nước lợ. Nước khoáng: Khai thác từ tầng sâu dưới đất hay từ các suối do phun trào từ lòng đất ra, nước  có chứa một vài nguyên tố có nồng độ cao hơn nồng độ cho phép đối với nươc uống và đặc biệt có  tác dụng chữa bệnh. Nước khoáng sau khâu xử lý thường như làm trong , loại bỏ hoặc nạp lại khí  CO2 nguyên chất thường được đóng vào chai cung cấp cho người tiêu dùng. Nước phèn chua: Những nơi gần biển ví dụ như đồng bằng sông Cửu Long ở nước ta thường  có nước phừn chua . Nước bị nhiễm phèn do tiếp xúc với phèn , loại đất này giàu nguyên tố lưu huỳnh  ơ dạng sunfua hay sunfat và một số kim loại như nhom, sắt. Đất phèn được hình thành do quá trình  kiến tạo địa chất. Trước đó ở những vùng này bị ngập nước và có nhiwwuf lịa động thực vật tầng đáy 
  10. phát trieenref. Do quá trình bồi tụ, thảm thực vật và lớp sinh vật này bị vùi lấp và phân hủy yếm khí ,  tạo ra các axit mùn hữu cơ làm cho nước có vị chua, đồng thời có chứa nhiều nguyên tố kim loại có  hàm lượng cao như nhôm, sắt và ion sunfat. Nước mưa: Nước mưa có thể xem như nước cất tự nhiên không hoàn toàn tinh khiết vì nước  mưa cso thể bị ô nhiễm bởi khí bụi, và thậm chí cả vi khuẩn có trong không khí. Khi rơi xuống, nước  mưa tiếp tục bị ô nhiễm do tiếp xúc với các vật thể khác  nhau. Hơi nước gặp không khí chứa nhiều  oxit nito hay oxit lưu huỳnh sẽ tạo nên các trận mưa axit. Hệ thống thu gom nước mưa dùng cho mục đích sinh hoat gồm hệ thống mái, máng thu gom  dẫn về bể chứa. Nước mưa có thể dự trữ trong các bể chứa có mái che dùng quanh năm.
  11. II.2. Tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho sinh hoạt ăn uống Nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt phải không màu, không mùi vị, không chứa các  chất độc hại, các vi trùng và tác nhân gây bệnh. Hàm lượng các chất hòa tan không được vượt  quá chỉ tiêu cho phép. Theo tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt phải có  các chỉ tiêu như trong bảng sau ( Ban hành kèm theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tê số  1329/2002/BYT/QĐ ngày 18/4/2002
  12. ii.  Hàm lượng của các chất hữu cơ a) Nhóm ankan clo hóa
  13. b)Hydrocacbua thơm c)Nhóm Benzen clo hóa d) Nhóm các hợp chất hữu cơ phức tạp
  14. iii.   Hóa chất bảo vệ thực vật iv.  Hóa chất khử trùng và sản phẩm phụ v.   Mức độ nhiễm xạ
  15. vi.  Vi sinh vật Giải thích: 1. A: Bao gồm những chỉ tiêu sẽ được kiểm tra thường xuyên, tần suất kiểm tra 1 tuần  ( đối với nhà máy nước) hoặc 1 tháng (đối với cơ quan y tế cấp tỉnh, huyện).Các chỉ  tiêu này chịu biến động của thời tiết và các cơ quan cấp nước cũng như các cơ quan y  tế dự phòng tỉnh, thành phố làm được. 2. B: Bao gồm các chỉ tiêu cần trang thiết bị khá đắt tiền và ít biến động theo thời tiết  hơn. Các chỉ tieu này cần được kiểm tra trước khi đưa nguồn nước vào sử dụng và  thường kỳ mỗi năm một lần. 3. C: Bao gồm các chỉ tiêu cần có tảng thiết bị hiện đại đắt tiền, chỉ có thể xét nghiệm ở  các viện TW, viện khu vực và một số trung tâm y tế dự phòng tỉnh, thành phố. Các chỉ  tiêu này thường kiểm tra 2 năm 1 lần. 4.    AOAC: viết tắt của Association of Offical Analytical Chemists ( hiệp hội các nhà  hóa phân tích chính thống)        SMEWW: viết tăt của Standard Methods for the Examination of Water and Waste  Water( các phương pháp chuẩn xét nghệm nước và nước thải) của cơ quan Y tế công  cộng Hoa Kỳ xuất bản.
  16. III. Công nghệ xử lý nước mặt cấp cho sinh hoạt Thuyết minh công nghệ: Nước từ sông qua công trình thu và trạm bơm nước thô, tại đây có lưới chắn rác giữ  lại những cặn thô, kích thước lớn, rong rêu, túi nilong… Nước được bơm lên cao và tự chảy  vào các công trình tiếp theo. Đầu tiên nước được bơm lên và chảy qua bể trộn cơ khí, chất keo tụ và vôi hoà trộn  sẵn ở các công trình chuẩn bị dung dịch phèn, bể trộn vôi được cho vào nước và khuấy trộn  đều giúp cho quá trình tạo bông. Nước tiếp tục chảy qua bể tạo bông, bông cặn hình thành sẽ  được loại bỏ bởi quá ttrình lắng ở bể lắng. Phần chất bẩn không lắng được sẽ được loại bỏ 
  17. bằng bể lọc. Nước sau lọc sẽ được châm chlor khử trùng và chảy vào bể chứa. Từ đây, nước  được phân phối vào khu dân cư thông qua trạm bơm cấp II và mạng lưới cấp nước. Phần cặn ở bể lắng sẽ được xử lý qua các công đoạn: nén bùn và khử nước. III.1. Biện pháp cơ học Mục đích của biện pháp nhằm giữ lại cặn không tan trong nước. Sử dụng các công  trình: Song chắn rác, lưới chắn rác, bể lắng sơ bộ. Chức năng của bể lắng sơ bộ nước mặt là: tạo điều kiện cho quá trình tự làm sạch  như: lắng bớt cặn lơ lửng, giảm lượng vi trùng do tác động của điều kiện môi trường, thực  hiện các phản ứng oxy hóa do tác dụng của oxy hòa tan trong nước. Song chắn và lưới chắn đặt ở cửa dẫn nước vào công trình làm nhiệm vụ loại trừ vật  trôi nổi, vật lơ lửng trong dòng nước để bảo vệ các thiết bị và nâng cao hiệu quả làm sạch.  Bể lắng cát: ở các nguồn nước mặt có đọ đục lớn hơn hoặc bằng 250 mg/l sau lưới  chắn, các hạt căn lơ lửng vô cơ, có kích thước nhỏ, tỷ trọng lớn hơn nước, cứng, có khả năng  lắng nhanh được giữ lại ở bể lắng cát, nhằm làm giảm lượng cặn nặng tụ lại trong bể tạo  bông và bể lắng. III.2. Quá trình khuấy trộn hóa chất Mục đích cơ bản của quá trình khuấy trộn hóa chất là tạo ra điều kiện phân tán nhanh  và đều hóa chất vào toàn bộ khối lượng nước cần xử lý. Quá trình trộn phèn đòi hỏi phải trộn  nhanh và trộn đều phèn vào nước xử lý vì phản ứng thủy phân tao nhân keo tụ diễn ra rất  nhanh thường nhỏ hơn một phần mười giây, nếu không trộn đều và trộn kéo dài sẽ không tạo  ra được các nhân keo tụ đủ, chắc và đều trong thể tích nước, hiệu quả lắng sẽ kém và tốn  phèn. Các loại hóa chất khác đòi hỏi trộn đều nhưng thời gian trộn đòi hỏi ít nghiêm nghặt  hơn là trộn phèn. Việc lựa chọn điểm cho hóa chất vào để trộn với nước xử lý căn cứ vào  tính chất và phản ứng hóa học tương hỗ giữa các hóa chất với nhau, giữa hóa chất với các  chất có trong nước xử lý. Quá trình trộn được thực hiện bằng các công trình trộn, theo nguyên tắc cấu tạo và  vận hành được chia ra:
  18. Trộn thủy lực: về bản chất là dùng các vật cản để tạo ra sự xáo trộn trong  dòng chảy của hỗn hợp nước và hóa chất. Trộn thủy lực có thể thực hiện  trong: ống đẩy của trạm bơm nước, bể trộn có vách ngăn, bể trộn đứng. Trộn cơ khí: dùng năng lượng của cách khuấy để tạo dòng chảy rối III.3. Quá trình keo tụ và tạo bông cặn Mục đích của quá trình keo tụ và tạo bông cặn là tạo ra tác nhân có khả năng dính kết  các chất làm bẩn nước ở dạng hòa tan lơ lửng thành các bông cặn có khả năng lắng trong các  bể lắng và dính kết trên bề mặt hạt của lớp vật liệu lọc với tốc độ nhanh và kinh tế nhất. Khi trộn đều phèn với nước xử lý lập tức xảy ra các phản ứng hóa học và lý hóa để  tạo thành hệ keo dương phân tán đều trong nước, khi được trung hòa, hệ keo dương này là  các hạt nhân có khả năng dính kết với các keo âm phân tán trong nước và dính kết với nhau  để tạo thành bông cặn, do đó quá trình tạo nhân dính kết gọi là quá trình keo tụ, quá trình dính  kết cặn bẩn và nhân keo tụ gọi là quá trình phản ứng tạo bông cặn. Trong kĩ thuật xử lý nước thường dùng phèn nhôm Al2(SO4)3, phèn sắt FeCl3, Fe2(SO4)3  và FeSO4 để keo tụ nước. Ở Việt Nam thường chỉ dùng phèn nhôm vì sản xuất vận chuyển,  pha chế định lượng đơn giản.  Sự thủy phân của phèn. Khi cho phèn nhôm vào nước, sau khi phân ly thành ion sẽ xảy  ra quá trình thủy phân theo các giai đoạn: Al3+ + H2O           Al(OH)2+ + H+ Al(OH)2+  + H2O  Al(OH)2+  + H+ Al(OH)2+ + H2O  Al(OH)3  + H+ Mức thủy phân tăng lên khi pha loãng dung dịch, khi tăng nhiệt độ và pH của dung  dịch. Hiệu quả của quá trình keo tụ phụ thuộc vào điều kiện khuấy trộn (càng nhanh càng  đều càng tốt), phụ thuộc vào nhiệt độ nước (nhiệt độ càng cao càng tốt), phụ thuộc vào pH 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản