intTypePromotion=1

Thảo mộc trong thơ vịnh vật đời Đường

Chia sẻ: Minh Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
14
lượt xem
1
download

Thảo mộc trong thơ vịnh vật đời Đường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong thơ vịnh vật đời Đường, số lượng các bài thơ viết về thảo mộc đạt được những thành tựu lớn cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật, có ảnh hưởng sâu rộng đến thi ca các đời sau Đường và thi ca Việt Nam. Bài báo này tổng hợp, phân tích, chọn lọc một số bài thơ tiêu biểu đời Đường viết về các loại cây cối, trong đó có một số bài chưa từng được dịch ở Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thảo mộc trong thơ vịnh vật đời Đường

  1. JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE Science Sci., 2011, Vol. 56, No. 8, pp. 50-61 THẢO MỘC TRONG THƠ VỊNH VẬT ĐỜI ĐƯỜNG Đinh Thị Hương Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông E-mail: huongdt77@yahoo.com Tóm tắt. Thơ vịnh vật là một loại thơ đặc biệt trong thơ ca cổ điển Trung Quốc. Có một số lượng lớn những bài thơ chuyên viết về các loại cây cối (thảo mộc) trong thơ vịnh vật. Đặc biệt, trong thơ vịnh vật đời Đường, số lượng các bài thơ viết về thảo mộc đạt được những thành tựu lớn cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật, có ảnh hưởng sâu rộng đến thi ca các đời sau Đường và thi ca Việt Nam. Bài báo này tổng hợp, phân tích, chọn lọc một số bài thơ tiêu biểu đời Đường viết về các loại cây cối, trong đó có một số bài chưa từng được dịch ở Việt Nam. 1. Mở đầu Thời Đường (638 – 907) là thời kì rực rỡ của thi ca cổ điển Trung Quốc. Trong thơ vịnh vật đời Đường, thơ vịnh thảo mộc chiếm số lượng nhiều hơn cả, đặc biệt là trong thơ Vãn Đường. Điều này cũng có nhiều lí do, trong đó phải chú ý đến những thú vui tao nhã của các tao nhân mặc khách (bằng hữu tương phùng, tri âm hội ngộ, uống rượu làm thơ, ngâm vịnh cảnh vật) và cuộc sống của ẩn sĩ vì hầu hết thơ vịnh vật là sản phẩm của ẩn sĩ (các tao nhân mặc khách cũng có thể coi là một kiểu ẩn sĩ; những người ở ẩn nơi điền viên thì thường làm thơ vịnh cúc, đào, tiêu; những người ở ẩn nơi sơn lâm thì làm thơ vịnh tùng, trúc, mai, cổ thụ, trầm hương; những người tuy làm quan trong triều nhưng có nhiều điều không dám nói thì cũng giống như ở ẩn và họ có thể vịnh mẫu đơn, thược dược, hải đường, thậm chí là cả tùng, trúc, mai; những người giang hồ thì gặp gì vịnh nấy, từ những loài thảo mộc nhỏ như cánh bèo đài rêu đến những cao tùng cổ thụ; tất cả sự phong phú trong địa bàn cư trú của ẩn sĩ đã tạo nên sự phong phú cho thơ vịnh vật nói chung và thơ vịnh thảo mộc nói riêng, ngoài ra còn phải thấy rằng hầu hết kẻ sĩ trong thiên hạ đều phải bôn ba nay đây mai đó và vì thế mà họ có thể sáng tác một số lượng không ít thơ vịnh vật). Tìm hiểu thơ vịnh thảo mộc cũng là một phần tìm hiểu đời sống tư tưởng của các thi nhân, ẩn sĩ. Ta có thể thấy trong thơ vịnh vật đời Đường, thường xuất hiện một số loài thảo mộc mà chúng tôi giới thiệu dưới đây. 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Thơ vịnh ngô đồng 50
  2. Thảo mộc trong thơ vịnh vật đời Đường Ngô đồng là loài cây quý, loài cây vương giả, theo truyền thuyết thì vua Phục Hy biết ngô đồng là loại cây có gỗ quý bởi thấy tinh khí của năm ngôi sao tụ lại ở cây ngô đồng, vua bèn sai người lấy gỗ ấy để chế thành một loại đàn có tên là Dao Cầm (dẫn theo [3;347]). Ngô đồng cũng là nơi đậu của phượng hoàng, và khi phượng hoàng đậu trên cành ngô đồng nghĩa là mang điềm lành, ngụ ý xuất hiện thánh nhân, minh quân. Chính vì thế thơ vịnh ngô đồng thường gắn liền với hình ảnh phượng hoàng. Đỗ Phủ đã từng ao ước được thấy cảnh phượng hoàng đậu mãi trên cành ngô đồng (bích ngô thê lão phượng hoàng chi). Đáng tiếc là điềm lành đó ít xuất hiện, hoặc là ngô đồng còn mà phượng hoàng mất, hoặc là phượng hoàng còn mà ngô đồng mất, đó cũng là sự ám chỉ thời thế đã không còn thánh nhân, minh quân. Thời Vãn Đường, nhà thơ Lý Thương Ẩn có viết bài Thục đồng (Cây ngô đồng đất Thục), vừa cảm thương thời thế (không còn minh chúa), vừa cảm thương bản thân (mất cả tri âm). Hình ảnh ngô đồng trong thi ca đời sau chủ yếu là tượng trưng cho mùa thu, do quan niệm “nhất phiến ngô đồng lạc, thiên hạ cộng tri thu – một lá ngô đồng rụng, thiên hạ biết thu sang”. 2.2. Thơ vịnh tùng Tùng là biểu tượng của đấng trượng phu cương kiện, ẩn dật chốn sơn lâm, cội rễ sâu bền. Ẩn sĩ ngồi tựa gốc tùng, nghe gió lao xao trên ngọn, tùng là bạn của mai và trúc, tạo nên tuế hàn tam hữu (ba người bạn mùa đông). Thơ vịnh tùng thường vịnh cao tùng, cổ tùng, giản tùng, tiểu tùng. Đỗ Tuân Hạc thời Vãn Đường có bài Tiểu tùng. Tự tiểu thích đầu thâm thảo lý Nhi kim tiệm giác xuất bồng cao Thời nhân bất thức lăng vân mộc Trực đãi lăng vân thủy đạo cao. (Từ nhỏ tùng đầu nhọn như kim màu xanh, thế mà nay bất ngờ đã vươn cao, thời đó người đời không biết rằng đó là loại cây có thể cao tới mây, khi đâm thẳng tới mây cao rồi mới biết đó là cao). Bài thơ này ngầm nói rằng bản chất của người quân tử trượng phu trung trực thì ngay từ nhỏ đã mang bản chất ấy rồi, giống như cây tùng từ nhỏ đã mang bản chất cao, nhưng người đời không mấy ai để ý, kể cũng đáng tiếc. 2.3. Thơ vịnh trúc Trúc là biểu trưng của người quân tử, trúc chỉ xanh tốt khi được trồng vào nơi phong thủy tốt. Trúc mọc thành khóm, thành rừng, lá nhỏ thân thẳng, măng biếc như ngọc, hứng gió chịu sương, mây che tuyết phủ. Trúc mọc đủ dầy để không cô độc, trúc mọc đủ thưa để có thể tự cường. Lòng trúc rỗng đủ để nhờ gió mà phát thanh âm, người yêu trúc có ai không yêu âm thanh của trúc. Bài thơ của Trương Nam Sử viết về trúc bằng một hình thức rất đặc biệt, thể nhất thất lệnh. 51
  3. Đinh Thị Hương Trúc Trúc, trúc Bạt sơn, liên cốc Sơn Đông Nam, thù thảo mộc Tế diệp chi kình, sương đình lộ túc Thành lâm xứ xứ vân, trừu duẩn niên niên ngọc Thiên phong sạ khởi tranh vận, trì thủy tương hàn cánh lục Dục tầm dữu tín tiểu viên trung, nhàn đối sổ can tâm tự túc. (Trúc, trúc. Vượt núi, leo hang. Rời đông nam, cây cỏ lạ. Lá nhỏ cành thẳng, ngủ trong sương móc. Thành rừng mây phủ khắp, măng ngọc năm năm mọc. Gió trời lao xao thổi, mặt nước xanh càng xanh. Muốn tìm khe suối nhỏ, cùng trúc đủ nhàn thân). Khi miêu tả trúc, các thi nhân thường phải mượn gió, trúc nhờ gió mà động, gió nhờ trúc mà thành hình, thực là tương sinh tương đắc. 2.4. Thơ vịnh mai Trong muôn loài hoa, mai cao khiết vào bậc nhất. Nếu xét trong lịch sử thơ vịnh vật của văn học Trung Quốc thì hoa mai là loài hoa được nói đến nhiều nhất. Mai là sứ giả báo tin xuân, là loài hoa ngạo sương ngạo cốt, cho nên thơ vịnh tảo mai (mai nở sớm) cũng nhiều. Mở đầu cho thơ viết về mai nở sớm là bài Vịnh tảo mai của Hà Tốn (? – 518, tự Trọng Ngôn, người Sơn Đông, đời Nam Triều), trong đó có những câu “hàm sương đương lộ phát, ánh tuyết nghĩ hàn khai, chi hoành khước nguyệt quán, hoa nhiễu lăng phong đài” từ đó về sau nhiều người vịnh tảo mai. Thời Đường có Tề Kỷ, Trương Vị; Tề Kỷ viết “tạc dạ nhất chi khai”, Trương Vị viết “nghi thị kinh đông tuyết vị tiêu”; đó đều là những danh cú về tảo mai. Ngoài vịnh tảo mai, thơ vịnh mai còn vịnh cổ mai, lão mai (mai già), ngạn mai (mai bên bờ), lạp mai (tên một loại mai), bạch mai, hồng mai, đó là chưa kể rất nhiều những bài thơ chỉ có nhan đề là mai hoặc mai hoa. Về mặt ý nghĩa biểu trưng cho con người, mai thường là hình ảnh của cao sĩ, ẩn nhân (rất ít khi mai là hình ảnh mỹ nhân); về mặt hình tượng, mai mang vóc dáng hao gầy, là loài sơ ảnh, hoành tà, ám hương (bóng thưa, cành ngang, hương ẩn - chữ dùng của Lâm Hòa Tĩnh trong bài Sơn viên tiểu mai); mai chỉ có thể làm bạn với tùng, với trúc, với hạc (sương cầm), với tuyết, với trăng, tuyệt đối không làm bạn với những loài thảo mộc tầm thường khác; khi thưởng mai phải biết thưởng vào những khi thanh tĩnh, cao sĩ thưởng mai trên tuyết (thú đạp tuyết tầm mai), mỹ nhân thưởng mai dưới trăng, bên mai thổi trúc, bên mai làm thơ, đó thực là diệu cảnh vậy. 2.5. Vịnh cát đằng Cát đằng là loại dây leo (dây sắn) thường phải nương tựa vào loại cây khác mà sống. Từ Kinh thi đã có hình ảnh của loài dây leo này, nhưng dây leo lại phải mọc dài triền miên bên bờ sông Hoàng Hà, không nơi nương tựa, giống như sự đời ly loạn khiến cho thân phận người không chỗ nương thân, phải gọi người lạ là cha 52
  4. Thảo mộc trong thơ vịnh vật đời Đường là mẹ là anh mà người lạ vẫn không đoái hoài (Cát lũy, Vương Phong). Thi ca đời sau thường tỉ dụ loài dây leo như thê tử của trượng phu, tuy vậy cũng có những bài có ý khác, ví như bài Thạch thượng đằng của Sầm Tham đã tỉ dụ hình ảnh cây dây leo như người có hùng tài đại chí và nếu được người khác tương trợ thì có thể đạt được những thành tựu lớn lao (Thạch thượng sinh cô đằng, nhược mạn y thạch trường, bất phùng cao chi dẫn, vị đắc lăng không thượng, hà xứ kham thác thân, vi quân trường vạn trượng – Dây sắn leo cô độc trên đá, mềm yếu triền miên bò dài nương tựa vào đá, không gặp được cành cao dẫn lối, không vươn cao lên được không gian, nếu có nơi dẫn lối để gửi thân, thì có thể vươn cao vạn trượng). 2.6. Thơ vịnh trầm hương Trầm hương (trầm thủy hương, mật hương) sắc vàng, chất nặng, thả xuống nước thì chìm, có mùi thơm đặc biệt, dùng làm hương liệu, có thể sinh kì nam, thực là loại gỗ quý; các lầu ngọc xưa có dùng lò hương (hương lô, Bác Sơn là tên một loại lò hương thời xưa) để đốt trầm hương, tỏa khói ấm áp; đáng thương người vì tham hương thơm mà bỏ mạng (ý nói việc tìm trầm). Đó là nội dung một bài thơ của La Ẩn. Hương (La Ẩn) Trầm thủy lương tài thực bách trân Bác Sơn yên noãn ngọc lâu xuân Liên quân diệc thị vô đoan vật Tham tác hinh hương vong khước thân. Sách Nam phương thảo mộc trạng của Kê Hàm đời Tấn có ghi chép về trầm hương của đất Giao Chỉ [4;129]. 2.7. Vịnh cây thu Thu là tên một loại cây, thân cao mà thẳng, sinh trưởng rất nhanh, nở hoa mùa hạ, hoa nở thành chùm, tầng tầng lớp lớp. Hàn Dũ đời Đường đã lấy hình ảnh cây thu để chỉ bản thân và những người sớm phát lộ tài năng nhưng cũng bị nhiều thứ ràng buộc, nếu có một ngày có người gỡ giúp những ràng buộc đó thì tốt biết mấy, cũng giống như nếu cây thu không bị dây leo quấn quanh mình thì có thể nở hoa tầng tầng lớp lớp. Thu (Hàn Dũ) Kỉ tuế sinh thành vi đại thụ Nhất triêu triền nhiễu khốn trường đằng Thùy nhân dữ thoát thanh la phí Khán thổ cao hoa vạn vạn tầng. (Mấy năm sinh trưởng thành đại thụ, Một sớm dây leo quấn khắp mình, Ai người gỡ giúp muôn tơ lưới, Sẽ thấy hoa cao trổ vạn tầng). 53
  5. Đinh Thị Hương 2.8. Vịnh cổ thụ Cổ thụ là những loài mộc đã kinh qua nhiều năm sương tuyết, đã hấp thu được nhiều linh khí trời đất, thơ vịnh cổ thụ thường ẩn dụ chỉ những con người có thể làm rường cột cho nước nhà. Hàn Dũ có bài Khô thụ (Cây cổ thụ bị khô) như sau (Lão thụ vô chi diệp, Phong sương bất phúc xâm. Phúc xuyên nhân khả quá, Bì tróc nghĩ hoàn tầm. Kí thác duy triều khuẩn, Y đầu tuyệt mộ cầm. Do kham trì cải hỏa, Vị khẳng đản không tâm - Cây già không cành lá, gió sương chẳng phạm thân, lòng rỗng chứa người nghỉ, vỏ tróc kiến tìm ăn, muôn nấm nhờ kí sinh, chim chóc tuyệt không đậu, vẫn đủ để nhóm lửa, cho lòng khỏi trống không). Ngay cả khi cổ thụ đã không còn xanh tốt, thậm chí là ngay cả khi đã biến thành khô thụ thì linh khí và tác dụng của cổ thụ vẫn còn nhiều, sở dĩ như vậy không phải chỉ bản chất của cổ thụ còn vì cổ thụ may mắn được gặp người có con mắt tinh đời để ý, không đến nỗi gặp phải gặp kẻ tiều phu trong cơn bĩ cực, điều đó cũng chứng tỏ rằng chỉ có kẻ bẩm thụ nhiều linh khí mới nhận ra kẻ nhiều linh khí, cũng giống như chỉ có bậc giác ngộ mới nhận ra người giác ngộ. Cổ thụ vốn thường ở sơn lâm, dù rằng có không được người đời biết đến thì cũng vẫn còn niềm vui rằng có thể làm bạn với những loài thảo mộc khác. Nhưng cổ thụ ở bình nguyên thì khác, nếu không gặp được người có con mắt tinh tường thì coi như đã một đời uổng phí, cô độc. Cũng giống như hiền tài không có đất dùng, hào kiệt không chốn dung thân, chẳng gặp được người tiến cử lên hoàng đế, thì chỉ mong được như cổ thụ làm thuyền chở người tiên lên chơi sông Vân Hán. Vương Linh Nhiên (692 – 725) có bài Cổ mộc ngọa bình sa (Cổ mộc ngọa bình sa, Tồi tàn tuế nguyệt xa. Hữu căn hoành thủy thạch, Vô diệp phất yên hà. Xuân chí đài vi diệp, Đông lai tuyết phi hoa. Bất phùng tinh hán sứ. Thùy biện thị linh tra - Cổ thụ mọc cát bằng, năm tháng dài tàn tạ, có gốc ngang bằng nước, không lá đưa khói chiều, xuân đến rêu làm lá, thu tới tuyết làm hoa, chẳng gặp người sao hán, ai phát làm thuyền tiên). Như vậy, hình ảnh cổ thụ là hình ảnh của người có khả năng làm rường cột cho nước nhà, là hình ảnh của nhân tài ở ẩn, rất cần được người đời biết đến. 2.9. Thơ vịnh cúc Nói về cúc, phải kể đến Đào Uyên Minh, những danh cú của Đào Uyên Minh về cúc còn ảnh hưởng đến thi ca đời sau viết về cúc. Cúc mang bản chất của kẻ sĩ ẩn dật chốn điền viên, giúp người ta quên nỗi lo buồn, lánh xa thế tục. Cúc là loài hoa ngạo với sương thu, lá không bao giờ lìa cành, hoa chẳng bao giờ rơi xuống đất, có chết cũng vẫn đứng thẳng, giống như kẻ sĩ lúc nào cũng trung thành với lí tưởng. Khi muôn loài thảo mộc tiêu điều vì khí thu thì cũng là lúc cúc nở vàng lưng giậu. Cúc chỉ đẹp khi trồng bên giậu chứ không phải trồng trong chậu, cho nên Đào Uyên Minh mới viết “thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam Sơn” (hái cúc bên giậu đông, thư thái nhìn núi Nam – núi Nam tức là núi Chung Nam, nơi mà các ẩn sĩ thường ẩn dật). Về thơ vịnh cúc đời Đường, có thể kể đến thơ của Nguyên Chẩn, Lý Thương Ẩn. Cúc được đặc biệt ca ngợi trong ngày trùng cửu (mồng chín tháng chín), ngày này các tao nhân mặc khách thường tụ họp, ngắm cúc làm thơ, 54
  6. Thảo mộc trong thơ vịnh vật đời Đường uống rượu hoa cúc (hoàng hoa tửu), do vậy thơ về cúc ra đời trong ngày này tương đối nhiều. Đáng chú ý có hai bài thơ về hoa cúc của Hoàng Sào (? – 884), người từng làm cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Đường. Hoàng Sào đã không đề cao bản tính cô độc cao khiết của cúc, cho rằng cúc có thể làm bạn với đào, và do vậy Hoàng Sào đã có một ý tưởng rất khác biệt (nếu ta được là thanh đế, tức là chúa xuân, ta sẽ báo cho hoa đào nở cùng một xứ với cúc). Đề cúc hoa (Hoàng Sào) Táp táp tây phong mãn viện tài Nhị hàn hương lãnh điệp nan lai Tha niên ngã nhược vi thanh đế Báo dữ đào hoa nhất xứ khai. (Gió thu thổi bời bời đầy sân viện, nhị hương đưa lạnh lẽo bướm khôn gần, ta nếu được là chúa xuân năm tới, báo đào hoa cùng nở ở bên thân). Dưới con mắt của Hoàng Sào, cúc cũng không còn bản tính thôn dã ẩn dật, thậm chí trong thơ viết về cúc, Hoàng Sào còn thể hiện giấc mộng hoàng kim, khiến cho thơ đầy chất kim khí, thậm chí là “sát khí” [2]. Cúc hoa (Hoàng Sào) Đãi đáo thu lai cửu nguyệt bát Ngã hoa khai thời bách hoa sát Xung thiên hương trận thấu tràng an Mãn thành tận đái hoàng kim giáp. (Câu thơ thứ nhất nói về việc đợi đến ngày mồng tám tháng chín mùa thu, tức là trước ngày trùng cửu; câu thứ hai nói khi hoa của ta tức hoa cúc nở thì cũng là lúc trăm hoa của người đã hết, câu này gợi cho người đọc liên tưởng đến câu “thử hoa khai hậu cánh vô hoa – hoa này tàn rụng chẳng còn hoa” của Nguyên Chẩn viết về cúc; câu thứ ba nói hương hoa cúc ngập đầy trường an xông thẳng ngút trời; câu thứ tư nói khắp kinh thành đầy người mang áo giáp vàng, như vậy tác giả tỉ dụ màu vàng hoa cúc là màu vàng kim giáp). Đây rõ ràng là bài thơ thác vật ngôn chí, một cái chí khác thường mà chỉ có Hoàng Sào mới dám nói và dám thực hiện. 2.10. Thơ vịnh lựu hoa Hoa lựu tuy không được nói đến nhiều trong thi ca cổ điển Trung Quốc nhưng chỉ cần một số bài thơ viết về hoa lựu cũng đã đủ làm nên ấn tượng. Xưa nay, mỗi loài hoa nở hay rụng thường muốn có người thưởng thức. Chỉ có hoa mai là dù nở ở nơi núi cao rừng sâu vẫn có thể có người tìm đến. Hoa lựu không có được diễm phúc ấy, nếu lửa lựu lập lòe ngay ở đầu tường thì may ra còn có người chiêm ngưỡng, chứ hoa lựu mà nở ở nơi chẳng có ai đi đến thì hoa lựu chỉ có thể tự sinh tự diệt, đáng tiếc vô cùng. Cũng giống như con người tài đức, nếu chẳng được ai biết đến thì quả là hoài phí biết bao. Hàn Dũ trong bài Lựu hoa đã kí thác tâm sự này của mình vào hoa lựu. 55
  7. Đinh Thị Hương Ngũ nguyệt lựu hoa chiếu nhãn minh Chi gian thời kiến tử sơ thành Khả liên thử địa vô xa mã Điên đảo thanh đài lạc giáng anh. (Tháng năm hoa lựu chiếu chói mắt, giữa những cánh hoa đã bắt đầu thấy quả hình thành, đáng tiếc rằng nơi này không xe ngựa tới, nên hoa lựu đỏ thẫm cứ rơi đầy rêu xanh). 2.11. Thơ vịnh đào Từ trong Kinh Thi đã xuất hiện hình ảnh hoa đào (Đào yêu). Đến đời Đường thơ vịnh đào đã xuất hiện rất nhiều. Đào chẳng những là biểu tượng mùa xuân mà còn là hình ảnh mỹ nhân (sắc hồng của hoa đào và sắc hồng gương mặt mỹ nhân tương ứng với nhau, điều này thấy rõ trong bài thơ Đề đô thành nam trang của Thôi Hộ; sự mỏng manh của hoa đào tương ứng với sự mềm yếu của mỹ nhân; đào tuy nở rộ đầy cành mà chẳng mấy bữa hồng phai hương lạt, điều này tựa như sự chóng phai tàn của nhan sắc mỹ nhân; nhìn cánh đào lạc mà tưởng mỹ nhân vong; nhìn hoa đào chảy trôi như nước mà nghĩ tới tuổi xuân một đi không trở lại). Ngoài ý nghĩa này, đào còn có thể là biểu tượng của chốn bồng lai tiên cảnh (cho nên Đào Tiềm thời Ngụy Tấn mới có “đào hoa nguyên ký” nói về cảnh Lưu Nguyễn lạc vào suối hoa đào). Tuy nhiên, một số người còn có ý cho rằng đào lý (đào và mận) là những loài luôn “tiếu đông phong”, có ý cười xuân cợt gió, không thể là loài sánh ngang tùng trúc cúc mai. Bởi sự đa dạng trong biểu tượng của đào (vẻ đẹp mỹ nhân, sự vô thường, có phần phàm tục) nên các nhà thơ thiền gần như không nói đến đào, trong khi họ nói rất nhiều đến hoa mai. 2.12. Thơ vịnh liễu Trong muôn loài cây, những cây cứng quá thì dễ gãy, những cây yếu quá thì dễ nát, chỉ có cây liễu là mềm dẻo hơn cả, có thể tượng trưng cho đức nhẫn nại tùy thời, vì thế mà Bồ Tát mới dùng nhành dương liễu nhúng vào nước cam lồ đựng trong bình thanh tịnh để rảy lên chúng sinh. Giáo hóa chúng sinh, cứu vớt chúng sinh, cần phải có một sự nhẫn nại vô cùng. Trong thơ vịnh vật, liễu hầu như không có ý nghĩa Phật pháp. Các thi nhân thường vịnh liễu với ý nghĩa tượng trưng cho hình ảnh mỹ nhân hoặc tượng trưng cho sự chia li (nỗi sầu chiết liễu, điển tích liễu Chương Đài), vì thế liễu là loài cây dễ khiến người sầu cảm. Thơ Hạ Tri Chương viết về liễu “Bích ngọc trang thành nhất thụ cao,Vạn điều thùy hạ lục ti thao, Bất tri tế diệp thùy tài xuất, Nhị nguyệt xuân phong tự tiễn đao - Ngọc biếc vun thành một cột cao. Muôn mành tơ rũ ánh xanh xao. Chẳng hay lá nhỏ ai đem cắt. Gió xuân tháng hai tựa kéo đao”. Liễu là loài đáng xem cả thân, cành, hoa, lá, vóc dáng, bóng hình. Thơ vịnh liễu nhiều, thơ vịnh bông liễu (liễu nhứ) cũng nhiều, liễu nhờ gió mà động, bông liễu nhờ gió mà bay, khi la đà, khi điên cuồng, khi dập dềnh, khi trôi nổi (hình ảnh bông liễu trên mặt nước làm người ta liên tưởng đến thân phận cánh bèo). Hàn Dũ đời Đường có bài Trì thượng nhứ (Bông liễu trên ao). 56
  8. Thảo mộc trong thơ vịnh vật đời Đường Trì thượng vô phong hữu lạc huy Dương hoa tình hậu tự phi phi Vị tương khiên chất lăng thanh kính Thấp khước vô cùng bất đắc quy. (Trong ánh chiều tà, bông liễu trên ao, sau cơn mưa nắng, tự do tự tại bay bay đùa giỡn trên mặt nước. Chẳng ngờ tư chất yếu mềm, mải mê soi mình trên gương nước, bị nước thấm ướt rất nặng, chẳng nhấc nổi mình lên trên mặt nước để trở về vị trí ban đầu nữa). Thực là một phát hiện độc đáo. 2.13. Thơ vịnh ba tiêu Ba tiêu là cây chuối. Xưa nay thi ca nói đến ba tiêu thường có hai loại, hoặc là lấy âm (tiếng mưa lộp độp trên tàu tiêu trong đêm thanh vắng), hoặc là lấy hình (vẻ tươi non của ba tiêu trong ngọn gió xuân). Tiền Hử đời Đường có bài Vị triển ba tiêu (Cây chuối còn non), tỉ dụ hình ảnh lá chuối non như ngọn nến màu xanh lạnh (chưa thắp) không có khói, như tấm lòng thơm còn cuốn lại vì sợ ngọn gió xuân lạnh, như phong thư còn ẩn giấu điều thầm kín, bị ngọn gió xuân lén mở ra xem (Lãnh chúc vô yên lục lạp can, Phương tâm do quyển khiếp xuân hàn. Nhất giam thư trát tàng hà sự, Hội bị đông phong ám sách khan - Đuốc lạnh khói không ngọn nến xanh, Lòng thơm còn cuốn sợ xuân hàn, Phong thư ẩn giấu điều chi ấy, Lén mở ra xem ngọn gió lành - Nguyễn Thị Bích Hải dịch). Bài thơ này có ảnh hưởng đến các bài thơ đời sau viết về cây chuối, ví như bài Ba tiêu của Trịnh Tiếp đời Thanh (Ba tiêu diệp diệp vị đa tình, Nhất diệp tài thư nhất diệp sinh, Tự thị tương tư trừu bất tận, Khước giao phong vũ oán thu thanh – Chuối tơ mỗi là một đa tình, Một nõn bung xòe một nhú sinh, Tự gỡ tương tư còn chửa dứt, Lại thêm mưa gió tiếng buồn tênh, Nguyễn Khắc Phi dịch). Và có lẽ cũng chính bài Vị triển ba tiêu này đã ít nhiều ảnh hưởng đến tư duy thẩm mỹ của thi nhân Nguyễn Trãi trong bài thơ Cây chuối. 2.14. Thơ vịnh mẫu đơn Vịnh hoa mẫu đơn, các thi nhân thường vịnh hồng mẫu đơn. Mẫu đơn là loài hoa “quốc sắc thiên hương”, “vương giả chi hoa”, “bách hoa vương”, thường được trồng nhiều trong ngự uyển, kiều diễm sang quý, từng bông rực rỡ, lại thường nhất tề cùng nở, thành một vườn vô cùng tươi thắm. Xưa nay, người biết thưởng hoa, phải là người biết thưởng vào thời khắc hoa nở, bất kể là đêm hay ngày, ấm áp hay lạnh lẽo, ví như muốn thưởng mai thì phải chịu khó “đạp tuyết tầm mai” vì mai thường khai giữa đêm hàn, nếu phải đợi đến sáng ngày hoặc đợi đến thời tiết ấm áp mới thưởng hoa thì như thế không còn là tri kỉ của hoa. Không những thế, người biết thưởng hoa còn phải là người biết lo đến lúc hoa tàn, biết thưởng trước khi mưa gió. Thưởng mẫu đơn cũng thế, mẫu đơn không phải là loài dễ dàng chịu được gió mưa, nếu cứ cố chấp phải đợi đến sáng mới thưởng hoa thì e rằng chẳng những đã phụ lòng hoa mà còn e mưa gió trong đêm sẽ làm lá tàn hoa rụng. Vậy nên, nếu đã có lòng yêu hoa thì cũng phải có lòng luyến tiếc, phải dám nửa đêm thắp lửa tìm hoa, như Bạch Cư Dị Tích mẫu đơn hoa (Tiếc hoa mẫu đơn), chỉ một câu thơ cuối 57
  9. Đinh Thị Hương cùng cũng đã chỉ rõ cho chữ “tích” ở nhan đề. Tích mẫu đơn hoa (Bạch Cư Dị) Trù trướng giai tiền hồng mẫu đơn Vãn lai duy hữu lưỡng chi tàn Minh triêu phong khởi ưng suy tận Dạ tích suy hồng bả hỏa khan. (Sắc mẫu đơn buồn rủ ở đầu thềm, buổi chiều tối mới chỉ có đôi nhánh hoa tàn, sớm mai gió thổi sẽ tan tác hết, tiếc sắc hồng của hoa mà đêm thắp nến để xem). Mỗi bông hoa mẫu đơn như một ngọn nến hồng, hàng ngàn bông hoa mẫu đơn là hàng ngàn ngọn nến, Lý Thương Ẩn trong bài thơ Mẫu đơn cũng từng ví hoa mẫu đơn với nến hồng nhà Thạch Sùng Thạch gia lạp chúc hà tằng tiễn (Thạch Sùng người đời Tây Tấn, hào phú đến nỗi dùng nến thay củi để đốt sưởi, lửa nến cháy mãi không ngớt), như vậy hoa mẫu đơn còn là biểu tượng của sự giàu sang phú quý. 2.15. Thơ vịnh thược dược Nếu mẫu đơn là vua thì thược dược là tể tướng. Về thơ vịnh thược dược, có thể kể đến bài Thược dược của Hàn Dũ: Hạo thái cuồng hương tích vị phùng Hồng đăng luyện luyện lục bàn long Giác lai độc đối tình kinh khủng Thân tại tiên cung đệ kỉ trùng. Chữ “cuồng” thật là độc đáo, xưa nay người ta thường chỉ dùng đến thanh hương, u hương, ám hương (hương ngầm, hương ẩn), tuyệt nhiên không dùng đến cuồng hương, chữ “cuồng” này không chỉ dùng để chỉ mùi hương hoa thược dược mà còn chỉ nhân cách của nhà thơ. 2.16. Thơ vịnh hải đường Hải đường là loài “mơn mởn cành tơ” (chữ dùng của Nguyễn Du trong Truyện Kiều), hải đường thường được trồng nơi phú quý, hải đường trong thi ca thường có hai loại là bạch hải đường và hồng hải đường. Về sự thưởng hải đường cũng tương tự như sự thưởng mẫu đơn, có thể thắp nến thưởng hải đường trong đêm, tuy nhiên nếu thưởng mẫu đơn trong đêm vì sợ sáng ra gió xuân thổi hết thì thưởng hải đường trong đêm vì sợ sáng ra hải đường vẫn ngủ chưa dậy. Việc này vốn liên quan đến một tích truyện rằng Đường Huyền Tông một buổi sớm đến thăm Dương Quý Phi, thấy Quý Phi vì say rượu vẫn chưa tỉnh liền cười mà nói “hải đường thụy bất túc” (hải đường ngủ chưa đủ) [2;196]. Người đời sau khi vịnh hải đường thường lấy tích này. Ví như Tô Thức đời Tống trong bài Hải đường có viết “Chỉ khủng dạ thâm hoa thụy khứ, cố thiêu cao chúc chiếu hồng trang” (Chỉ sợ đêm khuya hoa ngủ mất, khêu nến thêm cao chiếu vẻ hồng). Ngoài việc miêu tả hải đường trong đêm, các thi nhân còn có thể tả hải đường trong mưa, hải đường trong mưa nhỏ có thể tượng trưng cho vẻ đẹp sầu muộn của người phụ nữ, hải đường trong mưa rào có thể tượng 58
  10. Thảo mộc trong thơ vịnh vật đời Đường trưng cho ý chí dám đấu tranh của kẻ sĩ (Hải đường bất tức yên chi sắc, độc lập mông mông tế vũ trung – Hải đường không tiếc sắc đỏ như son, một mình đứng giữa trời mưa lộp độp) [2;211]. 2.17. Thơ vịnh mộc lan hoa Mộc lan hoa còn có tên gọi khác là nữ nương hoa, nữ lang hoa, bên ngoài sắc tím, bên trong sắc trắng, nhị vàng (tương tự như hoa sen) vốn gắn liền với tích chuyện về một cô gái có tên Mộc Lan giả trai thay cha tòng quân (Trong Tùy đường diễn nghĩa hồi 56 còn ghi tích này). Bạch Cư Dị có bài Hý đề mộc lan hoa, coi mộc lan hoa là hóa thân của Mộc Lan cô nương (Tử phòng nhật chiếu yên chi sách, Tố thể phong xuy nhị phấn khai. Quái đắc độc nhiêu chi phấn thái, Mộc Lan tằng tác nữ lang lai - Mặt trời chiếu xuống đài hoa tím hé mở phấn sáp, gió thổi hoa khoe sắc trắng và nhị phấn bay ra, chớ trách một mình nhiều son phấn, Mộc Lan từng là gái giả trai). 2.18. Thơ vịnh tử vi hoa Số lượng các bài thơ vịnh hoa tử vi không nhiều nhưng lại rất ấn tượng. Vẻ đẹp của tử vi hoa là vẻ đẹp khiêm nhường ẩn dật, tử vi hoa mới đích thực là loại “vô ngôn” (không nói lời nào). Tử vi (Đỗ Mục) Hiểu nghênh thu lộ nhất chi tân Bất chiếm viên trung tối thượng xuân Đào lí vô ngôn hựu hà tại Hướng phong thiên tiếu diễm dương nhân. (Một cành mới nở đón sương thu buổi sớm, chẳng đứng đầu vườn xuân để nghênh đón gió, sao bảo rằng đào lí là loài vô ngôn, chẳng phải chúng hướng về phía gió xuân mà cười khoe vẻ kiều diễm đấy sao). Như vậy ở đây tác giả đã lật ý của cổ nhân. Cổ nhân cho rằng đào lý vô ngôn, hạ tự thành hề - hoa đào hoa lý không nói nhưng vẻ đẹp, hoa thơm, trái ngọt của chúng đã đủ lôi cuốn người khiến cho dưới gốc của chúng tự tạo thành đường đi – Sử ký, Lý tương quân liệt truyện [2;124]. Tác giả đã suy luận rằng nếu đào lí vô ngôn thì sao còn cười với gió đông, còn khoe kiều diễm, còn đứng đầu vườn. Lấy những điểm này mà suy thì tử vi hoa đáng được ca ngợi hơn hẳn đào lý. 2.19. Thơ vịnh đỗ quyên hoa Hoa đỗ quyên, sắc đỏ như máu (gợi liên tưởng đến hình ảnh chim đỗ quyên nhỏ huyết gọi hồn nước). Trong lịch sử thơ vịnh đỗ quyên hoa, có thể kể đến bài Đề đỗ quyên hoa của Bạch Cư Dị (Dịch tòng thiên đoá áp lan can, Tiễn toái hồng tiêu khước tác đoàn. Phong niểu vũ yêu hương bất tận, Lộ tiêu trang liễm lệ tân can. Tường vi đới thích phàn ưng lại, Hạm đạm sinh nê ngoạn diệc nan. Tranh cập thử hoa diêm hộ hạ, Nhiệm nhân tham lộng tận nhân khan - Hàng ngàn bông hoa trên lan can tường, như những dải lụa hồng thành chùm rủ xuống, dịu dàng yểu điệu 59
  11. Đinh Thị Hương mang theo mùi hương bất tận, những giọt sương sớm trên đỗ quyên hoa giống như giọt lệ trên khuôn mặt giai nhân vừa trang điểm, hoa tường vi mạnh mẽ vin theo cành, hoa sen trong bùn muốn du ngoạn cùng cũng khó, hoa đua nhau leo lên mái hiên nhà, ai cũng muốn hái xuống để tận mắt thưởng thức). Đỗ quyên hoa, còn gọi là ánh sơn hồng, sơn thạch lựu. Sắc đỏ của đỗ quyên hoa được được ví như lửa, đây là điều không có gì mới, nhưng đem hình dạng và sắc đỏ của đỗ quyên hoa để ví với búi tóc (bị thiêu đốt) được cài trâm ngọc trên đầu giai nhân thì nhà thơ Đỗ Mục là người đầu tiên đạt đến trình độ khoa trương đó. Sơn thạch lựu (Đỗ Mục) Tự hỏa sơn lựu ánh tiểu sơn Phồn trung năng bác diễm trung nhàn Nhất đóa giai nhân ngọc sai thượng Chỉ nghi thiêu khước thúy vân hoàn. 2.20. Thơ vịnh kim tiền hoa Kim tiền hoa nở vào tháng sáu, trông giống như hoa cúc. Dựa vào cái tên hoa mà nhà thơ Bì Nhật Hưu (838 – 883) có sự liên tưởng độc đáo. Kim tiền hoa Âm dương vi thán địa vi lô Đúc xuất kim tiền bất dụng mô Mạc hướng nhân gian sính nhan sắc Bất tri hoàn giải tế bần vô. Thi nhân cho rằng hoa kim tiền là do âm dương làm than, thiên địa làm lò mà đúc xuất ra. Nó không cùng một lò đúc xuất với kim tiền (chỉ đồng tiền).Tuy cũng mang tên gọi kim tiền, nhưng hoa kim tiền dù rằng có nhan sắc đẹp, cũng chẳng thể dùng để cứu giúp người nghèo, đã chẳng thể cứu giúp người nghèo thì chi bằng đừng hướng về nhân gian mà khoe nhan sắc. Bài thơ có ý nghĩa châm biếm xã hội thâm thúy, lại thể hiện sự quan tâm của thi nhân với những người nghèo khổ. 2.21. Thơ vịnh liên hoa Liên hoa (hoa sen) còn có tên gọi là hà hoa, thủy phù dung. Là loài hoa vươn lên khỏi bùn nhơ và ao tù nước đọng để nở và tỏa hương, là biểu tượng cho sự vươn tới giác ngộ trong Phật pháp, cho nên bậc giác ngộ Phật pháp mới tọa lạc trên đài sen. Trong thơ vịnh vật, hoa sen gần như không được dùng với ý nghĩa biểu tượng Phật pháp. Lý Bạch đời Đường lấy hình tượng “thanh thủy xuất phù dung, thiên nhiên khử điêu sức – Nước trong nở hoa sen, thiên nhiên làm trang sức để coi như tuyên ngôn nghệ thuật của mình. Trong lịch sử thơ vịnh vật Trung Hoa, hoa sen được miêu tả thường là loại sen hồng, là biểu tượng của tiên nữ Thái Chân (tương truyền Dương Quý Phi là người mang số mệnh của Thái Chân, trong Trường hận ca của Bạch Cư Dị có nói đến điều này). Tuy nhiên, trong thi ca thì hình ảnh sen trắng (bạch liên) mặc dù ít xuất hiện nhưng để lại ấn tượng rất sâu đậm, bài thơ Trì thượng của Bạch Cư Dị miêu tả cái ngây thơ đáng yêu của một cô bé hái trộm 60
  12. Thảo mộc trong thơ vịnh vật đời Đường hoa sen trắng (Tiểu oa sinh tiểu đĩnh, thâu thái bạch liên hồi, bất giải tàng tung tích, phù bình nhất đạo khai – Cô bé bơi thuyền nhỏ, trộm hái sen trắng về, chẳng biết che giấu tích, mặt bèo rẽ lối đi). Hình ảnh sen trắng còn có thể tượng trưng cho vẻ đẹp phẩm giá thanh cao của con người ẩn dật, bài thơ Bạch liên của Lục Quy Mông đời Đường thể hiện hình ảnh tượng trưng này, qua đó ít nhiều nói lên nỗi oán hận vì tài năng bị bỏ phí không người biết đến và niềm dự cảm về tương lai. Bạch liên (Lục Quy Mông) Tố hoa đa mông biệt diễm khi Thử hoa chân hợp tại dao trì Vô tình hữu hận hà nhân giác Nguyệt hiểu phong thanh dục đọa thì. (Hoa trắng tinh khiết hư ảo không diễm lệ, hoa này thực hợp ở cung Dao trì, vô tình mang hận vì không ai để ý, khi trăng sớm gió lên thì cũng là lúc hoa tàn). 3. Kết luận Tóm lại, trong lịch sử thi ca đời Đường, thơ vịnh các loại thảo mộc chiếm một vị trí tương đối lớn về số lượng, đặc biệt là trong thơ Vãn Đường. Tuy vậy, các thi nhân thường luôn tìm những ý tưởng tân kì với những thần tự nhãn tự để khiến cho các bài thơ tuy nhan đề có trùng mà ý tứ không bị lặp, luôn luôn mới mẻ truyền thần, ngụ tình gửi hứng, thác vật ngôn chí. Sự tiếp nối của thơ ca vịnh thảo mộc đời Đường sẽ được thơ ca các đời Tống, Minh, Thanh thể hiện. Các nhà thơ như Lâm Hòa Tĩnh, Mai Nghiêu Thần, Tô Đông Pha, Hoàng Đình Kiên, Trần Sư Đạo, Lục Du, Phạm Thành Đại, Dương Vạn Lý. . . sẽ tiếp tục làm cho thơ vịnh thảo mộc trăm hương ngàn sắc. Ngoài ra, sự ảnh hưởng của lịch sử thi ca Trung Quốc viết về thảo mộc cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lịch sử thi ca Việt Nam viết về thảo mộc. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Lê Nguyễn Lưu, 1997. Đường thi tuyển dịch 2 tập. Nxb Thuận Hóa, Huế. [2] Vương Đức Minh, Lý Tô Lan, Vương Thư Duyệt, 1996. Cổ đại vịnh vật thi tinh tuyển điểm bình. Quảng Tây Sư phạm Đại học Xuất bản xã. [3] Nguyễn Khắc Phi, 1998. Thơ văn cổ Trung Hoa, mảnh đất quen mà lạ. Nxb Giáo dục, Hà Nội. [4] Mạnh Phồn Sâm, 2004. Vịnh vật thi chú chiết. Sơn Tây Giáo dục Xuất bản xã. [5] Nhiều tác giả, 2002. Từ điển Thành ngữ Hán Việt. Nxb Thế giới. ABSTRACT Plants in Yongwu Poems in the Tang Dynasty The Yongwu poems is a special kind of classic Chinese poetry. There are a number of poems about plants in the Yongwu poems. Especially, in Yongwu Poems during the Tang Dynasty, poems containing reference to plants got high attention because of its content and artistic form, which influenced the following body of post- Tang poetry and Vietnamese poetry. This article analyses some typical Tang poems on plants as such. 61
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2