intTypePromotion=1

Thị trường và giá cả nông sản, thực phẩm - Những rào cản xuất, nhập ngành nông sản

Chia sẻ: Tran Van Dong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:15

1
298
lượt xem
93
download

Thị trường và giá cả nông sản, thực phẩm - Những rào cản xuất, nhập ngành nông sản

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế xã hội bền vững đều phải quan tâm đến cơ cấu kinh tế xã hội, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên, nhân lực. Trong quá trình phát triển, cải cách cơ cấu kinh tế xã hội là nỗ lực của toàn xã hội, trong đó Chính phủ đóng vai trò trung tâm. Trong xã hội, người ta vẫn ví von các doanh nghiệp nhà nước là con đẻ, còn doanh nghiệp tư nhân như con nuôi. Éo le thay, mặc dù con đẻ luôn được nuông chiều, chăm bẵm,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thị trường và giá cả nông sản, thực phẩm - Những rào cản xuất, nhập ngành nông sản

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI BÀI TẬP THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ NÔNG SẢN – THỰC PHẨM Đề tài: “ Những rào cản xuất, nhập ngành nông sản – thực phẩm liên quan đến giá cả thị trường của hàng nông sản – thực phẩm đó” Giáo viên hướng : TS. TRẦN HUY CƯỜNG dẫn Sinh viên thực hiện : TRẦN VĂN ĐÔNG Lớp : KTNNA – K52 MSV : 520902 HÀ NỘI – 2010
  2. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế xã hội bền vững đều phải quan tâm đến cơ cấu kinh tế xã hội, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên, nhân lực. Trong quá trình phát triển, cải cách cơ cấu kinh tế xã hội là nỗ lực của toàn xã hội, trong đó Chính phủ đóng vai trò trung tâm. Trong xã hội, người ta vẫn ví von các doanh nghiệp nhà nước là con đẻ, còn doanh nghiệp tư nhân như con nuôi. Éo le thay, mặc dù con đẻ luôn được nuông chiều, chăm bẵm, ưu ái nhưng lại chậm lớn, ỷ lại, trong khi con nuôi thiệt thòi đủ điều lại biết vượt khó, ngày càng vươn lên, thành đạt. Nước ta là một nước nông nghiệp do đó mà số doanh nghiệp nhà nước chiếm một con số đáng kể trong việc kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, cũng có không ít doanh nghiệp tư nhân kinh doanh mặt hàng nông nông nghiệp mà cụ thể là nông sản – thực phẩm những thứ thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày chúng ta. Tuy nhiên việc gia nhập và rút lui khỏi thị trường nông sản – thực phẩm nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung còn nhiều rào cản hạn chế, ảnh hưởng của việc xuất nhập ngành tới mức giá nông sản – thực phẩm. Do vậy chúng ta tiến hành nghiên cứu đề tài “ Những rào cản xuất, nhập ngành nông sản – thực phẩm liên quan đến giá cả thị trường của hàng nông sản – thực phẩm đó”. 2
  3. II. NỘI DUNG 2.1 Một số lý luận 2.1.1 Rào cản là gì? Rào cản là bất kì biện pháp hay hành động nào gây cản trở công việc cần làm. 2.1.2 Rào cản xuất, nhập ngành là gì? Là các bất kỳ các biện pháp hay hành động nào gây cản trở cho việc gia nhập or rút lui khỏi thị trường ngành nào đó. 2.2 Rào cản nhập ngành Để gia nhập vào kinh doanh ngành nông sản – thực phẩm bạn phải có đầy đủ các điều kiện quan trọng để nhập ngành như có đất đai hoặc vùng quy mô sản xuất nông sản tập trung với số lượng lớn, và như vậy chúng ta cần có một nguồn vốn lớn để đầu tư ban đầu. mặt khác việc sản xuất nông nghiệp lại theo thời vụ và hàng hóa mang tỷ khối lớn cần có một mặt bằng kinh doanh đủ rộng. có thể thấy gia nhập ngành nông sản thực phẩm có 4 rào cản chính sau: 2.2.1 Tính hữu hạn của tài nguyên Tài nguyên ở đây là đất đai, nguồn nước, khí hậu…. khó khăn lớn đối với nông nghiệp nước ta là: cách sản xuất manh mún trên từng thửa ruộng, mảnh vườn nhỏ của nông dân ta không thể nào đáp ứng những đơn đặt hàng mỗi lần hàng ngàn tấn sản phẩm của các công ty nước ngoài. Nhà nước cần sửa đổi chính sách nông nghiệp sao cho nông dân có thể tự nguyện hợp nhau thành những HTX nông nghiệp đa năng, những trang trại rộng lớn sẵn sàng tham gia xuất khẩu. Các giống cây con mới sẽ được 3
  4. nhập vào nước ta bán rất đắt, nhưng nông dân không thể tùy tiện nhân giống ra vì các công ty nước ngoài giữ quyền tác giả. Do đó, rất có thể các nông dân nghèo không có cơ hội để sử dụng những tiến bộ khoa học này. Trong khi đó, hàng hóa nông nghiệp VN thường không có nhãn hiệu có uy tín quốc tế nên bán không được giá. Cụ thể: Theo kết quả khảo sát của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp ngày 21.5 (Bộ NN&PTNT), đồng bằng sông Hồng hiện đang là khu vực có mức độ manh mún nhất trong việc chia ô, thửa ruộng. Kết quả khảo sát cho thấy, khu vực này hiện có đến 26.353.080 thửa ruộng được chia cho 2.815.934 hộ nông dân và trung bình, mỗi hộ có gần 9,4 thửa ruộng khác nhau. Song sau đến 8 năm thực hiện chủ trương dồn điền - đổi thửa, tại khu vực đồng bằng sông Hồng hiện mới có 2 tỉnh Hà Nam và Bắc Ninh cơ bản khắc phục tình trạng manh mún đất đai. Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, khó khăn lớn nhất khiến tốc độ dồn điền - đổi thửa tại các địa phương chậm trễ như hiện nay là do thiếu kinh phí đo đạc. Ước tính để hoàn thành việc đo đạc, dồn điền - đổi thửa cho mỗi ha đất lên tới 4-11 triệu đồng và nhiều địa phương buộc phải bán một phần đất công ích lấy kinh phí. Để hoàn thành dồn điền đổi thửa tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp ước tính cần khoảng hơn 100 tỉ đồng. Trong khi đó đồn điền - đổi thửa không chỉ giúp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn thuận lợi mà còn giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho nông dân. Việc hạn chế tài nguyên thiên nhiên sẽ làm cho việc sản xuất kinh doanh gặp nhiều trở ngại nhất là đối với ngành nông sản – thực phẩm. khi có được nguồn tài nguyên lớn việc sản xuất sẽ được dễ dàng hơn và kéo theo đó mức giá của hàng hóa sẽ giảm hơn. 4
  5. VD như việc tích tụ đất đai, nếu như đất đai không manh mún, các hộ nông dân làm ăn lớn có đủ đất để sản xuất nhỏ sẽ tạo nên một vùng chuyên canh sản xuất hiệu quả và do đó giá cả nông sản sẽ thấp hơn + việc nhập ngành kinh doanh sẽ có quy mô, dễ dàng hơn. 2.2.2 Vốn đầu tư ban đầu lớn Trong kinh doanh vốn là công cụ cần thiết hàng đầu để doanh nghiệp thực hiện ý định kinh doanh của mình. rất nhiều người đã không thể tham gia kinh doanh vì không đủ vốn, DN nông nghiệp kinh doanh nông sản – thực phẩm cũng không phải là ngoại lệ việc có vốn lớn rất có lợi cho kinh doanh. Mặt khác, kinh doanh nông sản là thu mua của bà con nông dân nên thường phải thanh toán tiền luôn cho họ; đôi khi còn phải ứng trước cho bà con. Khi gia nhập ngành cần mua máy móc, thiết bị, vận tải… việc có vốn lớn sẽ dám mua nhiều hơn và sẵn sàng mạo hiểm hơn để chi trả mức giá trên thị trường Vốn là một trong những rào cản lớn đối với DN: như việc DN không thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cụ thể, Cùng với việc cam kết giảm lãi suất, các NH thương mại cũng khẳng định đặc biệt ưu tiên cho vay vốn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên trên thực tế, kể cả DN nằm trong danh mục ưu tiên hiện vẫn rất khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn này. Là đơn vị chuyên về xuất khẩu mặt hàng nông sản cà phê, nhưng Tập đoàn Thái Hoà vẫn đang phải đi vay ngân hàng với lãi suất 14%, thậm chí 15%/năm. Ông chủ doanh nghiệp này phân trần, dù đơn vị nằm trong diện ưu tiên: Xuất khẩu và hàng nông sản, dù các ngân hàng đã tuyên bố hạ lãi suất, nhưng tất cả vẫn chỉ là những lời hứa mà thôi. 5
  6. Thậm chí, dù đã kí kết với nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng để tận dụng được ưu tiên, ưu ái trong sắp xếp nguồn vốn, nhưng trong số hạn mức trên 260 tỷ đồng, công ty PVC Hà Nội vẫn chưa thể nào tiếp cận được với mức lãi suất 12%/năm. (http://tintuc.xalo.vn/00- 99448959/dn_khong_the_tiep_can_nguon_von_uu_dai.html) Và do vậy khi vốn ít DN sẽ khó gia nhập ngành hơn khi trong điều kiện các đàn anh đi trước đã chiếm lĩnh hết thị phần thị trường, sẵn sàng thay đổi mức giá mua gạt bỏ đàn em mới gia nhập ra khỏi thị trường để chiếm lĩnh thị trường. Việc có một nguồn vốn lớn sẽ tạo một điều kiện rất thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh nông sản – thực phẩm bởi khi có vốn lớn quy mô sản xuất của DN sẽ lớn hơn khả năng chuyên môn hóa cao => giá giảm hơn so với các doanh nghiệp cùng loại quy mô nhỏ hơn. 2.2.3 Thiếu mặt bằng kinh doanh kinh doanh nông sản thực phẩm đòi hỏi phải có mặt bằng rộng để chứa nông sản vì nông sản đặc thù là khối lượng vật chất lớn. mặt khác, việc mua đất, thuê mặt bằng do quy chế của chính phủ vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Mặt bằng có ảnh hưởng lớn tới giá của nông sản bởi như chúng ta đã biết vị trí có ưu thế chiến lược giúp giá bán cao or thấp trên thị trường. giá bán tại thành phố cao hơn hẳn so với ở nông thôn. Khi giá của mặt bằng kinh doanh cao như vậy là nó được tính vào chi phí làm tăng chi phí do đó sẽ làm cho giá thành sản phẩm tăng cao. Mặt bằng có tầm quan trọng đặc biệt. DN muốn có mặt bằng sản xuất thường có 3 phương án lựa chọn: thuê của Nhà nước; thuê của các tổ chức, cá nhân khác; dùng ngay chính đất đang ở để tổ chức sản xuất. 6
  7. Nhưng chính sách đất đai đang làm khó cho các DNVVN. Rất nhiều DN cần mặt bằng sản xuất nhưng lại không có “một miếng đất cắm dùi”. Hiện, các DNVVN mới thoát khỏi khủng hoảng nên còn rất yếu. Nếu đi thuê đất của Nhà nước ở những nơi được gọi là ưu đãi thì lại mất rất nhiều thời gian, hơn nữa các khu vực đất mà Nhà nước cho thuê không nhiều. DNVVN thường có quy mô nhỏ, địa bàn hoạt động hẹp, có khi chỉ trong phạm vi vài xã chứ chưa đến một huyện nên kênh lập dự án để thuê đất của Nhà nước cũng không đủ điều kiện để đáp ứng. Ngoài ra mặt bằng còn tạo ra lợi thế đối với doanh nghiệp; có thể thấy rõ lợi thế trong kinh doanh như sau tại các thị trường khác nhau. Giá cà phê Thị trường Giá VND/tấn London (11/10) 1,766 34,625,962.00 FOB (HCM) 1,685 33,037,795.00 ĐakLak 31,000 31,000,000.00 Lâm Đồng 31,000 31,000,000.00 Gia Lai 30,900 30,900,000.00 ĐakNông 30,900 30,900,000.00 Tỷ giá USD/VND 19,607 Đơn vị tính: VND/kg | Giá FOB: USD ($)/tấn http://giacaphe.com/gia-ca-phe-noi-dia.html 7
  8. 2.2.4 Chính sách của nhà nước Việt nam mới bước đầu gia nhập vào nền kinh tế thị trường năng động và nhiều cạnh tranh nên cơ chế chính sách vẫn còn nhiều lỗ hổng., đây cũng là một trong những rào cản gây khó khăn cho DN khi tham gia thị trường và kinh doanh. Những khuyết tật trong thị trường không hoàn hảo làm cho các doanh nghiệp mới gia nhập gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng tới mức giá của hàng hóa mà họ sản xuất, tiêu dùng. Các quy chế trong việc mua nguyên liệu chưa được quy định chặt chẽ, còn có sự tranh chấp trong thu mua. Làm tăng giá nguyên liệu đầu vào => tăng giá sản phẩm đầu ra Về vốn và chính sách vay. Do tình hình tài chính chung của nước ta đang khó khăn nên các ngân hàng thương mại đã hạn chế các món vay trung và dài hạn mà quan tâm nhiều đến món vay ngắn hạn với luận điểm là quay vòng vốn nhanh hơn và tích lũy được cho xã hội. Trong khi đó, đa phần các DNVVN không thể vay ngắn hạn được. Rõ ràng điều đó đang làm DNVVN vốn đã yếu càng thêm khó. Tính minh bạch của các chính sách chưa cao. VD: tình trạng Tranh mua nguyên liệu mía: "Cuộc chiến" chưa kết thúc! KTNT - Nhiều năm qua, tình trạng thiếu mía nguyên liệu khi vào vụ ép đã dẫn đến “cuộc chiến” nảy lửa giữa các nhà máy đường (NMĐ) khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Niên vụ ép 2010-2011 với những căng thẳng do thiếu nguyên liệu tiếp tục báo trước cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt. Thu mua mía ở Đồng Xuân (Phú Yên). 8
  9. Cầu vượt cung Với diện tích 15.000ha mía, tỉnh Gia Lai được xem là vùng nguyên liệu mía trọng điểm của khu vực miền Trung -Tây Nguyên. Năm nào mưa thuận gió hòa, không bị nắng hạn, năng suất mía đạt 55 tấn/ha, tổng sản lượng toàn vùng 825.000 tấn/vụ. Trong khi đó, vây quanh vùng nguyên liệu này là một loạt NMĐ lúc nào cũng... “đói” mía. NMĐ An Khê có công suất 5.000 tấn/ngày, mỗi vụ ép cần 750.000 tấn mía cây nên không năm nào đủ nguyên liệu cho sản xuất, mới tháng 3 đã phải treo máy. NMĐ Bình Định có công suất 3.500 tấn/ngày, nhu cầu nguyên liệu cho mỗi vụ là 525.000 tấn, trong khi đó vùng nguyên liệu tại Bình Định của nhà máy này chỉ có 2.500ha, sản lượng 125.000 tấn/năm. Bên cạnh đó, vùng nguyên liệu hơn 3.000ha mà Công ty cổ phần Đường Bình Định được UBND tỉnh Gia Lai quy hoạch tại An Khê thường xuyên bị các NMĐ lân cận tranh mua nên Công ty này luôn lâm vào cảnh... đói nguyên liệu trầm trọng. Cách đó không xa, NMĐ Ayun Pa (thuộc Công ty cổ phần Mía đường - Nhiệt điện Gia Lai) khi nâng công suất lên 3.000 tấn/ngày, nhu cầu nguyên liệu cho mỗi vụ tăng đến 450.000 tấn thì năm nào cũng phải chạy đôn chạy đáo mà vẫn không đủ nguyên liệu. Cách TP. Pleiku (Gia Lai) 40km là NMĐ Kon Tum, dù công suất chỉ 1.500 tấn mía/ngày nhưng tình trạng nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng chẳng sáng sủa hơn. Bước vào niên vụ ép 2010-2011, khi Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi quyết định sáp nhập NMĐ Quảng Phú vào NMĐ An Khê, nâng công suất ép của NMĐ An Khê từ 5.000 tấn lên 7.000 tấn/ngày thì áp lực nguyên liệu tại vùng mía Gia Lai thật sự bị khủng hoảng. Một cán bộ phụ trách 9
  10. nguyên liệu của các NMĐ trong khu vực nhận định: “Vào mỗi vụ ép, các NMĐ An Khê, Ayun Pa, Kon Tum, Bình Định đều phải xâu xé từ vùng nguyên liệu mía Gia Lai khoảng 15.000 tấn mía/ngày. Mỗi niên vụ sản xuất là 150 ngày, như vậy mỗi vụ ép, vùng mía Gia Lai phải gồng mình cung ứng gần 2,3 triệu tấn mía cây cho những cơn đói mía nguyên liệu của các NMĐ”.(http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/kinhte- thitruong/2010/9/25167.html) 2.3 Rào cản xuất ngành 2.3.1 Khó tìm được cơ hội kinh doanh ở ngành khác Đối với nông nghiệp, có thể thấy một điều hiện nay giá hầu hết các nông sản VN đều đắt hơn hàng nước ngoài mà chất lượng lại không bảo đảm. Giá thành sản xuất hàng của ta thường cao hơn của người do tốn nhiều chi phí, trả nhiều lệ phí, trả nhiều công gián tiếp. Thí dụ trường hợp mặt hàng nông sản cơ bản của ta là lúa gạo. Thái Lan trồng lúa mùa địa phương, tuy năng suất chỉ đạt dưới 2,5 tấn/ha nhưng chất lượng tuyệt vời, tận dụng điều kiện thiên nhiên nên không tốn tiền bơm nước, ít tốn phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, diệt cỏ. Trái lại, nông dân VN trồng lúa cao sản ngắn ngày năng suất 4-6 tấn/ha nhưng phải tốn tiền bơm nước ra để sạ cấy, bón nhiều phân, bơm nước vào giữ nước ruộng, phun thuốc trừ sâu bệnh, làm cỏ, phòng trừ chuột. Các loại nông sản khác cũng tốn kém tương tự. Cho đến bây giờ Nhà nước vẫn chưa đầu tư nhiều vào nghiên cứu các biện pháp làm giảm giá thành sản xuất nông sản. Kinh doanh nông sản – thực phẩm không những khó tìm được cơ hội bán sản phẩm ra thị trường quốc tế mà nó còn có những khó khăn trong việc từ bỏ kinh doanh sang ngành khác. Bởi: Ngành nông sản – thực phẩm có những đặc thù riêng và rất khó chuyển đổi kinh doanh. Khi chuyển đổi tức là doanh nghiệp từ bỏ kinh doanh mặt hàng nông sản. do đó, mà để lại 10
  11. một lỗ trống trong thị trường + lượng cung hàng hóa giảm => sẽ có thể đẩy giá nông sản tăng lên cao. Nhiều khi đối với doanh nghiệp có tầm ảnh hưởng lớn khi rút lui khỏi thị trường còn tạo nên tình trạng độc quyền tạo ra sự tăng giá…. 2.3.2 Giá trị thu hồi tài sản thấp trong kinh doanh nông sản – thực phẩm giá trị thu hồi bao gồm tài sản cố định là các máy móc thiết bị chế biến, máy bảo quản… và tài sản lưu động bao gồm các hàng hóa, sản phẩm nông nghiệp… việc thu hổi tài sản thấp có thể là do việc bán tài sản lưu động với giá thấp bởi khi doanh nghiệp nông nghiệp kinh doanh nông sản thực phẩm rút ra khỏi thị trường sản phẩm hàng hóa thường bị ép giá bán với mức giá rẻ mạc or thanh lý giá rẻ => ảnh hưởng tới mức giá của nông sản trên thị trường. 2.3.3 Quy chế của nông nghiệp Thứ tư, thời gian chi phí không chính thức cũng là một thách thức. Rất nhiều DN đã than phiền rằng họ mất quá nhiều thời gian trong khâu làm thủ tục, giấy tờ. Hầu hết các doanh nghiệp nông sản – thực phẩm, trong đó doanh nghiệp của nhà nước chiếm một bộ phận lớn nhiều lúc muốn chết cũng không được; theo tiến sỹ Phạm Viết Muôn nói về công ty dệt (Họ chết vì không chịu đổi mới công nghệ, sản phẩm làm ra không đáp ứng được nhu cầu thị trường. Bài học từ doanh nghiệp này để lại quá lớn, đó là yếu kém trong quản lý nhà nước ngay từ công tác nhân sự. Ngành dệt may có đặc thù riêng, nhưng giám đốc nhà máy lại được bổ nhiệm từ các sở nên không thể hiểu được những rắc rối, khó khăn trong nghề. Đội ngũ công nhân cũng rất kém cỏi, vừa rồi có một liên doanh về tuyển trong cả nghìn công nhân 11
  12. mà không chọn được ai). Sự quản lý của nhà nước vì nhiều nguyên nhân như là đơn vị anh hùng, cán bộ là từ sở xuống + nhà nước muốn duy trì lực lượng doanh nghiệp làm chủ đạo cho nền kinh tế nên nhiều lúc vẫn tạo ra những ràng buộc rào cản trong việc thoát khỏi ngành nói chung và ngành nông sản – thực phẩm nói chung! 2.3.3 Nghĩa vụ pháp lý + đạo đức dn đối với khách hàng và người lao động Nghiên cứu về đạo đức là một truyền thống lâu đời trong xã hội loài người, bắt nguồn từ những niềm tin về tôn giáo, văn hóa và tư tưởng triết học. Đạo đức liên quan tới những cam kết về luân lý, trách nhiệm và công bằng xã hội. Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định. Thực trạng đạo đức kinh doanh ở Việt Nam Đạo đức kinh doanh là một vấn đề mới ở Việt Nam. Các vấn đề như đạo đức kinh doanh, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp… mới chỉ nổi lên kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới và tham gia vào quá trình quốc tế hóa và tòan cầu hóa vào năm 1991. Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam tham gia quốc tế hóa, có nhiều phạm trù mới được xuất hiện như: quyền sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, đình công, thị trường chứng khoán… và vì thế khái niệm đạo đức kinh doanh trở nên phổ biến hơn trong xã hội. Với ngành nông sản – thực phẩm với người tiêu dùng phục vụ chủ yếu là nhân dân, lao động làm công là người dân nên việc coi trọng đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp đối với khách hàng và chính nhân viên của mình là phù hợp với thuần phong mỹ tục của nước ta. 12
  13. Việc coi trọng đạo đức kinh doanh ở đây bao gồm việc doanh nghiệp mặc dù làm ăn hòa vốn or thua lỗ cung không sa thải nhân viên để dần rút ra khỏi thị trường, việc đạo đức kinh doanh đối với khách hàng đó là chăm lo cho sản phẩm tốt. khi rút ra khỏi thị trường vẫn chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với số hàng hóa của mình. Rào cản này vừa là tự nguyện vừa là bắt buộc theo quy định của nhà nước ta. III. KẾT LUẬN Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an sinh xã hội cho Việt Nam. Đó là chưa kể, tuy đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng xuất khẩu nông sản, nhất là gạo, thủy sản, cà phê... vẫn đóng vai trò đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu mà Việt Nam đạt được từ đầu năm 2009 đến nay. Nông nghiệp là hậu phương vững chắc giúp nền kinh tế sớm ra khỏi ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Vì nông nghiệp đóng vị trí quan trọng như vậy, trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, Việt Nam cần nhìn nhận đúng vai trò của lĩnh vực này. Khi xây dựng được chiến lược phát triển nông nghiệp hợp lý đặt trong cơ cấu ngành tổng thể của nền kinh tế, thì sẽ tận dụng có hiệu quả thế mạnh của nông nghiệp. Qua đó góp phần giúp lĩnh vực này đóng góp nhiều hơn cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông sản – thực phẩm có tầm quan trọng đối với GNP quốc gia và tốc độ tăng trưởng, các doanh nghiệp nông nghiệp có vai trò lớn trong nền kinh tế do vậy chúng ta cần có các biện pháp kích thích sự phát triển của bộ phận doanh nghiệp này. 13
  14. Các rào cản đối với các doanh nghiệp nông sản – thực phẩm cần được hạn chế vả cải tổ cho phù hợp với hoàn cảnh mới tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tham gia và rút khỏi thị trường khi có nhu cầu. Tránh tình trạng tạo nên sự thay đổi giá đột ngột lũng đoạn thị trường gây mất ổn định kinh tế - chính trị - xã hội. 14
  15. MỤC LỤC Vốn là một trong những rào cản lớn đối với DN: như việc DN không thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cụ thể,......................................................................................................5 CHÉM GIÓ.COM X-:D-X 15
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2