
Thơ lãng mạn Trung
Hoa - Từ Khuất Nguyên
đến Lý Bạch và Lý Hạ

Lý Hạ lại khẳng định cái tôi cá nhân theo một hướng mới – cái tôi sáng tạo. Tìm về tận
cùng bản thể, giải phóng cá nhân cũng là giải phóng năng lực sáng tạo tiềm ẩn trong mỗi con
người. Về phương diện này, Lý Hạ đã có đóng góp quan trọng trên con đường phát triển của
thơ cổ Trung Hoa. Có thể nói, chưa ở đâu, vai trò của nhà thơ – người sáng tạo lại được đề
cao đến vậy:
Điện tiền tác phú thanh ma không,
Bút bổ tạo hóa thiên vô công.
(Trước nhà làm thơ thanh âm chạm vào bầu trời
Ngòi bút bổ sung chỗ khiếm khuyết của tạo hóa
không tốn chút công sức – Cao hiên quá)
Trong cái nhìn của Lý Hạ, vai trò sáng tạo của nhà thơ cũng giống như một “ông trời
con”. Và cũng chỉ nhà thơ mới lắng nghe được những lời âm thầm sâu thẳm của tạo vật:
Phi quân ngâm nhạc phủ,
Thùy thức oán thu thâm.
(Nếu chẳng là anh ngâm nhạc phủ,
Ai biết mùa thu nỗi oán sâu – Ba Đồng đáp)
Sáng tạo cái lạ ở Thi Quỷ được xem như một dấu ấn đột biến trong tiến trình phát triển
văn học Trung Quốc. Hình tượng, ý cảnh, phương pháp so sánh trong thơ ca của Lý Hạ
không đi con đường người xưa đã đi mà ông xây dựng cho mình một phong cách riêng độc
đáo, mở ra những chân trời mới cho những sáng tác theo tinh thần chủ nghĩa lãng mạn, thê
lương diễm lệ. Tô Tiểu Tiểu mộ và Mộng thiên là những tác phẩm thể hiện rõ nét nhất cho
phong cách nghệ thuật độc đáo của ông.
Thu về bản ngã, lấy tâm hồn làm điểm quy chiếu ngoại vật, nên thơ Khuất Nguyên –
Lý Bạch – Lý Hạ đều mang nặng tâm tình cô độc. Khuất Nguyên tự ý thức rằng loài chim
cao quý “vốn xưa nay là giống không đàn”, Lý Bạch đơn độc ngàn năm bị người đời ghét “ai
cũng muốn giết” (Đỗ Phủ), còn Lý Hạ đã mang thân phận cô đơn trong sinh mệnh Thi Quỷ.

Lý Bạch kế thừa được khát vọng mạnh mẽ của Khuất Nguyên, trong khi Lý Hạ nghiêng về
phần tối, trầm uất, cô độc của tác giả Ly tao. Nằm trong loại hình thơ ca cổ điển phương
Đông với sự chế ước của cái ta siêu ngã nhưng dòng mạch ngầm lãng mạn ấy vẫn tạo nên ba
đỉnh sóng của cảm xúc, tâm trạng độc đáo phi phàm: một Khuất Nguyên “ngã độc tỉnh” của
kẻ “Cất mình khoảng trời mây rộng rãi”… một Lý Bạch “Độc tọa Kính Đình” của “Kình ngư
nằm vắt ngang biển”, của “đại bàng gãy cánh tầng không”; một Lý Hạ “Đề điểu bị đàn quy”
(Con chim bị đạn cất tiếng kêu khi quay về) lặng lẽ “khổ ngâm”… Cuộc đời, thời đại, cá tính
khác nhau nên sắc thái cái tôi cũng khác. Nhưng cả ba đều có vẻ bề ngoài khoáng đạt “đạt tắc
kiêm tế thiên hạ, cùng tắc độc thiện kỳ thân” (đạt thì cứu thiên hạ, cùng thì giữ thiện một
mình) của cái tôi “lội ngược” trên mặt đất bất như ý vọng tiếng thở dài lên trời xanh của kiếp
người. Đó là khát vọng xanh tìm về lại mình, nhận ra mình là ai trong thế giới.
2.2. “Tìm cái phi thường, cái ước mơ”
Khuất Nguyên – Lý Bạch – Lý Hạ đều kiến tạo một thế giới thơ của riêng mình. Khát
vọng muôn đời của người nghệ sĩ là đi tìm cái đẹp. “Cái tầm thường là cái chết của nghệ
thuật”, người thơ lãng mạn đi ra ngoài sự thực mà tìm kiếm cái đẹp lý tưởng, hướng đến cái
tuyệt đích, không cùng.
2.2.1. Ly tao – thế giới của thiện mĩ (cái đẹp hoàn hảo)
Cái đẹp – theo quan niệm của Khuất Nguyên – phải là cái đẹp lý tưởng, tuyệt đối,
hoàn toàn, trọn vẹn (thiện mĩ) và ông xây dựng thế giới thơ của mình theo quan niệm ấy.
Trong thế giới ấy, nền chính trị cũng phải được tạo ra trên tiêu chí cái đẹp (mỹ chính) với vua
sáng, tôi hiền, con người biết trau chuốt, hoàn thiện mình trọn vẹn từ thể xác đến tâm hồn.
Lối vào Ly taotràn ngập các loài hoa thơm cỏ lạ như là một biểu trưng cho cái đẹp toàn thiện
toàn mĩ ấy. Dòng mạch cảm hứng quyết không bỏ chính theo tà, bỏ trong theo đục… cũng
được thể hiện theo diễn biến tâm trạng của “người đẹp” đi tìm “bạn lòng”. Vì mang đậm chất
lý tưởng nên cái đẹp của Ly tao nghiêng về tinh thần, ở đó người ta trồng hoa, chăm hoa, mặc
hoa, và thức ăn cũng là tinh túy của các loài hoa cỏ Ăn hoa rụng bên nhành thu cúc – Uống
sương sa dưới gốc mộc lan, Hoa quỳnh bẻ lấy phòng khi – Nhành thì làm bánh, cánh thì làm
cơm… Chính vì đòi hỏi cao với quan niệm cái đẹp lý tưởng như vậy nên va đập với hiện thực
là điều tất yếu. Khuất Nguyên không thể xây dựng hiện thực theo lý tưởng của ông về cái

đẹp, cũng không thể từ bỏ lý tưởng của mình, vì vậy mà rơi vào bi kịch. Ly tao là đóa hoa kết
tinh trữ tình lãng mạn trên nền tảng hiện thực của thời đại “trăm hoa đua nở” hào hùng mà bi
kịch thông qua tiếng lòng của một cái tôi cô độc nên xanh mãi trên dòng Tương giang.
2.2.2. Thơ Lý Bạch – thế giới của kỳ mĩ (vẻ đẹp lạ lùng)
Theo đuổi cái đẹp cũng là thiên chân của thi tiên Lý Bạch. Cá tính mạnh mẽ được phát
huy nhờ thời đại cực thịnh, Lý Bạch không bằng lòng với cái đẹp bình thường. Nhiều nhà
nghiên cứu nhận ra tính chất kỳ của thơ Lý Bạch. Trong thơ của mình, Lý Bạch kiến tạo nên
một thế giới của những vẻ đẹp phi thường, lạ lùng – vẻ đẹp kỳ mĩ. Tầm vóc cao khoát của
người thơ “thiên tải độc bộ” giống như cái vươn vai của vị thần trong thần thoại, phút chốc
xô lệch những khuôn khổ chật hẹp để tìm về cái cao rộng của bầu trời. Cái đẹp trong thơ ông
thường đi về hai thái cực. Một cực tìm về những cái vô cùng to lớn, dữ dội, hào hùng “Cảnh
dữ dội, sóng nghiêng trời, thác ngàn đổ”. Núi phải vô cùng cao giữa trời xanh nở đóa sen
vàng, sông phải chảy từ trờithiên thượng lai, thác phải tuột thẳng từ trên mây xuống lạc cửu
thiên… Ngay cả chiều kích của nỗi sầu trong thơ ông cũng lạTóc bạc ba nghìn trượng – Vì
sầu nên hóa dài. Ở thái cực kia là cái đẹp tuyệt vời trong sáng, tinh tế của “Nét mong manh,
thấp thoáng cánh hoa bay”. Với ngòi bút lấp lánh, nhà thơ vẽ cảnh cá trắng nhảy tung
rong, vượn uống trăng dưới nước, hay mặt nước xanh biếc cộng hưởng vầng trăng thu cùng
sáng… Đôi mắt đầy mộng của người thơ có năng lực xuyên thấu lớp vỏ bình thường của sự
vật mà cảm ngộ bản chất kỳ ảo được giấu kỹ bên trong. Với năng lực phi thường, tự nhiên
không tốn chút công sức, Lý Bạch đã dựng nên một thế giới thơ đẹp tráng lệ không tiền
khoáng hậu trong thi ca. Cho nên, đặc điểm tổng quát trong thơ Lý Bạch chính là tính phân
cực chiếu ứng phức tạp trong hệ thống. Hai đối cực rất siêu phàm và rất thực, lạ mà quen với
những “nghi thị…” rất Lý Bạch… được dung hợp qua đôi mắt nhìn của riêng ông nên hình
ảnh trong thơ ông thường gây ấn tượng mạnh cho người đọc: sửng sốt bất ngờ mà chân thực
cao độ.
Lạ ở một Trích tiên – người mang một khát vọng trong veo của trời mà bị đày ở đất,
bất đắc chí mà mãi canh cánh trời xanh Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu – Cử bôi tiêu sầu
sầu cánh sầu… Lạ ở mắt nhìn một đời người mà quen ở kiếp người – đặc biệt người trí thức
chân đi trên đất mắt mãi nhìn trời. Cuộc đời của Thi tiên là hành trình tìm cái đẹp và vươn tới
cao cả. Nên đặc trưng mỹ học của thơ ông là sự thống nhất hài hòa giữa cái cao cả và cái đẹp.

Và thế giới kỳ mỹ ấy làm nên ma lực nghệ thuật Bút lực kinh phong vũ – Thi thành thê quỷ
sầu, người đọc có cảm giác hào sảng phiêu diêu.
2.2.3. Thơ Lý Hạ - thế giới của quái mĩ (vẻ đẹp quái dị)
Cái đẹp trong thơ Lý Bạch, dù kỳ lạ, vẫn nằm trong cảm thức thẩm mĩ chung, thoát
thai từ vẻ đẹp trần thế. Đến Lý Hạ - thơ ca đã đi từ tưởng tượng đến ảo tượng – và ảo giác –
ra khỏi địa hạt thông thường của tâm trí con người. Như hình thành một cặp bổ sung – đối lập
không tiền khoáng hậu, Thi Quỷ tồn tại như một âm bản, một phương diện thứ hai của hồn
thơ: Lý Bạch sáng – Lý Hạ tối, Lý Bạch chủ về ngày với ánh mặt trời huy hoàng xán lạn –
Lý Hạ chủ về đêm với bóng tối chập chùng lạnh lẽo. Cõi tiên Lý Bạch là chiều cao lý tưởng –
mơ ước mà con người muốn hướng đến, cõi quỷ mà Lý Hạ dựng nên lại là bề sâu nỗi sợ hãi
vô thức của con người. Nếu thơ Lý Bạch như đóa sen xòe nở dưới ánh mặt trời, thì thơ Lý Hạ
như đóa hồng bạch ngát hương mọc lên từ những nấm mộ.

