intTypePromotion=1

Thống nhất quản lý tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững

Chia sẻ: Tran Huyen Anh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
143
lượt xem
23
download

Thống nhất quản lý tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trước đây tài nguyên nước trên trái đất tưởng như vô tận; nhưng ngày nay, do sức ép của sự gia tăng dân số, của đô thị hóa và công nghiệp hóa, làm suy giảm tài nguyên nước, khiến tình trạng thiếu nước đang trở thành phổ biến và nghiêm trọng tại nhiều khu vực. Ðiều đó đòi hỏi các nước cần phải tìm các phương thức thích hợp để bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước của nước mình. Nhận thức về tài nguyên nước đã có những chuyển biến căn bản: Từ những năm 80 của thế kỷ 20, thế giới đã ghi...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thống nhất quản lý tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững

  1. Thống nhất quản lý tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững (10:19 16/05/2006) GS., TS. Lê Kim Truyền - Trường đại học Thủy lợi Trước đây tài nguyên nước trên trái đất tưởng như vô tận; nhưng ngày nay, do sức ép của sự gia tăng dân số, của đô thị hóa và công nghiệp hóa, làm suy giảm tài nguyên nước, khiến tình trạng thiếu nước đang trở thành phổ biến và nghiêm trọng tại nhiều khu vực. Ðiều đó đòi hỏi các nước cần phải tìm các phương thức thích hợp để bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước của nước mình. Nhận thức về tài nguyên nước đã có những chuyển biến căn bản: Từ những năm 80 của thế kỷ 20, thế giới đã ghi nhận nước là một tài nguyên thiên nhiên môi trường hàng đầu của nhân loại và là một trong những tài nguyên thiên nhiên cần phải quản lý trong một môi trường bền vững. Không chỉ coi nước là một tài nguyên có giá trị kinh tế như các tài nguyên khoáng sản khác, mà trong sử dụng, cần phải coi nước là một hàng hóa, phải làm sao phát huy tối đa giá trị kinh tế của tài nguyên nước. Phát triển bền vững tài nguyên nước đòi hỏi con người phải biết sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả, đồng thời bảo vệ để duy trì khả năng tái tạo của tài nguyên nước. Nói cách khác, trong khai thác và sử dụng nước phải bảo đảm cả ba mục tiêu kinh tế, phát triển xã hội và sự toàn vẹn của môi trường. Ðó là tổng hợp sự bền vững về nhiều mặt như môi trường, kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, kỹ thuật... Việc phối hợp quốc tế trong nghiên cứu và xác định chiến lược đúng đắn để quản lý và khai thác bền vững tài nguyên nước đã trở nên cấp thiết. Vấn đề này đã được định hướng trong tuyên bố của các hội nghị quốc tế về phát triển tài nguyên nước như kế hoạch hành động Ma-đen
  2. Pla-ta (1977). Tuyên bố New Dehli (1990). Ðối với nước ta hơn 60% lượng nước do ngoài lãnh thổ chảy vào thì việc phối hợp quốc tế để quản lý khai thác các dòng sông lại càng quan trọng hơn. Mục tiêu để phát triển bền vững tài nguyên nước của nước ta là: phải ngăn chặn và cải tạo tình trạng suy thoái số lượng và chất lượng nước trên các lưu vực sông, điều hòa sử dụng nước hợp lý, không để tình trạng thiếu nước trở thành phổ biến, các thảm họa về thiên tai luôn đe dọa sự phát triển của đất nước trong tương lai. Luật pháp về phát triển bền vững phải được hình thành trên những nguyên tắc và chính sách đúng đắn. Hiện nay luật pháp và các quy định liên quan các nguồn tài nguyên thiên nhiên được soạn thảo riêng rẽ cho mỗi ngành (lâm nghiệp, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp, sử dụng nước...). Về mặt tự nhiên, việc quản lý các nguồn tài nguyên như thế đã bị tách rời, không thể tránh khỏi sự chồng chéo về quyền hạn, thiếu sót trong theo dõi, sự cạnh tranh và trùng lặp giữa các cơ quan khác nhau. Ðể tiếp cận một cách toàn diện và hỗ trợ cho phát triển bền vững cần phải cải tiến và phát triển hệ thống thể chế và pháp luật phù hợp yêu cầu phát triển bền vững, làm hài hòa những quy định của pháp luật và có những tổ chức chính chịu trách nhiệm thực hiện và giám sát sự thực hiện những quy định đó một cách thống nhất theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc từ trên xuống đến cơ sở. Phát triển bền vững tài nguyên nước đòi hỏi trong khai thác, sử dụng cũng như quản lý nguồn nước phải đạt yêu cầu bền vững, có nghĩa là: tài nguyên nước phải được khai thác sử dụng một cách hợp lý, không vượt qua khả năng của nguồn nước, để nước có thể hồi phục hay tái tạo theo chu trình thủy văn vốn có của thủy văn, điều đó đòi hỏi phải có cơ quan dự báo, quy hoạch và sự điều hành thống nhất. Tài nguyên nước phải được sử dụng tiết kiệm và thật sự hiệu quả; phải được bảo vệ, kiểm soát cả về số lượng và chất lượng.
  3. Trong quản lý sử dụng nước phải bảo đảm tính cộng đồng và tính công bằng, phải có sự tham gia bình đẳng của tất cả các thành phần có liên quan trong sử dụng nước. Ðiều đó đòi hỏi phải có một tổ chức khách quan để điều hành phân phối cấp phép trong việc sử dụng nước (nước ngầm, nước mặt trên sông suối, nước ở các hồ chứa, ở vùng ven biển...). Ðể thực hiện được yêu cầu phát triển bền vững, các công trình khai thác và sử dụng nguồn nước phải là những hệ thống bền vững, phải được đặt dưới một tổ chức có kinh nghiệm, có khả năng quản lý tốt. Phát triển bền vững các hệ thống thủy lợi phải là một thể thống nhất đạt được sự bền vững về kỹ thuật, môi trường, tài chính, kinh tế xã hội và các quy định về thể chế và tổ chức. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực là một quá trình đẩy mạnh sự phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác để tối ưu hóa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không tổn hại đến sự bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu của lưu vực sông. Ðịnh nghĩa trên đã nhấn mạnh đến vai trò "quản lý" theo nghĩa rộng bao gồm cả sử dụng, phát triển và quản lý nhằm tới ba mục tiêu cơ bản: kinh tế, xã hội và môi trường và ba vấn đề trọng tâm cần giải quyết: Phân chia nước hợp lý cho các yêu cầu sử dụng nước (cho các ngành dùng nước); cung cấp đủ nước và công bằng; quản lý bảo vệ nước cả số lượng lẫn chất lượng để sử dụng một cách bền vững. Chức năng và nhiệm vụ trong quản lý, điều hành về tài nguyên nước ở lưu vực sông có thể tóm tắt như sau: Tham gia xây dựng cơ chế chính sách và thực thi chính sách của Chính phủ ở cấp quốc gia cho lưu vực với sự thỏa thuận hoặc tham gia của tất cả các ngành dùng nước. Lập quy hoạch phát triển tài nguyên nước: xây dựng chiến lược và chính sách sử dụng nước bền vững cho lưu vực, đề xuất các phương án, chương trình, kế hoạch đáp ứng mục tiêu dùng nước đã xác định; Thu thập và quản lý thông tin về tài nguyên
  4. nước: xây dựng hệ thống thu thập thông tin và lưu trữ số liệu. Ðánh giá tài nguyên nước: đánh giá số lượng và chất lượng, đánh giá sự cân bằng nước; Phân chia nguồn nước và vận hành các công trình cấp nước phòng lũ, phát điện... Giải quyết điều hòa các mâu thuẫn về sử dụng nước trong lưu vực; Quản lý, kiểm tra giám sát chất lượng nước trong lưu vực. Phòng tránh giảm nhẹ thiên tai: như lũ lụt, lũ quét, hạn hán, xâm nhập mặn, xói mòn đất... Quản lý tiêu thoát nước như tiêu thoát nước cho đô thị, nông thôn, úng ngập cho nông nghiệp... Quản lý bảo vệ các vùng đất ven sông, các cửa sông, các hoạt động trên dòng sông... Duy trì các điều kiện môi trường. Giáo dục và thông tin về tài nguyên nước. Xác định các tiêu chuẩn cho các dịch vụ, các hệ thống cơ sở hạ tầng, bảo đảm việc chấp hành thực thi các chính sách, quy định về tài nguyên nước. Quản lý các cơ sở hạ tầng của ngành nước (quản lý hệ thống công trình cấp nước trong lưu vực). Ðó là những nhiệm vụ, chức năng của tổ chức quản lý tài nguyên nước theo lưu vực. Những nhiệm vụ trên liên quan với nhau trong một thể thống nhất. Ðòi hỏi phải có một tổ chức đồng bộ, một đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn giỏi mới hoàn thành được nhiệm vụ: phát triển bền vững tài nguyên nước theo lưu vực. Trên quan điểm quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực và quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông là thể thống nhất, phù hợp quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Quản lý tài nguyên nước và quản lý lưu vực sông không thể tách rời nhau được, từ những phân tích trên, chúng tôi đề nghị cần phải nhanh chóng thống nhất quản lý tài nguyên nước. Sự quản lý nhà nước về tài nguyên nước cần có sự thống nhất, đồng bộ và tập trung ở trong một bộ (thuộc bộ nào quản lý tài nguyên nước là do Chính phủ xem xét khả năng và kinh nghiệm quản lý). Nếu chia sẻ, phân tán ra nhiều cơ quan quản lý nhà nước sẽ làm cho tài nguyên nước bị suy giảm, thậm chí mang lại những hậu quả khó lường.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2