
LUẬN VĂN:
Thu hút vốn đầu tư
cho phát triển khoa học và công nghệ
ở việt nam hiện nay

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phỏt triển kinh tế - xó hội của mỗi nền kinh tế đều phụ thuộc rất
lớn vào khoa học và công nghệ (KH&CN). Nhận thức được điều đó, trong những năm
qua, để thúc đẩy quá trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước
ta đó rất chỳ trọng đến phát triển KH&CN. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng xác định
KH&CN cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu ở nước ta hiện nay. Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng chỉ rừ: “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục cú nhiều biến đổi, khoa học
và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức sẽ có vai trũ ngày càng nổi bật
trong quỏ trỡnh phỏt triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách
quan, lôi cuốn ngày càng có nhiều nước tham gia”. Cần tạo ra năng lực nội sinh về
KH&CN đủ khả năng ứng dụng các công nghệ hiện đại, tiếp cận trỡnh độ thế giới và tự
phát triển trên một số lĩnh vực, nhất là công nghệ thông tin. Nghị quyết Đại hội X (năm
2006) của Đảng nêu “phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công
nghệ… tạo động lực đẩy nhanh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức”.
Để thực hiện chủ trương này, Nhà nước đó dành một lượng vốn lớn đầu tư cho
phát triển KH&CN. Trong một số năm gần đây, đầu tư cho KH&CN đó chiếm 2% tổng
chi ngân sách tức là khoảng 0,5% GDP của cả nước. Việc quan tâm đầu tư nói trên đó
đem lại những kết quả khích lệ. Tiềm lực KH&CN đó được tăng cường từ việc xây
dựng cơ quan làm việc, các xưởng, trại thực nghiệm, phũng thớ nghiệm đến sửa chữa
nhỏ, tăng cường máy móc thiết bị hiện đại. Nhờ vậy, điều kiện làm việc và nghiên cứu
khoa học được cải thiện một bước. Cán bộ KH&CN đó được đào tạo, nâng cao trỡnh
độ. Đó cú được những đề tài khoa học và sản phẩm công nghệ có giá trị phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, đến nay hoạt động KH&CN của nước ta cũn rất hạn chế. Trong đó,
vấn đề đầu tư cho KH&CN chưa thật sự được chú trọng, nhất là đấu tư cho các dự án
khoa học có điều kiện nghiên cứu và ứng dụng, gắn kết với nhu cầu thực tiễn của các
ngành kinh tế quốc dân, nâng cao năng lực công nghệ nội sinh cũn nhiều bất cập.

KH&CN nên vẫn chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế,
xó hội, chậm đưa vào ứng dụng những kết quả đó nghiờn cứu được, trỡnh độ công nghệ
cũn thấp nhiều so với các nước xung quanh. Năng lực tạo ra cụng nghệ mới cũn rất cú
hạn, chưa đáp ứng được yêu cầu phỏt triển kinh tế - xó hội của đất nước.
Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra hạn chế này là nguồn vốn đầu
tư cho hoạt động KH&CN cũn rất thấp. Tỷ lệ vốn đầu tư cho KH&CN nếu tính cả đầu
tư của khu vực ngoài nhà nước mới chỉ khiêm tốn ở mức khoảng 0,6% GDP, trong khi
đó, năm 2004 con số này của các nước EU đó là 1,95% GDP, Nhật Bản là 3,15% GDP,
Trung Quốc là 1,31% GDP, Hoa Kỳ là 2,59% GDP, Hàn Quốc là gần 5% GDP. Nếu
tớnh mức đầu tư cho hoạt KH&CN trên đầu người, thỡ Việt Nam mới đạt khoảng 5
USD (năm 2007), trong khi của Trung Quốc là khoảng 20 USD (năm 2004) và đặc biệt
là Hàn Quốc khoảng 1.000 USD (năm 2007). Đầu tư cho KH&CN của Việt Nam vào
loại thấp nhất trong khu vực kể cả theo tỷ lệ % GDP lẫn tỷ trọng xó hội húa về vốn đầu
tư.
Mức đầu tư thấp là một nguyên nhân khiến cho nhiều đề tài không đủ điều kiện
để nghiên cứu hoàn chỉnh, có đề tài dù đó rất gần tới thành cụng những phải dừng lại,
đành phải “bỏ ngăn kéo”. Tỷ lệ các đề tài nghiên cứu của Việt Nam được áp dụng vào
thực tế cũn rất thấp, số công bố quốc tế và patent được đăng ký cũn rất ớt so với cỏc
nước trong khu vực, nghĩa là hiệu quả nghiên cứu khoa học thấp. Thực tế cho thấy, đầu
tư cho KH&CN ở nước ta vẫn nặng về bao cấp của Nhà nước. Mặc dù từ Đại hội IX
(năm 2001), Đảng ta đó có chủ trương đa dạng hóa đầu tư phát triển KH&CN, nhưng
đến nay hầu như vẫn không có sự quan tâm của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước
vào loại đầu tư này, nhiều nguồn lực KH&CN vẫn cũn bị lóng phớ, trong khi nhu cầu
bức bỏch hiện nay là phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Từ thực tế trên, để góp phần vào giải pháp tạo động lực cho phát triển KH&CN,
tôi chọn đề tài: “Thu hút vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện
nay” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu

Kể từ năm 1996, khi Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 02/HNTW (khóa
VIII) về KH&CN đến nay, ở nước ta đó cú những nghiờn cứu về vấn đề này. Trong
những nghiên cứu liên quan đến vốn đầu tư cho phát triển KH&CN đó cú những cụng
trỡnh như:
Trong các năm 2000 -2003, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN
đó cú những nghiờn cứu bàn luận về nguồn vốn đầu tư cho phát triển KH&CN trong
điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần. Trong đó có đề tài cấp Bộ nghiên cứu về “Chia
sẻ kinh phí giữa nhà nước và cơ sở cho dự án triển khai và đổi mới công nghệ” do
Nguyễn Thanh Hà làm chủ nhiệm, nghiờn cứu tỡnh hỡnh và cơ chế hoạt động của hệ
thống các quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam. Hay những đề tài
cấp cơ sở như: “Nâng cao hiệu quả một số chính sách thuế và tín dụng khuyến khích các
doanh nghiệp đổi mới công nghệ” do Hoàng Văn Tuyên làm chủ nhiệm, nghiên cứu về
chính sách thuế và tín dụng cùng một số nỗ lực của Nhà nước tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất kinh doanh, trên cơ
sở đó đề xuất một số biện pháp chính sách về tài chính đối với doanh nghiệp; đề tài về;
“Nghiờn cứu xõy dựng cỏc hỡnh thức hợp tỏc và cơ chế khuyến khích hợp tác viện –
doanh nghiệp phát triển sản phẩm và công nghệ của doanh nghiệp” do Hoàng Thanh
Hương làm chủ nhiệm nhằm phân tích mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN và hoạt
động sản xuất nhằm tỡm ra và kiến nghị cỏc hỡnh thức hợp tỏc và cơ chế khuyến khích
hợp tác cho mối quan hệ này.
Đó cú một số bài viết như: “Thị trường khoa học và công nghệ; đặc trưng của
kinh tế tri thức” của GS Vũ Đỡnh Cự bàn về nhiệm vụ do Đại hội IX của Đảng đặt ra là
phải phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam nhưng thực tế thị trường đó như thế nào,
đó làm được gỡ và kiến nghị giải pháp thúc đẩy phát triển; bài: “Phát triển thị trường
khoa học và công nghệ Việt Nam” của TS Hồ Ngọc Luật nhằm phân tích các yếu tố
cung, cầu, môi trường pháp lý, xó hội cho thị trường này hoạt động trôi chảy, đưa ra
đánh giá bước đầu về sự phát triển thị trường này và kiến nghị các giải pháp thúc đẩy
phát triển. Các nghiên cứu này đó cú những bàn luận về nguồn vốn cho phỏt triển
KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần. Một số bài viết về đầu tư phát

triển KH&CN, phân tích thực trạng của hoạt động đầu tư này và kiến nghị giải pháp thúc đẩy
như: “Vốn đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ vẫn chưa có lời giải hữu hiệu” của
Hoàng Văn Dụ trên diễn đàn của Bộ Khoa học và Công nghệ, http://irv.moi.gov.vn/KH-CN,
Số 2/2003; “Quy chế tài chính không phù hợp với nghiên cứu khoa học và công nghệ” của
Thu Hương, số 1/2004; "Đầu tư cho công nghệ cao cũn quỏ thấp!" http://vietnamnet.vn
09:18' 01/04/2008; “Mong muốn chính sách khoa học và công nghệ phù hợp” trên diễn đàn
http://irv.moi.gov.vn; “éầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp” của Kiều Linh trên báo
Nhân dân điện tử http://www.nhandan.com.vn...
Nhỡn chung, cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu khoa học và bài viết hiện cụng bố chưa
phân tích phân tích một cách có hệ thống những cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút
vốn đầu tư cho KH&CN, chưa phân tích thực trạng thu hút nguồn vốn này cho phát
triển KH&CN ở Việt Nam trong những năm gần đây và kiến nghị những giải pháp cần
thiết cho những năm tiếp theo. Vỡ vậy, đề tài mà học viên lựa chọn là mới, không trùng
lặp với các công trỡnh hiện hiện đó được công bố.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống húa lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thu hút vốn đầu tư
cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế thị trường, luận văn phân tích và
đánh giá thực tiễn về hoạt động này ở nước ta để đề xuất giải pháp nhằm tạo động lực
thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN Việt Nam trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tư cho phát triển
KH&CN trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN ở
nước ta từ khi có Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII về KH&CN (năm 1996) đến
nay.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thiết thực nhằm tạo động lực mở
rộng việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN phục vụ đắc lực sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

