1063
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
THÚC ĐẨY KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO THÔNG QUA
HỆ SINH THÁI CÔNG NGHỆ SỐ: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NH VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Nguyễn Thị Thơm(1)
TÓM TẮT:
Nghiên cứu ny khm ph mi quan hệ giữa hệ sinh thi công nghệ s (DTE), khởi nghiệp đổi
mi sng tạo (IE), hỗ tr từ chính quyền đa phơng (SLA), v hiệu quả kinh t - x hi (SEP) của
cc doanh nghiệp vừa v nhỏ (SMEs) tại khu vực Đông Nam B, Việt Nam. Dữ liệu đc thu thập
thông qua phơng php thuận tiện, vi 455 đi tng tham khảo khảo st, sử dụng kỹ thuật phân
tích nhân t khẳng đnh (CFA) v mô hình cấu trúc tuyn tính (SEM) đ đnh gi tc đng. Kt quả
phân tích cho thấy DTE tc đng trực tip v gin tip đn IE v SEP thông qua vai trò trung
gian của SLA v IE, đồng thời, IE đc xc đnh l yu t ct lõi trong việc nâng cao hiệu quả kinh
t - x hi. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm quan trọng vo lý thuyt hệ sinh thi khởi
nghiệp v đề xuất cc hm ý quản lý hữu ích cho SMEs, chính quyền đa phơng, v cc nh hoạch
đnh chính sch trong bi cảnh chuyn đổi s.
Từ khoá: Chuyn đổi s, doanh nghiệp vừa v nhỏ, hệ sinh thi công nghệ s, hỗ tr từ chính
quyền đa phơng; hiệu quả kinh t - x hi, khởi nghiệp đổi mi sng tạo.
ABSTRACT:
This study investigates the relationship between the digital technology ecosystem (DTE),
innovative entrepreneurship (IE), support from local authorities (SLA), and the socio-economic
performance (SEP) of small and medium enterprises (SMEs) in the Southeastern region of Vietnam.
Data were collected utilizing a convenience sampling method, with 455 survey respondents.
Confirmatory factor analysis (CFA) and structural equation modeling (SEM) were used to assess
the impact. The analysis results indicate that DTE exerts both direct and indirect effects on IE and
SEP through the mediating roles of SLA and IE. Furthermore, IE is identified as a crucial factor in
enhancing socio-economic performance. This study contributes valuable empirical evidence to the
entrepreneurial ecosystem theory and provides pertinent managerial implications for SMEs, local
authorities, and policymakers in the context of digital transformation.
Keywords: Digital transformation, small and medium enterprises, digital technology ecosystem,
support from local authorities, socio-economic performance, innovative entrepreneurship.
1. Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai. Email: nguyenthithom@dntu.edu.vn
1064
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
1. Đặt vấn đề
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đang trở thành một động lực then chốt cho sự phát triển kinh tế
ở nhiều quốc gia, đặc biệt tại Việt Nam - nơi chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích
khởi nghiệp nhằm thích ứng với quá trình hội nhập quốc tế (Thủ tướng Chính phủ, 2016). Các doanh
nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) đóng vai trò nòng cốt trong nền kinh tế, không chỉ tạo việc làm mà còn
thúc đẩy tăng trưởng bền vững (OECD, 2005). Tuy nhiên, việc hiện thực hoá khởi nghiệp đổi mới
sáng tạo vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh.
Trong bối cảnh đó hệ sinh thái công nghệ số được xem là nền tảng hỗ trợ quan trọng, mang lại
các nguồn lực, công cụ, và cơ hội giúp SMEs phát triển sản phẩm và dịch vụ mới (Rong và cộng sự,
2015; World Economic Forum, 2019). Chính quyền địa phương đóng vai trò không thể thiếu trong
việc tạo ra một môi trường thuận lợi thông qua chính sách hỗ trợ, cung cấp thông tin xây dựng
mạng lưới kết nối doanh nghiệp (Isenberg, 2010; Mason & Brown, 2014). Điều này đặc biệt quan
trọng tại khu vực Đông Nam Bộ - một trung tâm kinh tế năng động của Việt Nam, nơi hệ sinh thái
công nghệ số có tiềm năng trở thành yếu tố chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới
sáng tạo.
Tuy nhiên, SMEs tại khu vực Đông Nam Bộ vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận công
nghệ, huy động nguồn vốn, và tận dụng sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương. Dù đã các nghiên
cứu quốc tế về vai trò của hệ sinh thái công nghệ số đối với khởi nghiệp đổi mới sáng tạo như nghiên
cứu của Yoo cộng sự (2010); Adner (2017). Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này tập trung
vào các nền kinh tế phát triển chưa chú trọng đến đặc thù của các nền kinh tế chuyển đổi như
Việt Nam, nơi chính quyền địa phương giữ vai trò trung gian quan trọng (Spigel, 2017; World Bank,
2020). Đặc biệt, chưa làm mối quan hệ giữa hệ sinh thái công nghệ số với sự hỗ trợ của chính
quyền địa phương và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến hiệu quả kinh tế - xã hội của SMEs (World
Bank, 2020). Nghiên cứu không chỉ đánh giá tác động trực tiếp của hệ sinh thái công nghệ số đến
khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, mà còn làm rõ vai trò trung gian của chính quyền địa phương trong hỗ
trợ SMEs khai thác công nghệ số với đặc thù khu vực Đông Nam Bộ. Thông qua phân tích các yếu
tố này, nghiên cứu đề xuất mô hình toàn diện, giúp hiểu rõ mối liên hệ giữa hệ sinh thái công nghệ
số, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, và phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh địa phương, từ đó, góp
phần cải thiện hiệu quả kinh tế - xã hội của SMEs tại Đông Nam Bộ.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Lý thuyết hệ sinh thái khởi nghiệp (Entrepreneurial Ecosystem Theory)
Lý thuyết hệ sinh thái khởi nghiệp do Isenberg (2010) phát triển nhấn mạnh rằng sự thành công
của khởi nghiệp không chỉ dựa vào nỗ lực nhân hay tổ chức đơn lẻ, còn phụ thuộc vào môi
trường tổng thể. Yếu tố quan trọng trong hệ sinh thái này bao gồm chính sách, sở hạ tầng, tài
chính, giáo dục, mạng lưới kết nối, văn hoá doanh nghiệp sự hỗ trợ từ chính quyền. Đây nền
tảng tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời phát triển của các doanh nghiệp mới. Trong bối cảnh
công nghệ số, thuyết hệ sinh thái khởi nghiệp trở thành khung phân tích quan trọng để đánh giá
các yếu tố thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Mason và Brown (2014) chỉ ra rằng doanh nghiệp tăng trưởng
cao thường hoạt động trong một hệ sinh thái mạnh mẽ, nơi chính sách hỗ trợ và mạng lưới liên kết
đóng vai trò quyết định. Tại Đông Nam Bộ, chính quyền địa phương giữ vai trò trung gian, giúp
1065
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
SMEs tận dụng hiệu quả các nguồn lực từ hệ sinh thái công nghệ số. Spigel (2017) nhấn mạnh rằng
mối quan hệ giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư chính quyền là yếu tố cốt lõi để xây dựng một hệ sinh
thái đổi mới bền vững.
2.2. Phát triển giả thuyết nghiên cứu
2.2.1. Hệ sinh thi công nghệ s (DTE)
Theo nghiên cứu của Nambisan và cộng sự (2017), DTE có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ
các IE thông qua các yếu tố như khả năng tiếp cận dữ liệu lớn, công cụ phân tích, cơ sở hạ tầng kỹ
thuật số, mạng lưới hỗ trợ công nghệ. Xu cộng sự (2021) nhấn mạnh rằng hệ sinh thái công
nghệ số không chỉ cung cấp công cụ công nghệ còn thúc đẩy sự hợp tác kết nối giữa các
doanh nghiệp, từ đó gia tăng khả năng đổi mới sáng tạo. Cụ thể, các công nghệ tiên tiến như trí tuệ
nhân tạo (AI), blockchain và IoT đóng vai trò như những chất xúc tác, giúp doanh nghiệp tạo ra giá
trị mới và duy trì lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra, Reddy và cộng sự (2021) chỉ ra rằng sự phát triển của
hệ sinh thái công nghệ số còn tạo điều kiện để chính quyền địa phương nâng cao hiệu quả quản lý
cung cấp dịch vụ công. Đồng thời, hệ sinh thái này khuyến khích chính quyền phát triển các chính
sách hỗ trợ khởi nghiệp, như cung cấp gói tài chính, xây dựng mạng lưới kết nối công nghệ, và thúc
đẩy hợp tác giữa các bên liên quan (Xu cộng sự, 2021). Điều này giúp chính quyền địa phương
không chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà còn trở thành động lực thúc đẩy phát triển toàn diện hệ sinh thái IE
tại khu vực. Do đó, nghiên cứu đặt ra giả thuyết:
H1: Hệ sinh thái công nghệ số có tác động tích cực đến khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
H2: Hệ sinh thái công nghệ số có tác động tích cực đến hỗ trợ từ chính quyền địa phương
2.2.2. Hỗ tr từ chính quyền đa phơng (SLA)
Theo Isenberg (2010), một hệ sinh thái khởi nghiệp bền vững không thể thiếu sự tham gia của
chính quyền trong việc tạo lập các điều kiện thuận lợi giúp doanh nghiệp vượt qua những khó khăn
ban đầu, tiếp cận nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Mason và Brown (2014) nhấn mạnh rằng
chính quyền địa phương không chỉ đóng vai trò là nhà hoạch định chính sách mà còn là cầu nối quan
trọng trong việc liên kết các nguồn lực giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ. Spigel
(2017) cho rằng chính quyền địa phương có thể đóng vai trò là “người kích hoạt” trong hệ sinh thái
khởi nghiệp, thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên liên quan bằng cách cung cấp tài trợ, tổ chức các
chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo xây dựng nền tảng để doanh nghiệp tận dụng hội từ hệ
sinh thái công nghệ số. Do đó, nghiên cứu đặt ra giả thuyết:
H3: Hỗ trợ từ chính quyền địa phương có tác động tích cực đến khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
H4: Hỗ trợ từ chính quyền địa phươngcó tác động tích cực đến hiệu quả kinh tế hội của
doanh nghiệp
2.2.3. Khởi nghiệp đổi mi sng tạo (IE)
Theo Isenberg (2010), các doanh nghiệp IE thể tạo ra sản phẩm, dịch vụ hình kinh
doanh mới, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động năng lực cạnh tranh. Mason Brown (2014)
nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp khởi nghiệp có tác động tích cực đến nền kinh tế thông qua việc
1066
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới, đồng thời tạo ra hội việc làm cải thiện chất lượng cuộc
sống cho cộng đồng. Bên cạnh đó, Spigel (2017) cho rằng sự đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
khởi nghiệp có thể cải thiện năng suất và sự bền vững, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội cho
cả doanh nghiệp cộng đồng. Với bối cảnh vùng Đông Nam Bộ, nơi sự tập trung của SMEs,
việc thúc đẩy IE có thể góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Do đó, nghiên
cứu đưa ra giả thuyết:
H5: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tác động tích cực đến hiệu quả kinh tế hội của doanh nghiệp
2.2.4. Hệ sinh thi công nghệ s (IE)
Isenberg (2010) cho rằng IE bao gồm công nghệ số, tạo ra nền tảng để doanh nghiệp tiếp cận
các nguồn lực cần thiết cải thiện khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế - hội
các doanh nghiệp đạt được từ hệ sinh thái này có thể được thúc đẩy bởi các yếu tố gián tiếp như sự
kết nối với các mạng lưới doanh nghiệp sự hỗ trợ từ các chính sách công nghệ của chính quyền
địa phương. Mason và Brown (2014) cũng chỉ ra rằng hệ sinh thái công nghệ số không chỉ cung cấp
các công cụ và nền tảng công nghệ, mà còn thúc đẩy việc kết nối và hợp tác giữa các doanh nghiệp,
các nhà đầu chính quyền địa phương. Spigel (2017) bổ sung rằng hệ sinh thái công nghệ số,
thông qua việc tạo ra các cơ hội hợp tác và kết nối, không chỉ giúp các SMEs tối ưu hoá hoạt động
sản xuất và kinh doanh mà còn tác động đến hiệu quả kinh tế - xã hội của doanh nghiệp. Do đó giả
thuyết H6 được đưa ra:
H6: Hệ sinh thái công nghệ số có tác động đến hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp
2.2.5. Cc giả thuyt về vai trò trung gian
Theo Isenberg (2010), chính quyền địa phương không chỉ đơn vị cung cấp sở hạ tầng tài
chính mà còn đóng vai trò như một cầu nối giữa các nguồn lực công nghệ và doanh nghiệp. Mason
và Brown (2014) cho rằng, trong hệ sinh thái khởi nghiệp, chính quyền địa phương đóng vai trò kết
nối các yếu tố của hệ sinh thái công nghệ số với các doanh nghiệp khởi nghiệp. Spigel (2017) cũng
nhấn mạnh vai trò trung gian của chính quyền địa phương trong việc kết nối doanh nghiệp với các
mạng lưới công nghệ số. Sự hợp tác giữa chính quyền, doanh nghiệp các tổ chức hỗ trợ tạo ra một
hệ sinh thái thuận lợi, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển
nhanh chóng. Isenberg (2010) tiếp tục chỉ ra rằng hệ sinh thái khởi nghiệp, với các yếu tố như công
nghệ, tài chính và chính sách hỗ trợ, đóng vai trò nền tảng vững chắc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, sự thành công của hệ sinh thái này phụ thuộc vào chính các doanh nghiệp khởi nghiệp,
vốn những nhân tố quan trọng trong việc hiện thực hoá tiềm năng đổi mới sáng tạo. Mason
Brown (2014) nhấn mạnh rằng IE đóng vai trò trọng yếu trong việc khai thác giá trị từ công nghệ số
và thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ sinh thái. Dựa trên những nghiên cứu trên, ba giả thuyết
được đưa ra:
H7: SLA đóng vai trò trung gian giữa DTE và IE
H8: SLA đóng vai trò trung gian giữa DTE và SEP
H9: IE đóng vai trò trung gian DTE và SEP
1067
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
2.3. Mô hình nghiên cứu
Hình 1. Mô hình nghiên cứu
(Nguồn: Nhóm tc giả đề xuất)
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định lượng nhằm đảm bảo độ chính xác sâu sắc
của kết quả. Dữ liệu định lượng được thu thập qua khảo sát được thu thập từ 455 mẫu khảo sát tại
khu vực Đông Nam Bộ, thời gian từ tháng 10 - 11/2024 bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
các ngành sản xuất, dịch vụ, thương mại, công nghệ. Những người được khảo sát bao gồm chủ
doanh nghiệp, quản cấp cao, nhân viên từ các bộ phận. Nghiên cứu sử dụng phần mềm PLS-
SEM để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá mối quan hệ giữa các biến trong mô hình
thông qua PLS-SEM. Nghiên cứu tuân thủ các quy định về đạo đức trong nghiên cứu.
4. Kết quả phân tích
4.1. Phân tích thống kê mô tả
Bảng 1. Bảng thng kê mô tả mẫu
TT Biến kiểm soát Số mẫu
khảo sát
Tỷ lệ
(%)
1Chủ doanh nghiệp hoặc nhà quản lý cấp cao 89 19.6
2Nhân sự thuộc các bộ phận liên quan đến đổi mới sáng tạo hoặc
công nghệ 86 18.9
3Đại diện doanh nghiệp thuộc các ngành trọng điểm 145 31.8
4Doanh nghiệp liên hệ hoặc nhận hỗ trợ từ chính quyền địa phương 135 29.7
Tổng 455 100
(Nguồn: Kỹ thuật xử lý dữ liệu của tc giả)