LUẬN VĂN:
Thực trạng và những giải pháp cơ
bản để phát triển KTTT định
hướng XHCN
Lời i đầu
Sau hơn 30 năm y dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao
cấp, nền kinh tế nước ta đã i vào tình trạng trì trệ, yếu kém, đời sống nhân dân
cùng khó khăn. Từ thực tiễn đó Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng nền kinh tế
vận hành theo định hướng XHCN, gọi tắt KTTT định hướng XHCN. Trong hơn 15
năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, đời
sống của nhân dân đã được cải thiện một cách rõ rệt. Trong lịch sử hàng nghìn năm của
nh, nước ta chưa bao giờ bước phát triển nhảy vọt về kinh tế như vậy. n cạnh
những thành tựu to lớn ấy, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những vấn đkhông
nhỏ nguyên nhân chủ yếu từ bản thân nền kinh tế, từ bộ y tchức, cán bộ của
Đảng và Nhà nước ta. Nếu như chúng ta không sớm khắc phục những nguyên nhân y
thì không chlà lực cản đối với sự phát triển mà nó còn m suy yếu nền kinh tế đất
nước. Đây điều chúng ta hết sức quan m, nhất là sự hội nhập quốc tế ngày càng
sâu rộng.
Do đó, em đã chọn đề tài Mt svấn đề nền KTTT định hướng XHCN Việt
Nam”. Với sự hiểu biết còn hạn chế cũng nhưđiều kiện nghiên cứu thời gian n
hạn chế nên em không có tham vọng đưa ra những nhận định mang tính đột phá chỉ
mong m được một svấn đề cơ bản về nền KTTT định hướng XHCN nước ta để
thấy được những đặc trưng, thực trạng tìm ra những giải pháp cụ thể để khắc phục
những khuyết tật của và tạo điều kiện đưa nền kinh tế nước ta ngày ng phát triển,
hội nhập cùng khu vực và thế giới.
Nội dung bài viết của em gồm ba phần:
I. Sự cần thiết khách quan phát triển KTTT định hướng XHCN .
II. Những đặc trưng cơ bản của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
III. Thực trạng và những giải pháp cơ bản để phát triển KTTT định hướng XHCN.
Phần nội dung
I.Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
1.Quan niệm về KTTT
1.1. Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế hội, mà trong đó sản
phẩm sản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường. KTTT là trình độ phát triển
cao cuả KTHH, trong đó các quan hkinh tế đều được tiền tệ hoá. Nói cách khác
các quan hệ hàng hoá - tiền tđược sử dụng phổ biến.KTHH KTTT không
đồng nhất với nhau, chúng khác nhau về trình độ phát triển. Nhưng về bản
chúng cùng nguồn gốc ng bản chất.
1.2. KTTT nói chung có những đặc điểm sau:
chịu sự chi phối của những quy luật vốn của nền KTHH những
phạm trù của vẫn phát huy tác dụng như: quy luật cung cầu; quy luật
giá trị; quy luật cạnh tranh ; hàng hoá ; tiên tệ,…
Các chủ thể kinh tế có tính tự chủ cao.
Giá cả thị trường do thị trường quy định là chủ yếu.
1.3. Lịch sử đã chứng minh KTTT hình thành và phát triển dưới CNTB:
Trong lịch sphát triển loài người, sản xuất hàng hoá ra đời từ khi tan chế
độ côngnguyên thuỷ, nó tồn tại và phát triển trong xã hội nông nô, trong xã hội
phong kiến và đạt đỉnh cao trong xã hội TBCN. Nhờ sử dụng các yếu tố kích thích
của nền KTTT CNTB đã đạt được những thành tựu cả về ng suất, chất
lượng hiệu quvà một số mặt về xã hội. Mặc dù còn nhiều khuyết tật, song CNTB
đã thật sự đạt được trình độ cao vkinh tế, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, cần
nhận thức ràng rằng, KTTT là một trong những yếu tố của quá trình phát triển
xã hội, chứ không phải là cái gì đó riêng có của CNTB.
KTTT sau khi giai cấp sản giành được chính quyền không phải vấn đề
hoàn toàn mới và càng không phải là xét lại chủ nghĩa Mác–LêNin. C.Mác đã viết:
Cái hội chúng ta nói đây không phải một hội cộng sản chủ nghĩa đã
phát triển trên sở của chính nó, trái lại một hội cộng sản vừa thoát
thai từ hội TBCN, do đó là một hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức,
tinh thần còn mang dấu vết của hội nó đã lọt lòng ra”. Chính V.I.Lê-
nin đã nhấn mạnh yêu cầu học tập phương thức kinh doanh TBCN. Người cho
rằng: “Chúng ta không nh dung một thchnghĩa hội nào khác n chủ
nghĩa xã hội dựa trên stất cả những bài học nền văn minh lớn của CNTB
thu được”. Một trong những bài học quan trọng nhất CNTB đã đạt được
phát triển KTTT .
2.Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Pt triển KTTT là một sự lựa chọn đúng đắn.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau. Mỗi
hình đó sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều kiện lịch
sử nhất định .
Trong mấy thập niên trước đây, nền kinh tế nước ta vận hành theo chế tập
trung quan liêu bao cấp. Đặc trưng của cơ chế này là: Nhà nước giao kế hoạch cho
các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp với một hệ thống chỉ tiêu mang tính pháp
lệnh. Nhà nước giao vật tư, tiền vốn, k thuật và bố trí cán bộ cho các doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp của Nhà nước cviệc sản xuất theo kế hoạch, laĩ nhà
nước thu, lỗ nhà nước chịu . Điều đó nghĩa đã triệt tiêu mất động lực kinh tế
lợi nhuận. Còn vtiền lương giá cả đều mang nh bao cấp bình quân. Nhà
nước định ra giá cả một cách cứng nhắc và độc quyền, nền kinh tế đã bị hiện vật
hoá. Trước đây, hình kinh tế hiện vật này được coi tưởng, tnay bộc l
những hạn chế kết quả tình đã phủ định những mục tiêu ban đầu của
CNXH. Trên thực tế, yếu tố kế hoạch tập trung đã loại bỏ yếu tố thị trường, quan
hệ hàng hoá - tiền tệ chỉ còn hình thức. Sự điều tiết theo chiều dọc đã lấn át các
quan hệ kinh tế theo chiều ngang. Vai trò người tiêu dùng bị hạ thấp. Hệ thống
quản lý quan liêu tỏ ra không có khả năng gắn sản xuất với nhu cầu.
Kinh tế hiện vật gắn liền với quan niệm truyền thống về kinh tế XHCN tuy đã
tác dụng trong điều kiện chiến tranh , góp phần mang lại thắng lợi vẻ vang của
dân tộc ta, song khi chuyển sang xây dựng phát triển kinh tế thì chính mô hình
đó đã tạo ra nhiều khuyết tật: Nền kinh tế không động lực, không có sức đua
tranh, không phát huy được tính chủ động sáng tạo của người lao động, của các
chủ thể sản xuất kinh doanh, sản xuất không gắn với nhu cầu, ý trí chủ quan đã
lấn át ý trí khách quan triệt tiêu mọi động lực sức mạnh nội sinh của nền
kinh tế, đã m cho nền kinh tế suy thoái (thiếu hụt, hiệu quả thấp, nhiều mục tiêu
của CNXH không được thực hiện). Do đó xbỏ chế này để chuyển sang cơ
chế thị trường là một sự lựa chọn đúng đắn.
Tính tất yếu khách quan tồn tại KTTT.
KTTT không phải là sản phẩm riêng của CNTB nó chphát triển cao
dưới CNTB và nó vẫn tồn tại sau CNTB mà cơ sở của nó là :
Phân công lao động hội với tính cách sở chung của sản
xuất hàng hoá chẳng những không mất đi, trái lại còn được
phát triển c v chiều rộng chiều sâu. Phân công lao động
trong từng khu vực, từng địa phương cũng càng ngày phát triển.
Sphát triển của phân công lao động được thể hiện tính phong
phú, đa dạng chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra
trao đổi trên thị trường .
Do sự tách biệt nhất định vkinh tế giữa các chủ thể kinh tế
biểu hiện là còn nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản
xuất. Đó là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu nhân, s
hữu hỗn hợp. Do đó các chủ thể kinh tế độc lp, lợi ích riêng, nên
quan hệ kinh tế giữa họ chỉ thể thực hiện bằng quan hệ hàng
hoá - tiền tệ.
Thành phần kinh tế nhà nước kinh tế tập thể, tuy cùng dựa
trên chế độ công hữu về liệu sản xuất , nhưng các đơn vị kinh
tế vẫn sự khác biệt nhất định, quyền tự chủ trong sản xuất