intTypePromotion=1

Thực trạng, nguyên nhân, thách thức về ô nhiễm các nguồn nước ở Việt Nam và đề xuất giải pháp quản lý

Chia sẻ: ViShikamaru2711 ViShikamaru2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
50
lượt xem
2
download

Thực trạng, nguyên nhân, thách thức về ô nhiễm các nguồn nước ở Việt Nam và đề xuất giải pháp quản lý

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ khá cao những năm qua, tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam cũng đang diễn ra với tốc độ tương đối nhanh, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, nâng cao chất lượng và đời sống của người dân. Điều này tạo nên áp lực lớn đến tài nguyên nước.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng, nguyên nhân, thách thức về ô nhiễm các nguồn nước ở Việt Nam và đề xuất giải pháp quản lý

THÖÏC TRAÏNG, NGUYEÂN NHAÂN, THAÙCH THÖÙC<br /> VEÀ OÂ NHIEÃM CAÙC NGUOÀN NÖÔÙC ÔÛ VIEÄT NAM<br /> VAØ ÑEÀ XUAÁT GIAÛI PHAÙP QUAÛN LYÙ<br /> Ths. Nguyễn Thị Việt Hồng*<br /> Ths. Nguyễn Thu Phương*<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> C<br /> ùng với sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ khá cao những năm qua, tốc độ đô thị hóa ở<br /> Việt Nam cũng đang diễn ra với tốc độ tương đối nhanh, góp phần vào sự tăng trưởng của<br /> nền kinh tế, nâng cao chất lượng và đời sống của người dân. Điều này tạo nên áp lực lớn đến<br /> tài nguyên nước. Dưới những áp lực về phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, dân số gia tăng,<br /> với tốc độ khá cao những năm qua đã làm cho nguồn tài nguyên nước càng bị ô nhiễm trong những năm<br /> gần đây. Ngân hàng Thế giới đã nhận định ô nhiễm tài nguyên nước đang là mối đe dọa ảnh hưởng đến<br /> kinh tế tài nguyên nước lớn nhất của Việt Nam, có khả năng gây thiệt hại gần 4% GDP vào năm 20351.<br /> Từ khóa: Ô nhiễm nguồn nước.<br /> Current situation, causes and challenges on pollution of water sources in Vietnam and management<br /> solutions proposal<br /> Along with the relatively high speed of socio-economic development in recent years, the speed of<br /> urbanization in Vietnam is also happening at a relatively fast pace, which contributes to the growth of the<br /> economy, improves the quality and life of the people. This has put great pressure on water resources. Under<br /> pressures of socio-economic development, urbanization, and population growth at a relatively high rate<br /> over the years, water resources have been polluted in recent years. The World Bank has identified water<br /> pollution as the biggest threat to Vietnam’s water resources economy, potentially causing a loss of nearly 4%<br /> of GDP by 2035.<br /> Key words: Water pollution.<br /> <br /> Theo đó, hiện nay, chất lượng môi trường nước Nước ta có 108 lưu vực sông với khoảng 3.450<br /> tại các lưu vực sông đang diễn biến phức tạp, bị sông, suối với chiều dài từ 10 km trở lên. Tổng<br /> suy thoái ở nhiều nơi, đặc biệt ở các đoạn sông lượng nước mặt trung bình khoảng từ 830 tỷ m3<br /> chảy qua các khu vực đô thị, khu công nghiệp, đến 840 tỷ m3, trong đó, có hơn 60% lượng nước<br /> làng nghề. Các dòng sông là nguồn cung cấp nước được bắt nguồn từ nước ngoài, chỉ có khoảng từ<br /> sinh hoạt chính cho người dân phía hạ lưu, đặc 310 tỷ m3 đến 320 tỷ m3 được sản sinh trên lãnh<br /> biệt là người dân ở vùng nông thôn thường sử thổ Việt Nam. Tài nguyên nước của Việt Nam lại<br /> dụng trực tiếp nước sông, hồ bị ô nhiễm, đây là chỉ được xếp vào mức trung bình trên thế giới và<br /> nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật, tác động trực ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững. Nước ta<br /> tiếp đến điều kiện sống, sức khoẻ, và phát triển hiện có khoảng 7.000 hồ chứa, đập dâng lớn, nhỏ<br /> kinh tế - xã hội. với tổng dung tích trên 70 tỷ m3, chiếm khoảng<br /> 8% tổng lượng nước trên các lưu vực sông (Hình<br /> Tình trạng này dẫn đến yêu cầu cấp bách phải<br /> 1). Tuy nhiên, cũng như một số nước đang phát<br /> có các giải pháp quản lý, các chính sách đồng bộ<br /> triển trên thế giới, Việt Nam hiện đang phải đối<br /> kiểm soát tình trạng ô nhiễm tài nguyên nước đang<br /> mặt với thách thức hết sức gay cấn về tình trạng ô<br /> ngày càng gia tăng và gây tác động không nhỏ đến<br /> nhiễm, cạn kiệt các nguồn nước, đặc biệt là tại các<br /> sức khỏe dân cư, gây thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng<br /> khu công nghiệp và đô thị, nơi hầu hết hệ thống<br /> đến tăng trưởng của đất nước.<br /> sông ngòi, hồ ao đều bị ô nhiễm. Đây là một trong<br /> Thực trạng ô nhiễm và các nguyên nhân chính những vấn đề nóng gây tác động lớn đến đời sống,<br /> gây ô nhiễm các dòng sông tại Việt Nam kinh tế, xã hội, phát triển và bảo vệ môi trường.<br /> <br /> Báo cáo Việt Nam hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn, Ngân hàng Thế giới, 2019<br /> 1<br /> <br /> <br /> *Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường<br /> <br /> NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 143 - tháng 9/2019 13<br /> QUAÛN LYÙ RAÙC THAÛI, NÖÔÙC THAÛI VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN BEÀN VÖÕNG VAØ VAI TROØ CUÛA KIEÅM TOAÙN NHAØ NÖÔÙC<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Nguồn nước mặt và nước dưới đất có thể khai thác, nước trong hồ chứa trong hồ chứa thủy lợi vào mùa khô<br /> <br /> Theo lưu vực sông, hiện nay chất lượng nguồn Trong thời gian qua, chất lượng nguồn nước các<br /> nước ở các khu vực đầu nguồn còn tương đối tốt, lưu vực sông chính đã và đang dần được kiểm soát<br /> một số ít khu vực có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ tại một về mức độ gia tăng ô nhiễm, đặc biệt là các đoạn<br /> số thời điểm. Vấn đề ô nhiễm nguồn nước vẫn tập sông ô nhiễm nghiêm trọng mức độ ô nhiễm đang<br /> trung chủ yếu ở vùng trung lưu và hạ lưu (đặc biệt là dần được cải thiện như sông Thị Vải tại tỉnh Đồng<br /> các đoạn chảy qua khu vực đô thị, khu công nghiệp, Nai, sông Đồng Nai tại các tỉnh Đồng Nai, Bình<br /> làng nghề), nhiều nơi ô nhiễm ở mức nghiêm trọng Dương. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu về chất lượng<br /> hơn như ở lưu vực sông Nhuệ - Đáy, lưu vực sông nước mặt trên các lưu vực sông này vẫn chưa đạt<br /> Cầu, lưu vực sông Đồng Nai. Trên các lưu vực sông, yêu cầu. Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng<br /> mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào chế độ thủy văn Thế giới, không một lưu vực sông nào có chất lượng<br /> dòng chảy (mức độ ô nhiễm thường tăng cao hơn nước mặt đáp ứng tiêu chuẩn ô nhiễm hữu cơ đối<br /> vào mùa khô) và vào việc kiểm soát các nguồn thải với nước uống của Tổ chức Y tế Thế giới. Hình 2<br /> đổ vào nguồn nước. Nguồn nước tại các khu vực bị ô trình bày chất lượng nước của sông Mê Kông từ<br /> nhiễm hầu hết do các chất hữu cơ và vi sinh vật vượt 2012-2014 so với tiêu chuẩn hướng dẫn của Ủy hội<br /> ngưỡng cho phép, tình trạng ô nhiễm hữu cơ diễn ra sông Mê Kông, Tổ chức Y tế Thế giới và Cơ quan<br /> khá phổ biến tại nhiều lưu vực sông. bảo vệ môi trường Hoa Kỳ.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Mức độ ô nhiễm trên lưu vực sông Mê Kông theo hướng dẫn của Ủy hội sông Mê Kông, Tổ chức Y tế Thế giới<br /> và Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ<br /> <br /> 14 Số 143 - tháng 9/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN<br /> Thực tế tình trạng ô nhiễm các dòng sông, nhất chưa hoàn thành hệ thống cấp thoát nước đồng bộ,<br /> là các dòng sông chảy qua các đô thị, khu công dẫn đến các nhà máy chưa hoạt động hết công suất<br /> nghiệp, làng nghề... và các sông nhỏ ở khu vực thiết kế.<br /> đồng bằng khá nghiêm trọng. Nguồn gây ô nhiễm<br /> Đối với nước thải công nghiệp, trong mấy năm<br /> các dòng sông bao gồm: Nước thải sinh hoạt, công<br /> gần đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tập trung<br /> nghiệp, nông nghiệp, làng nghề, y tế và một lượng<br /> nguồn lực quản lý, kiểm soát chặt chẽ loại hình<br /> không nhỏ chất thải rắn không được kiểm soát, đổ<br /> nước thải công nghiệp, đặc biệt là nước thải phát<br /> bừa bãi không đúng quy định. Lượng nước thải<br /> sinh từ các Khu công nghiệp. Hiện nay, cả nước có<br /> sinh hoạt và công nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất<br /> 251 Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động có phát<br /> trong cơ cấu các loại hình nước thải phát sinh, xả<br /> sinh chất thải (không tăng so với năm 2017). Hoạt<br /> ra các dòng sông.<br /> động kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường<br /> Tỷ lệ nước thải sinh hoạt trên tổng lượng nước tại các Khu công nghiệp đã có chuyển biến tích<br /> thải trực tiếp ra các sông hồ, hay kênh rạch dẫn cực. Đến nay, trên phạm vi cả nước, đã có 221/251<br /> ra sông khá cao, chiếm đến trên 30%. Lượng nước Khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý<br /> thải phát sinh trên một đơn vị diện tích đất ở khu nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi<br /> vực đô thị lớn hơn nhiều so với khu vực nông trường, đạt 88,05% (tăng 8,05% so với năm 2017),<br /> thôn. Điều này dẫn đến tình trạng quá tải của các trong đó các địa phương có số lượng Khu công<br /> hệ thống thoát nước và tiếp nhận nước thải tại nghiệp lớn như TP. Hồ Chí Minh, TP. Hà Nội, các<br /> các thành phố, ảnh hưởng lớn đến chất lượng các tỉnh: Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai,<br /> nguồn tiếp nhận. Hiện nay, hệ thống thoát nước Long An, Quảng Ninh, Bắc Ninh... tỷ lệ này đều<br /> đô thị Việt Nam chủ yếu dùng chung cho cả thoát đạt 100%. Đã có 121/251 Khu công nghiệp lắp đặt<br /> nước thải và nước mưa, đây là nguyên nhân khó thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục đạt tỷ<br /> khăn cho việc thu gom, xử lý nước thải tập trung lệ trên 48%. Nhìn chung, nhiều địa phương đã chú<br /> tại các khu đô thị. Trong các năm gần đây số lượng trọng lựa chọn, thu hút các dự án công nghệ cao,<br /> công trình xử lý nước thải đô thị tập trung có tăng dự án có tỷ lệ đầu tư về môi trường lớn, một số địa<br /> qua các năm, tuy nhiên con số này còn rất nhỏ so phương đã bước đầu thực hiện việc phòng ngừa,<br /> với yêu cầu thực tế cần xử lý. Ở các đô thị lớn, tỷ kiểm soát ô nhiễm môi trường trong quá trình thu<br /> lệ lượng nước thải được xử lý cao hơn các đô thị hút đầu tư thông qua việc lựa chọn những ngành<br /> vừa và nhỏ nhưng vẫn ở mức thấp, chưa đáp ứng nghề, dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao,<br /> được với tốc độ đô thị hóa hiện nay. Theo thống công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch.<br /> kê sơ bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu<br /> Riêng đối với các Cụm công nghiệp, chỉ có<br /> chỉ tính riêng các đô thị loại III trở lên, hiện nay<br /> 109/689 Cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ<br /> mới có 43 nhà máy xử lý nước thải tập trung (39%)<br /> thống xử lý nước thải tập trung. Đối với hơn 4.000<br /> đang hoạt động nhưng cũng mới chỉ thu gom, xử<br /> làng nghề hầu hết đều chưa có hệ thống thu gom,<br /> lý được khoảng 926 nghìn m3/ngày (khoảng 13%<br /> xử lý nước thải.<br /> lượng nước thải phát sinh). Nếu tính cả khoảng 40<br /> nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung đang được Bên cạnh các nguồn nước thải kể trên, một<br /> xây dựng, thì khi hoàn thành cũng chỉ thu gom, xử lượng không nhỏ chất thải rắn không được kiểm<br /> lý được khoảng 2,4 triệu m3/ngày, tương đương với soát, đổ bừa bãi cùng với các khu vực xử lý chất thải<br /> gần 40% lượng nước thải đô thị cần xử lý. Nhiều rắn không đảm bảo quy định cũng là nguyên nhân<br /> nhà máy đã xây dựng xong hệ thống xử lý nhưng gây ô nhiễm nguồn nước.<br /> <br /> NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 143 - tháng 9/2019 15<br /> QUAÛN LYÙ RAÙC THAÛI, NÖÔÙC THAÛI VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN BEÀN VÖÕNG VAØ VAI TROØ CUÛA KIEÅM TOAÙN NHAØ NÖÔÙC<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Các thách thức trong công tác bảo vệ nguồn doanh, nhất là các hộ sản xuất kinh doanh thuộc<br /> nước các làng nghề; của một số nhà máy, xí nghiệp, cơ sở<br /> <br /> - Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện sản xuất, kinh doanh còn rất thấp.<br /> <br /> đại hóa đất nước làm gia tăng nhu cầu khai thác, - Công tác xã hội hóa hoạt động bảo vệ nguồn<br /> sử dụng nước cũng như nguy cơ tác động xấu đến nước và quản lý tài nguyên chưa thực sự hiệu quả,<br /> nguồn nước. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của khủng chưa huy động của sức mạnh toàn dân. Chưa có sự<br /> hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ phân công cụ thể và đầu tư nguồn lực cho một tổ<br /> tăng trưởng kinh tế của nước bị chững lại trong chức có chức năng quản lý nhà nước theo dõi toàn<br /> giai đoạn 2011 đến nay dẫn đến đầu tư từ doanh diện về xã hội hóa.<br /> nghiệp và xã hội cho công tác bảo vệ môi trường<br /> - Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến<br /> bị giảm sút.<br /> pháp luật về bảo vệ nguồn nước tới cộng đồng dân<br /> - Một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức<br /> cư còn hạn chế; việc thực thi chính sách, pháp luật<br /> đầy đủ tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi<br /> về bảo vệ nguồn nước còn chưa nghiêm, hiệu lực,<br /> trường và phát triển bền vững; trong chỉ đạo, điều<br /> hiệu quả chưa cao.<br /> hành, tư tưởng ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế,<br /> xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường còn phổ biến ở Giải pháp bảo vệ nguồn nước<br /> <br /> nhiều cấp ủy đảng và chính quyền. - Để giảm thiểu tác động của các hồ chứa thủy<br /> - Ý thức về bảo vệ nguồn nước vẫn chưa trở lợi, thủy điện đến nguồn nước trên lưu vực sông,<br /> thành thói quen, nếp sống của một bộ phận dân trong quá trình thẩm định các hồ sơ cấp phép, Bộ<br /> cư, các thói quen xấu gây ô nhiễm nguồn nước Tài nguyên và Môi trường đã yêu cầu các chủ hồ<br /> như: Vứt rác, chất thải, xác súc vật bừa bãi vào các phải đảm bảo duy trì xả lưu lượng thường xuyên,<br /> nguồn nước kênh, rạch, sông, suối, hồ, ao... vẫn liên tục phía hạ du để đảm bảo việc vận hành các<br /> còn phổ biến. Ý thức chấp hành pháp luật về môi hồ không gây ra các đoạn sông chết, không làm suy<br /> trường, tài nguyên nước của các hộ sản xuất kinh thoái, cạn kiệt nguồn nước các sông. Trước thực tế<br /> <br /> 16 Số 143 - tháng 9/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN<br /> khai thác, sử dụng nước trên các lưu vực sông hiện + Tập trung thanh tra, kiểm tra các đối tượng có<br /> nay và yêu cầu trong công tác quản lý, ngày 22 tháng lưu lượng nước thải có quy mô lớn (từ 200m3/ngày<br /> 12 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban đêm trở lên) trên phạm vi cả nước; rà soát đánh giá<br /> hành Thông tư số 64/2017/TT-BTNMT quy định tác động môi trường, công trình, biện pháp bảo vệ<br /> về xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và môi trường của các dự án lớn, nguy cơ cao gây ô<br /> hạ lưu các hồ chứa, đập dâng. Dòng chảy tối thiểu nhiễm môi trường; tổng điều tra, đánh giá, phân<br /> trên sông, suối và hạ lưu hồ chứa sau khi được xác loại các nguồn thải trên phạm vi cả nước; xây dựng<br /> định, công bố là một trong các căn cứ để xem xét hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn thải; lập<br /> trong quá trình xây dựng, thẩm định, phê duyệt các danh mục các nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm, cạn<br /> nhiệm vụ như: Quy hoạch tài nguyên nước, quy kiệt để có giải pháp cải thiện, phục hồi.<br /> hoạch ngành có khai thác, sử dụng tài nguyên nước<br /> + Tập trung đầu tư hệ thống giám sát các hoạt<br /> trên các sông, suối; xây dựng quy trình vận hành<br /> động xả nước thải vào nguồn nước theo hướng xã<br /> hồ chứa, quy trình vận hành liên hồ chứa trên các<br /> hội hóa việc quan trắc lưu lượng, chất lượng nước<br /> lưu vực sông; xây dựng kế hoạch, phương án điều<br /> thải. Qua đó các cơ sở xả nước thải, các cơ sở khai<br /> hòa, phân phối nguồn nước trên lưu vực sông; cấp<br /> thác nước sẽ phải tự đầu tư lắp đặt các thiết bị quan<br /> giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước và<br /> trắc tự động, phân tích chất lượng nước thải... và<br /> thẩm định, phê duyệt các dự án có liên quan trực<br /> kết nối vào hệ thống giám sát chung do Nhà nước<br /> tiếp đến việc duy trì, bảo đảm dòng chảy tối thiểu<br /> đầu tư tạo thành một hệ thống thống nhất giữa<br /> trên sông, suối.<br /> Trung ương, địa phương và trên từng lưu vực sông.<br /> - Xây dựng và khẩn trương thực hiện quy hoạch<br /> + Xử lý nghiêm đối với các cơ sở gây ô nhiễm<br /> tài nguyên nước lưu vực sông để làm căn cứ, cơ<br /> nghiêm trọng, gây ô nhiễm nguồn nước. Công bố<br /> sở phục vụ công tác quản lý khai thác, sử dụng tài<br /> công khai các cơ sở xả nước thải gây ô nhiễm trên<br /> nguyên nước và bảo vệ tài nguyên nước.<br /> các phương tiện thông tin, truyền thông để tạo áp<br /> - Để khắc phục, chủ động phòng ngừa, ngăn<br /> lực xã hội đối với hình ảnh của các doanh nghiệp.<br /> chặn và giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước cho các<br /> dòng sông, Bộ đã đưa ra các giải pháp cấp bách + Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao<br /> <br /> trong công tác quản lý, trong đó tập trung vào một nhận thức của cộng đồng để thu hút cộng đồng, các<br /> <br /> số nhiệm vụ trọng tâm như: tổ chức, các doanh nghiệp tham gia vào việc bảo vệ<br /> nguồn nước. Đặc biệt, đề cao vai trò giám sát của<br /> + Thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày<br /> người dân trong việc phát hiện, xử lý kịp thời các<br /> 31/8/2016 của Chính phủ về một số nhiệm vụ,<br /> hành vi, sự cố gây ô nhiễm nguồn nước ngay từ khi<br /> giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường, trong<br /> mới xuất hiện.<br /> năm 2017, Bộ đã tập trung triển khai xây dựng<br /> trình Chính phủ phê duyệt Đề án kiểm soát - Ngoài ra, về mặt tổng thể, Bộ cũng đang tập<br /> đặc biệt đối với các cơ sở tiềm ẩn nguy cơ gây ô trung rà soát lại toàn bộ các quy định pháp luật về<br /> nhiễm môi trường cao; xây dựng hệ thống tiêu quản lý tài nguyên và môi trường để đề xuất sửa<br /> chí về môi trường làm cơ sở lựa chọn, sàng lọc đổi các quy định về bảo vệ môi trường, nguồn nước<br /> loại hình sản xuất và công nghệ sản xuất trong trong các luật về môi trường, tài nguyên, thuế, ngân<br /> thu hút đầu tư, xem xét, phê duyệt các dự án đầu sách, đầu tư, xây dựng, khoa học và công nghệ,<br /> tư, đảm bảo không thu hút công nghệ sản xuất lạc năng lượng... bảo đảm thống nhất, đồng bộ, đáp<br /> hậu vào Việt Nam. ứng yêu cầu bảo vệ môi trường hiện nay.<br /> <br /> NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 143 - tháng 9/2019 17<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2