intTypePromotion=1

Thực trạng nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc

Chia sẻ: ViBoruto2711 ViBoruto2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
30
lượt xem
1
download

Thực trạng nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đánh giá thực trạng nhu cầu nhận thức (NCNT) của sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc thông qua 120 sinh viên được khảo sát. Kết quả cho thấy, để thỏa mãn NCNT, trước hết, sinh viên chú trọng đến việc trang bị kiến thức môn học, sau đó đến những kiến thức liên quan đến khả năng dạy học. So sánh NCNT của sinh viên giữa một số khoa, giữa nam và nữ, giữa các khóa học khác nhau có sự khác nhau.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc

TẠP CHÍ KHOA HỌC<br /> Khoa học Xã hội, Số 9 (6/2017) tr. 48 - 56<br /> <br /> THỰC TRẠNG NHU CẦU NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN SƢ PHẠM<br /> TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC<br /> Phan Thị Vóc<br /> Trường Đại học Tây Bắc<br /> Tóm tắt: Đánh giá thực trạng nhu cầu nhận thức (NCNT) của sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây<br /> Bắc thông qua 120 sinh viên được khảo sát. Kết quả cho thấy, để thỏa mãn NCNT, trước hết, sinh viên chú trọng<br /> đến việc trang bị kiến thức môn học; sau đó đến những kiến thức liên quan đến khả năng dạy học. So sánh<br /> NCNT của sinh viên giữa một số khoa, giữa nam và nữ, giữa các khóa học khác nhau có sự khác nhau.<br /> Từ khóa: Hành động, nhận thức, nhu cầu nhận thức, thái độ.<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề<br /> Nhu cầu nhận thức của sinh viên sư phạm là những đòi hỏi của sinh viên về việc tìm tòi<br /> tiếp thu những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng như về những cách thức tiếp cận chúng chưa có<br /> trong kinh nghiệm của họ, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của nghề nghiệp tương lai và<br /> của bản thân sinh viên. Nhu cầu nhận thức là thành tố cơ bản của động cơ nhận thức nghề<br /> nghiệp, thúc đẩy sinh viên tích cực học tập, rèn luyện.<br /> Nhu cầu nhận thức được biểu hiện ở tính tích cực nhận thức và được đánh giá cụ thể ở<br /> ba mặt là: sự ý thức của sinh viên về các nhu cầu của bản thân (mặt nhận thức); thái độ của họ<br /> trước những nhu cầu đó và trước một số mặt cơ bản của hoạt động nhận thức; mức độ biểu<br /> hiện hành động thỏa mãn các NCNT đã được nhận thức của sinh viên.<br /> Mỗi mặt biểu hiện của NCNT chúng tôi xây dựng các câu hỏi với hệ thống các tiêu chí<br /> thông qua phiếu điều tra, phiếu phỏng vấn đối với sinh viên để thu thập thông tin đảm bảo<br /> tính khách quan, chính xác cho nội dung nghiên cứu.<br /> Về mặt nhận thức, chúng tôi xây dựng câu hỏi với 18 tiêu chí đặt ra cho sinh viên lựa<br /> chọn và một số câu hỏi để phỏng vấn sinh viên.<br /> Về mặt thái độ, chúng tôi xây dựng câu hỏi với 04 nội dung, mỗi nội dung có hai<br /> phương án cho sinh viên lựa chọn, có kết hợp với phương pháp phỏng vấn.<br /> Về mặt hành động, chúng tôi xây dựng 06 câu hỏi, mỗi câu hỏi có ba mức độ để sinh<br /> viên lựa chọn trong phiếu điều tra và có kết hợp với việc phỏng vấn sinh viên.<br /> Nghiên cứu được thực hiện trên 120 sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc tại<br /> thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, năm 2016. Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng<br /> gồm: Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận; nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn như:<br /> Điều tra viết, phỏng vấn; nhóm phương pháp thống kê toán học.<br /> <br /> <br /> Ngày nhận bài: 26/11/2016. Ngày nhận đăng: 15/6/2017<br /> Liên lạc: Phan Thị Vóc, e - mail: vocdhtb@gmail.com<br /> <br /> 48<br /> <br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Thực trạng nhu cầu nhận thức của sinh viên biểu hiện ở mặt nhận thức<br /> Mong muốn được bổ sung kiến thức, kĩ năng cho bản thân của sinh viên được thể hiện ở<br /> Bảng sau:<br /> Bảng 1. Sự ý thức của sinh viên về các nhu cầu của bản thân (tính theo tỉ lệ%)<br /> Các việc<br /> <br /> TT<br /> <br /> Đã làm<br /> <br /> Chưa làm<br /> <br /> SL<br /> <br /> %<br /> <br /> SL<br /> <br /> %<br /> <br /> 1<br /> <br /> Đi học đầy đủ, chuyên cần<br /> <br /> 84<br /> <br /> 70<br /> <br /> 36<br /> <br /> 30<br /> <br /> 2<br /> <br /> Tích cực suy nghĩ, tự tìm tòi lời giải đáp cho những vấn đề GV đặt ra<br /> <br /> 53<br /> <br /> 44,2<br /> <br /> 67<br /> <br /> 55,8<br /> <br /> 3<br /> <br /> Vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống học tập khác<br /> <br /> 50<br /> <br /> 41,7<br /> <br /> 70<br /> <br /> 58,3<br /> <br /> 4<br /> <br /> Nghiên cứu kĩ nội dung các vấn đề đã học<br /> <br /> 44<br /> <br /> 36,7<br /> <br /> 76<br /> <br /> 63,3<br /> <br /> 5<br /> <br /> Tự cập nhật thông tin mới liên quan đến bài học<br /> <br /> 34<br /> <br /> 28,3<br /> <br /> 86<br /> <br /> 71,7<br /> <br /> 6<br /> <br /> Bổ sung thêm các kiến thức về tâm lý học sinh phổ thông<br /> <br /> 15<br /> <br /> 12,5<br /> <br /> 105<br /> <br /> 87,5<br /> <br /> 7<br /> <br /> Tích cực đi thư viện đọc thêm tài liệu<br /> <br /> 52<br /> <br /> 43,3<br /> <br /> 68<br /> <br /> 56,7<br /> <br /> 8<br /> <br /> Hoàn thành các bài tập, tiểu luận đúng thời hạn<br /> <br /> 70<br /> <br /> 58,3<br /> <br /> 50<br /> <br /> 41,7<br /> <br /> 9<br /> <br /> Tham gia nghiên cứu khoa học<br /> <br /> 19<br /> <br /> 24,2<br /> <br /> 91<br /> <br /> 75,8<br /> <br /> 10<br /> <br /> Học ngoại ngữ, tin học<br /> <br /> 55<br /> <br /> 45,8<br /> <br /> 65<br /> <br /> 54,2<br /> <br /> 11<br /> <br /> Tích cực rèn luyện cách ứng xử sư phạm<br /> <br /> 43<br /> <br /> 35,8<br /> <br /> 77<br /> <br /> 64,2<br /> <br /> 12<br /> <br /> Bổ sung kiến thức về môi trường (tự nhiên, xã hội)<br /> <br /> 34<br /> <br /> 28,3<br /> <br /> 86<br /> <br /> 71,7<br /> <br /> 13<br /> <br /> Tích cực rèn luyện phương pháp giảng dạy bộ môn<br /> <br /> 26<br /> <br /> 21,7<br /> <br /> 94<br /> <br /> 78,3<br /> <br /> 14<br /> <br /> Bổ sung kiến thức về kinh tế, chính trị, xã hội<br /> <br /> 25<br /> <br /> 20,8<br /> <br /> 95<br /> <br /> 79,2<br /> <br /> 15<br /> <br /> Tích cực tham gia các buổi thảo luận chuyên đề liên quan đến nghề<br /> nghiệp tương lai<br /> <br /> 29<br /> <br /> 24,2<br /> <br /> 81<br /> <br /> 75,8<br /> <br /> 16<br /> <br /> Không sử dụng tài liệu trong giờ thi, giờ kiểm tra<br /> <br /> 68<br /> <br /> 56,7<br /> <br /> 52<br /> <br /> 43,3<br /> <br /> 17<br /> <br /> Bổ sung thêm kiến thức rèn luyện sức khỏe<br /> <br /> 39<br /> <br /> 32,5<br /> <br /> 81<br /> <br /> 67,5<br /> <br /> 18<br /> <br /> Bổ sung thêm kiến thức về văn hóa, nghệ thuật.<br /> <br /> 35<br /> <br /> 29,2<br /> <br /> 85<br /> <br /> 70,8<br /> <br /> NCNT của sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc khá đa dạng và phong phú. Tất<br /> cả các NCNT được nêu ra đều xuất phát từ yêu cầu của nghề nghiệp tương lai, nhưng trước<br /> hết xuất phát từ yêu cầu của hoạt động nhận thức nghề nghiệp trong nhà trường. Sinh viên<br /> nhận thức khá rõ sự thiếu hụt kiến thức cũng như những kĩ năng của bản thân trong nhiều vấn<br /> đề có liên quan đến nghề nghiệp sắp tới của họ và họ mong muốn được bổ sung, hoàn thiện.<br /> Điều này phù hợp với xu thế chung hiện nay.<br /> Những công việc được sinh viên cho là bức bách hiện nay cần được thực hiện để thỏa<br /> mãn NCNT là “Đi học đầy đủ, chuyên cần”, “Hoàn thành các bài tập, tiểu luận đúng thời<br /> hạn”, “Không sử dụng tài liệu trong giờ thi, giờ kiểm tra”, “Học ngoại ngữ, tin học”, “Tích<br /> cực suy nghĩ, tự tìm tòi lời giải đáp cho những vấn đề giáo viên đặt ra”. Những nội dung này<br /> khi chúng tôi đưa ra được đa số sinh viên lựa chọn là đã làm để thỏa mãn NCNT.<br /> 49<br /> <br /> Những nội dung khác khi được nêu ra cũng được sinh viên chú trọng nhưng ở mức thấp<br /> hơn như: “Tích cực đi thư viện đọc thêm tài liệu”, “Vận dụng kiến thức để giải quyết các tình<br /> huống học tập khác”, “Tích cực rèn luyện cách ứng xử sư phạm”, “Bổ sung kiến thức về rèn<br /> luyện sức khỏe, văn hóa, nghệ thuật, về kinh tế, chính trị, xã hội”.<br /> Điều này cho thấy, để thỏa mãn NCNT, trước hết, sinh viên chú trọng đến việc trang bị<br /> kiến thức môn học; sau đó đến những kiến thức về khả năng dạy học. Sinh viên chưa nhận<br /> thức đầy đủ được rằng cần thiết phải đảm bảo sự cân đối giữa khả năng được trang bị kiến<br /> thức theo môn học và khả năng dạy học. Thực tế, có nhiều giảng viên rất coi trọng đến<br /> phương pháp giảng dạy, có những giảng viên lại chỉ chú ý đến nội dung tri thức của môn học,<br /> chưa chú ý đến việc rèn khả năng dạy học cho sinh viên. Đặc biệt, trong điều kiện nhà trường<br /> hiện nay càng đòi hỏi mỗi giảng viên không chỉ hướng dẫn nội dung tri thức cho sinh viên,<br /> mà còn cần hướng dẫn cho sinh viên cả khả năng dạy học để đáp ứng được yêu cầu của thực<br /> tiễn. Khi các giảng viên định hướng, tác động đến sinh viên bao gồm cả tri thức và kĩ năng sẽ<br /> giúp sinh viên có sự nhận thức cân đối cả về tri thức và các kĩ năng khác.<br /> Yêu cầu của nghề dạy học đòi hỏi cả nội dung kiến thức môn học và phương pháp,<br /> không được coi nhẹ yếu tố này hay yếu tố kia trong đào tạo ban đầu. Hơn nữa, ngày nay thế<br /> giới đang phát triển mạnh mẽ đến nỗi giảng viên cũng như phần lớn những người làm nghề<br /> khác phải đối mặt với thực tế là kiến thức được trang bị ban đầu không đủ để giúp họ làm việc<br /> trong suốt quãng đời còn lại. Chính vì vậy, việc nâng cao kiến thức là cần thiết, nhưng có<br /> được phương pháp để tự nâng cao kiến thức, tự nâng cao trình độ cho bản thân còn quan trọng<br /> hơn rất nhiều. Đối với nghề giáo thì điều này lại càng quan trọng vì họ còn phải trang bị điều<br /> này cho học sinh của mình. Một trong những biểu hiện là phải thường xuyên cập nhật thông<br /> tin không chỉ về kiến thức, kĩ năng, phương pháp thuộc chuyên ngành họ giảng dạy, mà cả<br /> các kiến thức xã hội khác. Tuy nhiên số liệu thống kê cho thấy, các nội dung đó đa số sinh<br /> viên cho là chưa làm, số ít đã thực hiện để thỏa mãn NCNT của mình. Có một vấn đề chúng<br /> tôi rất quan tâm ở đây là khi được hỏi về việc bổ sung kiến thức về tâm lý học sinh phổ thông<br /> thì rất ít sinh viên đã làm (số lượng sinh viên đã làm để bổ sung thêm kiến thức về tâm lý học<br /> sinh phổ thông ở mức thấp nhất trong 18 nội dung mà chúng tôi đưa ra, chỉ chiếm 12,5%).<br /> Đây là đối tượng giáo dục của sinh viên trong tương lai, nhưng họ lại chưa quan tâm đến việc<br /> bồi bổ thêm kiến thức cho bản thân để sau khi ra trường, tham gia vào giảng dạy có thể hiểu<br /> được đối tượng giáo dục của giúp cho việc giảng dạy, giáo dục được tốt. Thực ra, kiến thức và<br /> các kĩ năng có liên quan đến vấn đề này cũng quan trọng không kém những kiến thức chuyên<br /> ngành của họ.<br /> Khi được phỏng vấn, sinh viên bộc lộ mong muốn được bổ sung khá nhiều kiến thức và<br /> kĩ năng khác ngoài kiến thức chuyên môn như: Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sống, kĩ năng làm<br /> việc theo nhóm, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, hiểu biết về tình<br /> hình chính trị, kiến thức chung về văn hóa - xã hội. Trong các nội dung mà sinh viên đưa ra,<br /> trong đó đa số sinh viên mong muốn được bổ sung kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sống, kiến thức<br /> chung về văn hóa - xã hội.<br /> Sinh viên Giàng A Gỳ (sinh viên năm thứ nhất) khi được hỏi: “Ngoài kiến thức chuyên<br /> môn được học trên lớp, em mong muốn được bổ sung thêm vốn kiến thức, kĩ năng nào khác<br /> 50<br /> <br /> nữa?”. Em trả lời: “Em là sinh viên dân tộc thiểu số ở huyện xa đến trường học tập, em còn<br /> yếu kém nhiều thứ nên em mong muốn bổ sung thêm kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sống, kĩ năng<br /> sử dụng công nghệ thông tin”.<br /> Sinh viên Quách Thị Chi (sinh viên năm thứ ba) lại chia sẻ: “Ngoài kiến thức chuyên<br /> môn, em mong muốn được bổ sung thêm rất nhiều kiến thức và kĩ năng khác nữa như: Kĩ<br /> năng sống, kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, hiểu biết về<br /> tình hình chính trị, kiến thức chung về văn hóa - xã hội. Vừa đi kiến tập về, em thấy những<br /> kiến thức, kĩ năng thuộc các lĩnh vực này em còn rất kém và đã ảnh hưởng đến kết quả thực<br /> tập của em”.<br /> Tất cả những điều sinh viên liệt kê ra trên đây, mặc dù được xem xét là ngoài kiến thức<br /> chuyên môn, nhưng lại rất cần thiết cho nghề nghiệp tương lai của họ. Một giáo viên muốn<br /> giảng dạy đạt hiệu quả cao, không chỉ nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn phải có kĩ<br /> năng giao tiếp, kĩ năng sống, kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng sử<br /> dụng công nghệ thông tin, hiểu biết về tình hình chính trị, kiến thức chung về văn hóa - xã hội<br /> mới. Xã hội ngày càng phát triển, sự đòi hỏi của xã hội đối với mỗi giáo viên ngày càng cao.<br /> Để nội dung bài giảng sinh động, học sinh tiếp thu bài giảng nhanh và giáo viên tạo ra uy tín<br /> đối với học sinh, giáo viên không chỉ nắm vững kiến thức chuyên môn mà cần phải có nhiều<br /> kiến thức liên quan.<br /> Đi vào so sánh giữa các khoa, giới tính và khóa học cho thấy:<br /> Giữa Khoa Ngữ văn và Khoa Toán - Lý - Tin có sự chênh lệch rõ rệt trong từng tiêu<br /> chí mà sinh viên đã làm hoặc chưa làm để thoả mãn NCNT. Khi thực hiện các nội dung chúng<br /> tôi đưa ra, sinh viên Khoa Ngữ văn về cơ bản lựa chọn đã làm cao hơn so với khoa Toán - Lý<br /> - Tin. Tiêu chí đầu tiên “Đi học đầy đủ, chuyên cần”, có 83,3% sinh viên Khoa Ngữ văn đã<br /> làm, 16,7% là chưa làm; trong khi đó với sinh viên Khoa Toán - Lý - Tin chỉ có 60% sinh<br /> viên đã làm và 40% là chưa làm. Cũng tương tự như vậy, “Học ngoại ngữ, tin học”, có 63,3%<br /> sinh viên Khoa Ngữ văn đã làm, 36,77% chưa làm, sinh viên Khoa Toán - Lý - Tin có 25% đã<br /> làm và 75% chưa làm. “Không sử dụng tài liệu trong giờ thi, giờ kiểm tra”, sinh viên Khoa<br /> Ngữ văn có 70% đã làm, 30% chưa làm; sinh viên Khoa Toán - Lý - Tin 45% đã làm, 55%<br /> chưa làm. Tuy nhiên, có một số tiêu chí sinh viên của cả hai khoa có sự đồng nhất về thứ bậc<br /> lựa chọn. Tiêu chí đi học đầy đủ, chuyên cần cả sinh viên Khoa Ngữ văn và khoa Toán - Lý Tin đều lựa chọn đã làm ở mức cao nhất; hay nội dung “Bổ sung thêm các kiến thức về tâm lí<br /> học sinh phổ thông” sinh viên cả hai khoa đều lựa chọn đã làm ở mức thấp nhất.<br /> Như vậy, biểu hiện và mức độ NCNT của sinh viên giữa hai khoa có một vài nội dung<br /> đồng nhất, về cơ bản là có sự khác biệt. Sinh viên Khoa Ngữ văn hay Khoa Toán - Lý - Tin<br /> đều có đặc trưng nghề nghiệp là giống nhau. Họ học để trở thành những giáo viên tham gia<br /> giảng dạy ở các trường phổ thông. Đối với mỗi giáo viên, muốn dạy tốt phải có tri thức vững<br /> vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, khả năng giao tiếp phù hợp với từng giai đoạn lứa tuổi, phải<br /> tổ chức tốt các hoạt động. Chính đặc trưng nghề nghiệp này mà cả sinh viên Khoa Ngữ văn và<br /> Khoa Toán - Lý - Tin có những điểm tương đồng trong mức độ lựa chọn cho từng tiêu chí.<br /> Bên cạnh những điểm tương đồng thì sự chọn của sinh viên hai khoa trong từng tiêu chí có sự<br /> 51<br /> <br /> khác biệt rõ rệt, điều này là do đặc điểm của hai khoa khác nhau nên lựa chọn có sự khác<br /> nhau. Sinh viên Khoa Ngữ văn chủ yếu là nữ, sinh viên Khoa Toán - Lý - Tin chủ yếu là nam.<br /> Chính do yếu tố giới tính này làm cho sinh viên nam và nữ lựa chọn các tiêu chí khác nhau có<br /> sự khác nhau.<br /> Tiếp tục so sánh giữa nam và nữ về biểu hiện và mức độ NCNT chúng tôi cũng thấy có<br /> sự khác biệt. Trong hầu hết các tiêu chí, sinh viên nữ lựa chọn đã làm cao hơn hẳn so với sinh<br /> viên nam. Trong các nghiên cứu cho thấy, nữ sinh viên mang những nét đặc trưng của người<br /> phụ nữ Việt Nam là hay lam hay làm, chịu thương chịu khó, cần cù, sáng tạo. Chính đặc trưng<br /> này làm cho NCNT của các nữ sinh viên cao hơn hẳn so với nam sinh viên.<br /> Để làm rõ hơn về bức tranh chung NCNT của sinh viên, chúng tôi tiến hành so sánh<br /> giữa sinh viên năm thứ nhất và sinh viên năm thứ ba. NCNT của sinh viên ở hai khóa khác<br /> nhau là có sự khác nhau nhưng không đáng kể. Về cơ bản, việc lựa chọn các nội dung ở mức<br /> đã làm có sự tương đồng giữa hai khóa. Tuy nhiên, có một số nội dung lại có sự khác biệt cơ<br /> bản trong việc lựa chọn đã làm hay chưa làm của sinh viên như: Tham gia nghiên cứu khoa<br /> học, tích cực rèn luyện phương pháp giảng dạy bộ môn. Sự khác nhau này phù hợp thực tiễn.<br /> Sinh viên K56 là sinh viên năm thứ nhất, các em chưa được tham gia làm đề tài nghiên cứu<br /> khoa học cấp khoa hay cấp trường, chưa được học các học phần liên quan đến phương pháp<br /> giảng dạy bộ môn nên lựa chọn đã làm ở hai nội dung này thấp hơn hẳn sinh viên K54.<br /> Ngược lại sinh viên K54 là sinh viên năm thứ ba, các em đã được tham gia làm đề tài nghiên<br /> cứu khoa học cấp khoa hoặc cấp trường, đã được học một học phần về phương pháp giảng<br /> dạy bộ môn, đã đi thực hành phổ thông, kiến tập nên đã tích cực rèn luyện phương pháp giảng<br /> dạy cao hơn hẳn so với sinh viên K56 là điều dễ hiểu.<br /> NCNT của sinh viên giữa các khoa khác nhau, giới tính khác nhau, khóa học khác nhau<br /> là có sự khác nhau. Sự khác nhau đó là do đặc trưng của từng khoa, từng giới và từng<br /> khóa học.<br /> Biểu đồ: NCNT của sinh viên sƣ phạm Trƣờng ĐHTB<br /> 80<br /> 70<br /> 60<br /> <br /> Đã làm<br /> <br /> 50<br /> <br /> 40<br /> <br /> Chưa làm<br /> <br /> 30<br /> 20<br /> 10<br /> 0<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> Ghi chú:<br /> 1- Nhóm nhu cầu nhận thức về trang bị kiến thức chuyên môn;<br /> 2- Nhóm nhu cầu nhận thức về kiến thức liên quan đến khả năng dạy học;<br /> 3- Nhóm những nhu cầu nhận thức về các lĩnh vực khác<br /> <br /> 52<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2