intTypePromotion=4

Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ em dưới 2 tuổi và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Hòa Bình

Chia sẻ: Ngân Hà | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
29
lượt xem
0
download

Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ em dưới 2 tuổi và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Hòa Bình

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ em dưới 2 tuổi và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Hòa Bình năm 2017.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ em dưới 2 tuổi và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Hòa Bình

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE<br /> CỦA TRẺ EM DƯỚI 2 TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN<br /> TẠI TỈNH HÒA BÌNH<br /> Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Thu Hà<br /> 1<br /> <br /> Viện đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội<br /> <br /> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 450 bà mẹ nhằm mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe<br /> trẻ em dưới 2 tuổi và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Hòa Bình năm 2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bà<br /> mẹ có xu hướng đưa trẻ đến các cơ sở y tế gần nhà để khám chữa bệnh khi trẻ mắc bệnh. Tỷ lệ trẻ khám<br /> chữa bệnh tại trạm y tế xã cao nhất (tiêu chảy: 73,9% và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính: 73,3%), bệnh viện<br /> công (tiêu chảy: 20% và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính: 40,4%). Chỉ tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học<br /> vấn của bà mẹ tới sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trẻ em. Bà mẹ có trình độ học vấn trên cấp 3 sử dụng<br /> dịch vụ chăm sóc sức khỏe chỉ bằng 0,19 lần bà mẹ trình độ dưới cấp 3 khi trẻ bị tiêu chảy và bằng 0,43 lần khi trẻ bị<br /> nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (p < 0,05).<br /> Từ khóa: sử dụng dịch vụ, trẻ em dưới 2 tuổi, Hòa Bình<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Dịch vụ y tế là dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt<br /> động chăm sóc sức khỏe cho người dân mà<br /> kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hóa<br /> không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ<br /> thể, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận tiện và có<br /> hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của<br /> người dân về chăm sóc sức khỏe [1]. Việc tìm<br /> hiểu hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của người<br /> dân sẽ giúp cho các cơ sở y tế cung cấp các<br /> loại hình dịch vụ y tế phù hợp, đáp ứng nhu<br /> cầu của người dân.<br /> <br /> và trung bình [2]. Một nghiên cứu tại Trung<br /> Quốc cho thấy hầu hết những người chăm<br /> sóc trẻ đã tìm kiếm sự chăm sóc ở bên ngoài<br /> khi trẻ bị sốt, ho, viêm phổi và tiêu chảy,<br /> khoảng 2/3 tìm kiếm sự chăm sóc tại các trạm<br /> y tế xã và các bệnh viện quận/huyện [3]. Một<br /> nghiên cứu khác ở Zambezia cho thấy có 65%<br /> trẻ bị sốt được đưa đến một cơ sở y tế [4].<br /> Kết quả của một số nghiên cứu tại Việt Nam<br /> cũng cho thấy trên 70% trẻ em khi ốm đau<br /> được đưa đến các cơ sở y tế và có xu hướng<br /> với trẻ em khu vực thành thị tìm kiếm dịch vụ<br /> <br /> Trẻ em dưới 2 tuổi là đối tượng dễ bị tác<br /> <br /> chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện hoặc trung<br /> <br /> động bởi bệnh tật. Ở giai đoạn này, tử vong ở<br /> <br /> tâm y tế huyện trong khi trẻ em ở khu vực<br /> <br /> trẻ em 80% liên quan tới viêm phổi và 70%<br /> <br /> nông thôn lại đa phần khám và điều trị tại trạm<br /> <br /> liên quan tới tiêu chảy, gây gánh nặng tử vong<br /> <br /> y tế xã [5 - 7].<br /> <br /> trẻ em lớn đặc biệt ở các nước thu nhập thấp<br /> <br /> Hòa Bình là một tỉnh miền núi, tập trung<br /> nhiều dân tộc sinh sống. Năm 2016, tỷ suất tử<br /> <br /> Địa chỉ liên hệ: Trần Thị Nga, Viện Đào tạo Y học dự<br /> <br /> vong chiếm 5,7/1000 trẻ đẻ sống, dưới 1 tuổi<br /> <br /> phòng và y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội<br /> <br /> 13/1000, dưới 5 tuổi 14,5/1000, có tới 90% trẻ<br /> <br /> Email: tranthinga@hmu.edu.vn<br /> <br /> nhiễm khuẩn đường hô hấp (58.880 trẻ), tiêu<br /> <br /> Ngày nhận: 10/5/2018<br /> <br /> chảy (5.253 trẻ). Các nguyên nhân trẻ tử vong<br /> <br /> Ngày được chấp thuận: 15/8/2018<br /> <br /> là viêm phổi, dị tật bẩm sinh, sơ sinh non yếu,<br /> <br /> TCNCYH 113 (4) - 2018<br /> <br /> 131<br /> <br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> tai nạn [8]. Vậy việc sử dụng dịch vụ y tế của<br /> <br /> p = 32,1% [9]; ε: Khoảng sai lệch mong<br /> <br /> trẻ dưới 2 tuổi ở đây như thế nào? Yếu tố nào<br /> <br /> muốn giữa tham số mẫu và tham số quần thể.<br /> <br /> ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế? Để<br /> <br /> Chọn ε = 0,15. Từ công thức trên tính n = 362,<br /> <br /> trả lời câu hỏi này nghiên cứu được thực hiện<br /> <br /> lấy thêm 20% để đảm bảo cỡ mẫu → Cỡ mẫu<br /> <br /> với mục tiêu mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ<br /> <br /> thực tế là 450 bà mẹ có con dưới 2 tuổi.<br /> <br /> chăm sóc sức khỏe của trẻ em dưới 2 tuổi và<br /> <br /> 3. Chọn mẫu: Theo 3 bước<br /> <br /> một số yếu tố liên quan tại tỉnh Hòa Bình năm<br /> <br /> Bước 1: Chọn chủ đích: 1 huyện thành thị<br /> <br /> 2017.<br /> <br /> (Thành phố Hòa Bình), 1 huyện nông thôn<br /> <br /> II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng: Bà mẹ có con dưới 2 tuổi.<br /> Tiêu chuẩn: Bà mẹ có con dưới 2 tuổi trên<br /> địa bàn nghiên cứu, đồng ý tham gia nghiên<br /> cứu, không bị các rối loạn tâm thần, có khả<br /> năng cung cấp thông tin, loại trừ những đối<br /> tượng trong danh sách không có mặt tại hộ<br /> gia đình trong thời gian nghiên cứu.<br /> Địa điểm, thời gian nghiên cứu<br /> Địa điểm: Thành phố Hòa Bình, huyện<br /> Lương Sơn và huyện Mai Châu, tỉnh Hòa<br /> Bình.<br /> Thời gian: từ tháng 9/2016 đến tháng<br /> 4/2017.<br /> <br /> (huyện Lương Sơn) và 1 huyện miền núi<br /> (huyện Mai Châu).<br /> Bước 2: Chọn Xã: chọn chủ đích mỗi<br /> huyện 15 xã → Tổng số điều tra 45 xã.<br /> Bước 3: Chọn bà mẹ có con dưới 2 tuổi:<br /> Tại mỗi xã, lập danh sách hộ gia đình có con<br /> dưới 2 tuổi. Tiến hành lấy mẫu ngẫu nhiên<br /> đơn để chọn ra 10 bà mẹ có con dưới 2 tuổi/<br /> xã.<br /> 4. Kỹ thuật thu thập số liệu<br /> Phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc<br /> gồm: phần thông tin chung, mắc các bệnh cấp<br /> tính về nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu chảy của<br /> trẻ, lựa chọn điều trị của bà mẹ.<br /> Trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp khi có<br /> <br /> 2. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.<br /> <br /> triệu chứng như ho, sốt, khó thở,€ và mắc<br /> <br /> Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu<br /> <br /> tiêu chảy khi có những triệu chứng như đau<br /> <br /> cho ước tính một tỷ lệ<br /> (p.(1 - p)<br /> n = Z2(1- α/2)<br /> <br /> (p.ε)2<br /> <br /> Trong đó:<br /> n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có.<br /> Z2(1-α/2): Hệ số tin cậy với α = 0,05 ta có<br /> Z = 1,96;<br /> p: là tỷ lệ trẻ em mắc bệnh được đưa đến<br /> cơ sở y tế của một nghiên cứu trước.<br /> <br /> 132<br /> <br /> bụng, đi ngoài ≥ 3 lần/ ngày.<br /> 5. Sai số và hạn chế sai số<br /> Sai số: sai số nhớ lại của các bà mẹ, sai số<br /> do kỹ năng của điều tra viên trong quá trình<br /> thu thập số liệu.<br /> Cách khắc phục sai số: Thiết kế bộ câu hỏi<br /> dễ hiểu, thử nghiệm và hoàn chỉnh trước khi<br /> thu thập số liệu chính thức. Tập huấn kỹ điều<br /> tra viên và giám sát viên. Trước khi kết thúc<br /> phỏng vấn điều tra viên phải xem xét lại phiếu<br /> điều tra để khẳng định các thông tin đã được<br /> <br /> TCNCYH 113 (4) - 2018<br /> <br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> khai thác đầy đủ. Điều tra viên kiểm tra phiếu<br /> <br /> III. KẾT QUẢ<br /> <br /> phát hiện những thông tin còn thiếu, sai sót và<br /> hoàn thiện lại phiếu.<br /> 6. Phân tích và xử lý số liệu<br /> Số liệu được kiểm tra, làm sạch và nhập<br /> <br /> 1. Đặc điểm chung của đối tượng<br /> nghiên cứu<br /> Có 450 bà mẹ có con dưới 2 tuổi tham gia<br /> <br /> bằng phần mềm Epidata 3.1 sau đó xử lý<br /> <br /> nghiên cứu. Đa số các bà mẹ là dân tộc<br /> Mường, Kinh, Thái và không theo tôn giáo, có<br /> <br /> thống kê bằng phần mềm Stata 12.0. Sử dụng<br /> <br /> sự khác biệt về điều kiện kinh tế hộ gia đình<br /> <br /> test thống kê mô tả để tính toán kết quả.<br /> <br /> giữa các huyện, Mai Châu có tỷ lệ hộ nghèo<br /> cao nhất (34%). Phần lớn các bà mẹ có trình<br /> <br /> 7. Đạo đức nghiên cứu<br /> Đề tài được sự chấp thuận và tự nguyện<br /> tham gia của cộng đồng, sự ủng hộ của<br /> <br /> độ hết cấp 3, ở thành phố Hòa Bình bà mẹ có<br /> trình độ từ trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ cao<br /> <br /> chính quyền địa phương, lãnh đạo các cơ sở<br /> <br /> nhất (44%). Về nghề nghiệp, các bà mẹ là<br /> nông dân chiếm tỷ lệ lớn ở huyện Lương Sơn<br /> <br /> y tế trên địa bàn nghiên cứu, mọi thông tin<br /> <br /> (42,7%) và huyện Mai Châu (52%).<br /> <br /> được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích<br /> nghiên cứu.<br /> <br /> 2. Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm<br /> sóc sức khỏe trẻ em dưới 2 tuổi<br /> <br /> Biểu đồ 1 Tình hình mắc triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và tiêu chảy của trẻ<br /> trong bốn tuần qua (n = 450)<br /> * NKHHCT: nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.<br /> Tỷ lệ trẻ mắc các triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (75%) cao hơn so với tiêu chảy<br /> (34,2%) và đều cao ở cả ba huyện. Ở Mai Châu có tỷ lệ trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính<br /> cao hơn so với thành phố Hòa Bình và huyện Lương Sơn.<br /> <br /> Biểu đồ 2. Lựa chọn sử dụng dịch vụ y tế khi trẻ có các triệu chứng bệnh<br /> TCNCYH 113 (4) - 2018<br /> <br /> 133<br /> <br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> *NKHHCT: nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.<br /> Khi trẻ bị tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, đa số các bà mẹ đều đưa trẻ đi khám/<br /> điều trị, tỷ lệ bà mẹ không đưa trẻ đi khám/điều trị thấp, dưới 20%.<br /> Bảng 1. Sử dụng dịch vụ y tế của bà mẹ khi trẻ bị tiêu chảy<br /> <br /> Lựa chọn nơi khám<br /> chữa bệnh<br /> <br /> Thành phố<br /> Hòa Bình (n = 23)<br /> <br /> Lương Sơn<br /> (n = 53)<br /> <br /> Mai Châu<br /> (n = 54)<br /> <br /> Chung<br /> (n = 130)<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> Trạm y tế xã<br /> <br /> 11<br /> <br /> 47,8<br /> <br /> 40<br /> <br /> 75,5<br /> <br /> 45<br /> <br /> 83,3<br /> <br /> 96<br /> <br /> 73,9<br /> <br /> Bệnh viện công<br /> <br /> 11<br /> <br /> 47,8<br /> <br /> 18<br /> <br /> 33,9<br /> <br /> 25<br /> <br /> 46,3<br /> <br /> 54<br /> <br /> 41,5<br /> <br /> Phòng khám tư<br /> <br /> 5<br /> <br /> 21,7<br /> <br /> 13<br /> <br /> 24,5<br /> <br /> 8<br /> <br /> 14,8<br /> <br /> 26<br /> <br /> 20,0<br /> <br /> Phòng khám đa khoa<br /> khu vực<br /> <br /> 4<br /> <br /> 17,4<br /> <br /> 13<br /> <br /> 24,5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 11,1<br /> <br /> 23<br /> <br /> 17,7<br /> <br /> Bệnh viện tư nhân<br /> <br /> 1<br /> <br /> 4,4<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3,8<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 3<br /> <br /> 2,3<br /> <br /> Khác<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 7<br /> <br /> 13,2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 5,6<br /> <br /> 10<br /> <br /> 7,7<br /> <br /> Khi trẻ bị tiêu chảy, tỷ lệ bà mẹ đưa trẻ đến trạm y tế xã khám/ điều trị nhiều nhất (73,9%), tỷ<br /> lệ này ở thành phố Hòa Bình thấp hơn hai huyện Lương Sơn và Mai Châu. Tiếp đến, trẻ được<br /> đưa đến bệnh viện công là 41,5%; thấp nhất là được đưa đến phòng khám tư (20%).<br /> Bảng 2. Sử dụng dịch vụ y tế của bà mẹ khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính<br /> <br /> Lựa chọn nơi khám<br /> chữa bệnh<br /> <br /> Thành phố<br /> Hòa Bình (n = 66)<br /> <br /> Lương Sơn<br /> (n = 100)<br /> <br /> Mai Châu<br /> (n = 111)<br /> <br /> Chung<br /> (n = 277)<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> Trạm y tế xã<br /> <br /> 29<br /> <br /> 43,9<br /> <br /> 72<br /> <br /> 72,0<br /> <br /> 102<br /> <br /> 91,9<br /> <br /> 203<br /> <br /> 73,3<br /> <br /> Bệnh viện công<br /> <br /> 37<br /> <br /> 56,1<br /> <br /> 33<br /> <br /> 33,0<br /> <br /> 42<br /> <br /> 37,8<br /> <br /> 112<br /> <br /> 40,4<br /> <br /> Phòng khám tư<br /> <br /> 29<br /> <br /> 43,9<br /> <br /> 33<br /> <br /> 33,0<br /> <br /> 16<br /> <br /> 14,4<br /> <br /> 78<br /> <br /> 28,2<br /> <br /> Phòng khám đa khoa<br /> khu vực<br /> <br /> 10<br /> <br /> 15,2<br /> <br /> 21<br /> <br /> 21,0<br /> <br /> 12<br /> <br /> 10,8<br /> <br /> 43<br /> <br /> 15,5<br /> <br /> Bệnh viện tư nhân<br /> <br /> 5<br /> <br /> 7,6<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1,0<br /> <br /> 3<br /> <br /> 2,7<br /> <br /> 9<br /> <br /> 3,3<br /> <br /> Khác<br /> <br /> 9<br /> <br /> 13,6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 7,0<br /> <br /> 5<br /> <br /> 4,5<br /> <br /> 21<br /> <br /> 7,6<br /> <br /> Khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, tỷ lệ bà mẹ đưa trẻ đến trạm y tế xã, bệnh viện công<br /> để khám/điều trị nhiều nhất (73,3% và 40,4%), tiếp đến là phòng khám tư là 28,2%, thấp nhất là<br /> tỷ lệ đến bệnh viện tư (3,3%).<br /> <br /> 134<br /> <br /> TCNCYH 113 (4) - 2018<br /> <br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> 3. Một số yếu tố ảnh hưởng tới sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trẻ em dưới 2 tuổi<br /> tại tỉnh Hòa Bình năm 2017<br /> Bảng 3. Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố liên quan tới sử dụng dịch vụ<br /> chăm sóc sức khỏe trẻ em<br /> Đặc điểm<br /> <br /> Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi trẻ bị bệnh<br /> OR<br /> <br /> 95% CI<br /> <br /> Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi trẻ bị tiêu chảy<br /> Trình độ học vấn (*Dưới cấp 3)<br /> Trên cấp 3<br /> <br /> 0,19*<br /> <br /> 0,05 – 0,71<br /> <br /> Nghề nghiệp mẹ (* Nông dân)<br /> Nghề nghiệp khác<br /> <br /> 1,02<br /> <br /> 0,38 – 2,71<br /> <br /> Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính<br /> Dân tộc (* Mường, Thái, khác)<br /> Kinh<br /> <br /> 0,61<br /> <br /> 0,33 - 1,15<br /> <br /> Trình độ học vấn (* Dưới cấp 3)<br /> Trên cấp 3<br /> <br /> 0,43*<br /> <br /> 0,19 - 0,95<br /> <br /> Nghề nghiệp mẹ (* Nông dân)<br /> Nghề nghiệp khác<br /> <br /> 0,63<br /> <br /> 0,34 - 1,16<br /> <br /> Kinh tế hộ gia đình (* Nghèo)<br /> Không nghèo<br /> <br /> 0,37<br /> <br /> 0,10 - 1,30<br /> <br /> Có mối liên quan giữa trình độ học vấn của bà mẹ tới sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi<br /> trẻ mắc bệnh (p < 0,05). Khi trẻ bị tiêu chảy, bà mẹ có trình độ học vấn trên cấp 3 sử dụng dịch<br /> vụ chăm sóc sức khỏe chỉ bằng 0,19 lần bà mẹ trình độ dưới cấp 3. Khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô<br /> hấp cấp tính, bà mẹ có trình độ học vấn trên cấp 3 sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe chỉ bằng<br /> 0,43 lần bà mẹ có trình độ học vấn dưới cấp 3.<br /> <br /> IV. BÀN LUẬN<br /> Hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế là sự lựa<br /> <br /> mẹ không điều trị gì cho trẻ rất thấp (< 20%).<br /> <br /> chọn ưu tiên các loại dịch vụ y tế của người<br /> <br /> Điều này cho thấy, đa số các bà mẹ đều lo<br /> <br /> dân khi cần chăm sóc sức khỏe theo từng<br /> <br /> lắng khi trẻ mắc bệnh, nhận thức được việc<br /> <br /> mức độ khác nhau. Người dân có thể tìm đến<br /> <br /> đưa trẻ đi khám/điều trị để nhanh chóng xác<br /> <br /> sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ y<br /> <br /> định được tình trạng cũng như chữa khỏi<br /> <br /> tế nào do các cơ sở y tế công lập hay tư nhân<br /> <br /> bệnh cho trẻ. Kết quả cũng tương đồng với<br /> <br /> cung cấp. Trong nghiên cứu, hầu hết bà mẹ<br /> <br /> nghiên cứu tại huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng<br /> <br /> đều đưa trẻ đi khám khi trẻ bị bệnh, tỷ lệ bà<br /> <br /> Trị năm 2010 cho thấy: Đa số các bà mẹ đưa<br /> <br /> TCNCYH 113 (4) - 2018<br /> <br /> 135<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2