
1256
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH LIÊN KẾT VÙNG
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÙNG DUYÊN HẢI
NAM TRUNG BỘ
Lê Đức Thọ(1)
TÓM TẮT:
Duyên hải Nam Trung B l vùng sở hữu nhiều ti nguyên du lch phong phú, đa dạng, l điều
kiện đ đẩy mạnh pht trin cc loại hình du lch nh du lch di sản, du lch vn ho - tâm linh, du
lch cng đồng, du lch sinh thi, du lch nghỉ dỡng,… Đ khai thc hiệu quả tiềm nng, th mạnh
của vùng trong pht trin du lch, thì việc liên kt vùng l mt giải php quan trọng. Trong những
nm qua, ngnh du lch vùng duyên hải Nam Trung B đ có nhiều giải php đ thúc đẩy liên kt
vùng trong pht trin du lch cng đồng v thực t đ ghi nhận những kt quả tích cực, song hiệu
quả cha cao. Bi vit sử dụng phơng php nghiên cứu ti liệu thứ cấp về tiềm nng, thực trạng
liên kt vùng trong pht trin du lch v đề xuất mt s giải php đẩy mạnh liên kt vùng trong pht
trin du lch cng đồng tại vùng duyên hải Nam Trung B hiện nay.
Từ khoá: Du lch cng đồng, liên kt vùng trong pht trin du lch, vùng duyên hải Nam Trung B.
ABSTRACT:
The South Central Coast is a region that owns many rich and diverse tourism resources, which
is a condition to promote the development of tourism types such as heritage tourism, cultural and
spiritual tourism, community tourism, ecotourism, and resort tourism,… In order to effectively
exploit the potential and strengths of the region in tourism development, regional linkage is an
important solution. Over the years, the tourism industry in the South Central Coast region has had
many solutions to promote regional linkages in community tourism development and in fact has
recorded positive results, but the efficiency is not high. This article uses the method of secondary
literature research on the potential and current status of regional linkages in tourism development
and proposes some solutions to promote regional linkages in community tourism development in the
South Central Coast region today.
Keywords: Community tourism, regional linkage in tourism development, South Central Coast.
1. Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng. Email: tholeevtc@gmail.com

1257
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
1. Giới thiệu
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ là một trong những khu vực có tiềm năng phát triển du lịch
phong phú và đa dạng bậc nhất cả nước. Nơi đây sở hữu đường bờ biển dài với nhiều bãi biển đẹp,
các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Gành Đá Đĩa (Phú Yên), bãi biển Nha Trang (Khánh Hoà),
Cù lao Chàm (Quảng Nam) và các di sản văn hoá lịch sử nổi bật như Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ
Sơn cùng hệ thống lễ hội truyền thống đặc sắc. Ngoài ra, đời sống văn hoá của cộng đồng các dân
tộc địa phương như Kinh, Chăm, Ba Na, Ê Đê,… mang lại sức hút đặc biệt cho du khách khi đến
trải nghiệm các giá trị văn hoá bản địa. Đây chính là nền tảng quan trọng để phát triển du lịch cộng
đồng - loại hình du lịch gắn liền với sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương trong việc bảo
tồn văn hoá và cải thiện đời sống kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng,
các địa phương thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức.
Một trong những vấn đề lớn là thiếu sự liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng. Sự phát
triển du lịch cộng đồng tại các địa phương hiện vẫn mang tính đơn lẻ, chưa có sự kết nối chặt chẽ để
tạo thành chuỗi sản phẩm du lịch liên hoàn, hấp dẫn du khách. Việc thiếu cơ chế phối hợp giữa các
tỉnh, thành phố trong vùng dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh, lãng phí tài nguyên du lịch và
hạn chế khả năng xây dựng thương hiệu du lịch chung cho toàn khu vực. Chính vì vậy, nghiên cứu
và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng vùng duyên
hải Nam Trung Bộ là rất cần thiết hiện nay.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Du lch cng đồng
Hiện nay có nhiều tên gọi khác nhau có liên quan đến du lịch cộng đồng như: Du lịch dựa
vào cộng đồng (Community-Based Tourism); Phát triển cộng đồng dựa vào du lịch (Community-
Development in Tourism); Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (Community-Based Ecotourism);
Du lịch có sự tham gia của cộng đồng (CommunityParticipation in Tourism); Du lịch núi dựa vào
cộng đồng (Community-Based Mountain Tourism). Tuy tên gọi khác nhau nhưng có một số vấn đề
cơ bản giống hoặc tương đồng về phương pháp tổ chức, địa điểm, mục tiêu vị trí tổ chức phát triển
du lịch và cộng đồng. Tổ chức Giới thiệu và Bảo tồn văn hoá bản địa khu vực châu Mỹ quan niệm,
du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để
tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương. Cộng đồng địa
phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức
du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị
truyền thống của địa phương.
Tại Việt Nam, quan niệm về du lịch cộng đồng được xem xét ở nhiều góc nhìn, quan điểm
nghiên cứu khác nhau. Theo Luật Du lịch (2017) định nghĩa: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch
được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hoá của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức
khai thác và hưởng lợi” (Quốc hội, 2017). Tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) cho rằng: “Du lịch cộng
đồng có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia
trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch. Cộng đồng nhận được
sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng

1258
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng
đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong
phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách” (Bùi Thị Hải Yến, 2012).
Trong bài viết này, tác giả quan niệm: Du lch cng đồng l mt loại hình du lch dựa vo cng
đồng đa phơng, trong đó ngời dân bản đa đóng vai trò trung tâm trong việc tổ chức, quản lý
v cung cấp cc dch vụ du lch. Du lch cng đồng không chỉ mang đn cho du khch những trải
nghiệm chân thực về vn ho, đời sng v thiên nhiên tại đim đn, m còn góp phần tạo việc lm,
nâng cao thu nhập v cải thiện đời sng kinh t - x hi cho ngời dân đa phơng. Đặc trưng của
du lịch cộng đồng là sự tham gia trực tiếp và chủ động của cộng đồng trong tất cả các khâu từ lập
kế hoạch, quản lý đến vận hành các hoạt động du lịch. Các sản phẩm du lịch cộng đồng thường
gắn liền với các giá trị văn hoá bản địa, làng nghề truyền thống, lễ hội, ẩm thực và cảnh quan thiên
nhiên. Bên cạnh đó, loại hình du lịch này còn nhấn mạnh đến tính bền vững, bảo tồn và phát huy
các tài nguyên tự nhiên và văn hoá, đồng thời mang lại lợi ích hài hoà giữa du khách, cộng đồng địa
phương và môi trường.
2.1.2. Liên kt vùng trong pht trin du lch cng đồng
Liên kết vùng được hiểu là những mối quan hệ phối hợp, hợp tác thường xuyên, ổn định trong
các hoạt động (trên nhiều lĩnh vực của đời sống, trong đó lĩnh vực kinh tế có vị trí trọng tâm) do các
địa phương, đơn vị trong một vùng thực hiện dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có
lợi nhằm khai thác, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế và bảo đảm lợi ích cho các địa phương tham
gia. Liên kết vùng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, như: liên kết ngành, liên kết giữa
các chủ thể chức năng và liên kết không gian.
Nội dung của liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng bao gồm: (i) Các tỉnh, thành
phố hợp tác để xây dựng các tuyến du lịch liên vùng, kết nối nhiều điểm đến, giúp du khách có trải
nghiệm phong phú và đa dạng hơn; (ii) Cộng đồng địa phương phối hợp với các doanh nghiệp du
lịch để phát triển sản phẩm, quảng bá, và tổ chức các hoạt động du lịch chuyên nghiệp; (iii) Các cộng
đồng khác nhau có thể chia sẻ kinh nghiệm, tài nguyên và cùng nhau phát triển các sản phẩm du lịch
độc đáo, tránh trùng lặp và tạo sự bổ trợ cho nhau; (iv) Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ về chính sách,
đầu tư hạ tầng và tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng tham gia vào du lịch.
Liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng giúp các địa phương và cộng đồng sử dụng
hiệu quả tài nguyên tự nhiên, văn hoá và xã hội. Khi các địa phương và cộng đồng hợp tác, họ có thể
tạo ra các sản phẩm du lịch liên vùng, nâng cao sức hấp dẫn và giá trị cho du khách. Liên kết vùng
giúp tăng cường cơ hội việc làm, cải thiện đời sống kinh tế và nâng cao năng lực cho người dân địa
phương. Thông qua liên kết, các địa phương và cộng đồng có thể cùng nhau xây dựng các mô hình
du lịch bền vững, bảo tồn di sản văn hoá và tài nguyên thiên nhiên.
Như vậy, liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng là quá trình hợp tác, phối hợp và kết
nối giữa các địa phương trong cùng một vùng để cùng phát triển du lịch cộng đồng một cách bền
vững và hiệu quả. Quá trình này nhằm tạo ra sự thống nhất trong chiến lược phát triển, tối ưu hoá
nguồn lực và tiềm năng du lịch của từng địa phương, đồng thời xây dựng các sản phẩm du lịch liên
vùng độc đáo, hấp dẫn du khách. Liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng chính là chìa khoá

1259
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
quan trọng để phát huy tiềm năng du lịch địa phương, tạo động lực phát triển kinh tế bền vững và
mang lại lợi ích hài hòa cho cả cộng đồng và các bên liên quan.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp từ các nguồn báo cáo của Sở Văn hoá,
Thể thao và Du lịch; Sở Du lịch các tỉnh, thành vùng duyên hải Nam Trung Bộ; internet, tạp chí;…
nghiên cứu về thực trạng liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng vùng duyên hải Nam Trung
Bộ và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng vùng
duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 3, Nghị quyết số 81/2023/QH15, vùng duyên hải Nam
Trung Bộ gồm 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trương là Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ với vị trí
nằm trên tuyến du lịch xuyên Việt, “con đường di sản miền Trung, “con đường xanh Tây Nguyên,
nằm trên hành lang du lịch Đông - Tây. Nét đặc trưng của hệ sinh thái với các khu bảo tồn thiên
nhiên, vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển gắn với biển đảo và các tài nguyên du lịch sinh thái vô
cùng hấp dẫn đối với khách du lịch. Bên cạnh đó, sự đa dạng của các giá trị văn hoá với điển hình
văn hoá Chăm Pa, Sa Huỳnh, văn hoá của cư dân vùng biển duyên hải miền Trung và đặc biệt các
di tích văn hoá, lịch sử cách mạng được coi là tiềm năng quan trọng để phát triển các loại hình du
lịch trong khu vực.
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ sở hữu tiềm năng du lịch cộng đồng phong phú và đa dạng, là
một trong những khu vực có sức hút lớn đối với du khách trong và ngoài nước. Với đường bờ biển
dài hơn 1.000km, các tỉnh như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Quảng Ngãi, Quảng Nam không
chỉ nổi bật với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, các bãi biển hoang sơ, mà còn sở hữu nhiều di tích
văn hoá lịch sử, làng nghề truyền thống và các cộng đồng dân tộc với bản sắc văn hoá đặc trưng. Du
khách có thể trải nghiệm cuộc sống bình dị của người dân địa phương qua các hoạt động như tham
quan làng nghề, tìm hiểu về nông sản đặc sản, tham gia vào các lễ hội truyền thống, hay khám phá
các khu bảo tồn thiên nhiên. Bên cạnh đó, nền văn hoá đa dạng của các dân tộc như Kinh, Chăm, Ê
Đê, Ba Na cũng là yếu tố hấp dẫn du khách khi tham gia vào các hoạt động du lịch cộng đồng. Đặc
biệt, các hoạt động du lịch trải nghiệm như tham gia vào các lễ hội dân gian, đan lát, thêu hay trồng
trọt, đánh bắt thuỷ sản đã tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, góp phần bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hoá bản địa.
Tuy nhiên, thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ vẫn còn
nhiều thách thức. Mặc dù các tỉnh đã chú trọng đến việc phát triển du lịch cộng đồng, nhưng vẫn
thiếu sự kết nối và hợp tác giữa các địa phương trong vùng, dẫn đến việc khai thác tài nguyên du
lịch còn manh mún và chưa thực sự phát huy hết tiềm năng. Các sản phẩm du lịch cộng đồng chủ
yếu được phát triển riêng lẻ, chưa tạo ra được các tuyến du lịch liên kết giữa các điểm đến. Hơn nữa,
cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, như giao thông, lưu trú, và các dịch vụ hỗ trợ vẫn chưa đồng bộ, ảnh
hưởng đến chất lượng trải nghiệm của du khách. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức và kỹ năng của
cộng đồng trong việc tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng còn hạn chế, khiến cho hiệu quả phát

1260
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
triển du lịch chưa cao. Các chương trình đào tạo cho người dân về quản lý du lịch, đón tiếp khách,
bảo vệ môi trường và quảng bá sản phẩm du lịch còn thiếu và chưa đủ mạnh.
Như vậy, mặc dù vùng duyên hải Nam Trung Bộ có tiềm năng lớn để phát triển du lịch cộng
đồng, nhưng việc khai thác tiềm năng này vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Để đạt được sự phát triển
bền vững, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng trong xây
dựng các sản phẩm du lịch liên vùng và cải thiện cơ sở hạ tầng, đồng thời nâng cao năng lực cho
cộng đồng địa phương.
3.2. Thực trạng liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Trong những năm gần đây, các tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ đã bắt đầu nhận thức
rõ hơn về tầm quan trọng của việc liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng. Kết quả của quá
trình này đã đạt được một số bước tiến, mặc dù vẫn còn nhiều thử thách và cần cải thiện để phát huy
hết tiềm năng. Một trong những kết quả đáng chú ý là sự hình thành các tuyến du lịch liên vùng, kết
nối các điểm đến nổi bật giữa các tỉnh như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh
Hoà. Chẳng hạn, tuyến du lịch kết hợp tham quan di sản văn hoá Hội An và Mỹ Sơn (Quảng Nam)
với các làng nghề truyền thống và danh thắng tại Quảng Ngãi hay Phú Yên đã thu hút một lượng du
khách nhất định, tạo điều kiện cho việc quảng bá văn hoá, di sản và sản phẩm địa phương.
Ngoài ra, một số chương trình hợp tác giữa các địa phương đã được triển khai, chẳng hạn như
các hội chợ du lịch liên vùng, sự kiện quảng bá sản phẩm du lịch cộng đồng tại các tỉnh trong khu
vực. Những hoạt động này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về du lịch cộng đồng mà còn tạo cơ
hội cho cộng đồng địa phương giao lưu, học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương khác, từ đó cải thiện
chất lượng dịch vụ và sản phẩm du lịch. Đặc biệt, các tổ chức và doanh nghiệp lữ hành đã bắt đầu
chú trọng đến việc xây dựng các sản phẩm du lịch kết hợp giữa các tỉnh trong vùng, chẳng hạn như
tour du lịch sinh thái kết hợp trải nghiệm văn hoá và tham gia các hoạt động nông thôn tại các tỉnh
Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Định. Đây là những nỗ lực quan trọng trong việc xây dựng chuỗi giá trị
du lịch liên kết, giúp tăng trưởng lượng khách và nâng cao thu nhập cho cộng đồng. Ví dụ, Khánh
Hoà, Phú Yên và Ninh Thuận đã liên kết xây dựng các tuyến du lịch chung, kết nối điểm đến nổi bật
như, Tháp Bà Ponagar, Hòn Chồng (Khánh Hòa), Gành Đá Đĩa, Tháp Nhạn (Phú Yên) và Hang Rái,
Vườn nho Thái An (Ninh Thuận). Các tour du lịch liên vùng mang đến sự đa dạng trải nghiệm, kết
hợp giữa nghỉ dưỡng biển, khám phá văn hoá và du lịch sinh thái.
Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định, liên kết vùng trong phát triển du lịch cộng đồng tại
duyên hải Nam Trung Bộ vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Thứ nhất, các tỉnh trong vùng duyên hải Nam
Trung Bộ vẫn còn thiếu sự phối hợp đồng bộ và chiến lược trong việc phát triển du lịch cộng đồng.
Mỗi địa phương thường chỉ tập trung vào phát triển du lịch của riêng mình mà không chú trọng đến
sự kết nối với các địa phương khác, dẫn đến việc khai thác tài nguyên du lịch không đồng đều và
chưa tạo ra chuỗi sản phẩm du lịch liên kết hiệu quả. Việc thiếu một cơ chế hợp tác rõ ràng giữa
các tỉnh khiến việc phát triển du lịch không mang lại lợi ích toàn diện cho cả vùng. Thứ hai, mặc dù
duyên hải Nam Trung Bộ có nhiều tiềm năng du lịch, nhưng cơ sở hạ tầng giao thông và các dịch vụ
du lịch tại nhiều địa phương vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Các tuyến giao thông liên vùng chưa
được cải thiện một cách đồng bộ, gây khó khăn cho việc di chuyển của du khách giữa các tỉnh trong
vùng. Điều này làm giảm tính kết nối và khả năng tiếp cận của du khách, hạn chế khả năng phát triển

