intTypePromotion=3

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Quảng Bình

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
26
lượt xem
0
download

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Quảng Bình

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Quảng Bình về quy mô, hiệu quả sản xuất, cơ sở hạ tầng, tình hình ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, trình độ lao động. Trên cơ sở đó phân tích những mặt thuận lợi, đạt được và những mặt khó khăn, thách thức để đề ra các giải pháp nhằm phát triển có hiệu quả và bền vững kinh tế trang trại ở tỉnh Quảng Bình.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Quảng Bình

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH, SỐ 02<br /> <br /> THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ<br /> TRANG TRẠI Ở TỈNH QUẢNG BÌNH<br /> Trần Tự Lực<br /> Trường Đại học Quảng Bình<br /> Tóm tắt. Bài viết nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Quảng<br /> Bình về quy mô, hiệu quả sản xuất, cơ sở hạ tầng, tình hình ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, trình<br /> độ lao động. Trên cơ sở đó phân tích những mặt thuận lợi, đạt được và những mặt khó khăn,<br /> thách thức để đề ra các giải pháp nhằm phát triển có hiệu quả và bền vững kinh tế trang trại ở<br /> tỉnh Quảng Bình.<br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Kinh tế trang trại đã được tỉnh Quảng Bình quan tâm từ cuối thập kỷ 80 nhưng mãi<br /> đến năm 2000 thì loại hình kinh tế này vẫn chưa phát triển. Tính đến tháng 7 năm 2000<br /> toàn tỉnh có 822 hộ sản xuất kinh doanh theo xu thế phát triển trang trại, trong đó chỉ có<br /> 47 cơ sở đạt hai tiêu chí theo Thông tư 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 26/6/2000 của<br /> Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Tổng cục thống kê; 616 cơ sở đạt một<br /> tiêu chí về quy mô mà không đạt tiêu chí về giá trị hàng hóa. Số còn lại, 159 cơ sở mang<br /> tính chất gia trại không đủ tiêu chí nào. Tuy nhiên sau khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP<br /> ngày 02/2/2000 của Chính phủ về Kinh tế trang trại và Chỉ thị số 36/CT/TU ngày<br /> 30/6/2000 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế trang<br /> trại với nhiều chủ trương và chính sách như: phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chương<br /> trình 5 triệu ha rừng... đã mở ra một giai đoạn phát triển mạnh mẽ của kinh tế trang trại ở<br /> tỉnh Quảng Bình cả về số lượng và chất lượng. Kinh tế trang trại trở thành khâu đột phá,<br /> tạo ra động lực mới trong sản xuất nông nghiệp và đã phát huy được lợi thế của từng<br /> vùng; góp phần khai thác và tận dụng nguồn vốn trong dân; mở rộng thêm diện tích, tận<br /> dụng đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá ở các vùng gò đồi, miền núi và ven biển; tạo<br /> việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo.<br /> Mặc dù đã có những bước phát triển nhiều mặt nhưng loại hình kinh tế trang trại ở<br /> Quảng Bình còn mang nặng tính tự phát, bộc lộ nhiều điểm yếu như: thiếu vốn đầu tư<br /> phát triển sản xuất; thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh; năng lực quản lý kém, quy<br /> mô phân tán, manh mún; định hướng sản xuất hàng hoá chưa rõ và chỉ mới khai thác được<br /> một phần nhỏ tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá<br /> thực trạng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua; phân tích<br /> những mặt thuận lợi, kết quả đạt được và những mặt khó khăn, thách thức; trên cơ sở đó<br /> đề ra các định hướng, giải pháp nhằm phát triển có hiệu quả và bền vững loại hình kinh tế<br /> này ở Quảng Bình.<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH, SỐ 02<br /> <br /> 2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở QUẢNG BÌNH<br /> 2.1. Số lượng, quy mô và tình hình sử dụng đất của trang trại<br /> Về số lượng và quy mô trang trại: Tiêu chí về trang trại theo từng giai đoạn phát<br /> triển kinh tế của đất nước có nhiều sự thay đổi nên để đánh giá sự phát triển kinh tế trang<br /> trại ở Quảng Bình ta đánh giá theo 2 giai đoạn:<br /> Giai đoạn 2006 - 2010: Theo các tiêu chí về trang trại trước đây thì đến đến cuối<br /> năm 2010 toàn tỉnh Quảng Bình có 1.587 trang trại, tăng 887 trang trại so với năm 2006.<br /> Tốc độ tăng trưởng về số lượng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 20,6% (Biểu đồ 1).<br /> Mặc dù tổng số lượng trang trại toàn tỉnh tăng, nhưng ở thành phố Đồng Hới và huyện<br /> Quảng Trạch số lượng trang trại lại giảm: Nguyên nhân của trình trạng này là do nhiều<br /> trang trại ở hai địa bàn này hoạt động kém hiệu quả và một số trang trại không đạt các<br /> tiêu chí nên không xếp vào loại hình kinh tế này. Ngược lại, một số huyện lại có số lượng<br /> trang trại tăng nhanh, nhất là Lệ Thuỷ (Từ 39 lên 413 trang trại). Huyện có số lượng trang<br /> trại nhiều nhất là Bố Trạch (974 trang trại). Huyện Tuyên Hóa có số lượng trang trại thấp<br /> nhất tỉnh (20 trang trại). Riêng huyện Minh Hóa mới phát triển trang trại trong năm 2009<br /> nhưng nhờ có chính sách hỗ trợ của tỉnh và huyện nên có 22 trang trại, tuy nhiên đến năm<br /> 2010 sau khi xét lại các tiêu chí, thì không có trang trại nào của huyện đạt các tiêu chí về<br /> trang trại.<br /> <br /> Biểu đồ 1. Thực trạng trang trại tỉnh Quảng Bình năm 2006 và 2010<br /> <br /> Để đánh giá tình hình phát triển trang trại, ta nghiên cứu số lượng trang trại phân<br /> theo loại hình sản xuất qua bảng sau:<br /> Bảng 1. Số lượng trang trại phân theo loại hình sản xuất năm 2006 và 2010<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH, SỐ 02<br /> <br /> Loại hình<br /> <br /> Tổng<br /> (trang trại)<br /> <br /> Tăng, giảm so<br /> với năm 2006<br /> (+,-) (trang<br /> trại)<br /> <br /> Tốc độ tăng<br /> trưởng bình<br /> quân/năm<br /> (%)<br /> <br /> Năm 2006<br /> <br /> Năm 2010<br /> <br /> Trang trại trồng trọt<br /> <br /> 308<br /> <br /> 780<br /> <br /> 472<br /> <br /> 24,0<br /> <br /> Trang trại lâm nghiệp<br /> <br /> 144<br /> <br /> 289<br /> <br /> 145<br /> <br /> 15,7<br /> <br /> Trang trại chăn nuôi<br /> <br /> 10<br /> <br /> 158<br /> <br /> 148<br /> <br /> 99,4<br /> <br /> Trang trại thuỷ sản<br /> <br /> 205<br /> <br /> 195<br /> <br /> -10<br /> <br /> - 3,1<br /> <br /> Trang trại tổng hợp<br /> <br /> 33<br /> <br /> 165<br /> <br /> 132<br /> <br /> 47,5<br /> <br /> 700<br /> <br /> 1587<br /> <br /> 887<br /> <br /> 20,6<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Bình<br /> <br /> Qua bảng ta thấy, xét theo loại hình thì trang trại chăn nuôi có tốc độ tăng nhanh<br /> nhất, bình quân 99,4%/năm; trang trại thuỷ sản có xu hướng giảm, bình quân giảm<br /> 3,1%/năm. Nguyên nhân có sự gia tăng các trang trại chăn nuôi là do tỉnh đã có chương<br /> trình đột phá trong chăn nuôi, còn trang trại thủy sản giảm là do lúc đầu hiệu quả cao nên<br /> phát triển ồ ạt nhưng khi dịch bệnh bùng phát thì một số trang trại làm ăn thua lỗ và phá<br /> sản.<br /> Giai đoạn từ năm 2011 đến nay: Theo tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận<br /> kinh tế trang trại ở Thông tư số 27/2011/TT - BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của<br /> Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có rất nhiều trang trại tỉnh Quảng Bình không<br /> đạt và bị thu hồi giấy chứng nhận nên tổng số trang trại ở tỉnh Quảng Bình năm 2011 đã<br /> giảm rất nhiều so với năm 2010, cụ thể: Cả tỉnh có 531 trang trại (giảm 66,3% so với năm<br /> 2010), trong đó huyện Lệ Thủy có 22 trang trại, Quảng Ninh có 7 trang trại, Đồng Hới có<br /> 6 trang trại, Bố Trạch có 473 trang trại, Quảng Trạch có 22 trang trại và Tuyên Hóa có 1<br /> trang trại. Phân theo loại hình thì có 288 trang trại trồng trọt, 41 trang trại chăn nuôi, 10<br /> trang trại lâm nghiệp, 55 trang trại thủy sản và 137 trang trại tổng hợp.<br /> Qua số liệu khảo sát cho thấy vùng gò đồi có số lượng trang trại lớn nhất, kế đến là<br /> vùng rừng núi. Vùng cát ven biển tuy có nhiều lợi thế để phát triển trang trại nhưng có số<br /> lượng trang trại thấp nhất. Nguyên nhân là do ở vùng gò đồi và vùng rừng núi có chính<br /> sách giao đất giao rừng, còn ở vùng cát ven biển thủ tục giao đất, cho thuê đất còn gặp<br /> nhiều khó khăn nên người dân chưa chú trọng đầu tư để phát triển trang trại. Mặt khác,<br /> phát triển trang trại ở vùng cát phải đầu tư kinh phí lớn và rủi ro cao. Thực tế cho thấy<br /> trang trại trồng trọt và trang trại lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở vùng gò đồi và vùng rừng<br /> núi; vùng cát ven biển chỉ có vài trang trại lâm nghiệp. Trang trại chăn nuôi đang có số<br /> lượng lớn nhất ở vùng đồng bằng, xu hướng tương lai sẽ tăng ở vùng gò đồi, giảm ở vùng<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH, SỐ 02<br /> <br /> đồng bằng. Trang trại thủy sản tập trung phát triển ở vùng cát đồng bằng về nuôi tôm, cá<br /> cho hiệu quả cao, đang từng bước phát triển và nhân rộng; ở vùng gò đồi chủ yếu phát<br /> triển nuôi cá nước ngọt. Trang trại tổng hợp phát triển tương đối đồng đều giữa các vùng<br /> đồng bằng, vùng gò đồi và vùng rừng núi nhưng vẫn chưa đầu tư khai thác ở vùng cát<br /> ven biển vốn có nhiều lợi thế.<br /> Về tình hình sử dụng đất của trang trại: Tính đến năm 2010, tổng diện tích đất các<br /> trang trại là 9.705,8 ha, bình quân 6,12 ha/trang trại và chỉ chiếm 1,56% so với diện tích<br /> đất lâm nghiệp, nông nghiệp và thủy sản toàn tỉnh (622.092 ha). Trong tổng số đất của<br /> trang trại thì đất lâm nghiệp là 5.068,9 ha chiếm 52,23%, kế đến là đất trồng cây lâu năm<br /> chiếm 30,88%; loại hình trang trại chăn nuôi trong thời gian gần đây tuy phát triển mạnh<br /> nhưng diện tích đất đồng cỏ chăn nuôi thấp, chỉ chiếm 0,1%. Trang trại lâm nghiệp có<br /> diện tích đất bình quân/trang trại cao nhất 15,9 ha/trang trại, tiếp theo là trang trại tổng<br /> hợp, bình quân 5,2 ha/trang trại. Trang trại chăn nuôi có bình quân diện tích/trang trại<br /> thấp nhất, chỉ 1,4 ha/trang trại. Tuy nhiên, đến năm 2011 theo tiêu chí mới có rất nhiều<br /> trang trại không đạt tiêu chuẩn, số trang trại giảm xuống mạnh kéo theo đất đai vùng sản<br /> xuất trang trại giảm theo, chỉ còn 4.266 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm 592,2 ha, đất<br /> trồng cây lâu năm 1.990,3 ha, đất lâm nghiệp 1.322,8 ha và đất mặt nước nuôi trồng thủy<br /> sản là 360,7 ha.<br /> 2.2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại<br /> Tổng thu nhập của trang trại năm 2010 là 98.234,5 triệu đồng, bình quân 61,90 triệu<br /> đồng/trang trại, tăng hơn 40 triệu đồng so với năm 2006. Trong đó, trang trại chăn nuôi<br /> có giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao nên đây là loại hình có<br /> thu nhập đạt cao nhất, bình quân 160,0 triệu đồng/trang trại; so với năm 2006 tăng bình<br /> quân 123,2 triệu đồng/trang trại. Trang trại thủy sản do có sự biến động về giá cả thị<br /> trường và dịch bệnh tăng nên chỉ tăng bình quân 14,2 triệu đồng/trang trại so với năm<br /> 2006. Đến năm 2011 mặc dù số lượng trang trại giảm nhưng tổng thu nhập trang trại tăng<br /> rất lớn, đạt 470.988,93 triệu đồng, trong đó tổng thu từ trang trại nông nghiệp là<br /> 361.931,16 triệu đồng, lâm nghiệp là 44.523,67 triệu đồng và thủy sản là 64.534,1 triệu<br /> đồng.<br /> Qua phân tích số liệu và khảo sát thực tế ta thấy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của<br /> các trang trại ở Quảng Bình đang có xu hướng tăng lên nhưng về mặt tiêu thụ vẫn chưa<br /> chủ động được thị trường mà phải thông qua khâu trung gian, nhất là khi vào mùa vụ<br /> thường bị ép giá. Hầu hết sản phẩm của các trang trại đều ở dạng thô, tươi sống, chưa qua<br /> chế biến. Chất lượng sản phẩm hàng hoá còn thấp, ít chủng loại, sản phẩm làm ra không đủ<br /> lớn để hình thành và phát triển công nghiệp chế biến. Chưa có sự liên doanh, liên kết giữa<br /> các chủ trang trại trong tiêu thụ cùng loại sản phẩm; các chủ trang trại còn thiếu thông tin<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH, SỐ 02<br /> <br /> về thị trường. Tỉnh chưa có các chính sách hỗ trợ các chủ trang trại xúc tiến thương mại,<br /> giới thiệu sản phẩm và tìm hiểu thị trường.<br /> 2.3. Cơ sở hạ tầng và tình hình ứng dụng khoa học kỹ thuật của trang trại<br /> 2.3.1. Cơ sở hạ tầng của trang trại<br /> Về giao thông và điện thắp sáng: Các trạng trại đã có đường rộng để ô tô vào nhưng<br /> phần lớn là đường đất, chưa được bê tông hoá và do chủ trang trại tự làm, đi lại trong<br /> mùa mưa bão rất khó khăn. 90% trang trại đã có điện thắp sáng, chỉ có một số trang trại ở<br /> vùng rừng núi chưa có điện.<br /> Về cơ sở chế biến: Toàn tỉnh 100 trang trại có cơ sở chế biến nhưng chủ yếu là chế<br /> biến thức ăn tại chỗ phục vụ cho trang trại và tập trung nhiều ở trang trại chăn nuôi, còn lại<br /> là chưa có cơ sở chế biến, đặc biệt là chế biến sản phẩm của trang trại. Vì vậy, hầu hết sản<br /> phẩm của trang trại đều ở dạng thô, một số mới ở dạng sơ chế, chất lượng sản phẩm thấp<br /> và sức cạnh tranh trên thị trường chưa mạnh.<br /> Về xử lý chất thải, đảm bảo vệ sinh môi trường: Đây là yêu cầu bắt buộc phải đảm<br /> bảo trong phát triển chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản (nuôi tôm trên cát). Đến nay, toàn<br /> tỉnh mới chỉ có 200 trang trại đã xây dựng hầm biogas để xử lý chất thải và tận dụng khí<br /> gas sinh học để đun nấu và sưởi ấm cho lợn, tiết kiệm chi phí.<br /> Qua khảo sát cho thấy cơ sở hạ tầng trang trại bước đầu mới chỉ đáp ứng một phần về<br /> giao thông phục vụ việc đi lại, vận chuyển hàng hóa nhờ có sự kết hợp lồng ghép các<br /> chương trình thuộc dự án ARCD, ADB và giao thông nông thôn. Hầu hết cơ sở vật chất, hạ<br /> tầng của các trang trại còn đơn giản, chưa có sự đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy<br /> móc trang thiết bị sản xuất.<br /> 2.3.2. Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong trang trại<br /> Các trang trại đã ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất như: Giống cây trồng,<br /> vật nuôi, vệ sinh thú y, phòng trừ dịch bệnh, các khoa học kỹ thuật khác... nhưng chủ yếu tập<br /> trung ở vùng đồng bằng, vùng gò đồi, vùng cát ven biển, nhất là loại hình trang trại chăn<br /> nuôi, thuỷ sản và tổng hợp. Các trang trại lâm nghiệp chủ yếu tận dụng diện tích đất và cây<br /> trồng sẵn có để phát triển trừ một số trang trại ở vùng cát đã biết tận dụng lợi thế của cây keo<br /> lai vừa để chắn gió, chắn cát, lại cho hiệu quả kinh tế cao.<br /> Các trang trại thuỷ sản nước mặn, lợ đều thực hiện nuôi theo phương thức thâm<br /> canh hoặc bán thâm canh, trong đó các trang trại nuôi tôm trên cát đều nuôi thâm canh<br /> với trình độ công nghệ tiên tiến, các hộ nuôi ao bờ đất đều nuôi theo phương thức bán<br /> thâm canh. Các trang trại nuôi trồng thủy sản nước ngọt, phương thức nuôi bán thâm<br /> canh hoặc quảng canh là tương đối phổ biến, thường kết hợp nuôi cá với chăn nuôi gà,<br /> lợn và tận dụng chất thải để nuôi cá.<br /> <br />
ANTS
ANTS

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản