intTypePromotion=1
ADSENSE

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2019

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

19
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 400 người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2019 nhằm đánh giá thực trạng tuân thủ điều trị và xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng tuân thủ điều trị đó của người bệnh. Số liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn và ghi chép kết quả bệnh án của người bệnh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2019

  1. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG NĂM 2019 TREATMENT ADHERENCE AND RELATED FACTORS AMONG TYPE 2 DIABETES OUTPATIENTS AT NATIONAL HOSPITAL OF ENDOCRINOLOGY IN 2019 PHẠM THỊ TUYẾT1 TÓM TẮT Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 400 người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2019 nhằm đánh giá thực trạng tuân thủ điều trị và xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng tuân thủ điều trị đó của người bệnh. Số liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn và ghi chép kết quả bệnh án của người bệnh. Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ cả 4 chế độ trong nghiên cứu rất thấp 5,5%. Tỷ lệ tuân thủ chế độ thuốc là 91,0%; tuân thủ chế độ luyện tập là 17,0%; tuân thủ kiểm soát đường huyết định kỳ là 78,8% và tuân thủ chế độ dinh dưỡng là 41,5%. Nghiên cứu tìm được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp, tình trạng biến chứng với việc tuân thủ chế độ thuốc của người bệnh, giữa giới tính với tuân thủ chế độ dinh dưỡng, giữa tuổi, nơi sống, nghề nghiệp, thời mắc bệnh, biến chứng với tuân thủ kiểm soát đường huyết (p < 0,05). Người bệnh cần tự nâng cao ý thức tuân thủ điều trị, bên cạnh đó, nhân viên y tế cần trao đổi tìm ra những yếu tố gây cản trở việc tuân thủ điều trị của người bệnh và đưa những tư vấn phù hợp. Từ khóa: đái tháo đường type 2, tuân thủ điều trị, kiểm soát đường huyết. ABSTRACT This cross sectional study was conducted on 400 diabetes patients treated at the Outpatient Department of National hospital of Endocrinology in 2019 to describe the current situation and some factors related to treatment adherence among outpatients with type 2 diabetes. Collectingdata from interview patients by questionnaire, and record results from medicalrecords. Results: The general compliance rate (responded to 4 creteria) was very low (5.5%). The proportion of patients who complied with medicine regyme was 91.0%, with physical exercise was 17.0%; with glucose regular checking was 78.8% and with nutrition regyme was 41.5%. This study also demonstrated a strong association between the factors as job, complication status and medication adherence, between gender and nutrition adherence; between age, job, complication status, habitat and glucose regular checking adherence of the patients (p < 0.05). Patientsshould improve awareness about treatment adherence, besides, health careworkers should discuss with patients to find out the factors that interfere withtreatment adherence, and give them appropriate advice. Keywords: type 2 diabetes, treatment adhere, glucose control. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng đường máu do thiếu hụt về tiết insulin, về tác động của insulin hoặc cả hai. Đái tháo đường chia làm đái tháo đường type 1, đái tháo đường type 2 và tiểu đường thai kỳ. Bệnh ĐTĐ type 2 thường có yếu tố gia đình và là hậu quả của sự tác động đồng thời của yếu tố gen (đa gen) và một số yếu tố thuận lợi, trong đó bao gồm cả yếu tố môi trường (tuổi, tăng cân hoặc béo phì, ít hoạt động thể lực...). Bệnh thường được chẩn đoán muộn hoặc không được chẩn đoán trong nhiều năm do tình trạng tăng đường huyết diễn tiến âm thầm, không biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Vì vậy, người bệnh thường đã có biến chứng ngay từ khi mới được chẩn đoán. Phần lớn người bệnh mắc đái tháo đường type 2, chiếm khoảng 90% [2].
  2. Đái tháo đường type 2 là bệnh mãn tính nên cần được theo dõi, điều trị đúng, đủ và thường xuyên, thậm chí kéo dài hết cuộc đời với mục tiêu điều trị là giảm được đường huyết trong máu và giảm tối đa các biến chứng do bệnh gây ra. Tuân thủ điều trị đóng vai trò quan trọng đối với người bệnh đái tháo đường type 2 để đạt được mục tiêu điều trị. Tuân thủ điều trị bao gồm tuân thủ chế độ ăn, chế độ luyện tập, chế độ dùng thuốc và kiểm soát đường huyết tốt [2]. Bệnh viện Nội tiết Trung ương là bệnh viện đầu ngành, khám và điều trị cho các người bệnh mắc bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa, đặc biệt là người bệnh đái tháo đường. Năm 2018, bệnh viện đã khám và điều trị ngoại trú cho trên 417.236 người bệnh đái tháo đường trong tổng số người bệnh đến khám. Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường type 2 ngày càng tăng cao. Theo nghiên cứu của Nguyễn Phương Thủy (2013) trên 223 NB đái tháo đường type 2 cho thấy 30,7% người bệnh tuân thủ chế độ dùng thuốc ĐTĐ [8]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thoa năm 2015 cho thấy 58,9% người bệnh tuân thủ dùng thuốc điều trị [7]. Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh? Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2019”. 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Người bệnh đã được chẩn đoán ĐTĐ type 2 đến khám và điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2019. 2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu: Tại Phòng khám, Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nột tiết Trung ương. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2019 đến tháng 8/2019. 2.3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. 2.4. Cỡ mẫu và chọn mẫu Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng tỷ lệ cho nghiên cứu mô tả cắt ngang Trong đó: n - Cỡ mẫu cần nghiên cứu; Hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% (α = 0,05), = 1,96; p là ước lượng tỷ lệ người bệnh ĐTĐ ngoại trú tuân thủ điều trị tại thời điểm nghiên cứu. Ước lượng tỷ lệ người bệnh ĐTĐ ngoại trú tuân thủ điều trị trong nghiên cứu này được đặt ở mức 0,57 với tỷ lệ người bệnh tuân thủ 4 chế độ điều trị là 57,2%, tham chiếu từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải tại Phòng khám Nội tiết, Bệnh viện Quảng Ninh (năm 2015) [3]; d: Sai số mong muốn tuyệt đối so với p, chọn d = 0,05. Thay vào công thức trên tính được n = 376, ước tính tỷ lệ mất mẫu là 5%. Như vậy số mẫu cần cho nghiên cứu là 394 người. Trên thực tế, chúng tôi đã chọn được 400 người bệnh cho nghiên cứu. Chọn mẫu: Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, người bệnh đến khám tại Khoa Khám bệnh từ tháng 4/2019 đến tháng 8/2019 đều được mời tham gia nghiên cứu cho tới khi đủ 400 đối tượng. 2.5. Bộ công cụ nghiên cứu Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế sẵn với tổng số 29 câu hỏi. Ngoài ra, còn nhằm thu thập thông tin kiến thức về bệnh của đối tượng nghiên cứu. Nội dung của bộ câu hỏi được tác giả xây dựng trên cơ sở những câu hỏi dạng đóng, đơn giản, dễ hiểu. Bộ câu hỏi được tham khảo tài liệu chuyên khoa và một số nghiên cứu trước đây bao gồm phần thông tin chung và các phần liên quan đến các chế độ tuân thủ điều trị như tuân thủ chế độ thuốc, dinh dưỡng, luyện tập và tuân thủ kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu. Mỗi câu trả lời đúng
  3. tính 1 điểm. Đối tượng nghiên cứu được đánh giá là đạt yêu cầu về điểm kiến thức khi đạt ≥ 8 điểm, không đạt khi tổng điểm < 8 điểm. 2.6. Kỹ thuật phân tích số liệu Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu và phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu. Sử dụng test khi bình phương để so sánh hai tỷ lệ, tỷ suất chênh OR 95%CI; p để phân tích mối liên quan. Kết quả được trình bày dưới dạng số tuyệt đối và tỷ lệ%. 2.7. Đạo đức nghiên cứu Nghiên cứu được sự chấp thuận của Ban Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương trước khi bắt đầu triển khai. 3. KẾT QUẢ Bảng 1. Mức độ tuân thủ chế độ điều trị của người bệnh Nội dung Số Tỷ lệ lượng Đánh giá tuân thủ điều trị chung Có tuân thủ điều trị 22 5,5 Không tuân thủ 378 94,5 Tuân thủ chế độ thuốc Tuân thủ 364 91,0 Không tuân thủ 36 9,0 Chế độ luyện tập Tuân thủ 68 17,0 Không tuân thủ 332 83,0 Chế độ dinh dưỡng Tuân thủ 166 41,5 Không tuân thủ 234 58,5 Kiểm soát đường huyết và khám định kỳ Tuân thủ 315 78,7 Không tuân thủ 85 21,3 Tổng 400 100
  4. Số liệu nêu ở Bảng 1 cho thấy 22 đối tượng nghiên cứu chiếm 5,5% tổng số đối tượng có tuân thủ điều trị. 94,5% đối tượng không tuân thủ điều trị. Tỷ lệ người bệnh tuân thủ chế độ thuốc chiếm cao nhất (91,0%). 17,0% đối tượng nghiên cứu tuân thủ chế độ luyện tập, 41,5% đối tượng nghiên cứu tuân thủ chế độ dinh dưỡng và 78,7% đối tượng nghiên cứu tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ. Bảng 2. Mối liên quan giữa một số yếu tố với tuân thủ chế độ thuốc của người bệnh Không Tuân tuân thủ thủ OR Đặc điểm p 95%CI S % SL % L Nghề nghiệp Vẫn đi làm 61, 15 22 41,5 1 1 2,21 0,02 1,098- 6 Nghỉ hưu 38, 21 4,471 14 58,5 9 3 Các biến chứng của bệnh Không biến 88, 24 32 67,3 chứng 9 5 3,88 0,01 1,343- 2 Có biến 11, 11 11,24 4 32,7 chứng 1 9 Nhóm làm công việc bán thời gian và còn đi làm có khả năng không tuân thủ chế độ thuốc cao gấp 2,21 lần so với nhóm nghỉ hưu (p < 0,05). Nhóm không có biến chứng của bệnh có nguy cơ không tuân thủ chế độ thuốc cao gấp 3,88 lần so với nhóm có biến chứng (p < 0,05). Bảng 3. Mối liên quan giữa một số yếu tố với tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh Tuân thủ chế độ dinh dưỡng OR Giới Không tuân p Tuân thủ (95%CI) thủ SL % SL % Nam 131 56,0 75 45,2 1,54 0,03
  5. 1,034- 4 Nữ 103 44,0 91 54,8 2,302 Nhóm đối tượng là nam giới có khả năng không tuân thủ chế độ dinh dưỡng gấp 1,54 lần so với nhóm đối tượng là nữ giới (p < 0,05). Bảng 4. Mối liên quan giữa một số yếu tố với tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ Không Tuân OR Đặc điểm tuân thủ thủ p 95%CI SL % SL % Tuổi 54, 41, < 60 tuổi 46 131 1,65 1 6 1,023- 0,04 45, 58, 2,682 ≥ 60 tuổi 39 184 9 4 Kiến thức về bệnh 51, 64, Không đạt 44 204 0,58 8 8 0,359- 0,03 48, 35, 0,947 Đạt 41 111 2 2 Các biến chứng của bệnh 83, 65, Không 71 206 2,68 5 4 < 1,445- 16, 34, 0,01 Có 14 109 4,98 5 6 Nơi sống 71, 44, Nông thôn 61 140 3,177 8 4 < 1,885- 28, 55, 0,01 Thành phố 24 175 5,354 2 6 Nghề nghiệp Công việc 2,86 63, 37, < bán thời 54 119 1,745- 5 8 0,01 gian + 4,715
  6. Không Tuân OR Đặc điểm tuân thủ thủ p 95%CI SL % SL % Còn đi làm 36, 62, Nghỉ hưu 31 196 5 2 Thời gian mắc bệnh 43, 25, < 5 năm 37 79 2,3 5 1 < 1,398- 56, 74, 0,01 ≥ 5 năm 48 236 3,791 5 9 Nhóm đối tượng dưới 60 tuổi có khả năng không tuân thủ kiểm soát đường huyết (KSĐH) cao hơn 1,65 lần so với nhóm từ 60 tuổi trở lên. Nhóm có thời gian mắc bệnh dưới 5 năm có khả năng không tuân thủ cao gấp 2,3 lần so với nhóm ≥ 5 năm. Nhóm không có biến chứng của bệnh có khả năng không tuân thủ cao gấp 2,68 lần so với nhóm có biến chứng. Nhóm sống ở nông thôn có khả năng không tuân thủ KSĐH cao gấp 3,18 lần so với nhóm sống ở thành phố. Nhóm có công việc bán thời gian và còn đi làm có khả năng không tuân thủ KSĐH cao gấp 2,86 lần so với nhóm nghỉ hưu (p < 0,05). Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan giữa kiến thức về bệnh và sự tuân thủ kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu (OR = 0,58, 95%CI: 0,359-0,947, p < 0,05) 4. BÀN LUẬN 4.1. Thực trạng tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu Kết quả đánh giá mức độ tuân thủ chế độ thuốc của chúng tôi chỉ ra rằng hầu hết đối tượng có tuân thủ (91,0%), chỉ có 9,0% đối tượng không tuân thủ. Điều này cho thấy truyền thông về tuân thủ điều trị thuốc cho các đối tượng đã đạt hiệu quả nhất định và nên áp dụng với các hình thức tuân thủ khác. Tuy nhiên, tỷ lệ đối tượng không tuân thủ chế độ thuốc của trong nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển năm 2012 tại Bệnh viện Lão khoa (28,8%) [9], Nguyễn Thị Kim Thoa năm 2015 (41,1%) [7]. So với kết quả nghiên cứu của Chua S. S và cộng sự (2011) thực hiện tại Phòng khám thuộc Bệnh viện của một trường Đại học Y tại Malaysia thì tỷ lệ người bệnh không tuân thủ điều trị thuốc trong nghiên cứu của Chandalia là 41,7% cao gấp năm lần nghiên cứu của chúng tôi [10]. Mặc dù việc luyện tập thể dục giúp người bệnh khoẻ mạnh, góp phần kiểm soát cân nặng và đường huyết cho người bệnh ĐTĐ type 2 nhưng tỷ lệ đối tượng có tuân thủ chế độ luyện tập trong nghiên cứu còn rất thấp, chưa đến 1/5 số đối tượng (17,0%). Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải năm 2015 (87,3%) [3], tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi lại cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Thị Huê (2015) là 13,3% [5]. Mặc dù, tuân thủ chế độ luyện tập là phương pháp điều trị được nhiều đối tượng trong nghiên cứu biết đến (86,5%) và là nội dung được nhân viên y tế tư vấn chủ yếu (80,5%), tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ lại rất thấp. Điều này cho thấynguyên nhân của việc không tuân thủ có thể xuất phát từ thói quen sinh hoạt chứ không liên quan đến kiến thức của đối tượng nghiên cứu. Nhân viên y tế khi tư vấn cho người bệnh cần chú ý đánh giá các thói quen có thể ảnh hưởng tới việc tuân thủ điều trị của người bệnh để đưa ra những tư vấn kịp thời, chính xác và hiệu quả.
  7. Tỷ lệ đối tượng được đánh giá tuân thủ chế độ dinh dưỡng trong nghiên cứu là 41,5%. Kết quả này thấp hơn so với một vài nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Đặng Văn Bình năm 2016 (54,8%) [1], Lê Thị Ngọc Lan năm 2018 (49,8%) [6]. Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi cũng cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hoa năm 2017 (19,47%) [4]. Tỷ lệ tuân thủ chế độ dinh dưỡng thấp do nhiều nguyên nhân, trong đó thói quen ăn uống đã hình thành từ rất lâu, cần nhiều thời gian để thay đổi. Đánh giá tuân thủ kiểm soát đường huyết định kỳ của người bệnh cho thấy 78,7% đối tượng có tuân thủ. Kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải năm 2015 (18,5%) [3] và Lê Thị Ngọc Lan năm 2018 (71%) [6]. So với nghiên cứu của Senay Uzun và cộng sự (2009) với 63% đối tượng tuân thủ kiểm soát đường huyết [11], kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn. Điều này cho thấy người bệnh đã có nhận thức tốt hơn về việc kiểm soát đường huyết, tránh các biến chứng do bệnh gây ra. Đái tháo đường là bệnh mạn tính. Việc điều trị cần kết hợp tuân thủ nhiều chế độ khác nhau như dinh dưỡng, luyện tập, thuốc, kiểm soát đường huyết mới có thể đem lại hiểu quả điều trị cao nhât. Tuy nhiên, kết quả đánh giá tuân thủ điều trị chung (tuân thủ cả 4 chế độ) của người bệnh ĐTĐ typ 2 trong nghiên cứu cho thấy chỉ có 5,5% đối tượng có tuân thủ. Kết quả này thấp hơn rất nhiều so với các kết quả nghiên cứu của nghiên cứu của Nguyễn Phương Thuỷ năm 2013 tại Thanh Trì Hà Nội (30,7%) [8], nghiên cứu của Đặng Văn Bình năm 2016 (61,1%) [1]. Tỷ lệ tuân thủ điều trị chung của nghiên cứu còn thấp, điều này cho thấy cần có các đánh giá về nhu cầu và chiến dịch truyền thông nhằm tạo thói quen mới cho người bệnh. 4.2. Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh Đối với tuân thủ chế độ thuốc, kết quả nghiên cứu chỉ ra có mối liên quan giữa tuân thủ chế độ thuốc và nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu. Nhóm vẫn còn đi làm có khả năng không tuân thủ chế độ thuốc cao gấp 2,21 lần so với nhóm nghỉ hưu (p < 0,05). Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Lê Thị Ngọc Lan năm 2018 (OR = 2,68, 95%CI: 1,42-5,05, p < 0,05) [6]. Kết quả này hợp lý bởi người bệnh đã nghỉ hưu sẽ có nhiều thời gian để chăm sóc bản thân hơn do đó họ tập trung cho công việc điều trị bệnh hơn. Điều này có thể thấy bệnh nhân có hiểu biết về bệnh chưa đúng, thực hành của bệnh nhân còn chưa tốt. Do vậy cần cung cấp thêm kiến thức cho bệnh nhân về bệnh và tuyên truyền cho những người đang đi làm uống thuốc đúng giờ. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra nhóm không có biến chứng của bệnh có nguy cơ không tuân thủ chế độ thuốc cao gấp 3,88 lần so với nhóm có biến chứng (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhóm đối tượng là nam giới có khả năng không tuân thủ chế độ dinh dưỡng gấp 1,54 lần so với nhóm đối tượng là nữ giới (p < 0,05). Điều này có thể lý giải do nữ giới là những người thường chuẩn bị bữa ăn gia đình nên họ chủ động hơn trong việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng. Cần tập trung truyền thông, tổ chức thảo luận nhóm dành riêng cho đối tượng là nam giới về các biến chứng có thể gặp nếu không tuân thủ chế độ dinh dưỡng hợp lý. Đối với tuân thủ kiểm soát đường huyết, nghiên cứu cho thấy nhóm đối tượng dưới 60 tuổi có khả năng không tuân thủ cao hơn 1,65 lần nhóm từ 60 tuổi trở lên. Kết quả này khác với kết quả nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển [9] và nghiên cứu của Lê Thị Ngọc Lan [6]. Hai tác giả trên chưa tìm thấy mối liên quan giữa nhóm tuổi với tuân thủ kiểm soát đường huyết. Nghiên cứu cũng chỉ ra nhóm sống ở nông thôn có khả năng không tuân thủ gấp 3,177 lần so với nhóm sống ở thành phố. Lý giải cho kết quả trên bởi ở thành phố các dịch vụ y tế sẵn có hơn ở nông thôn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhóm có công việc bán thời gian và còn đi làm có khả năng không tuân thủ gấp 2,86 lần so với nhóm nghỉ hưu (p < 0,05). Điều này hoàn toàn hợp lý bởi nhóm nghỉ hưu có thời gian rảnh nhiều hơn nên họ cũng chủ động hơn trong chăm sóc sức khoẻ. Nghiên cứu chỉ ra có mối liên quan giữa kiến thức về bệnh và sự tuân thủ kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu (OR = 0,58, 95%CI: 0,359-0,947, p < 0,05). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải năm 2015 (OR = 3,97, p < 0,05) [3]. Nhóm có thời gian mắc bệnh dưới 5 năm có nguy cơ không tuân thủ cao gấp 2,3 lần so với nhóm ≥ 5 năm. Kết quả này phù hợp kết quả nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển tại Bệnh viện Lão Khoa (OR = 2,6, p < 0,05) [9]. Lý
  8. giải kết quả trên có thể do thời gian mắc bệnh càng lâu, người bệnh được tiếp cận nhiều thông tin hơn và dần ý thức về tầm quan trọng của việc kiểm soát đường huyết hơn nên họ có thực hành tuân thủ nhiều hơn. Nhóm không có biến chứng của bệnh có nguy cơ không tuân thủ cao gấp 2,68 lần so với nhóm có biến chứng (p < 0,05). Kết quả này hoàn toàn hợp lý. Những người bệnh đã có biến chứng về bệnh thường chú ý quan tâm đến sức khoẻ bản thân hơn vì ngoài điều trị ĐTĐ, họ còn phải điều trị các biến chứng liên quan đến ĐTĐ. 5. KẾT LUẬN Như vậy, tỷ lệ đối tượng tuân thủ điều trị cả 4 tiêu chí (tuân thủ chế độ thuốc, tuân thủ chế độ luyện tập, tuân thủ chế độ dinh dưỡng, tuân thủ kiểm soát đường huyết) là rất thấp 5,5%. Trong đó, tỷ lệ đối tượng tuân thủ chế độ thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất với 91,0%; tuân thủ chế độ luyện tập chiếm tỷ lệ thấp nhất với 17,0%. Nghiên cứu tìm được mối liên quan giữa yếu tố nghề nghiệp (95%CI = 1,03-2,3; p < 0,05) và biến chứng bệnh (95%CI = 1,34-11,24; p < 0,05) và việc tuân thủ chế độ thuốc. Giới tính có mỗi liên quan đến tuân thủ chế độ dinh dưỡng (95%CI = 1,1-4,47; p < 0,05). Có mối liên quan giữa nhóm tuổi và tuân thủ kiểm soát đường huyết (95%CI = 1,02-2,68; p < 0,05); nơi sống và tuân thủ kiểm soát đường huyết (95%CI = 1,89-5,35; p < 0,05); nghề nghiệp và kiểm soát đường huyết (95%CI = 1,75-4,72; p < 0,05); thời gian mắc bệnh và kiểm soát đường huyết (95%CI = 1,39-3,791; p < 0,05). Người bệnh cần nâng cao ý thức tuân thủ điều trị, bên cạnh đó nhân viên y tế cần tư vấn cho hợp lý để nâng cao thực hành tuân thủ điều trị cho người bệnh. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đặng Văn Bình (2016), Thực trạng tuân thủ điều trị và yếu tố liên quan của bệnh, Trạm y tế An Bình, huyện Cao Lãnh, tỷnh Đồng Tháp, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội. 2. Bộ Y tế (2011), Quyết định số 3280/QĐ-BYT ngày 09/09/2011 về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường type 2, chủ biên, tr. 1-15. 3. Nguyễn Thị Hải (2015), Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sỹ Quản lý bệnh viện Trường Đại học Y tế Công cộng. 4. Nguyễn Thị Thanh Hoa (2017), Thực trạng kiểm soát đa yếu tố ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 được điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Quân y 103, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Thăng Long, Hà Nội. 5. Đặng Thị Huê (2015), Tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan đái tháo đường type 2 điều trị ngoại tại Bệnh viện tỉnh Hưng Yên năm 2015, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội. 6. Lê Thị Ngọc Lan (2018), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đại tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Viện Y học Phòng không - Không quân năm 2018, Luận văn Thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Thăng Long. 7. Nguyễn Thị Kim Thoa (2015), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Nguyễn Đình Chiều, tỉnh Bến Tre, năm 2015, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng. 8. Nguyễn Phương Thuỷ (2013), Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại tại Bệnh viện Thanh Trì - Hà Nội năm 2013, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội. 9. Đỗ Quang Tuyển (2012), Mô tả kiến thức. thực hành và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám. Bệnh viện Lão khoa Trung ương, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội. 10. Chua S.S et al (2011), “Medication adherence and achievement of glycaemic targets in ambulatory type 2 diabetic patient”, Journal of Applied Pharmaceutical Science. 1(4), pp. 55-59. 11. Senay Uzun (2009), “The assessment of adherence of diabetes individuals to treatment and lifestyle change recommendations”, Clinical Vasscular Biology Congress. 102 (9), pp. 102 - 108.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2