intTypePromotion=1

Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thông qua phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Chia sẻ: ViNaruto2711 ViNaruto2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
14
lượt xem
0
download

Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thông qua phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết “Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thông qua phát triển kinh tế của Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” chỉ ra thực trạng việc làm, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thông qua phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai và đưa ra giải pháp góp phần giải quyết việc làm cho lao động của địa phương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thông qua phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Nguyễn Thị Kim Phương<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 188(12/3): 65 - 70<br /> <br /> THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM<br /> CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THÔNG QUA PHÁT TRIỂN KINH TẾ<br /> CỦA HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN<br /> Nguyễn Thị Kim Phương*<br /> Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Võ Nhai là huyện vùng cao nằm ở phía đông bắc của tỉnh Thái Nguyên, điều kiện tự nhiên khó<br /> khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, trình độ lao động không cao nhưng trong những năm qua,<br /> Võ Nhai đã xác định lợi thế của mình so với hiều địa bàn khác của tỉnh trong phát triển kinh tế đó<br /> là: tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp theo vùng (Tiểu vùng 1 gồm 6 xã vùng<br /> cao: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn; Tiểu vùng 2 (vùng<br /> gò đồi) gồm 5 xã: Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao; Tiểu vùng 3 (vùng<br /> thấp) gồm 3 xã và 1 thị trấn dọc đường quốc lộ 1B là: La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng và thị trấn<br /> Đình Cả) từng bước phát triển công nghiệp và dịch vụ. Chính điều này đã góp phần thúc đẩy phát triển<br /> kinh tế của huyện, từ đó, giải quyết được việc làm cho người lao động (trên 85% người lao động có việc<br /> làm thường xuyên, tỷ lệ tạo và giải quyết việc làm mới đạt từ 112,1% - trên 179,5%), nhất là việc làm<br /> tại chỗ, mang lại sự thay đổi khá lớn trong đời sống kinh tế - xã hội địa phương.<br /> Từ khóa: Lao động, việc làm, giải quyết việc làm, lao động nông thôn, phát triển kinh tế<br /> <br /> MỞ ĐẦU*<br /> Khu vực nông thôn nước ta hiện có khoảng 61<br /> triệu người, chiếm 66,9% dân số cả nước;<br /> trong đó khu vực trung du và miền núi phía<br /> Bắc có 9,6 triệu người, chiếm 10,7% dân số cả<br /> nước. Số người trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên<br /> sống tại khu vực nông thôn là khoảng 46 triệu<br /> người, chiếm 65,7% so với cả nước. Theo báo<br /> cáo điều tra lao động việc làm quý 3 năm<br /> 2016, số người đang làm việc ở khu vực nông<br /> thôn là khoảng 36,3 triệu người, chiếm 82,7%<br /> số người trong độ tuổi lao động ở khu vực này,<br /> tỷ lệ thất nghiệp là 17,3%.<br /> Như vậy, giải quyết việc làm cho cư dân nông<br /> thôn vốn là vấn đề cần quan tâm, nếu không<br /> được giải quyết tốt sẽ cản trở đến sự phát<br /> triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của đất nước,<br /> tác động trực tiếp đến việc giữ gìn an ninh<br /> chính trị, trật tự, an toàn xã hội.<br /> Võ Nhai là huyện vùng cao nằm ở phía đông<br /> bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố<br /> 37km. Toàn huyện có 14 xã và 01 thị trấn.<br /> Năm 2017, Võ Nhai có 67.637 nhân khẩu [1],<br /> số người trong độ tuổi lao động là 44.200<br /> người, chiếm 65,35% dân số toàn huyện. Là<br /> huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, 11/15<br /> *<br /> <br /> Tel: 0985 350919, Email: kimphuong48khql@gmail.com<br /> <br /> xã, thị trấn thuộc diện đặc biệt khó khăn nên<br /> nhiều lao động nông thôn, đặc biệt là đồng<br /> bào dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai còn<br /> hạn chế trong việc tiếp cận thông tin về các<br /> sàn giao dịch việc làm trong, ngoài tỉnh.<br /> Với bài viết “Thực trạng việc làm và giải quyết<br /> việc làm cho lao động nông thôn thông qua<br /> phát triển kinh tế của Võ Nhai, tỉnh Thái<br /> Nguyên”, tác giả muốn chỉ ra thực trạng việc<br /> làm, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn<br /> thông qua phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai<br /> và đưa ra giải pháp góp phần giải quyết việc<br /> làm cho lao động của địa phương.<br /> PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Bài viết sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu chính:<br /> Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu<br /> các tài liệu về việc làm, giải quyết việc làm,<br /> giải quyết việc làm cho lao động nông thôn;<br /> các văn bản pháp quy về việc làm và các tài<br /> liệu thực tế để đánh giá thực trạng giải quyết<br /> việc làm của địa phương.<br /> Phương pháp phỏng vấn sâu:<br /> + Thực hiện phỏng vấn sâu đối với đại diện<br /> cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa<br /> phương để thu thập thông tin khái quát về lao<br /> động, việc làm, các kết quả chính, những<br /> thuận lợi khó khăn cơ bản cũng như định<br /> hướng giải quyết việc làm của địa phương.<br /> 65<br /> <br /> Nguyễn Thị Kim Phương<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> KẾT QUẢVÀ BÀN LUẬN<br /> Khái quát thực trạng việc làm của lao động<br /> nông thôn huyện Võ Nhai<br /> Võ Nhai có tỷ lệ lực lượng lao động trên dân<br /> số tương đối cao. Tính đến thời điểm năm<br /> 2017, lực lượng lao động trên toàn huyện có<br /> 44.200 người, chiếm 65,35% dân số toàn<br /> huyện. Trong đó số lao động có việc làm là<br /> 39.338 người (chiếm 89% tổng số lực lượng<br /> lao động trong độ tuổi). Giai đoạn 2013 –<br /> 2015, trung bình mỗi năm, Võ Nhai tổ chức 10<br /> lớp đào tạo nghề cho khoảng 300 lao động địa<br /> phương. Các lớp đào tạo nghề chủ yếu là nghề<br /> nông nghiệp (sử dụng thuốc thu y trong chăn<br /> nuôi, chế biến chè, chăn nuôi gà…) và phi<br /> nông nghiệp trình độ sơ cấp (dưới 3 tháng) [2].<br /> Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên bình<br /> quân đạt từ 85% trở lên.<br /> Tại thời điểm năm 2017, lực lượng lao động<br /> làm việc trong các cơ sở kinh tế cá thể phi<br /> nông, lâm nghiệp và thủy sản là 10.484 người<br /> (chiếm 23,72%), đa số lao động hoạt động<br /> trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp với tỷ lệ<br /> 76,28% tổng số lao động. Điều này cho thấy<br /> cơ cấu lao động tại Võ Nhai hiện nay chủ yếu<br /> là lĩnh vực nông, lâm nghiệp. Tỷ trọng lao<br /> động hoạt động trong lĩnh vực phi nông<br /> nghiệp còn thấp. Tuy nhiên so sánh qua các<br /> năm từ 2013 đến 2017 cho thấy Võ Nhai đã<br /> có những chuyển biến nhất định trong việc<br /> chuyển dịch cơ cấu lao động tại địa phương<br /> theo hướng phi nông nghiệp nhằm cải thiện<br /> tình trạng kinh tế cho các hộ gia đình.<br /> Mặc dù tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công<br /> nghiệp, thương mại và dịch vụ không cao, chỉ<br /> <br /> 188(12/3): 65 - 70<br /> <br /> chiếm khoảng trên 20% tổng số lao động trên<br /> địa bàn huyện nhưng theo thống kê năm<br /> 2017, giá trị sản phẩm (đạt 987,8 tỷ đồng)<br /> bằng 131,7% so với giá trị sản phẩm thu được<br /> từ sản xuất nông nghiệp (750 tỷ đồng).<br /> Nội dung giải quyết việc làm cho lao động<br /> nông thôn thông qua phát triển kinh tế của<br /> huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên<br /> Vốn là một trong những huyện miền núi của<br /> tỉnh Thái Nguyên, xuất phát điểm kinh tế<br /> thấp, điều kiện tự nhiên khó khăn, địa hình<br /> chia cắt, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém,<br /> trình độ lao động không cao nhưng Võ Nhai<br /> đã xác định lợi thế của mình so với nhiều địa<br /> bàn khác của tỉnh trong phát triển kinh tế đó<br /> là: tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp,<br /> lâm nghiệp theo vùng, từng bước phát triển<br /> công nghiệp và dịch vụ.<br /> Về nông – lâm nghiệp<br /> Võ Nhai có 561,7/845,1km2 là đất lâm<br /> nghiệp; 77,24/845,1km2 là đất nông nghiệp.<br /> Địa hình phân bố thành 3 vùng rõ rệt là vùng<br /> núi cao, vùng gò đồi và vùng thấp. Do vậy,<br /> Võ Nhai đã tập trung sản xuất nông nghiệp<br /> theo từng tiểu vùng. Cụ thể như sau:<br /> Tiểu vùng 1 gồm 6 xã vùng cao: Nghinh<br /> Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc<br /> Đường, Thần Sa, Vũ Chấn thích hợp cho<br /> trồng cây đặc sản và cây lâm nghiệp (chủ yếu<br /> là rừng keo hoặc rừng khoanh nuôi bảo vệ).<br /> Tiểu vùng 2 (vùng gò đồi) gồm 5 xã: Tràng<br /> Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và<br /> Phương Giao thích hợp trồng các loại cây ăn<br /> quả như bưởi diễn, bưởi hoàng, nhãn, cam.<br /> <br /> Bảng 1. Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế huyện Võ Nhai giai đoạn 2013 – 2017<br /> Ngành<br /> <br /> Nông, lâm<br /> nghiệp<br /> Công<br /> nghiệp, xây<br /> dựng<br /> Thương<br /> mại, dịch vụ<br /> Tổng cộng<br /> <br /> 66<br /> <br /> 2013<br /> Số lao<br /> Tỷ<br /> động<br /> trọng<br /> (người)<br /> (%)<br /> <br /> 2014<br /> Số lao<br /> Tỷ<br /> động<br /> trọng<br /> (người) (%)<br /> <br /> 2015<br /> Số lao<br /> Tỷ<br /> động<br /> trọng<br /> (người) (%)<br /> <br /> 2016<br /> Số lao<br /> Tỷ<br /> động<br /> trọng<br /> (người) (%)<br /> <br /> 2017<br /> Số lao<br /> Tỷ<br /> động<br /> trọng<br /> (người)<br /> (%)<br /> <br /> 35137<br /> <br /> 82,29<br /> <br /> 35254<br /> <br /> 81,85<br /> <br /> 35049<br /> <br /> 80,63<br /> <br /> 34423<br /> <br /> 78,46<br /> <br /> 33716<br /> <br /> 76,28<br /> <br /> 1518<br /> <br /> 3,56<br /> <br /> 1607<br /> <br /> 3,73<br /> <br /> 1959<br /> <br /> 4,51<br /> <br /> 2887<br /> <br /> 6,58<br /> <br /> 3408<br /> <br /> 7,71<br /> <br /> 6040<br /> <br /> 14,15<br /> <br /> 6212<br /> <br /> 14,42<br /> <br /> 6461<br /> <br /> 14,86<br /> <br /> 6566<br /> <br /> 14,96<br /> <br /> 7076<br /> <br /> 16,01<br /> <br /> 42695<br /> <br /> 100<br /> <br /> 43073<br /> 100<br /> 43469<br /> 100<br /> 43876<br /> 100<br /> 44200<br /> 100<br /> Nguồn: Kết xuất từ cơ sở cung cấp lao động – Cục Lao động và Việc làm<br /> <br /> Nguyễn Thị Kim Phương<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Tiểu vùng 3 (vùng thấp) gồm 3 xã và 1 thị<br /> trấn dọc đường quốc lộ 1B là: La Hiên, Lâu<br /> Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả,<br /> thích hợp trồng các loại cây ăn quả như na, ổi,<br /> nhãn. Đặc biệt, Võ Nhai đã có cơ chế hỗ trợ<br /> về vốn và kĩ thuật sản xuất, cây giống, phân<br /> bón phù hợp với từng tiểu vùng đối với các<br /> hộ nông dân để hình thành các vùng trồng cây<br /> lâm nghiệp và cây ăn quả, cây đặc sản theo<br /> quy mô gia trại và hướng dần đến quy mô<br /> trang trại theo hướng sản phẩm an toàn.<br /> Võ Nhai cũng đã hỗ trợ các hộ gia đình phát<br /> triển ngành chăn nuôi ở quy mô gia trại như<br /> các mô hình nuôi vịt trời, bò thịt, bò cao sản,<br /> trồng cỏ để phục vụ chăn nuôi gia súc tại các<br /> xã Tràng Xá, La Liên.<br /> Một lãnh đạo địa phương cho biết, “Nắm rõ<br /> đặc điểm từng loại đất của địa phương, Võ<br /> Nhai đã đưa vào các loại cây con giống thích<br /> hợp với từng địa bàn, hỗ trợ bà con vốn, kỹ<br /> thuật sản xuất để phát triển kinh tế hộ theo<br /> hướng sản xuất hàng hóa quy mô gia trại.<br /> Sắp tới, Võ Nhai sẽ tiếp tục phát huy những<br /> kết quả đạt được, vận động các hộ tiếp tục<br /> chuyển đổi cơ cấu cây trồng,vật nuôi phù<br /> hợp; đồng thời hỗ trợ một số hộ đang sản<br /> xuất quy mô gia trại mở rộng sang quy mô<br /> trang trại ”.<br /> Các mô hình sản xuất nông nghiệp này đã góp<br /> phần đáng kể trong việc giải quyết lao động<br /> nông thôn tại chỗ của Võ Nhai và mang lại<br /> thu nhập tương đối cao cho các hộ gia đình.<br /> Về công nghiệp và dịch vụ<br /> Võ Nhai hiện có khoảng 50 doanh nghiệp và<br /> hợp tác xã, 450 hộ cá thể hoạt động trong lĩnh<br /> vực công nghiệp – dịch vụ gồm: sản xuất<br /> nông cụ và sửa chữa cơ khí, khai thác khoáng<br /> sản vật liệu xây dựng tại La Hiên, Cúc<br /> Đường, sản xuất chế biến nông sản, thực<br /> <br /> 188(12/3): 65 - 70<br /> <br /> phẩm và một số ngành nghề tiểu thủ công<br /> nghiệp nhỏ khác song quy mô doanh nghiệp<br /> nhỏ, chất lượng và sức cạnh tranh của sản<br /> phẩm chưa cao, môi trường đầu tư chưa thực<br /> sự hấp dẫn.<br /> Riêng về dịch vụ du lịch, tuy có lợi thế địa<br /> hình có dãy núi đá vôi xen lẫn núi đất trùng<br /> điệp tạo nên những thắng cảnh đẹp tự nhiên<br /> như quần thể hang động Phượng Hoàng, Suối<br /> Mỏ Gà và hang động Nà Kháo, Hang<br /> Huyền,... và nhiều di tích văn hóa, lịch sử như<br /> Mái Đá Ngườm ở xã Thần Sa là cái nôi ra đời<br /> sớm nhất của người Âu Lạc, rừng Khuôn<br /> Mánh xã Tràng Xá là nơi thành lập đội cứu<br /> quốc quân II nhưng hạ tầng phục vụ du lịch<br /> còn yếu kém, công tác quảng bá và đầu tư cho<br /> du lịch còn hạn chế nên kết quả thu được<br /> chưa nhiều, chưa đóng góp nhiều vào việc<br /> giải quyết việc làm cho lao động địa phương<br /> cũng như phát triển kinh tế.<br /> Theo đánh giá, năm 2017, nhiều chỉ tiêu phát<br /> triển KT-XH của Võ Nhai đạt và vượt so với<br /> kế hoạch đề ra, như: Giá trị sản xuất công<br /> nghiệp - xây dựng đạt 987,8 tỷ đồng (tăng<br /> 122,5% so với năm 2016); giá trị sản xuất<br /> nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 750 tỷ đồng<br /> (tăng 4,1% so với năm 2016); Thu nhập bình<br /> quân đầu người ước đạt 15 triệu<br /> đồng/người/năm. Tại các xã đạt chuẩn nông<br /> thôn mới trên 20 triệu đồng/người/năm.<br /> Tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ<br /> hàng năm và phương hướng, mục tiêu năm<br /> tiếp theo từ 2013 – 2017 [2,3,4,5,6] của<br /> Phòng LĐ-TB&XH huyện Võ Nhai cho thấy,<br /> trong giai đoạn này, Võ Nhai đều đạt và vượt<br /> các chỉ tiêu đề ra về tạo việc làm mới và giải<br /> quyết việc làm cho lao động địa phương. Cụ<br /> thể như sau:<br /> <br /> Bảng 2. Chỉ tiêu tạo việc làm mới và kết quả giải quyết việc làm từ 2013 – 2017 của huyện Võ Nhai.<br /> Năm<br /> 2013<br /> 2014<br /> 2015<br /> 2016<br /> 2017<br /> <br /> Chỉ tiêu tạo việc làm mới (việc làm)<br /> 950<br /> 1050<br /> 1000<br /> 1000<br /> 1000<br /> <br /> Kết quả tạo việc làm mới (việc làm)<br /> 1065<br /> 1318<br /> 1516<br /> 1795<br /> 1335<br /> <br /> Tỷ lệ (%)<br /> 112,1<br /> 125,5<br /> 151,6<br /> 179,5<br /> 133,5<br /> <br /> Nguồn: Phòng Lao động, Thương binh & Xã hội huyện Võ Nhai (2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Báo cáo<br /> kết quả thực hiện chỉ tiêu nhiệm vụ và phương hướng công tác Lao động, Thương binh và Xã hội.<br /> <br /> 67<br /> <br /> Nguyễn Thị Kim Phương<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Võ Nhai luôn đạt từ 112,1% đến 179,5% so<br /> với mục tiêu đề ra. Đây là kết quả của thể<br /> hiện sự chú trọng vào hoạt động tạo việc làm<br /> mới và thực hiện chính sách giải quyết việc<br /> làm cho lao động nông thôn của địa phương.<br /> Từ thực trạng trên, ta thấy việc giải quyết việc<br /> làm cho lao động nông thôn Võ Nhai đã đạt<br /> được những ưu điểm như sau:<br /> Thứ nhất, Võ Nhai có tỷ lệ lực lượng lao<br /> động trên dân số tương đối cao (chiếm<br /> khoảng 65% dân số toàn huyện). Đây là<br /> nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế<br /> nhất là đối với một huyện miền núi, chủ yếu<br /> sản xuất nông – lâm nghiệp như Võ Nhai.<br /> Thứ hai, tỷ lệ lao động có việc làm khá lớn<br /> (chiếm trên 90% tổng số lực lượng lao động<br /> trong độ tuổi). Tỷ lệ lao động có việc làm<br /> thường xuyên trên địa bàn huyện bình quân các<br /> xã đạt trên 85% đã đảm bảo đời sống nhân dân<br /> và góp phần phát triển kinh tế địa phương.<br /> Thứ ba, cơ cấu việc làm của lao động Võ<br /> Nhai đã có sự chuyển dịch dần từ khu vực<br /> nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, xây<br /> dựng, dịch vụ. Sự dịch chuyển này là tất yếu,<br /> góp phần đa dạng nguồn thu nhập cho hộ gia<br /> đình nông thôn và theo đúng xu hướng phát<br /> triển chung. Điều này cũng phản ánh sự thay<br /> đổi trong cơ cấu kinh tế Võ Nhai trong thời<br /> gian qua. Đã xuất hiện các mô hình kinh tế<br /> nông nghiệp hiệu quả, hình thành các vùng<br /> sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất<br /> hàng hóa chất lượng đáp ứng nhu cầu người<br /> tiêu dùng và nâng cao giá trị sản xuất.<br /> Bên cạnh những kết quả đạt được, cũng cần<br /> nhận thấy rằng, giải quyết việc làm cho lao<br /> động nông thôn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái<br /> Nguyên còn có những hạn chế cần khắc<br /> phục. Cụ thể như sau:<br /> Thứ nhất, sự chuyển dịch trong cơ cấu việc<br /> làm còn chậm. Điều này có nghĩa, sự chuyển<br /> dịch cơ cấu kinh tế địa phương tuy có nhưng<br /> còn chậm, nông nghiệp vẫn là ngành chiếm tỷ<br /> trọng lao động rất cao (gần 80% cơ cấu lao<br /> động toàn huyện) và cao hơn mặt bằng chung<br /> cả nước khoảng 13% (lao động nông thôn<br /> nước ta chiếm 66,6% số người trong độ tuổi<br /> lao động). Trong thời gian tới, Võ Nhai cần<br /> 68<br /> <br /> 188(12/3): 65 - 70<br /> <br /> phấn đấu giá tăng giá trị sản lượng nhưng cần<br /> giảm số lao động trong nông nghiệp để nâng<br /> cao thu nhập cho người dân.<br /> Thứ hai, chất lượng việc làm chưa cao, thiếu<br /> tính bền vững. Theo kết quả khảo sát, số lao<br /> động đang làm việc cho các doanh nghiệp<br /> trong và ngoài tỉnh khá đông nhưng đa phần<br /> là công nhân, lao động phổ thông và tập trung<br /> trong lĩnh vực điện tử, công nghiệp phụ trợ,<br /> may mặc. Do đặc thù công việc của các đơn<br /> vị này nên thường người lao động chỉ làm<br /> việc trong một thời gian ngắn vài năm hoặc<br /> cho đến khi 35-40 tuổi. Những lao động này<br /> khi không làm việc ở các doanh nghiệp, trở về<br /> địa phương sẽ tạo ra những áp lực lớn cho<br /> huyện trong vấn đề đảm bảo việc làm, thu<br /> nhập và các điều kiện sống khác.<br /> Thảo luận<br /> Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tác giả đề<br /> xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc<br /> làm cho lao động nông thôn của huyện Võ<br /> Nhai thông qua phát triển kinh tế như sau:<br /> Về nông, lâm nghiệp<br /> Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, gắn sản xuất<br /> với chế biến và thị trường. Phát triển sản xuất<br /> với quy mô hợp lý các loại nông sản hàng hoá<br /> có lợi thế.<br /> Với Võ Nhai, mặc dù đất được đánh giá là<br /> xấu, không phù hợp với sản xuất cây lương<br /> thực nhưng lại khá phù hợp để phát triển cây<br /> ăn quả, cây lâm nghiệp hoặc các mô hình chăn<br /> nuôi. Do vậy, mô hình nông lâm kết hợp đã<br /> được lựa chọn vì phù hợp với điều kiện địa<br /> phương cũng như khả năng sản xuất của các hộ<br /> thì trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh.<br /> Hiện nay, tại Võ Nhai, mô hình cây căn quả<br /> (cây hồng, cam, quýt, nhãn, na) được trồng<br /> thành vườn với quy mô từ vài trăm đến vài<br /> nghìn gốc; mô hình cây lâm nghiệp – cây ăn<br /> quả - cây lương thực (đỉnh đồi có độ dốc lớn<br /> trồng cây lâm nghiệp (chủ yếu là rừng keo<br /> hoặc rừng khoanh nuôi bảo vệ), dưới tán rừng<br /> chăn nuôi dê, phần lưng đồi trồng cây ăn quả<br /> (chủ yếu là cây na ở phía trên, cây nhãn, bưởi,<br /> cam, ổi phía dưới), chân núi, thung lũng trồng<br /> cây lương thực cho thu nhập vài trăm<br /> triệu/năm khá phổ biến.<br /> <br /> Nguyễn Thị Kim Phương<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Đặc biệt, mô hình này được phổ rộng trên<br /> nhiều xã của Võ Nhai trên cơ sở xác định thế<br /> mạnh, khả năng cạnh tranh trên thị trường của<br /> các sản phẩm. Cụ thể như sau: xã Nghinh<br /> Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc<br /> Đường, Thần Sa, Vũ Chấn trồng cây lâm<br /> nghiệp (chủ yếu là rừng keo hoặc rừng<br /> khoanh nuôi bảo vệ); xã Tràng Xá, Liên<br /> Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao<br /> thích hợp trồng cây ăn quả như bưởi diễn,<br /> bưởi hoàng, nhãn, cam; La Hiên, Lâu<br /> Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả<br /> trồng các loại cây ăn quả như na, ổi, nhãn.<br /> Ngoài ra, còn có các mô hình phát triển kinh<br /> tế hộ theo hướng chăn nuôi những giống có<br /> giá trị kinh tế cao như mô hình nuôi bò thịt<br /> (quy mô vài chục con), nuôi vịt trời (quy mô<br /> vài nghìn con), nuôi lợn rừng (quy mô vài<br /> chục con)...<br /> Hỗ trợ nông dân tiếp cận sản xuất theo chuỗi<br /> từ cây – con giống, kỹ thuật sản xuất đến bao<br /> tiêu sản phẩm.<br /> Trong thời gian vừa qua, một số địa phương ở<br /> khu vực miền núi phía Bắc như Hòa Bình,<br /> Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang... đã tiếp<br /> cận sản xuất theo chuỗi tương đối tốt. Võ<br /> Nhai hiện có rất nhiều sản phẩm nông nghiệp<br /> được đánh giá cao, được thị trường đón nhận<br /> nhưng đa phần việc thiêu thụ sản phẩm vẫn<br /> chủ yếu là các hộ tự tìm thị trường hoặc<br /> thương lái tới địa phương thu mua. Mặc dù,<br /> Võ Nhai đã định hướng được người dân trong<br /> sản xuất sản phẩm nông nghiệp an toàn nhưng<br /> gần như chưa có hợp đồng bao tiêu sản phẩm<br /> với các doanh nghiệp. Điều này dẫn tới hệ<br /> quả bếp bênh trong sản xuất, được mùa mất<br /> giá hoặc bị ép giá. Điển hình cho hiện tượng<br /> này là vừa qua, tại Tràng Xá, bí đỏ bị mất giá,<br /> không tiêu thụ được, người dân bị thua lỗ.<br /> Võ Nhai cũng chưa chú ý tới việc đăng ký<br /> bảo hộ sở hữu cho các sản phẩm nông, lâm<br /> nghiệp của địa phương. Tính tới thời điểm<br /> hiện tai, Võ Nhai chỉ có 1 sản phẩm được bảo<br /> hộ dưới nhãn hiệu tập thể là “Na La Hiên”,<br /> chưa có sản phẩm nào bảo hộ dưới dạng chỉ<br /> dẫn địa lý trong khi tiềm năng bảo hộ các sản<br /> phẩm nông sản của địa phương dưới dạng này<br /> <br /> 188(12/3): 65 - 70<br /> <br /> hoặc nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận<br /> là khá lớn.<br /> Do vậy, thời gian tới, bên cạnh việc phát triển<br /> quy mô sản xuất nông, lâm nghiệp, Võ Nhai<br /> cần chú ý tiếp cận sản xuất theo chuỗi, tìm<br /> kiếm thị trường hoặc hỗ trợ người dân tiếp<br /> cận thông tin thị trường, hỗ trợ bảo hộ đối với<br /> các đặc sản địa phương.<br /> Về công nghiệp và dịch vụ, thương mại<br /> Nâng cao tỷ trọng giá trị sản xuất công<br /> nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu<br /> kinh tế. Lập quy hoạch các cụm công nghiệp,<br /> làng nghề; đầu tư xây dựng hệ thống chợ và<br /> trung tâm thương mại trên địa bàn, phát triển<br /> đa dạng các loại hình dịch vụ; khai thác có<br /> hiệu quả và nâng cao chất lượng các hoạt<br /> động tài chính tín dụng, quan tâm đầu tư phát<br /> triển các khu du lịch sinh thái đã được quy<br /> hoạch, tổ chức các hoạt động quảng bá, giới<br /> thiệu các sản phẩm có lợi thế trên địa bàn<br /> huyện, thực hiện tốt công tác quản lý nhà<br /> nước về thương mại, dịch vụ bảo vệ quyền lợi<br /> người tiêu dùng.<br /> Phát triển bền vững các doanh nghiệp vừa và<br /> nhỏ trên địa bàn huyện, tiếp tục tạo cơ chế<br /> thông thoáng, cải cách thủ tục hành chính, hỗ<br /> trợ các doanh nghiệp tiếp cận về vốn và thị<br /> trường từ đó góp phần tạo thêm việc làm mới<br /> cho người lao động nông thôn tại các doanh<br /> nghiệp vừa và nhỏ.<br /> Hàng năm tổ chức các cuộc gặp mặt, đối thoại<br /> giữa UBND huyện, các cấp các ngành với<br /> doanh nghiệp nhằm trao đổi thông tin, tháo gỡ<br /> vướng mắc, khó khăn trong hoạt động sản<br /> xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và<br /> vừa; tuyên dương, khen thưởng các doanh<br /> nghiệp có thành tích xuất sắc trong kinh<br /> doanh, có sáng tạo trong thiết kế mẫu mã và<br /> truyền dạy nghề.<br /> Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước cấp<br /> huyện: cần tạo điều kiện để các nhà đầu tư<br /> trong và ngoài nước tìm hiểu cơ hội đầu tư<br /> thông qua việc giới thiệu định hướng phát<br /> triển kinh tế xã hội, quy hoạch các khu công<br /> nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các<br /> nhà đầu tư vào các khu công nghiệp trong<br /> khuôn khổ pháp luật như giảm tối đa giá thuê<br /> 69<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản