intTypePromotion=1
ADSENSE

Tích hợp xương và các yếu tố ảnh hưởng trong cấy ghép nha khoa

Chia sẻ: Thôi Kệ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

85
lượt xem
10
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bài này trình bày quá trình cùng phương pháp đánh giá tích hợp xương, qua đó cũng nêu ra một số yếu tố ảnh hưởng đến tích hợp xương. Mời bạn đọc cùng tham khảo để nắm bắt nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tích hợp xương và các yếu tố ảnh hưởng trong cấy ghép nha khoa

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> <br /> TÍCH HỢP XƯƠNG VÀ CÁC YẾU TỐ<br /> ẢNH HƯỞNG TRONG CẤY GHÉP NHA KHOA<br /> Hoàng Đạo Bảo Trâm<br /> Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh<br /> <br /> <br /> 1. ĐÁNH GIÁ TÍCH HỢP XƯƠNG Đánh giá bằng tần số âm và ghi độ rung<br /> <br /> Ổn định sơ khởi của implant là một tiêu Lachmann và cộng sự đánh giá mức độ tin<br /> chuẩn cơ bản để đạt được tích hợp xương và cậy đối với khả năng lặp lại của hai hệ thống<br /> việc đánh giá ổn định sơ khởi cho phép tiên đo mức độ tích hợp của implant là OsstellTM<br /> lượng khả năng tích hợp xương. (ghi tần số âm) và PeriostestTM (ghi độ rung)<br /> [4]. Đây là hai thiết bị cho phép đánh giá mức<br /> Đánh giá lâm sàng<br /> độ ổn định của implant ngay sau khi đặt, và ở<br /> Đối với cảm nhận xúc giác của phẫu thuật các giai đoạn tiếp theo của quá trình tích hợp<br /> viên, có thể xác định ba mức ổn định: implant xương. Các implant được đặt vào các đoạn<br /> chắc, implant lung lay một phần (ổn định theo xương sườn bò khác nhau về nguồn gốc giải<br /> chiều ngang nhưng xoay nhẹ), và implant lung phẫu và mật độ xương. Đo đạc được lặp lại<br /> lay (có chuyển động ngang hay dọc). Một<br /> nhiều lần với sự thay đổi a) lực vặn vít, b) chất<br /> implant lung lay cần được lấy ra và có thể lượng xương nơi đặt, và c) tình trạng bộc lộ<br /> thay thế bằng một implant khác dài và/hoặc<br /> đường ren trong tổn thương xương quanh<br /> lớn hơn. implant. Cả hai phương pháp đều thể hiện<br /> Phân tích tần số âm mức độ tin cậy tương đương nhau và có độ<br /> Phân tích tần số âm là một kỹ thuật không kiên định tốt. Đối với lực vặn vít, hai thiết bị<br /> xâm lấn giúp xác định sự ổn định sơ khởi và cho kết quả tương đương nhau, nhưng đối với<br /> ổn định thì sau của implant. Giá trị tần số âm những khác biệt về chất lượng xương và sự<br /> có thể phản ánh tình trạng xương sau khi đặt tiêu giảm xương quanh implant, kết quả khác<br /> implant. Nó giúp chẩn đoán sớm tình trạng nhau có ý nghĩa giữa hai phương pháp. Các<br /> implant trong xương và có thể là tham chiếu tác giả kết luận rằng hai hệ thống chẩn đoán<br /> để tiên lượng thời gian lành thương. Như vậy, không xâm lấn này có thể sử dụng tốt để theo<br /> RFA là một phương pháp chắc chắn và cụ thể dõi tiếp hợp của implant trong một thời gian<br /> để đánh giá sớm quá trình tích hợp xương. lâu dài.<br /> Tuy nhiên, theo một số tác giả, kỹ thuật này Trong một nghiên cứu in vitro [5], các tác<br /> ưu việt hơn khi đánh giá sự ổn định sơ khởi giả đã phân tích khả năng ghi của thiết bị<br /> và thứ cấp của hàm dưới, so với hàm trên. Periotest, và khả năng phân tích tần số âm<br /> của Osstell™ trong việc đánh giá tình trạng<br /> mất xương quanh implant. Các implant dạng<br /> Địa chỉ liên hệ: Hoàng Đạo Bảo Trâm, Đại học Y Dược vít được trùng hợp trong lòng các khối nhựa<br /> Thành phố Hồ Chí Minh, 217 Hồng Bàng, Quận 5, Thành<br /> acrylic. Sự mất xương được mô phỏng bằng<br /> phố Hồ Chí Minh<br /> Email: hoangdaobaotram@gmail.com<br /> cách lấy dần vật liệu quanh implant từng<br /> Ngày nhận: 24/8/2013 milimét. Hai hệ thống cho kết quả tương tự,<br /> Ngày được chấp thuận: 17/2/2014 với sự thống nhất khi đánh giá ổn định của<br /> <br /> <br /> TCNCYH 86 (1) - 2014 99<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> implant; tuy nhiên l'Osstell™ cho kết quả chi [titanium plasma-sprayed (TPS) hoặc<br /> tiết hơn. hydroxyapatite-coated (HA)], implant bề mặt<br /> Nedir và cộng sự nhận thấy rằng phương nhẵn, và implant bề mặt sần không có lớp phủ<br /> pháp RFA không đủ tin cậy để xác định mức (thổi cát hoặc xói mòn).<br /> độ lung lay của implant, trong khi đó sự ổn Sự biến đổi hóa học bề mặt implant titan<br /> định của implant có thể được xác nhận một giúp cải thiện sự tích hợp xương mà không<br /> cách chắc chắn khi đạt ISQi ≥ 47. Theo các làm tăng thêm khả năng nhiễm bề mặt. Đáp<br /> tác giả, mặc dù các kết quả đánh giá đó chỉ ứng sinh học của nguyên bào xương bao gồm<br /> mang tính sơ bộ, song có thể hướng bác sỹ sự bám dính của tế bào, sự tăng trưởng và<br /> đến những lựa chọn khác nhau về quy trình hoạt động chức năng của tế bào. Các kết luận<br /> phục hình và chịu lực của implant trong thời về quá trình biệt hóa và chuyển hóa của<br /> gian lành thương tiếp theo [4]. nguyên bào xương còn chưa thống nhất. Một<br /> Các kỹ thuật hình ảnh số thử nghiệm in vitro cho thấy tính nhám của<br /> bề mặt thúc đẩy quá trình biệt hóa nhưng<br /> Phim quanh chóp và phim toàn cảnh hỗ trợ giảm quá trình tăng sinh của nguyên bào<br /> theo dõi tình trạng implant sau phẫu thuật.<br /> xương, một số khác lại thấy quá trình tăng<br /> Phim chụp cắt lớp cho phép phát hiện sự tiêu sinh được cải thiện. Những kết quả này đưa<br /> xương quanh implant rõ hơn, đặc biệt trong<br /> đến suy luận rằng còn có những yếu tố khác<br /> những trường hợp vị trí tiêu xương lệch về điều hòa quá trình tăng sinh, biệt hóa, và chế<br /> phía hành lang hoặc phía lưỡi, hoặc bị che lấp tiết khuôn ngoại bào của các nguyên bào<br /> bởi một cấu trúc đặc, ví dụ như vỏ xương dày. xương trong thử nghiệm in vitro.<br /> Khảo sát cắt lớp điện toán đánh giá mật độ<br /> 2.2. Các yếu tố tại chỗ của người nhận:<br /> xương xác định được một cách chính xác<br /> thể tích và chất lượng xương<br /> implant nằm trong xương xốp, tiếp xúc với vỏ<br /> xương, hay lệch tâm. Đôi khi mật độ xương Mật độ xương có vai trò quan trọng trong<br /> thấp quanh implant không tương ứng với một việc duy trì tích hợp xương và thành công lâu<br /> vùng tiêu xương. Thực tế đó là hình ảnh được dài của implant. Đánh giá xương là một bước<br /> tạo ra khi khảo sát cắt lớp điện toán quanh thiết yếu trong đặt implant.<br /> một vật thể kim loại; ở vùng tiếp giáp, các số Phân tích mô học hình thái trắc đồ là một<br /> đo bị sai lệch và không phân tích được chi tiết. phương tiện tốt nhất để đánh giá mật độ<br /> Hình ảnh mật độ xương thấp giả này rất xương. Tuy nhiên phương pháp này không áp<br /> mảnh, chạy thành một đường bao quanh dụng được trên lâm sàng. Được biết đến và<br /> implant, dễ phân biệt với một tiêu xương bệnh phát triển nhiều nhất là các kỹ thuật tia X, các<br /> lý. Hình ảnh này được khắc phục trên các kỹ thuật này giúp phân tích toàn diện cũng<br /> thiết bị chụp thế hệ mới. như cụ thể về hình thái, thể tích và chất lượng<br /> xương còn lại.<br /> 2. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG<br /> ĐẾN TÍCH HỢP XƯƠNG 2.2.1. Phim toàn cảnh<br /> Phim toàn cảnh cho phép quan sát hình<br /> 1. Các yếu tố liên quan đến implant thái của hàm trên và hàm dưới. Ở hàm dưới,<br /> Xét về tình trạng bề mặt, có thể phân thành có thể đánh giá chiều cao xương ổ, vị trí lỗ<br /> ba phân nhóm: implant bề mặt sần có lớp phủ cằm và ống răng dưới; ở hàm trên, có thể<br /> <br /> 100 TCNCYH 86 (1) - 2014<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> đánh giá chiều cao xương ổ, so sánh với hốc tiêu xương và thiết bị đo mật độ xương nhờ<br /> mũi và xoang hàm trên. Tuy nhiên, hình ảnh scanner. Thiết bị đo tiêu xương đánh giá vùng<br /> trên phim này có biến dạng do có sự phóng quan sát bằng hai loại tia X có năng lượng<br /> đại, tùy thiết bị và tùy vùng quan sát. Phim cho khác nhau. Vùng xương bị tiêu khác với mô<br /> phép đo được một cách tương đối chiều cao mềm và khác với xương thể hiện trên hình<br /> xương, song không cho biết độ nghiêng và độ ảnh số hóa. Thiết bị đo mật độ thể hiện bằng<br /> dày của xương hàm trên, hàm dưới, cũng như g/cm2 bề mặt. Thiết bị đo mật độ xương bằng<br /> mào xương ổ. Phim cũng không cho thông tin scanner cho phép đánh giá bằng g/cm3. Thiết<br /> chính xác về cấu trúc xương. Phim toàn cảnh bị này áp dụng tốt để đánh giá mật độ xương<br /> không đủ để chuẩn bị cho một phẫu thuật đặt<br /> bằng scanner là một kỹ thuật tốt để đánh giá<br /> implant, song không thể thiếu để phân tích<br /> mức độ khoáng hóa xương. Tuy vậy, trong<br /> một phim cắt lớp.<br /> thực hành, hiện nay người ta thường sử dụng<br /> 2.2.2. Các kỹ thuật hình ảnh hiện đại máy đo tiêu xương lưỡng quang tử, máy này<br /> Đối với implant, khảo sát đo mật độ cắt lớp cho kết quả nhanh hơn, rẻ hơn, ít nhiễm tia.<br /> (TDM: tomodensitometry) cho thông tin kép, Mặt khác, máy cho khả năng lặp lại cao, sử<br /> vừa về hình thái, vừa về cấu trúc. Phương dụng tia lưỡng năng lượng làm hạn chế sai số<br /> pháp này tốt hơn so với phim cắt lớp điện đối với các thành phần mỡ. Do vậy, thiết bị<br /> toán cổ điển (vì thiếu chính xác và nhiễm tia này rất hữu ích trong giai đoạn chuẩn bị đối<br /> nhiều). khảo sát đo mật độ cắt lớp cho phép với các trường hợp phụ nữ tuổi mãn kinh và<br /> quan sát về giải phẫu ở kích thước thật. Kỹ người lớn tuổi.<br /> thuật này cho phép xác định chính xác chiều<br /> 2.2.4. Phân tích ứng suất (phương pháp<br /> cao xương, chiều dày ngoài trong, và chiều<br /> phân tích phần tử hữu hạn)<br /> dày mào xương; phim cũng cho thông tin về<br /> độ nghiêng của xương hàm trên và hàm dưới, Năm 2005, Sevimay và cộng sự công bố<br /> định vị các cản trở giải phẫu. Về cấu trúc kết quả một thử nghiệm in vitro đánh giá ứng<br /> xương, khảo sát đo mật độ cắt lớp phân biệt suất tác dụng lên implant với bốn dạng xương<br /> rõ xương xốp với lưới bè xương ít nhiều lỏng [10]. Tất cả các thông số như kích thước và<br /> lẻo, đối với xương vỏ đặc chắc, có thể đo cấu trúc của khối xương, mão kim loại - sứ,<br /> được bề dày. Các biến đổi cấu trúc xương implant, lực tác dụng, đều được chuẩn hóa.<br /> như đặc xương, mất khoáng, hoặc các tổn Hình 1 thể hiện phân bố các ứng suất trên<br /> thương xương cũng đều có thể phân tích tốt. mẫu. Phân tích ứng suất trên abutment và<br /> Những tiến bộ công nghệ của phần mềm implant cho thấy đối với dạng xương D1, D2,<br /> Dentascan hiện nay cho phép thể hiện mô và D3, các ứng suất von Mises tác động lên<br /> phỏng thể tích xương nơi đặt implant. phần cổ của implant, lực lớn nhất là 150Mpa,<br /> 152MPa, và 163MPa tương ứng với dạng D1,<br /> 2.2.3. Dụng cụ đo mật độ xương<br /> D2, và D3. Đối với dạng D4, các ứng suất von<br /> Hai kỹ thuật cho phép định lượng đặc hiệu Mises tác động lên phần cổ và phần giữa của<br /> khối lượng xương khoáng hóa là thiết bị đo sự implant, lực lớn nhất là 180MPa (Hình 2).<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> TCNCYH 86 (1) - 2014 101<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 1. Phân bố lực trong lòng mẫu Hình 2. Phân bố lực trong implant<br /> và abutment<br /> A: Xương D1, 150 Mpa; C: Xương D3,<br /> 163 MPa; B: Xương D2, 152 Mpa; D: Xương<br /> D4, 180 MPa.<br /> <br /> Các yếu tố khác như tỷ lệ tiếp xúc xương, 2.2.5. Cảm giác tay<br /> module đàn hồi, các đường viền trục của lực Trong thực hành, cảm giác xúc giác cho<br /> đều chịu ảnh hưởng bởi mật độ xương. Ở phép nhận biết chất lượng xương của ba<br /> những người loãng xương, có sự giảm các dạng: xương mềm, xương bình thường, và<br /> hoạt động của dòng tế bào sinh xương (tế bào xương đặc nhưng không cho phép phân biệt<br /> trung mô chưa biệt hóa và nguyên bào các dạng xương trung gian. Tuy nhiên,<br /> xương), bên cạnh đó có sự tăng hoạt động phương pháp này chỉ áp dụng được ngay thời<br /> điểm khoan để đặt implant, do đó có ý nghĩa<br /> của nguyên bào hủy xương. Mất cân bằng<br /> tiên lượng hơn là chẩn đoán.<br /> giữa các yếu tố đồng hóa và dị hóa ảnh<br /> hưởng đến sự tạo xương và quá trình tái cấu 2.3. Các yếu tố phục hình: thời hạn cho<br /> trúc. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự implant chịu lực, đặt implant lập tức sau<br /> thay đổi các yếu tố toàn thân có liên quan nhổ răng<br /> đến quá trình tái cấu trúc xương. Ở người Trong một thời gian dài, người ta cho rằng<br /> lớn tuổi và loãng xương, có hiện tượng tăng tích hợp xương là điều kiện thiết yếu để thực<br /> tức thì các cytokine tiền viêm như TNFα, Fas hiện một phục hình chức năng trên implant, và<br /> Ligand, IL - 6, IL - 1, PGE2, trong khi các yếu implant chịu lực sớm sẽ dẫn tới tạo mô sợi và<br /> tố sinh xương (IGF - 1, TGF - β1, PDGF, ngăn cản sinh xương quanh implant. Tuy<br /> calcitonine...) giảm. Các yếu tố hormon cũng nhiên, nhiều nghiên cứu đã cho thấy quá trình<br /> ảnh hưởng đến quá trình tăng sinh mạch tạo mô quanh implant liên quan đến môi<br /> máu và tái lập tuần hoàn, là quá trình giữ trường cơ học tại giao diện xương - implant.<br /> vai trò quan trọng trong tạo xương và tái cấu Một sự chịu lực sinh lý có thể thúc đẩy quá<br /> trúc xương. trình sinh xương [6; 8; 12].<br /> <br /> <br /> 102 TCNCYH 86 (1) - 2014<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> Meyer và cộng sự đã nghiên cứu hoạt nhóm thử. Tiếp xúc trực tiếp giữa xương và<br /> động của nguyên bào xương và quá trình implant đạt được gần như suốt chiều dài<br /> khoáng hóa trong giai đoạn sớm của quá trình implant. Thấy được các lá xương xốp trên bề<br /> tích hợp xương, trong những điều kiện chịu mặt implant. Ở độ phóng đại lớn hơn, có thể<br /> lực khác nhau [6]. Kết quả cho thấy có sự tích thấy các tế bào xương trên bề mặt implant và<br /> hợp xương, hình ảnh mô học tương tự ở hai ở xương lân cận (hình 3).<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 3. Mẫu chịu lực, 3 ngày<br /> Hiển vi điện tử truyền sáng:<br /> a) Tiếp xúc bề mặt implant với xương trưởng thành (x 10)<br /> b) Quan hệ xương/implant ở các đường ren (x 20)<br /> c) Giao diện xương/implant (x 20)<br /> d) Các tế bào ở bề mặt implant và trong xương lân cận (x 40).<br /> <br /> <br /> Qua hình ảnh hiển vi điện tử quét, có thể tiếp xúc trực tiếp trên bề mặt implant.<br /> nhận thấy lực bám dính giữa xương và<br /> Hình ảnh hiển vi điện tử quét ở vùng giao<br /> implant tương đương với lực bám dính giữa<br /> diện cho thấy quá trình khoáng hóa tiến triển<br /> các tế bào ở mô xương xung quanh, có tiếp<br /> theo thời gian. Sự tạo xương mới thể hiện qua<br /> xúc trực tiếp giữa nguyên bào xương và bề<br /> hiện tượng sáp nhập các tinh thể để tạo thành<br /> mặt titan. Bám dính tế bào và các protein<br /> khuôn ngoại bào thấy được ở thời điểm một các hạt dạng xương (hình 4 - a,b,c). Quá trình<br /> ngày và trong suốt thời gian thử nghiệm, ở tất khoáng hóa kết hợp với quá trình sinh<br /> cả các nhóm. Việc chịu lực không làm thay đổi collagen (hình 4 - d). Quá trình tạo xương cũng<br /> tình trạng tiếp xúc xương-implant ở vùng có được thấy trên hiển vi điện tử truyền sáng.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> TCNCYH 86 (1) - 2014 103<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 4. Mẫu chịu lực - Hiển vi điện tử quét:<br /> Khoáng hóa trên bề mặt implant: các hạt dạng xương hình thành trực tiếp trên bề mặt<br /> implant.<br /> a) 3 ngày b) 7 ngày c, d) 14 ngày<br /> <br /> Đánh dấu miễn dịch ở ngày thứ nhất trên fibronectin, thụ thể của fibronectin, và osteonectin<br /> cho thấy các tế bào bám dính trên bề mặt titan có khả năng thực hiện hoạt động chức năng của<br /> các tế bào xương và không thấy có sự khác biệt giữa hai nhóm (hình 5).<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 5. Mẫu chịu lực, 3 ngày - Đánh dấu miễn dịch protein<br /> <br /> a, b) Lắng đọng fibronectin ngoại bào trên bề mặt titan, ở các độ phóng đại khác nhau. Các<br /> phần tử fibronectin xen vào xương giữa các tế bào và implant.<br /> c) Osteonectin phân tán đều trong khuôn ngoại bào khoáng hóa.<br /> d) Tổng hợp osteonectin do các nguyên bào xương trên bề mặt titan.<br /> <br /> <br /> 104 TCNCYH 86 (1) - 2014<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> Trong nghiên cứu này, lực nhai dường sự giảm ổn định ở thời điểm một tuần, và thấp<br /> như không ảnh hưởng đến tiếp xúc xương - nhất ở ba tuần (- 200 Hz), các implant thử<br /> implant. nghiệm (chịu lực) có sự tăng ổn định dần dần.<br /> Năm 2005, De Smet và cộng sự đánh giá Sau sáu tuần, tần số âm trung bình của các<br /> tác động của việc chịu lực sớm đối với tích implant thử và chứng đạt cùng giá trị (biểu đồ<br /> hợp xương. Tần số âm được đo bằng RFA 1). Kết quả cho thấy một tình trạng chịu lực có<br /> ngay sau khi đặt và mỗi tuần một lần sau đó. kiểm soát có thể có ích cho sự ổn định implant<br /> Tất cả các implant tiếp hợp tốt và không có trong giai đoạn lành thương sớm [3].<br /> biến chứng. Trong khi các implant chứng có<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Biểu đồ 1. Giá trị tần số âm trung bình (Hz) của các implant thử và chứng từ ngày 0 tới sáu<br /> tuần sau khi đặt. Kích thích cơ học (implant thử) bắt đầu từ ngày thứ 7 sau phẫu thuật<br /> <br /> Trong một nghiên cứu công bố năm 2004, imlant. Sau một năm, tất cả các implant nhóm<br /> Nedir và cộng sự so sánh chỉ số ISQitv của IL với ISQi ≥ 54 và implant nhóm DL với ISQi<br /> các implant chịu lực tức thì (IL) và các implant ≥ 49 đều tích hợp xương tốt. Tỷ lệ thành công<br /> chịu lực ba tháng sau khi đặt (DL). Chỉ số ISQ của implant IL là 98,4% sau một năm, tương<br /> được đo ngay sau khi đặt và sau 1, 2, 4, 6, 8, đương với implant theo quy trình DL chuẩn [7].<br /> 10 và 12 tuần. Tất cả các implant được kiểm<br /> 3. BÀN LUẬN<br /> soát lực trong vòng một năm. Các tiêu chuẩn<br /> thành công là: (1) không có lung lay phát hiện Vật liệu và bề mặt implant<br /> được trên lâm sàng, (2) không có đau hoặc Titan là một kim loại rất thích hợp đối với<br /> cảm giác lạ khác, (3) không có nhiễm khuẩn implant nhờ các đặc tính sinh học và cơ sinh<br /> tái diễn quanh implant và (4) không có vùng học của loại vật liệu này. Titan có độ kháng<br /> sáng liên tục quanh implant trên phim tia X mòn và kháng ăn mòn hóa học tốt, có các đặc<br /> sau khi chịu lực ở thời điểm 3, 6, và 12 tháng. tính cơ học phù hợp, đồng thời cũng có thể dễ<br /> Sau một năm, hai implant phải lấy bỏ do lung dàng chế tạo dưới nhiều hình dạng và cấu<br /> lay, một của nhóm IL và một của nhóm DL. trúc khác nhau. Là một kim loại hoạt động,<br /> Kết quả cho thấy chỉ số ISQ của hai nhóm IL trong môi trường không khí, trong nước, hoặc<br /> và DL là ngang nhau ở thời điểm 12 tuần, bất kỳ môi trường điện phân nào khác, titan<br /> không phụ thuộc đường kính và độ dài của tạo một lớp oxit xung quanh, chính lớp này<br /> <br /> <br /> TCNCYH 86 (1) - 2014 105<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> mang lại tính tương hợp sinh học cho titan. bằng NaOH có thể giúp khơi mào quá trình<br /> Trạng thái bề mặt giữ vai trò quan trọng tạo apatite trên một bề mặt dạng sinh học.<br /> trong quá trình các tế bào xương định vị và Tiến bộ trong kỹ thuật lắng đọng tia dương<br /> đáp ứng với bề mặt vật liệu. Sự ổn định sơ cực (ASD: anodic spark deposition) đã dẫn tới<br /> khởi và tích hợp xương thuận lợi ở những sự phát triển các cấu trúc phủ hữu cơ thủy<br /> implant có bề mặt nhám ở mức độ vi thể, nhờ tinh - sứ trên bề mặt kim loại với một lực bám<br /> các kỹ thuật khác nhau. Trong các yếu tố ảnh dính có thể đạt tới 25 Mpa [9; 14].<br /> hưởng đến quá trình sinh xương quanh Bằng các phép thử lực cắt và phân tích mô<br /> implant, hình thái bề mặt implant là một yếu tố học, người ta thấy rằng một bề mặt nhám ở<br /> đặc biệt quan trọng. Nhiều nghiên cứu đã cho mức độ vi thể, có xử lý thổi cát và oxy hóa<br /> thấy hiệu quả có lợi của bề mặt nhám đối với anod trên một bề mặt sần tạo điều kiện thuận<br /> sự bám dính và đáp ứng tế bào cũng như đối lợi cho quá trình tạo xương và cố định<br /> với một số yếu tố điều hòa tại chỗ, như implant. Các implant có bề mặt oxy hóa vùi<br /> TGFβ1 và PGE2. Theo Albrektsson và cộng calci cho phép tạo liên kết hóa học với xương<br /> sự, một bề mặt có một độ nhám thấp, ở mức mới sinh và thuận lợi hơn cho quá trình tích<br /> micromét, thường thuận lợi hơn đối với sự tạo hợp xương hơn implant nhẵn; các implant có<br /> xương quanh implant hơn là một bề mặt nhẵn bề mặt oxy hóa dương cực cho tiếp xúc xương<br /> hoặc sần nhiều [1]. - implant tương tự như implant phủ HA.<br /> Kết quả các nghiên cứu cũng cho thấy lớp Kỹ thuật mô phỏng sinh học thứ cấp (BSP)<br /> phủ phosphat calci, như HA [11] có hiệu quả trên bề mặt ASD giúp cải thiện các đặc tính lý-<br /> thúc đẩy quá trình tạo xương quanh implant. hóa của bề mặt titan, tạo hình thái sợi nhỏ ở<br /> Lớp phủ này tạo thành một rào chắn cơ học mức nanomét và làm thay đổi bản chất hóa<br /> đối với các ion kim loại và các phần tử titan học của bề mặt (BioSpark™) với một tỷ lệ Ca/<br /> được giải phóng. Phosphat calci có thể làm P cao hơn (2.9). Quá trình BioSpark™ cải<br /> tăng sự hấp thu protein trên bề mặt implant, thiện tính tương hợp sinh học của titan và<br /> tạo điều kiện thuận lợi cho sự bám dính và tăng hoạt tính sinh học cũng như các đặc tính<br /> hoạt hóa tiểu cầu, các mối liên kết sợi, và thúc tích hợp xương của vật liệu mà không gây<br /> đẩy lành thương. Đã có những nghiên cứu kết hậu quả bất lợi đối với các đặc tính cơ học<br /> luận vật liệu phosphat calci với cấu trúc xốp của vật liệu [9]. Tuy vậy, các nghiên cứu lâm<br /> đặc hiệu có tính kích tạo xương, tức là có khả sàng đối với các bề mặt anod hóa hoặc thổi<br /> năng dẫn tới sự tạo xương tại một vị trí mà cát có xói mòn axit chỉ giới hạn trong thời gian<br /> trong điều kiện bình thường xương không nghiên cứu vài năm, cần có những kết quả<br /> được tạo ra [2]. Trong khi đó, cũng có những lâm sàng ở thời hạn dài [1].<br /> bàn luận về khả năng của lớp phủ HA trong Vấn đề chịu lực<br /> thời gian dài. Một nghiên cứu trên người cho Các tiêu chuẩn sinh cơ học, hóa sinh, chức<br /> thấy mặc dù 22,75% lớp phủ HA mất đi sau năng, và thẩm mỹ là các yếu tố cơ bản để<br /> 10 năm, song các implant tích hợp xương tốt đảm bảo một thành công lâu dài trên lâm<br /> và thấy được xương tiếp hợp trên bề mặt sàng. Nhìn chung, thời gian cơ bản cần thiết<br /> implant [13]. cho quá trình tích hợp xương của implant là<br /> Những biến đổi điện hóa trên bề mặt khoảng 3 tháng đối với hàm dưới và 5 đến 6<br /> implant như oxy hóa anod hoặc xử lý titan tháng đối với hàm trên. Kết quả một số nghiên<br /> <br /> 106 TCNCYH 86 (1) - 2014<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> cứu cũng cho thấy khả năng rút ngắn giai damping capacity assessment - Part 1: An in<br /> đoạn chờ đợi. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên vitro study on measurement reliability and a<br /> cứu này có tính hồi cứu hoặc không có nhóm method of comparison in the determination of<br /> chứng. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến primary dental implant stability. Clinical Oral<br /> thành công của implant chịu lực tức thì bao Implants Research, 17(10), 75 - 79.<br /> gồm lựa chọn bệnh nhân, chất lượng xương, 5. Lachmann S., Laval J.Y., Jäger B et al<br /> chiều dài implant đạt được, cấu trúc vi thể và (2006). Resonance frequency analysis and<br /> đại thể của implant, kỹ năng thực hành của damping capacity assessment - Part 2:<br /> bác sỹ, sự ổn định sơ khởi, kiểm soát lực cắn Peri-implant bone loss follow-up. An in vitro<br /> khớp và hướng dẫn đối với phục hình. Sự ổn study with the Periotest and Osstell instru-<br /> định của implant ngay khi đặt và trong giai ments. Clinical Oral Implants Research, 17(1),<br /> đoạn lành thương quanh implant là một yếu tố 80 - 84.<br /> quan trọng dẫn tới thành công trên lâm sàng. 6. Meyer U., Joos U., Mythili J et<br /> Yếu tố sinh cơ học liên quan chặt chẽ tới quá al (2004). Ultrastructural characterization of<br /> trình tạo xương tại giao diện xương-implant. the implant/bone interface of immediately<br /> Chịu lực quá mức có thể gây vi dịch chuyển loaded dental implants. Biomaterials, 25(10),<br /> trong giai đoạn lành thương, gây tổn hại lưới 1959 - 1967.<br /> sợi và mạng lưới tuần hoàn mới ở vùng giao 7. Nedir R., Bischof M., Szmukler-<br /> diện, gây tiêu dần xương xung quanh, từ đó Moncler S et al (2004). Predicting<br /> làm lung lay implant và dẫn tới thất bại. Cần osseointegration by means of implant primary<br /> tiếp tục có các thử nghiệm lâm sàng theo dõi stability - A resonance-frequency analysis<br /> dọc, song song, tiến cứu, ngẫu nhiên và theo study with delayed and immediately loaded ITI<br /> dõi trong thời gian dài hơn. SLA implants. Clinical Oral Implants<br /> Research, 15(5), 520 - 528.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 8. Romanos G.E (2004). Present status of<br /> 1. Albrektsson T., Wennerberg A (2004). immediate loading of oral implants. J Oral<br /> Oral implant surfaces: Part 2-review focusing Implantol, 30(3), 189 - 197.<br /> on clinical knowledge of different surfaces. Int 9. Sandrini E., Morris C., Chiesa R et al<br /> J Prosthodont, 17(5), 544 - 564. (2005). In vitro assessment of the<br /> 2. Chang Y.L., Lew D., Park J.B et al osteointegrative potential of a novel<br /> (1999). Biomechanical and morphometric multiphase anodic spark deposition coating for<br /> analysis of hydroxyapatite-coated implants orthopaedic and dental implants. J Biomed<br /> with varying crystallinity. J Oral Maxillofac Mater Res B Appl Biomater, 73(2), 392 - 399.<br /> Surg, 57(9), 1096 - 1108. 10. Sevimay M., Turhan F., Kiliçarslan<br /> 3. De Smet E., Jaecques S., Vandamme M.A et al (2005). Three-dimensional finite<br /> K et al (2005). Positive effect of early loading element analysis of the effect of different bone<br /> on implant stability in the bi-cortical guinea-pig quality on stress distribution in an implant-<br /> model. Clinical Oral Implants Research, 16(4), supported crown. The Journal of Prosthetic<br /> 402 - 407. Dentistry, 93(3), 227 - 234.<br /> 4. Lachmann S., Jäger B., Axmann D et 11. Shirakura M., Fujii N., Ohnishi H et al<br /> al (2006). Resonance frequency analysis and (2003). Tissue response to titanium<br /> <br /> <br /> TCNCYH 86 (1) - 2014 107<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> implantation in the rat maxilla, with special 13. Trisi P., Keith D.J., Rocco S (2005).<br /> reference to the effects of surface conditions Human histologic and histomorphometric<br /> on bone formation. Clin Oral Implants Res 14 analyses of hydroxyapatite-coated implants<br /> (6), 687 - 696. after 10 years of function: a case report. Int J<br /> 12. Simmons C.A., Meguid S.A., Pilliar Oral Maxillofac Implants, 20(1), 124 - 130.<br /> R.M (2001). Differences in osseointegration 14. Zhu X., Ong J.L., Kim S et al (2002).<br /> rate due to implant surface geometry can be Surface characteristics and structure of anodic<br /> explained by local tissue strains. J Orthop Res oxide films containing Ca and P on a titanium<br /> implant material. J Biomed Mater Res, 60(2),<br /> 19(2), 187 - 194.<br /> 333 - 338.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 108 TCNCYH 86 (1) - 2014<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2