Tiền xu thương mại Nhật Bản thời kỳ đu
và thương mại với Việt Nam thế kỷ 17
Bối cảnh lịch sử
Không có tài liệu lịch sử nào thuật li chính xác khi nào người Nhật bắt đầu buôn bán vi
Vit Nam. Lịch sử Việt Nam chỉ biết rằng thương nhân Trung Quốc đã bn bán với
người Việt trước đó 200 năm. Theo Ggiáo sư Hasebe Gakuji Giáo sư Aoyagi Yogi t
các phát hiện khảo cổ học gần đây ở Nhật Bản, các mảnh vỡ đồ sứ Việt Nam tìm thấy ở
phía Bắc đảo Kyushu. Trong số đó có một đĩa gỗ có ghi năm 1330 trên đó. Vậy thì người
Nht đã đến Việt Nam hay người Việt đã đến Kyushu? Hay lẽ người Trung Quốc, và
người Nhật đã làm trung gian thương mại để đưa những hàng hóa này lên phía Bắc? T
tch lịch sử Việt Nam cho thấy Chúa Nguyễn Hoàng lập ra bến cảng Hội An vào đầu thế
k 17, và có ng trăm người Nhật đã ở bến cảng này từ trước đó.
Các tài liu chính thức của Việt Nam ghi lại cuộc tiếp xúc đầu tiên của người Nhật và
người Việt diễn ra năm 1585. Con thứ 6 của Chúa Nguyn Hoàng dẫn mt hạm đội 10
chiếc đến bến Cửa Việt, tiêu diệt hai chiếc tàu hải tặc Kenki, cướp biển Nhật Bản bị
tưởng nhầm là người Tây. Sau đó năm 1599, tàu của Kenki bị đắm ở cửa Thuận An và b
tướng của Chúa Nguyễn Hoàng bắt. Năm 1601, Chúa Nguyễn Hoàng gửi thư đến Mạc
phủ Tokugawa xin li việc tấn công chiếc tàu của Kenki, mt thương nhân Nhật Bản, và
để ca ngợi tình hữu nghị giữa hai quốc gia.
Lần lại các dữ kiện lịch sử, có chứng cứ rõ ràng rng người Nhật muốn buôn bán với
người Việt. Từ đời Đường thế k thứ 8, thương nhân Trung Quốc đã vượt đại dương đến
Nht Bản, Chăm Pa, và Java để buôn bán. Thế kỷ 12, thương nhân Nhật Bản đến Trung
Quốc cũng với mục đích tương tự. Trong suốt thời Minh thế kỷ 16, va chạm về thương
mại giữa Nhật Bản và Trung Quốc tăng lên khi cướp biển Nhật Bản tấn công nhiều hải
cảng Trung Quốc. Nhà Minh cm dân chúng không được giao thương với người nước
ngoài, đặc biệt là với người Nhật, cho dù hlà các thương nhân Nhật Bản lương thin
hay cướp biển và áp đặt chính sách cấm vận với tàu thuyền Nhật Bản. Trong thời k này,
Nht Bản rất cần lụa thô chất lượng cao của Trung Quốc cho Hoàng gia và trang bị cho
quân đội. Do đó khi thương mại trực tiếp với Trung Quốc trở nên ngày càng khó khăn,
thương nhân Nhật Bản thay vào đó hướng xuống phương các bến cảng Việt Nam, các địa
điểm buôn bán trung lập với thương nhân Trung Quốc. Điều này có thể giải thích tại sao
Hội An ở Đàng Trong và PhHiến, KChợ ở Đàng Ngoài trở nên thịnh vượng trong vài
thập niên của thế k 17.
Chính sách Shuinsen của Mạc phủ Tokugawa
Năm 1600, Tokugawa Ieyasu đánh bại những người trung thành với Hideyori trong trận
Sekigahara. Ba năm sau, Ieyasu được Thiên Hoàng phong chức Shogun. Điều đó đánh
dấu sự khởi đầu thời k Edo và Mạc phủ Tokugawa thống trị Nhật Bản trong hơn 250
năm. Shogun thường trao đi thư tử với Chúa Nguyễn Hoàng. Thương mại giữa hai nước
nhộn nhịp trong vài thập niên.
Theo Giáo sư Kawamoto Kuniye, trong Gaiban Tsuuho – tuyển tập các văn kiện ngoại
giao chính thức giữa Nhật Bản và các nước khác từ năm 1599 đến năm 1764, trong lời
đáp từ Chúa Nguyễn Hoàng vào tháng 10 (âm lch) năm 1601, Ieyasu tuyên bố rằng
‘Trong tương lại, các con thuyn đến nước ngài từ đất nước tôi sẽ phải được chứng nhận
bằng con dấu như trong bức thư này, và thuyền nào không có dấu sẽ không được cho
rằng là hợp pháp’. Ktừ đó, chính sách Shuisen (dấu đỏ) bắt đầu có hiệu lực. Bất kỳ
thương nhân Nhật BẢn nào con dấu đcủa Tokugawa mới được coi là đại diện của
Shogun bn bán vi nước ngoài. Giấy chứng nhận buôn bán Shuisen đầy quyền lực, cấp
bởi chính quyền Shogun, chỉ được cấp cho các gia đình quý tộc ở Nhật Bản như Chaya,
Cửa hàng Araki, Phuramoto, Suminnokura.
Giáo sư Iwao Seichi đã tìm ra slượng Châu ấn thuyn Nhật Bản đến Đại Việt, theo đó
ít nhất 124 tàu đã cập bến Đàng Ngoài và Đàng Trong trong giai đoạn từ 1604 đến
1635, bên cnh đó còn có nhng tàu không có giy phép cập bến trước năm 1604. Những
người thống tr Việt Nam đã thiết lập thànhng thương mi với Nhật Bản trong thế kỷ
17.
Số lưng tàu mi năm==========Đàng Ngoài=======Đàng Trong
1604-16055====================5==============9
1606-1610=====================2==============9
1611-1615=====================3==============26
1616-1620=====================9==============22
1621-1625=====================6==============7
1626-1630=====================3==============5
1631-1635=====================9==============9
Mỗi năm, từ tháng 1 đến tháng 3, khi ngọn gió Đông Bắc thuận lợi thổi về phương Nam,
các con tàu Nhật Bản chất đầy bạc và đống cập bến các cảng sông Việt. Ở Hội An, để để
quản lý dòng chảy người Nhật ln, chính quyền địa phương thành lập hẳn một khu ph
Nht tên là Nihomachi. Và thương nhân Trung Quốc cũng có mt khu phố của mình
gần đó. Họ trao đổi hàng hóa với nhau hay với dân địa phương trên nguyên tắc thị
trường. Người Nhật tch lụa thô, đường, gia vị và gđàn hương của Trung Quốc và Việt
Nam. Đầu thế kỷ 17, Christoforo Borri sống ở Họi An đã ghi chú vlợi nhuận thương
mại rằng Calamba (gỗ đàn hương) ở điểm thu mua giá 5 đồng ducat mt pound; đã
bến cảng Đàng Trong nó đáng giá hơn nhiều; hiếm khi có thể mua với giá dưới 16 đồng
ducat mt pound: và khi đã được trở đến Nhật Bản, nó có giá 200 ducat mt pound…với
chỉ mt mảnh đuer để gối đầu, người Nhật sẽ trả từ 300 đến 400 ducat mt pound’. Khi
gió Đông Nam thổi vào tháng 7, tng 8, đoàn tàu buôn bắt đầu rời Đại Việt trở về nhà.
Ở Đàng Trong, Chaya Shirojiro là thương nhân nổi tiếng nhất, mua la, gỗ đàn hương
bán xu bằng đồng, bác, đồng thiếc cho Chúa Nguyễn.
Tình hữu nghị giữa Đại Việt và Nht Bản
Tình hữu nghị giữa hai đất nước phát trin nhanh chóng ở cả tầm quốc gia lẫn địa
phương. Chúa Nguyễn và Tokugawa trao đồi thư từ và quà tặng hàng năm qua thương
nhân Nhật Bản. Năm 1604, Chúa Nguyễn hoàng thậm c còn có ý kiến nhận thương
nhân Nhật Bản Hunamoto Yabeiji làm con nuôi. Sau đó, Chúa Nguyn Phúc Nguyên,
con trai Chúa Nguyễn hoàng, còn cố nâng quan hệ ngoại giao lên một tầm cao mới. Theo
Phan Khoang trong Việt Sử. Xứ Đàng Trong, Chúa Nguyn Phúc Nguyên gả con gái
mình, Công chúa Ngc Khoa cho Araki Shutaro, mt thương nhân Nhật Bản khác. Chúa
Nguyễn thậm chí còn ban cho Araki quc tính là Nguyễn Taro, gọi là Hien Hung. Chúa
Nguyễn cũng viết thư cho mt số thương nhân Nhật Bản, Honda Kouzukenosuke và
Chaya Shiro Jiro khuyến khích họ n giao thương với Đàng Trong.
Trong khi đó, quan hệ giữa Nhật Bản với Đàng Ngoài không mấy tiến trin. Trước năm
1635, rất ít thuyền Nhật cập bến Đàng Ngoài và thương nhân người Nhật mở thương
điếm ở Phố Hiến và Thăng Long. Thương nhân Nhật Bản nổi tiếng nhất ở Đàng Ngoài
Suminokura Kyoi, bán xu bằng đồng, vũ khí và bạc cho Chúa Trịnh và mua lụa tốt. Cho
đến khi nhà Tokugawa thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, sakoku năm 1635 và thương
nhân Nhật Bản bị cấm ra nước ngoài, mt số lớn thương nhân Nhật Bản quyết địnhli
chuyển ra Đàng Ngoài định cư. Người Hà Lan, nhng trung gian thương mại tốt nhất
của họ với thương nhân Việt Nam, thuê những người thông thạo phong tục Việt Nam,
kinh nghiệm giao thường và thể nói thành thạo tiếng đa phương. Vì quan hệ gia
người Hà Lan và Chúa Nguyễn không tốt, người Hà Lan duy trì mi quan hệ thường
xuyên hơn với Chúa Trịnh. Theo Dumoutier, vài người Nhật có quan hệ gần gũi với triều
đình. Ông thuật chuyên mt phu nhân người Nhât, Ouroussan trở thành ái thiếp của Vua
Lê Thần Tông.
Thương nhân Nhật Bản có quan hệ tốt với người bản đa. Họ hòa nhập vào cộng đồng
Vit Nam và dn tiếp thu những phong tục của địa phương. Một số lượng lớn thương
nhân Nhật Bản kết hôn vi người bản đa và ủng hộ tiền bạc để sửa hay y mới Chùa
cầu. Ở đô thị cổ Hội An, cầu Nhật, hay còn tên là Chùa Cầu, nối phTrần Phú với phố
Nguyễn Thị Minh Khai là biểu tượng cao nhất cho tình hữu nghị Việt-Nhật.
Bn bán đồng xu Nhật Bản vào thế kỷ 17
Để hiểu tại sao thương nhân Nhật Bản mang xu bằng đồng đến nước Việt để trao đổi vào
thế k 17, ta nên xem lại lịch sử tin tệ Nhật Bản. Nhật Bản ban đầu là một quốc gia giàu
tài nguyên kim loi quý ví dụ như bạc, vàng và đồng. Vào đầu thế k 8, những đồng xu
vàng, bạc và đồng không chỉ đã tn tại mà còn được đúc ở chính nước Nhật. Những đồng
xu này được làm để ban thưởng hơn là mt hình thức trao đổi. Trong những ngày đó,
nuowcs Nhật vẫn mới mức kinh tế trao đổi hàng hóa. Từ thế kỷ 12 đến năm 1587, nước
Nht ngừng khai m và gi ng hóa đến Trung Quốc để đổi lấy các xu bằng đồng của
Trung Quc, khi nhu cầu về tiền xu tăng lên. Thế kỷ 15, Mạc phủ Ashikaga nhiều ln gửi
u cầu cho nhà Minh ở Trung Quốc về nguồn cung tin xu. Bởi vậy, Toraisen, tin xu
nhp khẩu từ Trung Quốc, ví dụ như Gia Ðịnh thông bảo (Katei Tsuho) hay Tống, Hng
Võ thông bảo (Kobu tsuho) và Vĩnh Lạc thông bảo (Eiraku Tsuho) của nhà Minh lưu
thông trên khắp Nhật Bản. Trong khi nguồn cung Toraisen vẫn không đáp ứng được cầu
tiền tệ do mở rộng giao thương, giai cấp quý tộc t mình đúc tin xu Nhật (Shichusen) để
lấp đầy khoản thiếu hụt. Trong thế kỷ 16, các đồng xu Toraisen bị vhay hỏng hay các
đồng Shichusen chất lưng kém được gọi là Bitasen, hay đồng xu chất lượng kém. Dân
chúng bắt đầu thu thập tiền xu và không nhận thanh toán bằng Bitasen. Trong thời
Tokugaw, t lệ trao đổi giữa Toraisen và Bitasen là 4 ăn 1. Shogun mun giải quyết tình
trạng lộn xộn của thị trường tin tệ, độc quyn đúc tin xu và tiêu chuẩn hóa tin tệ Nhật
Bản. Năm 1608, nhà Tokugawa cm lưu hành Bitasen, bao gồm cả các đồng xu Trung
Quốc nhập khẩu. Ông cũng thúc đẩy việc khai thác vàng, bạc và đồng và ứng dụng công
nghệ tiên tiến của Trung quốc vào việc tinh luyện kim loại. Xu, thỏi vàng và bạc cũng
như Tensho Tsuho, Genna Tsuho và Kanei Tsuho bắt đầu thay thế những đồng xu cũ.
Thương nhân Nhật nghĩ ra sáng kiến thu mua thứ tiền cấm và sụt giá này để bán cho các
thương thuyền hay các nước khác. Dịch vụ buôn tiền vừa mang đến nhiều lợi tức cho
Nht, vừa được khuyến khích bởi chuá NguynÐàng Trong, đang cần đồng để đúc
súng thần công và sử dụng tin đồng ngoại nhập để tiêu dùng. Thời đó, các chNguyễn
đã yêu cầu ngườI Hòa Lan mua hết tin đồng của Nhật, để mang đến bán cho Ðàng
Trong. Ðến năm 1651, để đáp ứng lời yêu cầu cung cấp tin đồng của Quế Vương, mt
thân vương của nhà Minh khởi nghĩa chống nhà Thanh vào thời đó, chính quyền địa
phương của Nagasaki đã đúc tiền Vĩnh Lịch thông bảo (Eiryaku Tsuho) cung cấp cho
Phúc Kiến, Ðài Loan. Tokugawa, ngoài việc đáp li yêu cầu của chuá Nguyễn, còn được
nhiều lợi tức, đã cho phép đảo Trường Kỳ được quyền đúc tiền để xuất cảng t năm th
hai của Manji (1659) đến năm thhai của Jokyo (1685), sau nhiều ln từ khước những
u cầu của chính quyn địa phương. Tuy nhiên đảo Trường Kỳ chỉ được phép đúc tin
ngoại thương, nhưng không được đúc tin Khoan Vĩnh đang dùng trong nước Nhật. Dịch
vụ bn tiền và tngữ Trường Kỳ Mậu Dịch Tiền phát sinh từ đó, vì người Nhật đúc tin
đồng, thoi đồng mang đến Trường Kỳ, Nhật Bản để chở bán cho Ðại Việt. Tiền Trường
Kỳ còn được tàu Leyden mang về Amsterdam vào năm 1621 để thử nghim kim loại
trước khi người Hà Lan định mua để lấy đồng. Tuy nhiên kết quả không như mong muốn,
người Hoà Lan chở tiền đồng đem bán cho các nước khác như Ba Tư, Âu châu trên
những chuyến tàu về xhọ. Tác giđã có dp liên hvới Bác sĩ Wybrand Op den Velde
ở Amsterdam, một sưu tập gia về tiền cổ Á châu và cũng là tác giả quyn Cash Coin
Index, part 2: The Cash Coins of Vietnam xuất bản ở Amsterdam, về tiền Trường Kỳ.
Ông ta cho biết tiền Trường Kỳ khá dễ tìm thấyAmsterdam. lẽ Batavia, Hội An và
Amsterdam là ba đa điểm liên hệ sâu xa nhất với tin Trường Kỳ và là những nơi dễ
tìm thấy thứ tin ngoại thương này nhất vào ngày nay.
Ðàng Ngoài, tiền Trường Kỳ đã được dân Việt tiêu dùng như các tiền đồng của vua Lê,
hoặc được nấu chẩy để đúc khí cụ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Ðàng Ngoài vào
năm 1627 đã nói v tin tiêu dùng thời đó, rằng có hai loại tiền lớn và nhỏ. Tin lớn do
người Hoa, Nhật mang vào, được tiêu dùng khắp xứ. Tin nhỏ chỉ tiêu dùng ở kinh đô và
bốn tỉnh chung quanh. Tr giá của tiền nhỏ tùy thuộc sợng nhập cảng của tin lớn vào
mi năm. Tuy vậy, trung bình 10 tin đồng nhỏ tương đương với 6 tin đồng lớn. Từ năm
1671, người Anh bắt đầu nghiên cứu về dịch vbuôn tin của người Hà Lan. Vài chi tiết
được cung cấp trong sổ Nhật Ký của công ty Ðông Ấn của Anh ở Phố Hiến cho thấy.
Ngày tháng===========Vài chi tiết về Đăng ký của Công ty Đông Ấn Anh Quốc thể
hiện hoạt động nhộn nhịp của việc bn ========================tiền ở Phố
Hiến, Đàng Ngoài
22 tháng 8 năm 1672=====3 tàu Hòa Lan từ Batavia đến Ðàng Ngoài mang theo 6 triệu
tiền đồng và 1000 thỏi bạc
7 tháng 4 năm 1675======1 tàu Trung Hoa từ Nhật đến Ðàng Ngoài mang đầy tin
đồng và bc
17 tháng 6 năm 1675=====1 tàu Hòa Lan từ Batavia đến Ðàng Ngoài với 80 rương chứa
tiền đồng.
23 tháng 2 năm 1676=====2 tàu Trung Hoa từ Nhật đến Ðàng Ngoài với tiền đồng
XÐàng Trong không có mỏ đồng. Trong lúc đó, chuá Nguyễn rất cần đồng để đúc tin,
đúc súng chống lại họ Trịnh. Nguồn cung cấp phần lớn từ Nhật Bản, phần còn li t
Trung Hoa và Batavia. Chúa Nguyễn cho nhập cảng một sln đồng trong suốt thế kỷ 17
sang cả thế kỷ 18; cho dù rằng chiến tranh Trịnh Nguyễn đã chm dứt sau khi Trịnh
Tạc lùi quân về bên kiang Gianh vào năm 1672, qua 7 lần Nam Bắc giao tranh. Nhu
cầu đúc súng không còn cấp bách nữa, nhưng vì tiền đồng có lưu thông dồi dào, việc giao
thương trong xmới phát trin. Ðiển hình là chính chúa Nghĩa, trong năm 1688, đã gởi
bốn lá thư yêu cầu chính quyền Nhật đúc tin bán cho Ði Việt , khi Tokugawa khởi sự
giới hạn việc xuất cảng bạcđồng ra ngoại quốc.
i liệu lưu tr của công ty Ðông Ấn Hà Lan cho thấy tầm vóc của dch vụ bn tin
Ðàng Trong. Từ năm 1633 đến 1637, công ty đã nhập cảng 105834 xâu tiền đồng Trường
Kỳ, mỗi xâu gồm 960 đồng tiền, vị chi là 101600640 đồng tin được nhập cng trong mt
thờI gian năm năm. A. van Aelst cho chi tiết rõ hơn về số lượng tin đồng khổng l này,
là 1,250,000 tin Vĩnh Lạc và 100,000,000 tiền Khoan Vĩnh. Như thế, khoảng 20 triệu
đồng tin được đưa vào Ðàng Trong mi năm do người Hòa Lan. Ðó là chưa kể đến số
lượng tương đương từ các thương thuyền Nhật và Hoa. Tài liệu cũng cho thấy mt số
lượng đồng khá ln được dùng trong việc quốc phòng, như năm 1636, chúa Thượng đã
mua 30 ngàn lạng đồng hạng xấu để đúc súng thần công. Và tháng 9 năm 1637, bốn
thương thuyền Hoa cặp bến Ðàng Trong với hai triệu đồng tiền Nhật. Khi Tokugawa ban
hành chính sách bế quan toả cảng Sakoku và ra lnh cấm thương nhân Nhật Bản xuất
dương từ năm 1635, kẻ nào vi phạm luật sẽ bị ti chết, và ch cho phép thương thuyền
của người Hà Lan và Trung Hoa đến giao thương ở Trường Kỳ; thương nhân Nhật Bản
đã chuyển nhượng số tin đồng lên đến 200 tấn qua tay người Hòa Lan, để nguồn tiếp
liệu được duy trì đều đặn.
Chẳng trách chỉ hơn 50 năm sau thế k 18, khi Lê Quý Ðôn theo Ðoan quận Công Bùi
thế Ðạt vào chiếm Thuận Hoá, Quảng Nam, đã phi than rằng ngày trước nhà Nguyễn
dùng đồng rất hoang phí. Ðng được dùng làm những cái đinh, những bản lề, và trang
sức cho các công đường, đình sở. Trong Phủ Biên Tạp Lục, ông đã dẫn chứng về vic
nhp cng đồng từ Nhật, Hoa của chúa Nguyễn.... Hai xứ Thuận Hoá và Quảng nam
không có mỏ đồng. Nước Nhật Bản thì thsản có nhiều đồng đỏ, nên hằng năm tàu nước
ấy chuyên chở đồng đến nước ta bán, quan chức nhà Nguyễn phái người đến thâu mua,
cứ 100 cân trị giá 45 quan tiền đồng. Còn như tàu thuyền các kch buôn ở tỉnh Phúc
Kiến và tỉnh Quảng Ðông thuc nước Trung Hoa có chuyên chở đồng đỏ sang nước ta