
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010
158
TIẾP CẬN CHUỖI GIÁ TRỊ CHO VIỆC NÂNG CẤP
NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
THE VALUE CHAIN APPROACH TO INDUSTRIAL UPGRADING
OF VIETNAM TEXTILE INDUSTRY
Trương Hồng Trình, Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Thanh Liêm
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Bài viết tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhằm giải thích sự chuyển đổi trong hệ thống sản
xuất và thương mại của ngành dệt may trên thế giới. Dựa trên mô hình OEM (sản xuất thiết bị
gốc) của các nước Đông Á và các đặc tính của ngành dệt may Việt Nam, bài viết phân tích và
xác định chiến lược nâng cấp ngành là sự dịch chuyển từ sản xuất gia công (chủ yếu nhập
khẩu các yếu tố đầu vào) sang mô hình sản xuất tích hợp OEM và OBM (đòi hỏi tăng cường
các liên kết dọc ở cấp độ khu vực và quốc gia). Ngoài ra, bài viết đề xuất các chính sách nhằm
hỗ trợ nâng cấp quá trình, sản phẩm và chức năng cho mô hình OEM, thay vì nhắm đến bước
nhảy đột phá từ sản xuất gia công sang hệ thống sản xuất định hướng xuất khẩu với thương
hiệu của nhà sản xuất (OBM).
ABSTRACT
This article presents the global commodity chain approach in view of explaining
transformation in the production and trade of the world’s textile networks. Based on East Asia’s OEM
model and the specific characteristics of Vietnam’s textile industry, this article argues that the
industrial upgrading strategy is the transfer from the simple processing production (with mostly
imported inputs) to more integrated forms of the OEM and OBM networks, which require the
intensification of vertical linkages on regional and national levels. Moreover, this study deals with the
suggestion of several policies aimed at upgrading the process, production and functions of the OEM
model instead of targeting on a radical breakthrough from the processing production type to an
export-oriented production system with producers’ trademarks (OBM network) .
1. Giới thiệu
Ngành dệt may là một trong những ngành xuất khẩu lớn và lâu đời trên thế giới.
Hầu hết các quốc gia sản xuất và cung cấp hàng dệt may cho thị trường thế giới
(Dickerson, 1995), một ngành có tính toàn cầu lớn nhất trong tất cả các ngành. Ngành
dệt may là một ngành “khởi đầu” đặc trưng của các quốc gia trong tiến trình công
nghiệp hóa định hướng xuất khẩu, và đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng
của các nước Đông Á.
Việt Nam được biết đến như một câu chuyện thành công về chiến lược tăng
trưởng định hướng xuất khẩu từ sau chính sách đổi mới những năm cuối thập kỷ 1980.
Ngành dệt may cũng là một trong những lĩnh vực quan trọng trong chính sách tăng

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010
159
trưởng định hướng xuất khẩu, hiện tại chiếm hơn một nửa giá trị xuất khẩu công nghiệp
của nền kinh tế. Các nhà sản xuất dệt may trong nước không chỉ chuyển dịch theo
hướng thị trường mà còn chuyển bị đối phó với sự thay đổi của cạnh tranh toàn cầu.
Thách thức toàn cầu đã tạo áp lực và đòi hỏi các nhà sản xuất dệt may phải nâng cấp để
cải tiến chất lượng, hạ giá thành, và thời gian giao hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị
trường thế giới trong chuỗi giá trị toàn cầu (Nadvi and Thoburn, 2004).
Bài viết tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhằm giải thích sự chuyển đổi trong hệ
thống sản xuất và thương mại của ngành dệt may trên thế giới. Theo nghiên cứu của
Gereffi (2002), xu hướng phát triển ngành dệt may khu vực là theo mô hình OEM, mô
hình đòi hỏi sự chuyển dịch và nâng cấp dựa trên lợi thế cạnh tranh của các nhà sản xuất
trong khu vực. Dựa trên mô hình OEM của các nước Đông Á và các đặc tính của ngành
dệt may Việt Nam, bài viết phân tích và xác định chiến lược nâng cấp ngành là sự dịch
chuyển từ sản xuất gia công (chủ yếu nhập khẩu các yếu tố đầu vào) sang mô hình sản
xuất tích hợp OEM và OBM (đòi hỏi tăng cường các liên kết dọc ở cấp độ khu vực và
quốc gia). Ngoài ra, bài viết đề xuất các chính sách nhằm hỗ trợ nâng cấp quá trình, sản
phẩm và chức năng cho mô hình OEM, thay vì hướng đến bước nhảy đột phá từ sản
xuất gia công sang hệ thống sản xuất định hướng xuất khẩu với thương hiệu của nhà sản
xuất (OBM).
2. Mô hình Đông Á
Ngành dệt may thế giới đã trải qua vài cuộc gia nhập ngành kể từ những năm
1950, tất cả đều diễn ra ở các quốc gia Châu Á. Gia nhập ngành đầu tiên đến từ các
nước Bắc Mỹ và Tây Âu vào Nhật Bản trong những năm 1950 và đầu những năm 1960,
khi đó có sự chuyển đổi sản xuất dệt may từ các nước Phương Tây sang Nhật Bản. Cuộc
dịch chuyển thứ hai từ Nhật Bản sang các nhà sản xuất dệt may “Big Three” Châu Á
(Hồng Kông; Đài Loan; và Hàn Quốc), nhóm nước này đã thống lĩnh xuất khẩu dệt may
toàn cầu vào những năm 1970 và 1980. Trong khoảng thời gian 10 đến 15 năm sau, có
cuộc nhập ngành thứ ba, lần này từ “Big Three” Châu Á sang một số nước đang phát
triển khác. Vào những năm 1980, sự dịch chuyển chủ yếu sang Trung Quốc, một số
quốc gia Đông Nam Á và Sri Lanka. Vào những năm 1990, có sự gia tăng nhanh chóng
các nhà cung cấp mới từ Việt Nam, các nước Nam Á và Châu Mỹ La Tinh (Khanna 1993,
Gereffi 1998). Hình 1 biểu thị mô hình nâng cấp ngành trong chuỗi dệt may Châu Á.

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010
160
Hình 1. Mô hình nâng cấp ngành trong chuỗi dệt may Châu Á
Nguồn: The international competiveness of Asian economies in the apparel commodity chain (Gereffi, 2002)
Lưu ý: Mũi tên nét rời biểu thị trình tự năng lực sản xuất và xuất khẩu trong nền kinh tế
Mũi tên nét liền biểu thị dòng dịch chuyển thương mại giữa các nền kinh tế.
N
hật
Các nước Các phân đoạn của chuỗi dệt may
Cấp độ phát triển
May mặcDệt may Sợi Máy
(sợi, dệt, cắt, may)
N
hững năm 1950
và những năm
đầu 1960 Từ 1960 trở đi
Hồng Kông,
Hàn Quốc
Đài Loan
May mặcDệt may Sợi
Những năm cuối
1
970
và
đ
ầu
1
980
Những năm cu
ố
i 1980
và những năm1990
Trung
Quốc
Indonesia
Thái Lan
Ấ
May mặcDệt may
N
hững năm
cuối 1980 Những năm 1990
Việt Nam
Sri Lanka
Bangladesh
May mặc
Giữa những năm 1990
Giá trị tăng thêm
Thấp Cao
Từ 1970 trở đi

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010
161
Hình 2. Chuỗi dệt may toàn cầu
Nguồn: The international competiveness of Asian economies in the apparel commodity chain (Gereffi, 2002)
Sợi
tự nhiên
Sợi
nhân tạoDầu, khí đốt
CÁC CÔNG TY DỆT CÁC CÔNG TY MAY MẶC CÁC NHÀ BÁN LẺ
Bắc Mỹ Các nhà bán lẻ
Châu Á
Các nhà
bán lẻ
HỆ THỐNG
SẢN XUẤT
CÁC YẾU TỐ
SẢN XUẤT
NGUYÊN LIỆU
ĐẦU VÀO
HỆ THỐNG
XUẤT KHẨU
HỆ THỐNG
MARKETING
Bông, gỗ, tơ
lụa, vv.
Sợi
(kéo sợi)
Vải
(dệt, đan
len, hồ)
Các công ty may mặc
Hoa Kỳ
(thiết kế, cắt, may,
nút, ủi)
Hợp đồng nội địa, và
các nhà sản xuất
Mexico/ vùng
Caribbean
Hóa dầu Sợi
tổng hợp
Hợp đồng gia công
may mặc Châu Á
Hợp đồng gia công
nội địa và nước ngoài
Công ty may
với thương
hiệu riêng
Văn phòng
người mua
nước ngoài
Các công ty
thương mại
Hệ thống cửa hàng
đặc biệ
t
Hệ thống cửa hàng
chuyên dụng
Chuỗi bán buôn
khối lượng lớn
Chuỗi bán lẻ
chiết khấu
Bán buôn, đại lý ,
đặt hàng qua mail,
khác

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010
162
Dệt may là một ngành mang đặc trưng của chuỗi giá trị chịu sự chi phối của
người mua. Một ngành với sự gia nhập ngành dễ dàng, nhưng lại chịu tác động bảo hộ
từ các nước phát triển, đã dẫn đến sự đa dạng hóa chưa từng có của các nhà xuất khẩu
dệt may trong thế giới thứ ba. Ngoài ra, các liên kết trước và sau cũng được mở rộng, và
điều này tạo ra một số lượng lớn công việc liên quan trong ngành (Appelbaum et al.,
1994). Chuỗi dệt may được cấu thành từ năm thành phần chính như trong Hình 2: cung
ứng nguyên liệu đầu vào, bao gồm: bông tự nhiên và nhân tạo; các yếu tố sản xuất như
sợi, vải được sản xuất bởi các công ty dệt; hệ thống sản xuất được hình thành bởi các
công ty may mặc, bao gồm gia công nội địa và quốc tế; hệ thống xuất khẩu được thiết
lập bởi các trung gian phân phối; và hệ thống marketing ở cấp độ bán lẻ (Gereffi, 2002).
Mô hình Đông Á dựa trên sự thành công của các nhà xuất khẩu dệt may Hồng
Kông, Đài Loan, và Hàn Quốc (Nhật Bản trước đây, và tiếp theo sau là Trung Quốc)
đều phát huy vai trò xuất khẩu theo trình tự từ sản xuất gia công đến OEM đến OBM.
Các quốc gia mới nổi Đông Á (NIEs) đã phát triển năng lực OEM vào những năm 1960
và 1970 thông qua việc thiết lập quan hệ gần gũi với các nhà bán lẻ và tiếp thị Hoa Kỳ,
và sau đó học hỏi các đối tác nước ngoài nhằm xây dựng năng lực xuất khẩu Đông Á
(Gereffi, 1999). Hiện tại, các quốc gia Đông Á NIEs đang dịch chuyển theo hướng
OEM bằng nhiều cách thức khác nhau; dịch chuyển sang các sản phẩm có giá trị cao
hơn trong chuỗi dệt may (xuất khẩu sản phẩm dệt và chỉ sợi thay vì tập trung vào gia
công may mặc); dịch chuyển từ OEM sang OBM trong ngành dệt may; và chuyển đổi
sang các chuỗi giá trị mới giữa các ngành.
3. Ngành dệt may Việt Nam
Với chính sách đổi mới trong 20 năm qua, ngành dệt may cũng chịu tác động
tích cực từ chính sách đổi mới, một ngành đóng vai trò quan trọng trong chiến lược định
hướng xuất khẩu của nền kinh tế và đang tích hợp thành công vào nền kinh tế thế giới
(Hill, 1998).
Ngành dệt may tiếp tục đóng góp đáng kể đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế
năm 2007. Tốc độ tăng trưởng là 33,36% vào năm 2007 với giá trị 7,78 tỷ USD, trong
đó thị trường Hoa Kỳ chiếm hơn 50% doanh thu. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế phần lớn tập
trung vào công đoạn xử lý nguyên vật liệu và sản xuất phụ liệu cho hàng may mặc,
trong khi tỷ trọng nội địa đầu vào đáp ứng khoảng 30% giá trị hàng dệt may xuất khẩu.
Nhược điểm lớn nhất của mô hình sản xuất dệt may đó là hình thức hợp đồng gia công
với đối tác nước ngoài. Các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may thường phụ thuộc vào
nguồn cung nguyên liệu và phụ liệu nước ngoài để thực hiện các đơn đặt hàng từ các tập
đoàn quốc tế (EU, report on Vietnam, 2006).

