1
BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
BÀI TẬP LỚN
BỘ MÔN: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
Đề tài:
BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ VIỆT – MỸ 1975 – 1978
CÓ HAY KHÔNG “CƠ HỘI BỊ BỎ LỠ”
H- Tên sinh viên: Nguyễn Thị Thảo
Lớp : H33
Hà Nội – 4/2009
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................... 5
I. Bối cảnh thế giới sau năm 1975 ...................................................................... 5
II. “CƠ HỘI BỊ BỎ LỠ” .................................................................................... 6
2.1.“Mỹ để ngỏ khả năng cải thiện quan hệ với Việt Nam” ............................ 6
2.2.Những toan tính của Mỹ ........................................................................... 7
2.3.Có phải Mỹ đã quá “thiện chí”. ................................................................ 8
III. Những nhân tố tác động ............................................................................. 10
3.1 Nhân tnội bộ Việt Nam ........................................................................ 10
3.1.1.Yêu cầu của Việt Nam ..................................................................... 10
3.1.2.Đòi hỏi của Việt Nam có phải là quá đáng? ..................................... 10
3.1.3..Ý thức hệ: ....................................................................................... 11
3.2.Nhân tnội bộ Mỹ ................................................................................. 11
3.3. Nhân t Liên. ................................................................................... 12
3.4.Nhân tTrung Quốc. .............................................................................. 13
IV. Có hay không “Cơ hội bị bỏ lỡ”??? ........................................................... 15
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................. 17
3
LỜI MỞ ĐẦU
Những ngày tháng của khói lửa chiến tranh đã qua đi nhường chỗ cho
màu xanh của hòa bình. Khép lại quá khứ cùng nhau hướng tới tương lai, các nước
tđối đầu căng thẳng bắt tay hợp tác. Với đường lối chính sách đối ngoại rộng
mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, Việt Nam đã lần lượt thiết lập quan hệ ngoại
giao và bình thường hóa quan hệ với các nước lớn. Sau năm 1991 bình thường hóa
quan hViệt - Trung , đến m 1995, sau nhiều m nỗ lực đàm phán Vit Nam
đã đi đến kết Hiệp định bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ. Đây đã được đánh
giá một trong những thành tựu to lớn của ngoại giao Việt Nam. Chúng ta đều
nhận định rằng, bình thường hóa quan h Việt Mđòi hỏi tất yếu, chúng ta đã
vấp phải không ít khó khăn mới được kết bình thường hóa, nhưng đã từng
thời gian người ta vẫn nhắc tới hội bị bỏ lỡ” trong bình thường hóa quan
hViệt Nam Hoa Knhững m 1977 1978. Vậy, “Có hay không hội bị
bỏ lỡ? và sự thật đằng sau cơ hội ấy là gì?”.
Xung quanh, câu hỏi đặt ra, rất nhiều ý kiến trái chiều, người cho
rằng chính Việt Nam do không nắm bắt được thông tin đầy đủ về nội bộ Mỹ nên
đã không linh hoạt trong chính sách để rồi bỏ lỡ hội bình thường hóa với Mỹ;
ý kiến lại cho rằng chính yếu tố Liên do tác động đến hội bình
thường hóa này; hay không ít người đổ lỗi cho Việt Nam quá cố chấp khi đòi
hỏi một nước đế quốc như Mỹ bồi thường chiến phí 3,25 tỷ USD? Sự thật đằng
sau hội này khá phức tạp. Qua quá trình nghiên cứu, tôi cũng nhất trí với quan
điểm là năm 1977 1978 đã có “cơ hội bị bỏ lỡ” nhưng đó là cơ hội bị bỏ lỡ do lỗi
của cả hai bên, rất nhiều nhân tố tác động để chúng ta tuột mất cơ hội ấy: cả
nhân tLiên Xô, yêu cầu của Việt Nam, hay nội bộ Mỹ nhưng theo tôi, chúng ta
không thkhông nhắc tới hai nhân tố quan trọng không kém, thậm chí vai trò
chi phối đó là ý thức hệ, và nhân tố Trung Quốc.
4
Những điều tôi trình bày dưới đây không phải là viết ra để “đào xới” lại quá
khứ, hay phê phán, chtrích một ai, một bên nào, chđơn giản đặt ra một vấn
đề, trên cơ sở những công trình nghiên cứu đã có, nêu lên quan điểm cách nhìn của
mình. Tôi chmuốn nói chúng ta nên dùng lăng kính lịch sử khi xem xét bình luận
những vấn đề qkhứ, cơ hội đã blỡ, nhưng lẽ với tôi đó là “cơ hội
đến khi cả dân tộc chưa sẵn sàng”.
Nhân đây, em cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới sự chỉ đạo hướng dẫn của
các thày giáo b môn chính sách đối ngoi trong sut quá trình giảng dạy ;
đồng thời cũng gửi lời cảm ơn tới các phụ trách thư viện Học viện Ngoại Giao
đã to điều kiện thuận lợi cho em th tiếp cận với các tài liệu và ng trình
nghiên cứu để thể hoàn thành bài tập lớn. Bài viết chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót, những suy nghĩ còn chưa đầy đủ, rất mong thày nhận xét và
đóng góp ý kiến để giúp cho bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
5
PHẦN NỘI DUNG
I. Bối cảnh thế giới sau năm 1975
Tgiữa những m 1970, tình hình thế giới diễn ra những biến động lớn
trên các mặt chính trị, kinh tế và quan h quốc tế, mở màn cho nhng phát triển và
biến đổi có tính chất bước ngoặt trong mấy thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX.
Cuộc chiến tranh lạnh vẫn đang tiếp diễn. Thời gian này, th coi là
những m tháng “trăng mật” trong quan hđối đầu hai cực Yalta. Liên giành
được thế cân bằng vkchiến lược với Mỹ. m 1975, Liên thúc đẩy
Định Ước Helsinki, kết thúc 30 năm đối đầu Châu Âu. Liên tăng cường mở
rộng ảnh hưởng Mỹ Latinh, Châu Á, Châu Phi, đặc biệt là các nước thuộc địa
của Bồ Đào Nha quan tâm nhiều hơn tới khu vực Đông Nam Á, Châu Á Thái
Bình Dương.
Sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ rút quân khỏi Đông Nam Á lục địa, nền
chính trthế giới bước vào thời k“sau Việt Nam”. Các nước lớn những điều
chỉnh quan trọng trong chính sách đối ngoại. Cục diện quan hệ giữa các nước lớn
cũng có nhiều thay đổi.
Mỹ suy giảm thế và lực, khủng hoảng toàn din về chính trị, kinh tế, xã hi.
Tây Âu Nhật Bản vươn lên, trở thành các trung tâm kinh tế thế giới cạnh tranh
với Mỹ. Các khối quân sự trở nên lỏng lẻo hoặc tan rã. Xu hướng độc lập với Mỹ
trong thế giới Phương Tây tăng lên. Mỹ tiến hành điều chỉnh chiến lược: giảm cam
kết bên ngoài, thúc đẩy hòa hoãn với các đối thủ chính, tập trung ưu tiên giải quyết
các vấn đề trong nước để củng cố địa vị của mình trong hthống tư bản chủ nghĩa
Trung Quốc bắt đầu triển khai thực hiện các chương trình cải cách, hiện đại
hóa mcửa kinh tế, Trung Quốc đẩy mạnh quan hệ với Mỹ, Nhật Bản và các
nước phương Tây khác.
Quan hViệt nhng tiến triển tốt đẹp. Tháng 5 1977, Việt Nam
gia nhập Ngân hàng của Hội đồng tương trợ kinh tế SEV và ngày 29 6 1978
Việt Nam đã trthành thành viên chính thức của tổ chức này. Việt Nam ký Hiệp
ước hữu ngh và hợp tác với Liên Xô ngày 4 – 11- 1978.